Tổng số lượt xem trang

Chủ Nhật, 3 tháng 8, 2014

YÊU THỜI ĐỒ ĐỂU - KỲ 143

                             (tiếp theo)



Ngày nay thời buổi kinh tế thị trường không còn như thời bao cấp nữa. Thời đó bọn tư bản nước ngoài chưa vào, cán bộ công nhân “làm công ăn lương“ là chính, còn nông dân thì “ăn điểm” hợp tác xã, mọi việc cứ răm rắp tuân theo nguyên tắc “Đảng lãnh đạo toàn diện, chính quyền quản lý, công đoàn động viên, thanh niên nòng cốt”  thì cần gì tới luật pháp. Mọi tranh chấp, kiện cáo đều ‘xử lý nội bộ” tuốt, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân chẳng qua bầy biện ra cho có vẻ “pháp chế xã hội chủ nghĩa” vậy thôi.
Nhưng ngày nay, cho dù đảng vẫn cầm quyền, vẫn lãnh đạo toàn diện, nhưng các công ty nước ngoài ùn ùn kéo vào, muốn dụ các nhà đầu tư thì phải có luật pháp, dẫu rằng “ bỏ điều 4 hiến pháp là tự sát ”  độc quyền lãnh đạo của đảng là bất khả xâm phạm, nhưng cái thời “làm cha thiên hạ” như thời bao cấp qua rồi.
Đã có nhiều vụ Toà án Việt Nam quen thói “bắt nạt thiên hạ” xử ép doanh nhân nước ngoài bị nó kiện ngược làm Nhà nước đành phải bấm bụng móc túi “nôn” ra cả triệu đô la bồi thường cốt giữ “uy tín quốc tế” không tư bản nó rút hết vốn đầu tư thì nguy.
Tóm lại ngày nay muốn làm gì thì làm cũng phải uốn éo cho ra vẻ tôn trọng…pháp luật, chứ không thể cứ khơi khơi ra “chỉ thị của Ban bí thư “ như ngày trước nữa. Đó là cái giá đảng phải trả khi dựa vào tư bản nước ngoài để mà mở mang , phát triển chứ đảng thì cần đéo gì luật.đảng, chỉ xài luật rừng.
Bởi vậy không thể nhờ cậy bất cứ đồng chí lãnh đạo cao cấp nào khơi khơi ký giấy ra lệnh thả thằng Hàm được.
Ong Sáu Thượng đang suy nghĩ căng thẳng, lo lắng đến đờ cả người, đã có tiếng xe ô tô dưới sân. Chắc bà vợ về. Ong chưa kịp chạy ra đón, bà đã chạy vào, vứt ví lên bàn, buông giọng lạnh tanh như ra lệnh :
“ Ong phải  đi Hải Phòng ngay !”
Ong Sáu Thượng há hốc miệng :
“ Đi Hải Phòng ? Bà bảo tôi đi Hải Phòng làm gì chứ ?”
Bà cười nhạt :
“ Vậy ông định …đánh bài lờ thật hả ? Ong tưởng cứ trùm chăn, đứng ngoài cuộc mà ông thoát được hả ?”
Ong vặc lại :
“ Đứng – ngoài – cuộc ? Bà nói hay nhỉ ? Nhưng tôi lăn vào trong cuộc thì được cái tích sự gì ?”
Bà nhìn ông vừa căm tức vừa khinh bỉ :
“ Tôi đã nhờ dàn xếp với thành uỷ được rồi. Ong phải xuống Hải Phòng gặp  thằng Hàm bầy cho nó cách khai lại để chạy tội…”
 Ong ngạc nhiên :
“ Sự việc rành rành trước con mắt của bao nhiêu người làm sao mà khai khác đi được ?”
“ Sao không được ? Ăn thua tờ biên bản . Mình không chỉ đạo được nó tha bổng thì cũng chỉ đạo được nó viết lại biên bản theo ý mình, hiểu chưa ?”
Ong Sáu Thượng vỡ lẽ, hoá ra dù có sang thời xây dựng kinh tế thị trường, vào WTO đi chăng nữa, thì đảng vẫn lèo lái được luật pháp bằng cách “chỉ đạo” theo kiểu viết lại “biên bản” như thế này đây. Và cái gọi là ‘định hướng xã hội chủ nghĩa” xưa nay vẫn có vẻ mơ hồ thì nay bỗng trở nên rõ ràng : đó là quyền kiểm soát luật pháp của Đảng trong thời kinh tế thị trường vẫn trọn vẹn như thời bao cấp. 
Nếu vậy vẫn có thể xoay chuyển  tình hình cứu được thằng quí tử . Ong chợt thấy nhẹ cả người và quay sang vui vẻ :
“ Vậy tôi đi Hải Phòng làm những gì , đường đi nước bước ra sao , bà nói tôi nghe !”
Bà vợ gạt đi :
“ Ong khỏi lo…tôi đã dặn dò kỹ lưỡng thằng thư ký của ông rồi. “
Ong ngớ người :
“ Bà lôi cả lính của tôi vào chuyện này hả ? Còn việc của nó ở cơ quan thì sao ? Mà lỡ ra nó hở miệng ra thì nguy cho mình….”
Bà vợ ông cười nhạt :
“ Ông yên tâm đi….nó hở ra thì cắt lưỡi …”
Ong ra xe đã có gã thư ký ngồi chờ sẵn. Bà vợ ông dặn dò :
“ Mày đưa chú xuống đó tranh thủ làm việc ngay rồi về đừng có la cà!”
Gã thư ký liến thoắng :
“ Cô yên tâm đi… xong việc là cháu đưa chú về trả cho cô liền…”
Chiếc xe đưa ông sáu Thượng chạy thẳng về đất Cảng. Gã thư ký cho xe dừng trước Sở công an :
“ Chú cứ ngồi đây chờ cháu vào lấy giấy giới thiệu rồi xuống Quận gặp thằng  Hàm. Chú chưa cần “xuất tướng” vội, mọi việc cứ để cháu lo…”
Gã cho quay kính xe che kín mặt ông Sáu Thượng rồi mới chạy vào Sở. Thằng này láo thật, nó là tay chân thân tín của ông mà ông không ngờ nó lại là người của vợ ông. Rõ cháy nhà ra mặt chuột, nếu không có vụ “chạy án” cho thằng Hàm thì làm sao ông biết được nó là thằng hai mặt. Tuy nhiên ông để bụng vậy thôi, một khi nó đã là người của vợ ông thì ông cũng không dám động tới nó. Ong còn đang suy nghĩ lan man bất chợt từ trong Sở gã thư ký cùng với một người mặc đồ công an, đeo quân hàm đại tá chạy tới xe ông. Vừa gặp ông Sáu, ông đại tá đã rối rít :
“ Ay chết…anh Sáu xuống thăm tụi em mà lại đứng ngoài này. May có lính nó báo em biết vội chạy ra đón anh Sáu, chứ thằng thư ký của anh Sáu cứ khăng khăng giấu thủ trưởng …”
Ong Sáu Thượng đành chịu ngồi trong xe cho chạy tuốt vào sâu phía sau Sở. Ong đại tá dẫn ông Sáu vào phòng khách trang hoàng lộng lẫy :
“ Anh Sáu cứ ngồi đây uống nước … ai lại mấy khi anh Sáu xuống đất Cảng lại để anh Sáu ngồi ngoài xe, cái cậu thư ký này thật bậy bạ quá…”
Gã thư ký cười  nhăn nhở :
“ Thì em cũng chỉ muốn sao cho xong việc, khỏi phiền hà các anh dưới này. Vả lại chú Sáu xuống đây không chính thức nên cũng không muốn tiếp xúc rộng…”
Ong đại tá mau miệng :
“ Yên tâm…yên tâm đi…thường vụ thành uỷ cũng đã có ý kiến chỉ đạo vụ này rồi. Anh Sáu cứ nghỉ ngơi ở đây để tụi nó sắp xếp công việc…”
Ngay sáng hôm đó gã thư ký đã lấy được giấy phép đưa ông Sáu Thượng vào thăm thằng Hàm. Nó dặn ông cặn kẽ để bày cách cho thằng Hàm khai lại biên bản cho nhẹ tội để xin tại ngoại.
“ Chú cứ bảo nó khai nhận là không rút súng ra để bắn mà ngồi hát karaoke vướng víu quá nên lấy súng trong túi ra để lên bàn…”
Ong Sáu Thượng cau mày :
“ Lấy súng ra để lên bàn làm sao đạn lại nổ trúng ngực thằng con ông Bí thư huyện được ?”
Gã thư ký cười  cười :
“ Mình đã lấy được biên bản ra khai lại thì khai thế chó nào chẳng được. Chú không thấy ở trong Sàigòn có một thằng con ông lớn cũng tranh nhau gái  rút súng ra bắn chết bạn , có bao nhiêu người chứng kiến mà khi lập biên bản nó chối không phải dùng súng …”
Ong Sáu Thượng tò mò :
“ Không phải súng thì gọi nó là cái gì ?”
Gã thư ký bật cười  :
“ Gọi là… “công cụ hỗ trợ” , thứ này chưa có trong bộ luật hình sự, bởi vậy thằng đó thoát tội giết người đó.”
Ong Sáu Thượng bực mình :
“ Súng thì gọi là súng, sao gọi là công cụ hỗ trợ có chó nó nghe ?”
Gã thư ký cười  hềnh hệch :
“ Ay thế mà mấy thằng Viện kiểm sát phải nghe đấy. Căn bản là một khi đã có ý kiến của trên chỉ đạo rồi thì nói gì chúng nó chẳng phải nghe, bố bảo cũng không dám cãi …”
Ong Sáu Thượng hỏi dò :
“ Vậy vụ thằng Hàm này đã có ý kiến chỉ đạo của trên chưa ?”
Gã thư ký toét miệng ra cười  :
“ Chú lại còn hỏi con chuyện đó nữa. Không có ý kiến chỉ đạo từ thượng đỉnh thiên tào thì sức mấy cha đại tá phó Giám đốc công an chạy ra tận xe mời chú vào . Rừng nào cọp nấy, tụi nó ở dưới này cũng hách lắm chớ bộ, có coi ai ra gì ?”
Ong Sáu Thượng không dấu được tò mò :
“ Vậy mày có biết đồng chí nào có ý kiến chỉ đạo vụ này không ?”
Gã thư ký lắc đầu quày quạy :
“ Ay chết…chú Sáu mà còn không biết, làm sao cháu biết được …”
Nói rồi gã vội vàng lảng ngay sang chuyện khác như có vẻ sợ sệt phải trả lời câu hỏi tò mò của ông Sáu Thượng. Ong Sáu Thượng thầm đoán cái người có ý kiến chỉ đạo vụ này ít cũng phải Uỷ viên Bộ chính trị phụ trách an ninh nội chính. Bà vợ ông ghê gớm thật, làm sao bà ta chạy chọt được khắp mặt các đồng chí lãnh đạo thế ? À phải rồi, chắc vợ ông lấy danh nghĩa thằng Hàm là con trai của  của đồng chí cán bộ cao cấp, dẫu không có giấy tờ chính thức nhưng chắc chắn trong “nội bộ” các đồng chí ấy biết cả. Nếu vậy thằng quí tử này có giết thêm vài ba người  nó vẫn thoát tội.
Chiếc xe ghé Quận công an, gã thư ký chạy vào rồi lại chạy ra :
“ Giờ mình xuống thẳng  trại tạm giam của Quận…”
Lát sau ông sáu Thương đã ngồi trong một phòng nhỏ chia đôi bởi một bức tường có khoét một ô cửa sổ bằng kính để nghi can có thể ngồi phía sau đó nói chuyện với người nhà. Gã thư ký phải ngồi đợi ở phòng ngoài sau khi đã trình đủ giấy má.
Ong Sáu ngồi chờ chưa đầy 15 phút sau thằng Hàm đã được dẫn tới ở phía bên kia ô cửa sổ. Nó ở tù mà nom nó vẫn béo tốt phởn phơ như khi còn ở nhà . Vừa nhìn thấy ông nó đã cười  nhăn nhở :
“ Chào bố.. con biết ngay chậm nhất là sáng nay thể nào bố cũng xuống đón con về mà . Con nằm đây được 5 ngày rồi đấy bố, mọi thứ đầy đủ nhưng  nằm một chỗ cuồng cẳng lắm, tối bảo tụi nó cho đi cà phê mà không thằng nào dám nghe..…”
Ong Sáu Thượng ngạc nhiên :
“ Làm gì có chuyện ra ngay được. Sáng nay rút tờ khai cũ, khai tờ mới rồi công an người ta viết lại biên bản, chờ xem xét rồi may ra mới được tại ngoại…”
Thằng Hàm cằm bạnh kêu lên rối rít :
“ Oi trời ôi, thế thì lâu quá, vậy con còn phải nằm trong này mấy ngày nữa hả bố ?”
Ong Sáu Thượng lắc đầu :
“ Tội của mày đằng thằng ra có mà tù mọt gông. Mẹ mày có giỏi chạy lắm thì cũng cần phải có thời gian chứ làm sao mới nằm tạm giam có mấy hôm mà đã đòi ra ngay ?”
Thằng Hàm cười  nhạt :
“ Nếu  vậy ông bô chưa hiểu hết được  tiềm năng của bà bô rồi. Bà ấy mạnh lắm, chỉ nay mai là con được về thôi.”
Ông Sáu Thượng lắc đầu :
“ Về được hay không còn tuỳ lời khai lại như thế nào rồi còn do Viện kiểm sát với Quận công an xem xét nữa…”.
Thằng Hàm kêu lên :
“ Phải khai lại kia à ? Bữa trước đã phải viết mỏi cả tay rồi còn gì ?”


