Tổng số lượt xem trang

Thứ Năm, 22 tháng 9, 2011

VĂN CHƯƠNG VIỆT NAM ĐƠN ĐIỆU QUÁ (!)

HỘI NHÀ VĂN QUA CÁC KỲ ĐẠI HỘI (2) :


                Văn chương Việt Nam đơn điệu quá ?                    


So sánh với thời thực dân Pháp, nhà văn Hoàng Quốc Hải tiếc rẻ :
“10 năm đó (1932-1942), các trường phái văn chương đua nhau nảy nở. Bản thân mỗi nhà văn đều có lòng yêu ghét rõ ràng , và được viết tất cả những gì mình muốn viết mà không sợ chính quyền thực dân cản trở…”
Thế còn dưới chế độ Đảng lãnh đạo thì sao :
“Văn chương Việt Nam đơn điệu quá. Trên nửa thế kỷ qua tất cả chỉ nói theo một giọng điệu, viết theo một thi pháp. Bản thân nghệ thuật là khám phá là luôn luôn tìm tòi đổi mới , vậy mà 50 năm qua chỉ có mỗi một con đường làm gì chẳng cũ kỹ , sáo mòn. Lẽ ra phải tạo điều kiện để có nhiều con đường khác nhau, cùng đến chung một mục đích : đó là dân tộc, tổ quốc là chủ nghĩa yêu nước.”
Rõ ràng ông nhà văn kết tội Đảng 60 năm qua chỉ o ép nhà văn đi theo mỗi một con đường tuy không nói thẳng ra nhưng ai cũng biết – đó là con đường sáng tác theo phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa và chẳng rõ nó hay ho ra làm sao mà chỉ  thấy tạo nên một nền văn học