                      ( còn nữa)



Thứ Bảy, 2 tháng 8, 2014

CHUYỆN XƯA = NAY MỚI NÓI KY 44 - Đã đến lúc nhà văn lên tiếng ...



                                               Nhà văn  NGUYỄN KHẮC PHỤC

“ Tất cả chúng ta, con dân nước Việt hãy đứng bên nhau trong giờ phút đất nước đang bị đe dọa nghiêm trọng này...”


 “Sự kiện nhà cầm quyền Trung Quốc trắng trợn tuyên bố đầu tư 40 tỉ USD thăm dò  biển Đông trên thềm lục địa của Việt Nam đã làm dấy lên sự phẫn nộ của người dân Việt Nam cả trong nước lẫn ngoài nước. Mặc dầu bị đàn áp và bịt miệng, nhà văn Nguyễn Khắc Phục ở Hà Nội đã lên tiếng cảnh báo nguy cơ mất nước bởi bọn bành trướng Trung Quốc trong lá thư ngỏ gửi bạn đọc trẻ Việt Nam...”

                 THƯ NGỎ GỬI CÁC BẠN TRẺ VIỆT NAM

Hà nội ngày 8 tháng 12 năm 2008,

Tôi tên là Nguyễn Khắc Phục, hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam, đã về hưu và tiếp tục sáng tác tại Hà Nội. Cách đây đúng một năm (ngày 08.12.2007), trước những hành vi sai trái, nguy hiểm của nhà cầm quyền Trung Quốc đe dọa chủ quyền, an ninh lãnh thổ nước ta, tôi đã phải viết một bức thư ngỏ gửi các nhà văn Trung Quốc. Một năm sau, những diễn biến nói trên mỗi lúc một thêm nghiêm trọng, nhà cầm quyền Bắc Kinh càng có nhiều hành động không thể chấp nhận được, đưa ra những đòi hỏi cực kì vô lý, đi ngược lại mọi chuẩn mực công pháp quốc tế, đạo lý khi tuyên bố chủ quyền đối với vùng biển có diện tích khoảng 75% Biển Đông. Tham vọng bất chính, bất hợp pháp của họ không dừng lại ở việc xâm chiếm phi pháp Hoàng Sa, đe dọa Trường Sa mà còn tiếp tục những mưu toan ngang ngược, trắng trợn đòi chiếm luôn cả vùng Tư Chính – Vũng Mây và bồn trũng Nam Côn Sơn của Việt Nam vốn nằm cách đảo Hải Nam của Trung Quốc 1000 km, bất chấp chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam đối với vùng biển này đã được luật quốc tế và các bên liên quan công nhận (xin tham khảo thêm tư liệu ở TUANVIETNAM ngày 8.12.2008- Chủ quyền VN ở vùng Nam Côn Sơn, Tư Chính, Vũng Mây của Dương Danh Huy - Lê Minh Phiếu).
Thật ra những diễn biến nguy hiểm mới này chỉ là những biểu hiện tiếp tục một cách lô-gic của chủ nghĩa bành trướng và tham vọng bá quyền thâm căn cố đế trong đầu óc của nhà cầm quyền Bắc Kinh.
    Vì thế, hôm nay tôi phải viết thư ngỏ này, khẩn thiết gửi các bạn đọc trẻ - đồng bào máu thịt của mình, giãi bầy với trách nhiệm công dân, những suy nghĩ nghiêm túc, canh cánh và tâm huyết nhất của mình, một người bình thường trong ngót trăm triệu con dân nước Việt đang sống trên Tổ Quốc hay ở nước ngoài, rằng: Nhân dân Việt Nam vốn chỉ có một nỗi khao khát thiết tha duy nhất, được sống bình yên, hạnh phúc, hữu nghị và làm bạn với tất cả các nước láng giềng và các quốc gia trên thế giới, nhưng những gì nhà cầm quyền Trung Quốc đã, đang và sẽ làm, đang đe dọa nghiêm trọng, hủy diệt nỗi khao khát thiết tha nói trên!
 Có một sự thật hiển nhiên: Muốn hiểu rõ bản chất của tội ác, tham vọng bất chính của các thế lực đen tối, chúng ta không còn cách nào khác là truy ngược lên, tìm gốc rễ sâu xa của những tội ác và tham vọng nói trên!
    Nỗi ưu tư này càng nóng bỏng, nhức nhối trong mỗi con tim Việt Nam, khi sắp tròn 30 năm ngày xẩy ra sự kiện quân đội Trung Quốc xâm lược Việt Nam (17. 02. 1979 - 17. 02. 2009)!
 Đến đây, chúng ta lại phải đối mặt với một sự thực rất đau lòng và không thể chấp nhận được: Trong lịch sử hiện đại của đất nước, sự kiện Trung Quốc xâm lược Việt Nam năm 1979 là một trong những sự kiện đặc biệt và quan trọng bậc nhất, lại hầu như rất ít khi được nhắc tới dưới mọi hình thức, phương tiện thông tin, từ những nghiên cứu sử học, đến  các tác phẩm văn chương - nghệ thuật phản ánh đề tài hiện thực này. Theo tôi biết, không phải không có những công trình, tác phẩm liên quan trực tiếp hay gián tiếp, với quy mô lớn, vừa hoặc nhỏ, đề cập tới sự kiện lịch sử này. Vậy vì sao những công trình, tác phẩm ấy không được công bố? Ai phải chịu trách nhiệm, họ muốn gì khi chủ trương như vậy? Đó không chỉ là biểu hiện ô nhục, hèn nhát mà còn làm yếu đi sức mạnh của chính nghĩa và khả năng tập hợp đại đoàn kết dân tộc trước nguy cơ ngoại xâm.
Ở đây, tôi chỉ điểm lại một vấn đề mấu chốt hệ trọng và dễ thấy nhất, liên quan đến cái cớ nhà cầm quyền Trung Quốc vin vào để phát động cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam năm 1979.
Ngay sau khi lên nắm quyền ở Căm-pu-chia, tập đoàn Pôn Pốt được Bắc Kinh dung dưỡng, cổ súy cả tinh thần, vật chất, cả hệ tư tưởng, bày mưu tính kế, cố vấn cao cấp hoặc trực tiếp huấn luyện, đã ngang nhiên xâm lấn và phá hoại cuộc sống yên lành của nhân dân ta dọc biên giới, đồng thời thực hiện một chế độ diệt chủng với chính đồng bào mình, tàn bạo, vô nhân đạo bậc nhất trong lịch sử nhân loại.
    Việt Nam buộc phải tiến hành các biện pháp bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ và cuộc sống, sinh mạng của đất nước, nhân dân mình, giáng trả bọn xâm lược theo đúng công pháp và tập quán quốc tế về "quyền tự vệ chính đáng". Và lịch sử đã diễn ra theo đúng lô-gic của nó. Ngày mồng 7 tháng 1 năm 1979, bộ đội tình nguyện Việt Nam theo yêu cầu của Đảng Nhân Dân Cách Mạng Căm-pu-chia, tiến vào đất bạn, góp sức cùng các lực lượng yêu nước, yêu công lý Căm-pu-chia, chặn đứng nạn diệt chủng, giải phóng đất nước Chùa Tháp thoát khỏi họa diệt vong... Và chỉ 37 ngày sau, ngày 17 tháng 2 năm 1979, Trung Quốc phát động chiến tranh xâm lược Việt Nam! Vì sao họ "nhanh nhẹn" như vậy khi gây ra tội ác này? Họ nhân danh cái gì để xâm lược Việt Nam?
Như mọi lần, Bắc Kinh lại biến trắng thành đen , vu cáo "Việt Nam tiểu bá xâm lược Căm-pu-chia" và Trung Quốc phải "dạy cho Việt Nam một bài học". Thế là họ tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược tổng lực, không từ bất cứ tội ác nào chống lại dân thường Việt Nam, phá hủy tan hoang thị xã, thành phố, làng mạc, nhà máy, xí nghiệp, cầu cống trên địa phận các tỉnh phía Bắc Việt Nam giáp biên giới Trung Quốc, theo một kế hoạch được vạch trước, với mưu đồ nham hiểm là đánh quỵ Việt Nam không chỉ ở khả năng phòng thủ, tiềm lực kinh tế - quân sự mà còn nhằm hăm dọa, làm tan rã ý chí yêu nước, cắt đứt truyền thống quật cường chống ngoại xâm chảy trong máu các thế hệ người Việt sau này...
 Bây giờ, gần 30 năm đã qua, mọi cái đã trở nên minh bạch. Sự thật đã sáng như ban ngày. Và mọi sự dối trá và đạo đức giả cũng đã được phơi bày trước thế giới. Việc quân tình nguyện Việt Nam giúp Căm-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng, dân tộc Khơ -me và nền văn hóa rực rỡ với Ăng-co Vát, Ăngco Thom đã hồi sinh và đang tiến bước trên con đường hòa bình-phát triển..., đã được công luận quốc tế thừa nhận. Chính nhân dân cùng Quốc Vương và các nhà lãnh đạo Căm-pu-chia cũng đã hơn một lần ghi nhận, bày tỏ lòng biết ơn Việt Nam đã giúp Căm-pu-chia hồi sinh bằng hành động quang minh chính đại, kịp thời, hiệu quả và đã tốn không ít xương máu, tiền của vì đại nghĩa nói trên. Sự ghi nhận này không chỉ ở lời nói, dư luận mà cả trong các văn bản chính thức của Quốc Hội - Nhà Nước Căm-pu-chia. Và bọn thủ ác khủng khiếp nhất mọi thời đại, bọn mù quáng đi theo đường lối diệt chủng, bọn đã từng được Bắc Kinh dung dưỡng, khuyến khích, đã phải ra đứng trước vành móng ngựa của Tòa án Quốc Tế xét xử tội ác chống lại loài người!
Vậy là cái cớ nhà cầm quyền Bắc Kinh vin vào để xâm lược Việt Nam năm 1979 đã hoàn toàn đổ nhào, khẳng định mạnh mẽ một sự thật: Cuộc chiến tranh Trung Quốc tiến hành năm 1979 chống Việt Nam là phi nghĩa, phi pháp, phi đạo lý, cần phải bị lên án đanh thép. Và những kẻ đòi "dạy cho Việt Nam một bài học", đã lộ nguyên hình ngụy quân tử, đầy dã tâm, tàn ác và nham hiểm.
 Nhưng thử hỏi, 30 năm qua, tại sao những kẻ gây nên tội ác xâm lược Việt Nam năm 1979 chưa bị vạch mặt công khai và đưa ra xét xử trước Tòa án công lý Quốc Tế? Tại sao chưa có bất cứ cuộc điều tra toàn diện, khách quan và công bằng nào của các tổ chức, cơ sở nghiên cứu khoa học và cá nhân, về tội ác của Trung Quốc chống Việt Nam năm 1979, được tiến hành? Hoặc đã có mà chưa được công bố bởi những lý do nào đó? Ấy là chưa kể một loạt tội ác khác nhà cầm quyền Bắc Kinh đã gây nên cho nhân dân Việt Nam, chưa bao giờ được thống kê, phân tích đầy đủ để công bố cho nhân dân ta và thế giới biết rõ:
Ngày 19-1-1974, hải quân Trung Quốc đã dùng nhiều chiến hạm và phi cơ cưỡng chiếm toàn bộ Hoàng Sa của ta. Trong trận chiến không cân sức này, 58 binh sĩ quân đội Sài Gòn đã ngã xuống.
Tháng 4 năm 1988, Trung Quốc đã thông qua một nghị quyết thành lập tỉnh Hải Nam, trong đó bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Trước đó, ngày 14 tháng 3 năm 1988, hải quân Trung Quốc dùng vũ lực xâm chiếm các đảo ở Trường Sa. Họ đã bắn chìm ba tàu vận tải của hải quân Việt Nam. 74 chiến sĩ của chúng ta đã hi sinh khi bảo vệ mảnh đất thiêng liêng của Tổ Quốc mình.
 Tại sao cái ác, cái xấu, cái đạo đức giả ở tầm vóc "giới cầm quyền một nhà nước" không bị phanh phui, lên án? Tại sao? Và những ai phải trả lời câu hỏi này?
Những diễn biến lịch sử và thực tế cuộc sống đã cho chúng ta những bằng chứng hiển nhiên để không mơ hồ: Về bản chất và tham vọng bất chính, những kẻ đòi "dậy Việt Nam" năm 1979 và những vị hôm nay trịnh trọng rêu rao những lời đường mật về "16 chữ vàng" và "4 tốt" là một đồng một cốt. Khác chăng chỉ ở cách thức, giọng điệu, diễn xuất, càng ngày thói đạo đức giả và thủ đoạn càng tinh vi, nham hiểm và tàn độc hơn.
30 năm trước, họ nói toạc ra mồm "dạy cho Việt Nam một bài học" và xua quân đánh qua biên giới. Tàn ác, nguy hiểm lắm, nhưng vẫn ít nguy hiểm và tàn ác hơn bây giờ, khi họ thi thố đủ các thủ đoạn chính trị - ngoại giao - quân sự đen tối, được che đậy, ngụy trang khôn khéo, ru ngủ thiên hạ, chia rẽ, làm suy yếu, vô hiệu hóa mọi khả năng đề phòng, đoàn kết của các quốc gia, dân tộc trong khu vực (vốn cùng là nạn nhân của chủ nghĩa bành trướng, bá quyền của họ), chống lại những mưu đồ nguy hiểm bất hợp pháp, ngang ngược coi thường mọi chuẩn mực công pháp quốc tế; bằng các chiến lược, chiến thuật cực kì tàn độc, thâm thúy mà có nhà nghiên cứu đã gọi là "chiến lược diều hâu"!
 "Trung Quốc mạnh hơn hẳn Việt Nam và các nước ASEAN khác cùng tranh chấp như Phillipine hay Malaysia. Đây là một sự thực rõ như ban ngày. Sự chênh lệch về sức mạnh kinh tế và quân sự, kèm theo các phản ứng rất chừng mực và đơn lẻ, từ các đối thủ ASEAN đã khiến Trung Quốc tùy ý vận dụng chiến lược diều hâu trên Biển Đông.
Từ khoảng 20 năm đổ lại đây, họ đã sử dụng một công thức tổng hợp bao gồm:(1) tấn công quân sự quy mô nhỏ (Việt Nam, 1988, Philippine, 1996, 1997), đơn phương thăm dò và khai thác tài nguyên trên vùng tranh chấp, (3) đe dọa bằng vũ lực (đối với ngư dân) hoặc sức ép kinh tế (với các tập đoàn dầu khí quốc tế) nhằm ngăn chặn các đối thủ tiến hành khai thác tài nguyên trong vùng tranh chấp, (4) chia rẽ các đối thủ bằng kinh tế và ngoại giao, và (5) tuyên truyền về chủ quyền và thái độ cứng rắn của họ đối với vấn đề Biển Đông trên toàn thế giới..." ( Dự Trần, cố vấn của Quỹ Nghiên cứu Biển Đông - Theo TUANVIETNAM  ngày 06.12.2008)
Đúng, họ đã mưu toan "ru ngủ", "gây mê", "dọa dẫm", sử dụng tất cả những mánh khóe tinh vi, biến hóa khôn lường trong việc kết hợp giữa diễu võ giương oai (thị uy, phô trương sức mạnh quân sự, khoa học-kỹ thuật) với các chiến dịch ngoại giao đạo đức giả, gây sức ép, tâm lý chiến (không loại trừ cả "văn hóa chiến" và "hữu nghị chiến" thông qua phim ảnh, tác phẩm văn học - nghệ thuật, các cuộc gặp gỡ "hữu nghị", thi đấu thể thao, buôn bán, mậu dịch, viện trợ... ), tăng cường các hoạt động tình báo, gián điệp, phản gián và cấy vào nội bộ các nước mà họ muốn thôn tính, một loạt "nội gián", ra sức "li gián", "mua chuộc", "phân hóa" khối đại đoàn kết Việt Nam bằng mọi thủ đoạn; nếu không tỉnh táo, dũng cảm và thông minh, chúng ta lại tự ru ngủ, sợ sệt, hoang mang và tự chia rẽ thêm nữa, thì việc mất nước chỉ còn là chuyện thời gian!
Vâng, hiện giờ chuyện khẩn cấp và sống còn nhất, liên quan đến lãnh thổ, lãnh hải thiêng liêng, chủ quyền của Tổ Quốc, số phận, danh dự toàn dân Việt Nam và tương lai của các bạn, hoàn toàn tùy thuộc vào hành động và nhận thức của tất cả chúng ta.
    Đúng, xét về phương diện thực lực từ kinh tế, trang bị vũ khí, đến khả năng tác chiến cơ động, hiện đại (đặc biệt là hải quân và không quân), Trung Quốc mạnh hơn hẳn Việt Nam và các nước trong khu vực. Nhưng cái quyết định trong chiến tranh không phải lúc nào cũng thuộc về kẻ mạnh vũ khí, tiền bạc, thủ đoạn.
Một. Nếu các nước trong khu vực nhận thức tỉnh táo và đầy đủ về nguy cơ bành trướng và "chiến lược diều hâu", biết tập hợp lại, đồng tâm hiệp lực, tạm thời gác bỏ những bất đồng, tranh chấp lẫn nhau (mà giữa các nước này với nhau, việc đàm phán đi tới các giải pháp thỏa đáng là có cơ sở và khả thi), chống lại mọi âm mưu và hành động bá quyền, cảnh giác trước mọi âm mưu chia rẽ, li gián..., dễ gì Trung Quốc đã có thể tự tung tự tác, muốn làm gì thì làm?
Hai. Trên bàn cờ quốc tế hiện đại, các cường quốc khác đã từng có mối quan hệ lịch sử với khu vực này, hiện nay cũng đang coi các nước như Việt Nam - Philippin- Malayxia..., là các nhân tố được tính đến trong chiến lược phát triển kinh tế - chính trị - ngoại giao - an ninh của họ, không thể bó tay ngồi im, để mặc Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng và lấn lướt phi pháp và vô hạn độ, trên bộ, trên biển, trên không và trên vũ trụ. Trước hết vì quyền lợi của chính nước họ, sau nữa có thể họ làm như vậy vì được thúc đẩy bởi những đòi hỏi của lương tri, tầm nhìn xa và cũng có thể do họ nhận thức được lời cảnh báo: Nếu không ra tay hành động kịp thời và đủ mức cần thiết, sẽ là quá muộn một khi chủ nghĩa bá quyền, bành trướng từ "bóng ma" hiện lên thành một thế lực vật chất nguy hiểm và tàn bạo! Công luận quốc tế và lương tri nhân loại cũng luôn đứng về phía các dân tộc bị áp bức, các đất nước bị xâm hại bởi các thế lực đen tối, phi nghĩa. Vì vậy, phải công khai đưa ra quốc tế những vấn đề  khúc mắc trong quan hệ Việt - Trung trước nay vẫn được "những ai đó" coi là "tế nhị", là "nhạy cảm" và ra sức bưng bít. Trong một số trường hợp tranh chấp cụ thể về lãnh thổ, lãnh hải, cần phải được đưa ra phân xử công khai trước các tổ chức quốc tế hữu quan, có đủ năng lực, thẩm quyền và uy tín.
Chúng ta đừng quên một bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu: Trong thời kì chống xâm lược 1945 đến 1975, đặc biệt là từ 1954 về sau, cuộc chiến đấu chính nghĩa của chúng ta được tiếp thêm nhiều nguồn cổ vũ, ủng hộ từ dư luận tiến bộ trên thế giới, từ chính phong trào phản chiến trong lòng đất nước mà nhà cầm quyền nước ấy tiến hành xâm lược Việt Nam.
Chúng ta không thể không nhắc tới sức mạnh mà những tòa án quốc tế xét xử tội ác chiến tranh chống Việt Nam của Bec-trăng Rut-xel, những cuộc biểu tình phản đối chiến tranh diễn ra trên khắp các lục địa, từ Âu, Á, Phi, Bắc Mỹ đến Mỹ La-tinh..., đã tiếp thêm sức mạnh cho chúng ta giữa những năm tháng thử thách khốc liệt, cam go nhất. Tại sao hôm nay chúng ta lại không tăng cường thêm sức mạnh, khả năng và hiệu quả tranh đấu cho chính nghĩa của chúng ta bằng cách tranh thủ công luận tiến bộ và ngay cả sự thức tỉnh trong lòng đất nước đang bị chi phối bới chủ nghĩa bành trướng..., cũng không phải không có tác dụng chặn bớt các mưu đồ đen tối và nguy hiểm với chính an nguy của nhân dân nước ấy.
 Ba. Riêng với nước ta, từ hàng nghìn năm trước, không chỉ một lần, ông cha ta đã từng phải đối mặt với những cuộc xâm lược của các đế chế Trung Hoa đầy tham vọng, hùng mạnh, nham hiểm và tàn ác. Dĩ nhiên tình thế ngày ấy khác bây giờ cả từ hình thái, quy mô, thủ đoạn xâm lược, bối cảnh quốc tế, trình độ kĩ thuật, tác chiến, phương tiện chiến tranh và tương quan lực lượng. Nhưng xét cho cùng vẫn là chuyện nước nhỏ, dân nghèo, quân ít phải đánh với giặc to, ác và hiểm. Vậy ông cha ta đã làm cách nào để có Bạch Đằng Giang, Chi Lăng, Vạn Kiếp, Đống Đa? Thậm chí đời Lý, anh hùng Lý Thường Kiệt còn đại phá Ung - Khâm, đập tan từ trong trứng mưu đồ xâm lược của nhà Tống năm 1075. Nhà Trần đã tổ chức thành công 3 lần kháng chiến chống Nguyên - Mông thế kỉ 13. Anh hùng dân tộc Lê Lợi, nhà chiến lược, danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi cùng những nghĩa sĩ dự hội thề Lũng Nhai năm 1418, đã tiến hành cuộc kháng chiến 10 năm chống quân xâm lược nhà Minh, giải phóng đất nước khỏi họa diệt vong do bọn xâm lược tàn bạo mưu toan thực hiện bằng tất cả các thủ đoạn và tội ác của chúng, từ hủy diệt văn hóa, hủy diệt cơ sở vật chất và hủy diệt khả năng tồn tại của dân tộc ta như một dân tộc có văn hóa và khát vọng hạnh phúc. Rồi Đại đế Quang Trung đã diệt 28 vạn quân Mãn Thanh chỉ trong vòng mấy ngày mùa xuân năm Kỉ Dậu - 1789, ngay giữa thành Thăng Long. Vân vân và vân vân... Tựu trung, nguyên nhân thắng lợi của những võ công trên là do:

            A- Ta chính nghĩa, ta chống xâm lược.

            B- Ta đoàn kết một lòng, không phân biệt Nam-Bắc, Xuôi-Ngược, Vua-Quan-Dân, Trai-Gái, Già-Trẻ, Tôn Giáo - Tín Ngưỡng - Chính kiến, tất cả đồng lòng đánh giặc khi đất nước lâm nguy. (Điển hình là Hội nghị Diên Hồng thời Trần đánh giặc Nguyên-Mông). Ta kiên quyết giữ vững và phát huy cao nhất, sức mạnh của khối đại đoàn kết ấy, chống lại mọi mưu toan chia rẽ, mua chuộc và li gián của giặc ngoại xâm.

 C- Ta có truyền thống đấu tranh anh dũng và tự tôn, biết mình (sở đoản - sở trường), biết người, biết tìm cách đánh thích hợp, lấy "đoản binh thắng trường trận", "lấy yếu thắng mạnh", lấy " chí nhân thay cường bạo", biết tiến biết thoái... Mỗi lần phải đương đầu với giặc xâm lược phương Bắc, bao giờ cha ông ta cũng tìm mọi cách liên kết với các lân bang cùng cảnh ngộ, cảnh giác ngăn chặn mọi mưu đồ li gián của kẻ thù chính, tỉnh táo, có tình có lý, phân tích cho các lân bang hiểu rõ những nguy cơ do âm mưu " bẻ từng chiếc đũa trong bó đũa" gây nên, làm suy yếu khả năng của các liên minh chống lại bá quyền, bành trướng. Ta cũng biết nội bộ của chính thế lực xâm lược không phải lúc nào cũng ổn cả, chính nhà cầm quyền ấy cũng phải đối mặt với những vấn đề nan giải của chính đất nước ấy.

             D- Đặc biệt, sức mạnh của Việt Nam được tìm thấy cội rễ từ chí khí, tinh thần quật cường, trung hậu và đức xả thân..., của giới trẻ trong mọi hoàn cảnh hiểm nghèo nhất. ( Điển hình là chuyện cậu bé Trần Quốc Toản bóp nát quả cam ở Hội nghị Bình Than - thời nhà Trần).

           E- Ta không mơ hồ trước mọi sự lừa phỉnh, đường mật của kẻ xâm lược. Ta biết rõ tim đen và dã tâm của chúng. Ta luôn nhũn nhặn, thậm chí chịu lép khi nói năng, chữ nghĩa viết lách các văn thư của triều đình và phải cống nạp cho cái gọi là "Thiên Triều" (kể cả khi ta đánh thắng, vẫn tạo điều kiện giao trả tù binh đàng hoàng cho chính bọn xâm lược mình, hoặc cấp đất xây mộ phần cho những tên xâm lược chết trận tại Việt Nam), nhưng trong thâm tâm, ta không bao giờ quên họ là ai, muốn gì và ta phải làm gì để chống lại mọi mưu toan nham hiểm, tàn bạo đã ăn vào máu của những kẻ cầm quyền phương Bắc. Muốn làm gì thì làm, muốn mềm dẻo thế nào thì mềm dẻo, nguyên tắc cốt tử là phải bảo toàn bằng mọi giá, đất đai, sông biển thiêng liêng của tổ tiên trao lại, danh dự và phẩm giá của một đất nước có truyền thống văn hiến hàng nghìn năm. Đối sách "trong rắn ngoài mềm" phải được vận dụng và nhận thức trên nguyên tắc cốt tử, tối thượng như trên.

    G- Ta không lạ gì sách của họ từ nghìn xưa đến giờ. Nôm na thế này: Muốn lấy phải cho (đời Tống, họ phải cắt 800 dặm đất họ cho Liêu Hạ, nhưng lại mưu toan cướp đất của Đại Việt). Trước Nam sau Bắc  ( phía Bắc của họ toàn thứ dữ, khó gặm, họ bèn tính chuyện lấn xuống phía Nam trước với hi vọng dễ ăn cướp hơn). Mềm với người xa, rắn với kẻ gần ( mua chuộc, giả vờ ngọt nhạt, hữu hảo với những nơi xa, gây cảm tình, tạo đà để mưu lợi trong tương lai khi có cơ hội bành trướng, sắm vai anh hùng hảo hán, cứu khốn phò nguy, ra vẻ hào hiệp và nhân nghĩa, nhưng trắng trợn, trịch thượng, cậy mạnh hiếp yếu với những nước nhỏ hơn cạnh mình).

    Tôi nghĩ sao nói vậy, giãi bày tâm can cùng các bạn đọc trẻ, chắc có chỗ thiếu sót, chủ quan hoặc thiển cận, thành thực không ngại bị chê cười hay khó chịu. Tôi làm việc này chỉ nhằm một mục đích: Tất cả chúng ta hãy cùng nhau suy nghĩ, nhìn sau trước, thấy phải làm gì tốt nhất, kịp thời và thiết thực nhất cho đại vận mệnh của đất nước - quê hương này ( đương nhiên, có hạnh phúc và tương lai của mỗi chúng ta).
Khi viết bức thư này, tôi cũng chờ những điều chẳng muốn vẫn sẽ đến với mình. Kể cả vậy, tôi không hối tiếc khi bày gan ruột của mình trên giấy. Hơn nữa, nếu tìm được cách thức nào hành động hướng tới mục đích trên, tốt hơn, hiệu quả hơn, tôi sẽ làm ngay, không nề hà, tính toán.
Dân Việt Nam xưa nay có cái hay, có cái dở như mọi dân tộc bình thường khác trên thế giới. Nhưng dân Việt Nam cũng đủ tỉnh táo để  phân định rạch ròi giữa nhân dân Trung Quốc, các giá trị chân chính và đáng trân trọng của văn hóa Trung Hoa với thiểu số ôm ấp "chủ nghĩa bá quyền, tham vọng bành trướng". Người Việt Nam chỉ muốn sống yên ổn, no ấm, hòa thuận với láng giềng, không muốn gây thù chuốc oán, càng không ham tranh giành quyền lợi bất chính. Nhưng khi bị xâm lược, danh dự bị xúc phạm, toàn dân Việt Nam nhất định mang hết sức lực, trí tuệ, máu xương, hiến dâng cho Tổ Quốc với tinh thần Đại đế Quang Trung đã tuyên cáo tại Thăng Long, mùa xuân năm Kỉ Dậu 1789:
"Đánh cho biết nước Nam anh hùng, có chủ!"
Tôi khẩn thiết mong các bạn đọc trẻ hãy đọc bức thư ngỏ này và tất cả chúng ta, con dân nước Việt hãy đứng bên nhau trong giờ phút đất nước đang bị đe dọa nghiêm trọng, cùng suy nghĩ và đồng lòng góp sức tìm ra cách tốt nhất, đối phó một cách hiệu quả nhất cho sự bình an của Tổ Quốc ta. Và ngay khi có thể, các bạn hãy giúp tôi, đưa bức thư này đến những người thân quen của các bạn, càng nhanh, càng đông, tôi càng biết ơn các bạn.
    Qua mấy lời máu thịt này, tôi xin gửi gắm trọn vẹn lòng tin yêu vào quê hương, đất nước và nghĩa đồng bào.
Thân quý gửi lời chào các bạn đọc trẻ Việt Nam.

   
                                                      Thân mến


    
                              Viết xong lúc 2 giờ 15 ngày 08 tháng 12 năm 2008


                                                      NGUYỄN KHẮC PHỤC -



BÁC BA PHI ĐI THĂM MỸ - KỲ 121

                              (tiếp theo)



Tôi còn nhớ  lần về Việt Nam ông bạn chở đi thăm các nơi trên chiếc xe con. Một lần tới thăm một làng ven biển, khi quay ra, chạy được chừng vài kilômét thì thấy lố nhố ba bốn người cầm gậy gộc chặn xe lại. Ong bạn tôi dường như quen chuyện này, thở hắt ra :
” Thôi…lại mãi lộ rồi…”.
Tôi bảo có phải cảnh sát công lộ chặn đường đâu mà nộp phạt ?
 Anh bạn cười :
” Tôi có nói nộp phạt đâu, tôi nói nộp mãi lộ kia mà …”.
Tôi còn hoang mang chưa biết nộp mãi lộ là sao, một gã thanh niên mặt mày bặm trợn đã nhào tới :
” Yêu cầu ông bà xuống xe !”.
Tôi hỏi :
” Có chuyện gì anh dừng xe tôi ?”.
Gã nhâng nháo :
“ Chúng tôi phơi cá trên đường , xe ông bà đi qua làm bay hết cá. Yêu cầu xuống xe đền bù !”. 
Tôi nhớ ra xe có chạy qua đoạn đường nào phơi cá đâu, vả lại ai cho phép phơi cá trên lộ ? Ong bạn tôi nói nhỏ :
” Thôi thôi…chị cứ ở trên này tôi xuống dàn xếp với tụi nó…”.
Ong bạn tôi vừa xuống xe thì đã thấy cả chục người không hiểu ở đâu kéo ra vây xung quanh.Tôi thấy họ cự cãi nhau có vẻ căng thẳng lắm. Mãi lúc lâu sau ông bạn tôi mới trở lại xe , thở hắt ra :
” Thôi xong rồi, thí hồ thí cháo cho tụi nó một triệu  …”.
Tôi trợn mắt :
” Một triệu kia à ? Mình có lỗi gì đâu ? Sao anh không gọi cảnh sát ?”.
 Ong bạn tôi cười gằn :
” gọi cảnh sát thì 5 triệu …”.
Tôi trợn tròn mắt :
” Nhưng mình có phạm luật gì đâu ?”.
Ong bạn tôi cười héo hắt :
” Có lỗi phạt thành nặng lỗi. Không có lỗi phạt cho thành có lỗi. Vậy mới là công an. Chẳng thà mất ít tiền cho mấy thằng xin “đểu” này còn hơn là gọi công an còn thiệt hại nữa...”
Bác Ba Phi lắc đầu :
“ Tụi này chắc dân xì ke ma tuý đó thôi. Dân lành ai làm vậy ?”
“ Lão già” cười khảy :
“ Không phải chỉ dân xì ke ma tuý đâu. Hiện nay ở nông thôn cái độ tuổi từ 20 đến 40 thành lưu manh dở cả rồi. Tụi nó chỉ đi làm cho đủ tiền gạo mắm thôi, rồi tụ tập nhậu nhẹt, bài bạc rồi nghĩ ra đủ trò mất dậy để kiếm tiền. Một lần tôi về Việt Nam, anh bạn tôi cũng đánh xe hơi chở tôi đi về miền Tây Nam bộ du ngoạn. Xe phải xuống phà để qua sông. Lúc phà ghé bến, ông bạn tôi vừa nổ máy tiến tới thì phía trước có mấy thằng hùng hổ đập vào kính xe bắt dừng lại. Một thằng nằm ngay trước xe lăn lộn ăn vạ, miệng gào thét :” Bớ người ta…nó chẹt xe gẫy chân tôi rồi…” Thì ra thằng này cố tính để chân chặn bánh xe để ông bạn tôi chẹt vào rồi lăn ra ăn vạ. Cũng may ông bạn tôi thắng lại kịp thời nên chân hắn chỉ xây xát nhẹ.Vậy rồi để khỏi thêm rắc rối, ông bạn tôi đành móc ví trả cho nó 3 triệu rồi mới được đi. Cũng may có người nói nhỏ vào tai là chớ có trình báo công an mà mang vạ vào thân.  Sau này còn gặp mấy trường hợp “xin đểu “ như vậy nên tôi rút kinh nghiệm cứ lẳng lặng móc tiền ra nộp cho tụi nó để thoát lấy thân. Đó “dân ta” bây giờ là vậy đó…Cho nên mới nói “quan “ nào “dân” ấy mà …. Còn trông mong hy vọng gì ở cái  thứ “quốc dân đồng bào “ như vậy nữa ?”
Cô Ut cũng đế thêm :
“ Tôi về Việt Nam cũng mấy lần đi chợ Bến Thành bị mấy đứa con gái cứ đeo theo mời mua đồ lưu niệm. Tôi phải bảo tôi không phải Việt kiều mà là dân miệt vườn lên thành phố nuôi cơm người bệnh. Vậy mà nó vẫn chưa tha , nó nói thẳng vào mặt mình :’ Cái mặt chị thế kia mà đòi dân miệt vườn. Việt kiều thứ thiệt còn chối. Mua đi, mua đi mai mốt mang về Mỹ làm kỷ niệm. Một con thì giục giã còn ba bốn đứa vây quanh mình , đứa nào đứa nấy mặt mày bặm trợn . Sau cùng tôi đành phải mua cho nó ba cái đồ mây tre về nhà chỉ có vứt đi mà cũng mất mấy trăm ngàn…”
Bác Ba Phi an ủi :
“ Những thứ đo chỉ là số ít thôi…nghe nối bây giờ cảnh sát đã dẹp hết tụi quấy rầy khách du lịch rồi. Bây giờ khách du lịch tha hồ đi bộ trên đường Lê Lợi, Nguyễn Huệ, chợ Bến Thành…”
Chị Kelly Thi kêu lên :
“ Chẳng dẹp được đâu , cứ dẹp ít lâu rồi lại đâu vào đấy ấy mà. Tôi có cô em cùng ông chồng người Mỹ mới về thăm Hà nội kể hai người đi chơi hàng Ngang hàng Đào mà cứ thấy mấy bà mấy cô gồng gánh đeo theo. Thì ra họ muốn mình quàng gánh lên vai để cho thợ chụp hình tới chụp. Tất nhiên là không chỉ có chụp hình, tiếp theo đó là màn bán đồ kỷ niệm, rồi xích lô kéo tới đòi chở đi tham quanvới giá cắt cổ. Mình không nghe thì tụi nó sấn vào gây chuyện.Oi chao ôi cô em tôi xấu hổ với ông chồng Mỹ quá đành lôi tuột ông lên taxi chạy cho nhanh về khách sạn…”
Bác Ba Phi cãi :
“ Thì ở đâu chẳng có chuyện tương tự như vậy. Ngay ở Mỹ này tôi thấy lắm khi xe dừng ở ngã ba là có một anh da đen hay Mễ chạy tới lau kính rồi xin tiền , khác gì ở Việt Nam những người đeo theo khách du lịch đâu ?”
“ Lão già” xua xua tay :
“ Ở Mỹ khác nhiều chớ ? Nếu có ai chạy tới lau kính xe, ông có quyền từ chối và không trả tiền mà không ai làm gì ông. Ngược lại, ở Việt Nam nếu người mời chào mà mình cương quyết từ chối thì có khi bị chửi mắng thậm chí ăn đòn cũng nên. “
Cô Ut lên tiếng :
“ Thực ra ba cái chuyện quấy nhiễu du khách chỉ là những chuyện vặt vãnh ở Việt Nam thôi. Nó chỉ làm cho người ta tới thăm Việt Nam một lần rồi thôi, lần sau người ta đi nơi khác. Ở Việt Nam cái đáng sợ nhất là những vụ đâm chém nhau, giết người cướp của, những vụ công an đánh người tới chết, những vụ con cái giết cha mẹ hoặc ngược lại …những vụ đó ngày càng gia tăng tới mức dáng sợ. Điều đó báo hiệu một xã hội sắp có bạo loạn như cái nồi súp de sắp nổ tung…”
Bác Ba Phi lắc đầu :
“ Không đến mức đó đâu. Tôi thấy mấy ông đảng Nhà nước lúc nào cũng nắm chặt trong tay cảnh sát, công an, quân đội hùng hậu sẵn sàng ra tay dẹp mọi vụ lộn xộn, bạo loạn…”
Chị Kelly Thi cười cười :
“ Bác Ba Phi nói đúng đấy. Đảng Nhà nước chẳng những chỉ huy một lực lượng vũ trang chuyên nghiệp sẵn sàng đàn áp nhân dân , ngoài ra còn có một lực lượng lưu manh, côn đồ gọi là “quần chúng tự phát” để đàn áp dân nữa kìa. Bọn này bất chấp mọi thủ đoạn dù đê tiện tới đâu, bất chấp pháp luật, chúng như đàn chó dữ sẵn sàng theo lệnh chủ nhảy xổ vào cắn xé nhân dân nữa kìa…”
“ Lão già “ cười cười “:
“ Ở trong nước lộn xộn vậy nên phần lớn các quan tham đều cho con du học sang Mỹ để sau này tụi nó tìm cách ở lại và câu bố mẹ nó sang đây định cư khi đã hạ cánh an toàn. Chưa bao giờ câu “sống chết mặc bay, tiền thày bỏ túi” lại đúng với bộ máy lãnh đạo đảng và nhà nước Việt Nam hiện nay đến thế . Cả một tập đoàn chỉ chăm chăm vào lợi ích của chính nó bất chấp chà đạp lên mọi quyền lợi của dân tộc. Tụi nó không chỉ ăn cướp của cải vật chất như tài nguyên , đất ruộng, đất rừng, biển, tiền bạc công quỹ mà ăn cướp cả một thứ cao hơn hết đó là ăn cướp quyền lực rồi chia chác cho nhau. Cứ xem mỗi lần đại hội đảng là chúng lại mang cái quyền đã cướp được của dân từ bao năm nay ra chia chác cho nhau một cách trắng trợn thông qua những cuộc bầu bán giả hiệu dẫu rằng bầu bán giữa chúng với nhau. Theo tôi  tham nhũng quyền lực mới là cái tham nhũng ghê gớm nhất. Hơn 70 năm nay chúng cướp quyền của dân chia chác cho nhau mà chẳng ai làm gì được chúng…”
Bác Ba Phi cãi :
“ Tôi thấy bên Mỹ này các thứ quyền lực cũng chỉ do hai đảng dân chủ và cộng hoà thay nhau chia chác cho nhau chứ có khi nào lọt vào tay dân thường đâu ?”
Chị Kelly Thi cả cười :
“ Ai bảo bác vậy ? Bác lại nghe cộng sản nó tuyên truyền rồi đúng không ? Việc phân chia quyền lực ở Mỹ đúng là tập trung vào hai đảng dân chủ và cộng hoà nhưng cái cốt lõi là nó được thực hiện thông qua lá phiếu của mỗi người dân trong một cuộc bầu cử thật sự là công khai và dân chủ. Cái đó hoàn toàn khác với thứ bầu cử giả hiệu “đảng cử dân bầu” như ở Việt Nam. Sao lại đảng cử dân bầu, như vậy tức là dân chỉ bầu những người do đảng cử ra thôi chứ gì ? Như vậy là thực chất đảng bắt dân chấp nhận mọi thứ chia chác quyền lực của đảng chứ dân có được chia chác quyền lực gì đâu ?”
“Lão già” cười hề hề :
“ Tình hình đất nước Việt Nam đã tới mức thối rữa, chứa đựng bao nhiêu là nguy cơ như vậy thì theo tôi bác Ba Phi cứ ở lại quách bên này cho yên thân. Bao nhiêu người thèm khát định cư ở Mỹ mà không được, còn bác Ba Phi thì lại có điều kiện ở lại, sao không tận dụng nó . Bác có con gái là công dân Mỹ rồi thì chuyện được bảo lãnh để ở lại Mỹ chỉ còn là vấn đề thủ tục…”
Cô Ut vui mừng :
“ Bác ấy nói có lý đó. Tía suy nghĩ đi. Hay là tía ở luôn bên này với con khỏi về Việt Nam nữa. Con sẽ thu xếp mọi chuyện cho tía…”
Bác Ba Phi giãy nảy :
“ Í chết…ở lại Mỹ đâu có được ? Còn nhà cửa ruộng vườn, mồ mả cha ông. :lại còn vợ chồng thằng Đậu bỏ nó sao được ?”
Cô Ut cãi :
“ Vợ chồng thằng Đậu lớn cả rồi, có còn con nít nữa đâu mà tía sợ. Tía cứ ở bên này rồi gọi điện về mà chỉ đạo chúng nó làm ăn cũng được chứ sao ? Ruộng vườn, nhà cửa, mồ mả tía cứ giao hết cho tụi nó lo gì ?”
Bác Ba Phi khăng khăng :
“ Không được, không đời nào…tao ở Việt Nam quen rồi…quen ruộng vườn nhà cửa, quen tình làng nghĩa xóm rồi…sang bên này cả ngày cứ ru rú trong nhà, dẫu có là nhà cao cửa rộng, tiện nghi bằng trời đi chăng nữa cũng chịu thôi…mày thu xếp vài hôm nữa tao về Việt Nam…”
Cô Ut là lên lên :
“ Ay..ấy..VISA của tía còn hạn mà…tía cứ ở chơi cho  hết ba tháng đi đã…mấy khi sang được tới bên Mỹ này…”
Bác Ba Phi lắc đầu :
“ Thôi thôi…tao ở tới hơn hai tháng là sốt ruột lắm rồi. Vả lại vợ chồng con cái nhà mày cứ đi làm tối ngày, có mấy khi dòm ngó tới tao…”
Cô Ut giọng khổ sở :
“ Tía thông cảm cho con…cuộc sống bên Mỹ này nó vậy…ai cũng phải bám vào công việc của mình…ngay cả con nít cũng phải đi học hành đúng theo thời khắc biểu của nhà trường đề ra , bởi vậy tụi con có rất ít thời gian ở nhà với tía…”
Bác Ba Phi gạt ngang :
“ Biết rồi…tôi biết anh chị bận bịu rồi…cuộc sống bên Mỹ này ai cũng phải như con chuột đánh vòng …ngưng sao được. Bởi vậy tôi có trách móc anh chị gì đâu. Tôi chỉ nói là chị thu xếp cho tôi về Việt Nam, thăm thú nước Mỹ vậy đủ rồi, sang đây học hỏi được nhiêu đó cũng đủ rồi, giờ phải về thôi…”
Chị Kelly Thi chen ngang :
“ Nếu bác Ba Phi đa nhất quyết vậy thì cô Ut phải thu xếp cho bác về Việt Nam thôi…có điều coi thử những nơi tiêu biểu của nước Mỹ bác đã tới thăm hết chưa ? Nào tượng thần tự do, nào nhà trắng, nào trụ sở quốc hội , nào Sở giao dịch chứng khoán…soát lại coi cô Ut đã đưa bác Ba Phi đi thăm hết chưa ?”

                                                 (còn nữa)


Thứ Sáu, 1 tháng 8, 2014

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 44 - ĐẤU TỐ TRỞ LẠI - KỲ 5 - Chân dung TỐ HỮU …


                   
                                           ( trích)
                                                                         Hồi ký
                                                               NGUYỄN ĐĂNG MẠNH

Sau khi chết, không thể ngờ Tố Hữu xuống giá nhanh chóng và thảm hại đến thế, ở cả hai tư cách: nhà chính trị và nhà thơ. Hầu như các thế hệ làm thơ bây giờ không ai còn làm theo phong cách Tố Hữu nữa. Ở  khoa Văn Đại học Sư phạm Hà Nội (có lẽ khoa Văn các trường Đại học khác cũng thế) có điều này, nếu Tố Hữu sống lại chắc buồn lắm: hàng năm cán bộ giảng dạy phải hướng dẫn hàng trăm sinh viên cao học, hàng chục nghiên cứu sinh làm luận án thạc sĩ, tiến sĩ. Đề tài ngày càng bí, quanh đi quẩn lại khai thác mãi những Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nam Cao, Thạch Lam, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu... hầu như đã cạn kiệt. Rất bí. Cả thầy lẫn trò đều bí. Vậy mà không ai chịu làm về Tố Hữu, tuy Tố Hữu vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong chương trình phổ thông và đại học như một tác gia lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam.
Kể cũng lạ! Tôi được gặp riêng Tố Hữu hai lần, không kể những lần được nghe ông nói chuyện ở các hội nghị.
Cuộc tiếp xúc lần thứ nhất là năm 1967. Địa điểm: nhà riêng Tố Hữu, 76 Phan Đình Phùng.
Hồi ấy gặp riêng Tố Hữu rất khó. Anh Huỳnh Lý, lúc ấy là chủ nhiệm khoa Văn Đại học Sư phạm Vinh, đã liên hệ trước như thế nào đó mới xin phép được. Tố Hữu nói về chính trị là chính. Ông say sưa ca tụng dân tộc mình trong chiến tranh chống Mỹ vừa thông minh vừa anh hùng. Ông nói về Nguyễn Văn Trỗi, Nguyễn Văn Bé. Ông rất lạc quan và hoàn toàn thoả mãn về Đảng, về cách mạng Việt Nam chỉ có tiến lên theo đường thẳng. Con đường chỉ có toàn ánh sáng. Cách mạng Việt Nam không hề có bi kịch. Tố Hữu tỏ ra rất phục Lê Duẩn. Ông cho Lê Duẩn đúng là một penseur.
Ấn tượng khó quên nhất của tôi là ông nói liên miên, nói rất nhiều. Tôi nhớ ông nói từ khoảng hai ba giờ chiều. Nói rất bốc. Lúc đầu còn ngồi ngay ngắn, sau co chân xếp bằng tròn trên salon. Tôi ngồi sát cạnh, thỉnh thoảng ông còn vỗ mạnh vào đùi tôi, hỏi một câu gì đó. Hỏi không phải để nghe trả lời, mà là cách gây chú ý, để nghe ông nói tiếp. Ông nói cho đến khoảng năm giờ chiều. Anh thư kí riêng đi ra, xem đồng hồ, ý nhắc ông nghỉ cho đỡ mệt. Ông không để ý, đứng dậy bật đèn, nói tiếp.
Thực tình lúc ấy tôi mót đi tiểu quá. Ngồi ngay cạnh ông, đứng lên không tiện. Vả lại biết đi to Toalét ở chỗ nào! Mà cũng nghĩ ông sắp nghỉ rồi, vì trời đã muộn. Nhưng ông cứ nói, nói liên miên, nói say sưa hào hứng. Lúc đó, thực bụng tôi nghĩ: Trên đời không có gì nhảm nhí bằng chuyện văn chương, chỉ có đi tiểu là quan trọng nhất.
Nhưng cuối cùng thì ông cũng nghỉ, có lẽ do cách nhắc khéo của anh Huỳnh Lý. Ông bắt tay từng người. Đến lượt tôi, không hiểu sao, ông lại còn giữ tay, nói tiếp mấy câu nữa. Sợ quá!
Cuộc tiếp xúc thứ hai. Địa điểm: ở ngôi nhà bát giác cạnh trường Chu Văn An bên Hồ Tây, năm 1980.
Lần này do anh Đoàn Trọng Huy, phó chủ nhiệm khoa Văn Đại học Sư phạm Hà Nội liên hệ được. Cũng như lần trước, Tố Hữu vẫn nói nhiều, nói liên miên. Tinh thần vẫn như cũ, vẫn Đảng ta là đúng nhất, sáng suốt nhất, nhân dân ta, dân tộc ta là tuyệt vời, Mác Lênin là chân lý tuyệt đối, và văn học gắn với chính trị, phục vụ chính trị là chân lý muôn thuở.
Dưới đây là lời độc thoại triền miên của Tố Hữu, tôi ghi lại được:
" Làm chính trị là l’art des possibités. Làm sao sử dụng được đến ngón tay út của con người. Tập thể là vô cùng. Con người cũng là vô cùng. Nói vượt mình là không đúng. Nên nói phát huy khả năng của mình. Làm sao vượt mình được! Chủ nghĩa Mác ý thức được khả năng vô tận của con người.
Con người là gì? Cuộc sống là gì?
Là vật chất, trí tuệ, tình cảm – là con – người – mới.
Khổng Tử phủ nhận “con” là dối trá. Thực ra Khổng Tử coi con người là trâu chó.
Con người khác con vật là có trí tuệ và tình cảm. Có cái đầu pensant. Mao không cần. Tư sản cần nhưng chỉ cần để phục vụ nó. Làm trái nó, nó chặt đầu. Mọi chế độ bóc lột đều ngu dân ở những mức độ khác nhau, mức hạn chế khác nhau, do lợi ích giai cấp. Chỉ có chủ nghĩa cộng sản là parti de l’intelligence.
Cái “con” là nécessité. Nhưng trí tuệ, tình cảm mới là đặc trưng của người. Chủ nghĩa xã hội là làm chủ tập thể cộng với công nghiệp hoá. Lênin thì nói: Chính quyền Xô viết và điện khí hoá...
…Từ ấy tôi vẫn nói thế thôi: lẽ phải, chân lý, tình cảm. Chân lý chói qua tim. Chân lý phải qua tim mới dẫn tới hành động. Tình cảm lớn phải có chân lý lớn chỉ đạo. Mao không có tim và chân lý. Tôi nói Mỵ Châu “Trái tim lầm chỗ để lên đầu” làm mất nỏ thần. Mao thù. Tầu bay Việt Nam không cho qua Trung Quốc.
                                                            *                      *
                                                                        *
Tố Hữu trông người nhỏ nhắn, nhẹ nhõm như một thư sinh. Nhưng rất hách. Tôi đã nghe Hoàng Cầm nói, ông đã từng ra lệnh bắt Trần Dần, Tử Phác bằng sáu tiếng ngắn gọn: “Gọi nó về, bắt lấy nó”. Tôi đã chứng kiến Nguyễn Đình Thi sợ ông như thế nào, tôi ví như con cua co dúm người lại trước con ếch.
Tôi đã nghe Hoàng Ngọc Hiến thuật lại về Tố Hữu trong cuộc họp nhà văn đảng viên hồi tháng sắu năm 1979. Nguyên Ngọc trình bầy bản đề cương chống Mao-ít. Tố Hữu đã quạt cho Nguyên Ngọc một trận, cho đây là hiện tượng “ngược dòng”, ông có cách nói mỉa mai rất ác. Nhân thấy Nguyên Ngọc, người thấp, nhân làm đổ cái micro trên bàn chủ tịch đoàn, ông nói: “Cái bục này đối với tôi hơi cao, đối với anh Nguyên Ngọc thì cao quá!”. Ông còn đến vuốt râu Nguyên Hồng: “Để râu sớm quá đấy, để trốn họp chi bộ chứ gì!”. Gần đây Kim Lân còn cho tôi biết, hôm ấy, Tố Hữu đến chỗ Kim Lân, nói: “Dạo này viết ít quá đấy!”. Kim Lân buột miệng nói: “Bác lại phê bình em rồi!”. Có vậy thôi mà nghĩ sợ quá. Kim Lân nói: “Tôi nhớ trong truyện Tam quốc, có hai anh bạn thân, sau một anh làm to, anh kia đến chơi, nói suồng sã về những kỉ niệm thuở hàn vi. Sau bị tay kia cho người đuổi theo thủ tiêu – Sợ quá!”.
Tôi chắc Kim Lân sợ thì có sợ, nhưng làm gì đến nỗi thế. Bọn nhà văn là chúa hay phóng đại.
Nguyễn Khải cũng kể lại, hôm ấy anh ngồi chủ tịch đoàn. Có một cậu nói nhỏ với anh: “Ông Lành đang nói sao cậu lại cười?” Khải sợ quá, vội chối: “Không, răng tôi nó hô đấy chứ, tôi có dám cười đâu!”.
Gần đây anh Hoàng Dũng cán bộ giảng dạy khoa Văn Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, học trò thân thiết của Nguyễn Tài Cẩn, cho biết, Tố Hữu có lần gọi Huy Cận, bảo phải biên soạn cuốn từ điển về thơ Tố Hữu: “Pouchkine có từ điển, sao Tố Hữu không có từ điển”. Huy Cận nhờ nhà ngôn ngữ học Nguyễn Tài Cẩn giúp cho việc này. Cẩn từ chối không được, bèn dùng mẹo, nhận nhưng không làm, tuy thỉnh thoảng lại giả vờ đến Tố Hữu “xin” ý kiến về câu này, chữ khác của thơ ông. Bây giờ Tố Hữu chết rồi, chẳng có trang từ điển nào cả. Anh đồ nghệ láu thật!
Năm 1986, Đại hội Đảng lần thứ VI. Tố Hữu mất hết mọi chức vụ. Tự tột đỉnh vinh quang tụt xuống đất. Đau lắm! Từ Sơn đến chơi thấy nhà như có tang. Ông nói với Từ Sơn: “ Chúng nó tiếc gì mà không cho mình làm cố vấn!”. Rồi kéo Từ Sơn ra ngoài vườn như sợ có kẻ nào nghe trộm: “Có gan lên chiến khu làm cách mạng lại không?” Đúng là cay cú đến mức điên rồ!
Tố Hữu rất ghét thi hoa hậu. Ông nói với Hoàng Điệp, Nhà xuất bản Văn hoá thông tin: “Thi hoa hậu để khoe mông khoe đùi chứ gì! Làm như thế những phụ nữ xấu người ta tủi. Sao không thi bắn súng?” Tất nhiên Tố Hữu rất ghét Gooc bachốp. Chị Tố Nga, vợ Hoàng Ngọc Hiến, bắt chước giọng Huế của ông rất vui: “Miềng có Hồ Chí Minh của miềng chứ! Thấy người ta chốp chốp, cũng chóp chóp”.
Những năm cuối đời, ở Tố Hữu, có chuyện này cũng lạ: thường phủ nhận những điều mình đã nói, đã làm. Trong cuốn Chân dung và đối thoại, Trần Đăng Khoa nói đến chuyện Phù Thăng một thời bị qui chụp chính trị rất nặng. Khoa cũng thuật lại cuộc phỏng vấn Tố Hữu về việc sáng tác bài Hoan hô chiến thắng Điện Biên. Tố Hữu nói, không hề biết chuyện Phù Thăng, còn những điều Trần Đăng Khoa hỏi ông về bài Chiến thắng Điện Biên là bịa. Thực ra Tố Hữu từng viết bài phê phán Phù Thăng, còn về cuộc phỏng vấn ông về bài Chiến thắng Điện Biên thì Khoa nói với tôi: “Em có ghi băng hẳn hoi, đâu có bịa”
Lại có chuyện Nhật Hoa Khanh công bố một bài phỏng vấn Tố Hữu rất dài. Đọc bài phỏng vấn này, thấy Tố Hữu nói ngược hẳn những điều ông nghĩ, ông viết và ông làm trước đây đối với các nhà văn thuộc nhóm Nhân văn giai phẩm. Ngược hẳn lại như quay 180 độ, khiến rất khó tin là có thật. Trần Đăng Khoa cho rằng, Tố Hữu quả cũng hay phủ nhận những điều mình đã nói, đã làm, nhưng không đến nỗi quá quắt như trong bài phỏng vấn của Nhật Hoa Khanh. Tô Hoài thì nói, những sự kiện, những chi tiết trong bài phỏng vấn đều có thật cả, chỉ có điều Tố Hữu nói ngược lại. Nhật Hoa Khanh thì nói, anh có ghi âm, còn giữ băng ghi âm.
Hiện tượng này tôi vẫn thấy khó tin và cũng khó giải thích. Hay là giải thích bằng tính cách của người Huế chăng: “Sơn bất cao, thuỷ bất thâm...”
Tố Hữu ngay khi đã mất hết chức vụ, vẫn rất hách. Trong một cuộc gặp mặt của các nhà văn lão thành (Hữu Thỉnh hằng năm cứ vào đầu xuân lại mời các nhà văn ở Hà Nội từ 70 tuổi trở lên đến gặp mặt để chúc Tết và mừng tuổi),  người đã đến đông, Tố Hữu đến sau, ông nhìn khẩu hiệu trên tường: “Hoan nghênh các nhà văn lão thành cách mạng”, nói thủng thẳng: “Lão, nhưng liệu có thành không chứ!”
Tính cách như thế nên nói chung văn nghệ sĩ không ưa. Khi ông có chức có quyền, người ta sợ, người ta phải đến – như xếp hàng chúc Tết ông chẳng hạn. Nay hết chức quyền rồi, người ta lảng hết. Tôi nhớ đám tang Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh ở 51 Trần Hưng Đạo, người đến viếng đông lắm. Viếng xong, mọi người sang phòng bên uống nước và trò chuyện. Tôi thấy Tố Hữu ngồi một mình. Chả có ai đến nói chuyện. Ông ngồi một lúc rồi lẳng lặng bỏ về.
Hết mọi quyền lực rồi, Tố Hữu vẫn có tật nói nhiều. Hôm báo Văn nghệ  tổ chức hội thảo về cuốn Chân dung và đối thoại  của Trần Đăng Khoa, ông có đến dự. Một mình ông nói hàng tiếng đồng hồ.
Lúc Tố Hữu đã mệt nặng, Nguyễn Khải có đến thăm. Khải nói, ông đã mệt lắm, nói không ra tiếng, vậy mà miệng vẫn mấp máy, lắp bắp. Đúng là mắc bệnh nói.
Hình như Gala cười có diễn một tiết mục văn nghệ về một anh chàng mắc bệnh nói nhiều thì phải.
Ca dao có câu:
                    Rượu lạt uống lắm cũng say,
          Người khôn nói lắm, dẫu hay cùng nhàm.

                                                  Láng Hạ, ngày 22 – 5 – 2007.
                      N.Đ.M.




PHẠM THẮNG VŨ : Con sóng dữ - KỲ 22



                                    (tiếp theo)

Tôi, Bẩy và Đào cầm túi xách bước theo chân anh Hai Nghệ ra phòng khách, khép nép ngồi xuống ghế bên chiếc bàn gỗ mặt đá rửa mầu xanh ngọc thạch hình chữ nhật trước cái tủ thờ. Ông bà Ba chủ nhà, vẻ mặt hiền lành ngồi không xa ở bộ ván ngựa lên nước láng bóng. Tôi nhìn sơ căn phòng. Bộ lư đồng cùng hai chân nến xỉn màu đặt trên nóc tủ thờ. Một lư sành nhỏ chi chít chân nhanh nằm trước các khung hình người quá cố. Trên cao sát với mái ngói, hai trang thờ phủ kín vải đỏ. Không có hình Phật Thích Ca hay tượng Phật Bà trong nhà. Nhìn qua các cột gỗ, tôi sững người khi thấy các tấm biển tổ quốc ghi công với chữ ký của gã thủ tướng Phạm Văn Đồng cạnh dấu tròn đỏ. Kín đáo liếc nhìn ông bà Ba, nhủ thầm mình đang ở trong nhà một gia đình cách mạng. Quay nhìn mé sau lưng, vài bảng nhỏ huân chương kháng chiến hạng hai, hạng ba treo trên vách nhà. Tôi đâm sợ vì các tấm biển ghi công, huân chương nhưng lại bớt lo. Gia đình cách mạng nằm trong đường dây tổ chức, chuyến vượt biên sẽ an toàn. Đón rồi ém ba chúng tôi trong nhà, ông bà Ba làm y như trước đây với cán bộ Việt Cộng khi còn hoạt động. Niềm tin vào chủ thuyết cộng sản chỉ còn trên giấy và trong khẩu hiệu. Tôi mỉm cười vì ý nghĩ trong lòng, chợt nghe anh Hai Nghệ nói:

- Mình đi bằng ta xi đến điểm hẹn tối khuya nay. Khi đủ khách, cá lớn chạy khoảng 4 tiếng đồng hồ thì sẽ gặp biển.

- Bốn tiếng đồng hồ gặp được biển. Sao nhanh giữ vậy anh? Tôi hỏi.

- Đây với biển gần lắm mấy em. Anh Hai Nghệ trả lời.

- Các cháu có tắm rửa, thay đồ gì thì làm ngay bây giờ chứ để xuống dưới ghe rồi đi mấy ngày mới tới bển khó chịu lắm. Bà Ba chen vào.

Hai Nghệ ra bên ngoài nhà xách thêm nước đổ vào lu trong buồng tắm cho ba người chúng tôi. Hai cô gái lần lượt đi tắm trước để mình tôi ngồi với hai ông bà. Ông Ba cho biết trong vùng chỗ nào cũng gặp kênh rạch cùng nhà cửa cất sát bên cạnh. Đi đâu một bước phải dùng xuồng hay ghe. Nhà dù giàu hay nghèo cũng phải có cái xuồng, chiếc ghe để làm chân đi. Ai không có ghe có xuống rất bất tiện. Ghe xuồng ở đây như xe gắn máy hai bánh của dân thành phố. Hỏi về các tấm biển tổ quốc ghi công hoặc huân chương kháng chiến, bà Ba nói của hai người con một nam một nữ đã chết từ lâu. Cô gái út còn sống là vợ anh Hai Nghệ. Điều tôi không ngờ, anh Hai Nghệ đi lính Sư đoàn 7 Bộ binh VNCH. Nhiều gia đình tại Việt Nam có tình trạng tréo ngoe tương tự. Người ở bên phía miền Nam VNCH, người đi theo phe Việt Cộng.

- Anh Hai lính chế độ cũ hả bác? Anh có đi chuyến tối nay không? Tôi hỏi ông Ba.

- Nó muốn đi lúc nào mà không được cháu, nhưng nó nói tiếng Tây tiếng U không biết sang đó làm giống gì ăn. Cháu coi, đi đâu cũng phải làm mà ở đây sống dễ chịu quá nên vượt biên làm chi. Lại nữa, nó nói bây giờ bắt đầu có tuổi rồi còn ham hố gì. Ông Ba cười nụ, trả lời.

Thiệt tình! Người muốn vượt biên lúc nào cũng có dịp lại không thèm, người tìm đủ cách vẫn không ra. Thậm chí có người bị lừa mất vàng, bị bắt còn chưa sờ tay được vào thân cá lớn nữa.

Hai Nghệ châm thêm nước xong, hối tôi đi tắm. Những giọt nước mát xối lên người cho tôi một cảm giác khoan khoái dễ chịu vô cùng. Tôi thử hớp một ngụm nước, nó có vị lờ lợ nhưng cũng rửa sạch lớp cặn mồ hôi bám lên tóc lên người trong suốt thời gian rời khỏi nhà người cậu ruột cho tới giờ. Tắm xong, tôi giặt vội bộ quần áo và đem phơi nó trên hàng dây bên hông tường. Gió từ hướng vườn cây đằng sau nhà thổi rất mạnh. Gió cùng hơi nóng buổi chiều sẽ làm bộ quần áo mau khô để tôi mang theo tối khuya nay. Đằng sau căn nhà ông bà Ba, chục khạp mầu nâu hình quả dừa chứa nước mưa để uống để nấu ăn được đậy kín miệng nằm dưới chòi lá. Nước sinh hoạt tắm giặt, gia đình ông bà Ba lấy từ con rạch gần nhà. Cơn triều lên, họ kín nước đổ đầy lu, phi sắt rồi đánh phèn làm trong trước khi dùng. Sau chòi lá, hàng cây ăn trái xum xuê cùng các bụi chuối thấp thoáng. Điệu lý cải lương réo rắt từ máy cassette xa xa vọng lại lúc nhỏ lúc to trong tiếng gió. Vùng đồng quê miền sông nước thật êm ả, bình dị khác với vùng Hố Nai ồn ào chỗ nhà cậu mợ tôi. Giờ này chắc mẹ tôi đã về nhà dưới Sài Gòn. Lúc còn ở nhà cậu mợ, bà kể gã thanh niên trẻ chạy xe đến đón đã chưng hửng khi nghe nói có người ghé nhà chở tôi đi khỏi không lâu. Nghe vậy, gã thanh niên vọt xe máy chạy liền và chiều hôm đó quay lại nhà tôi với một công an khác. Hai gã hỏi người trong gia đình về chuyện đón tôi đi lúc trưa. Mẹ tôi đành phải xí gạt, nói hoàn toàn không biết gì thêm. Dò la mãi không ra manh mối, hai gã công an hậm hực bỏ đi. Em gái tôi cho biết thằng Minh vẫn biệt tăm tích chưa về.

Người dân sống trong vùng sông nước ở đây trồng nhiều loại cây ăn trái như cam, mãng cầu, ổi, mít, xoài, chuối... và loại trái nào cũng ăn rất ngọt. Dọc đường đi, tôi đã qua các vườn cây rậm rạp, trù phú nhưng thấy chỉ có dừa được trồng nhiều nhất. Đủ loại dừa từ loại dừa lửa nhỏ trái, dừa bị xanh to hoặc dừa xiêm vừa vừa cho nước uống ngọt thanh. Dừa nhiều, dân trong vùng làm thành kẹo dẻo ăn rất ngon. Trời tối hẳn, bà Ba dọn cơm ra bàn cùng ăn chung với ba chúng tôi bữa tối cuối cùng ở nhà. Kinh nghiệm từ các chuyến đi vượt biên, tôi không dám ăn no trước khi xuống ghe. Đào, Bẩy cũng sợ say sóng sẽ ói nên chỉ lùa vài miếng qua loa. Bữa cơm chấm dứt mau lẹ, bà Ba dọn dẹp rồi mang nước lá dứa nóng và kẹo dừa ra bàn. Anh Hai Nghệ ghé miệng vào sát ngọn đèn dầu hỏa, bập vài hơi mồi lửa điếu thuốc rê rồi nói:

- Bây giờ mấy đứa có buồn ngủ thì ngủ ngay đi còn không ngồi chơi với tía má anh. Có kẹo ngọt nước nóng cứ nhâm nhi cho vui miệng. Anh đi liên lạc xem đưa đón ra sao khuya nay.

Ba người chúng tôi vẫn ngồi yên chỗ, sắp xuống taxi có ai ngủ được. Đào, Bẩy mặc bộ quần áo mầu đen cho tiệp với bóng đêm, tôi thì bộ đồ công nhân xanh cũ. Trong ánh đèn dầu vàng mờ, chúng tôi quây quần như người cùng một gia đình trò chuyện sau bữa cơm tối. Bà Ba thỉnh thoảng châm thêm nước cho mọi người uống, xởi lởi: 

- Từ đây ra ngoài vàm không xa đâu. Lên được ghe lớn rồi chịu cực vài bữa mấy cháu tới bển liền. 

Ông Ba hỏi thăm về gia đình tôi ở Sài Gòn. Từ hôm trú ẩn trong căn buồng gói cho tới giờ mới có dịp ngồi cạnh ông, tôi muốn hỏi nhiều việc để biết. Vùng này gần biển, dân cư đã sống từ lâu hay mới về lập vườn lúc gần đây. Không biết thời còn chiến tranh có ai sống đây không hay chỉ thuần một vùng đất hoang? Nhìn các tấm ảnh thờ trên tủ và những tấm biển ghi công huân chương, tự nhiên tôi tò mò:

- Hai người này chết chắc lâu? Gia đình bác liệt sĩ cách mạng hả?

Nghe câu tôi hỏi, ông Ba nhăn mặt im lặng, bà Ba cũng ngưng chuyện dở dang với hai cô gái và khẽ liếc mắt nhìn tôi. Thấy cử chỉ của hai ông bà, tôi chột dạ thầm nghĩ mình vụng về đã làm hỏng bầu không khí đang vui. Tôi vội lập bập với ông:

- Cháu lỡ lời làm bác giận, xin bác...

- Đừng hỏi chuyện ngày xưa nữa mậy. Gia đình tao dám chứa tụi bây vượt biên thì cũng đủ hiểu rồi mà còn bá láp. Mầy làm tao ghét quá! Thằng Bắc Kỳ con. Ông Ba khoát tay, đột ngột đổi cách xưng hô. 

Nói xong câu, ông hầm hầm ngồi yên và xoay mặt nhìn qua chỗ khác. Tôi thật dở ẹt khi hỏi kiểu điều tra về chuyện riêng gia đình làm ông Ba hiểu lầm, đành luống cuống ngồi im. Đào và Bẩy không biết rõ chuyện nhưng kín đáo nhìn tôi với ánh mắt trách cứ. Không khí im lặng ngột ngạt, tôi chưa biết phải làm gì chợt bà Ba xen vào:

- Ông này, có gì chấp nhứt mấy đứa cho mất vui. Lại còn Bắc Kỳ với Nam Kỳ nữa! 

Dứt câu bà cười xòa nhìn cả ba chúng tôi đầy thân thiện, thông cảm. Ông Ba không nói một lời, đứng lên bỏ đi vào trong buồng riêng. Tôi liền xin phép bà Ba đi nằm nghỉ ở bộ ván ngựa. Đào, Bẩy tản ra lấy giỏ sách rồi sắp xếp lại quần áo cùng vật dụng bên trong. Nằm trên bộ ván, tôi nhắm mắt vờ ngủ nhưng mong chuyến taxi mau đến. Đồng hồ trên tay đã 8:17 tối.

Gần tiếng đồng hồ sau thì anh Hai Nghệ về tới và hối ba chúng tôi theo chân đi ngay. Bà Ba ở lại coi nhà, cả bọn cùng kéo nhau ra bên ngoài. Xuyên qua các tàn lá cây trong vườn, bầu trời trên cao vắng lặng đầy sao không một gợn mây. Anh Hai Nghệ cầm đèn pin đi trước dẫn đường, gió thổi nhẹ lay động những tàu lá chuối cùng các cành của bụi cây thấp. Chúng tôi băng qua vườn cây cùng những con mương nhỏ dẫn nước đến chỗ taxi là chiếc xuồng ba lá đang nằm chờ sẵn dưới hàng dừa cạnh một con rạch. Hai cô gái bước xuống xuồng, tôi đứng lại từ giã anh Hai Nghệ. Quay qua ông Ba, tôi ấp úng xin lỗi về chuyện lỡ lời làm ông giận khiến anh Hai Nghệ ngạc nhiên nhìn trân trối. Nghe tôi nói, ông Ba cười độ lượng, nắm chặt tay ân cần:

- Cháu đừng bận tâm chuyện đó nữa, bác cũng nóng giờ đã quên hết. Thằng Hai gốc lính Cộng Hoà còn làm rể trong nhà thì cháu phải hiểu gia đình bác. Chúc cháu với hai cô tối nay đi đường bình an. 

Tôi ngồi vào giữa xuồng đối mặt với cô Bảy đằng trước và cô Đào sau lưng. Hai người đàn ông chèo xuồng dặn cả ba tuyệt đối ngồi yên, giữ im lặng. Xuồng bắt đầu tiến nhè nhẹ giữa hai bờ rạch tối đen, cây cối lùm xùm. Quen đường đi nước bước, hai người phu dễ dàng chèo chiếc xuồng ra khỏi con rạch và nhập vào dòng kênh rộng hơn. Cứ vậy, xuồng ba lá chạy gần một giờ thì gặp sông lớn. Trăng lờ mờ hiện ra ở đường chân trời. Gió xuôi cùng con nước ròng giúp hai người phu chèo xuồng thật nhanh thật nhẹ. Nước chảy rất xiết nên xuồng chỉ dám chạy sát bờ trong làn hơi nước từ mặt sông hòa với gió thổi mát lạnh. Nhìn mặt nước rộng, tôi không thấy được phía bờ đối diện và cũng không rõ đang ở trên sông nào? Khi chia tay ở xa cảng miền Tây, em gái tôi cho biết có thể cá lớn sẽ ra biển bằng ngã Bình Đại nhưng lại không chắc. Đám tổ chức đã chở tôi vượt qua Mỏ Cày trước khi xuống tới Rạch Dầu-Thạnh Phú. Từ đây muốn đến Bình Đại phải qua Giồng Trôm và như vậy tôi phải ở phía bên kia sông lớn. Hồi còn học giờ địa lý bậc trung học, tôi nhớ Bến Tre thông ra biển bằng các cửa sông Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên và cửa Đại. Học từ lâu nay đã quên hết, định buột miệng hỏi hai người phu nhưng nhớ lời họ đã dặn nên tôi ngồi im. Cửa sông nào cũng được, miễn sao cá lớn ra biển an toàn, tôi nhủ thầm. Ngồi yên lại nhớ chuyến đi không thành vừa qua, nhớ về mẹ tôi cùng các cô em gái trong nhà. Nhớ những lúc ngủ ngồi gà gật liền mấy ngày trong căn buồng đầy rệp đói và chuyện vô tình khiến cho ông Ba hiểu lầm. Thường thì người hiền lành ít nói như ông Ba lại có tính rất cục, lẽ ra tôi không nên hỏi vớ vẩn với ông. Đột nhiên tôi nhớ mình đã bỏ quên bộ quần áo giặt sạch phơi bên hông nhà hồi lúc chiều.


                          (còn nữa)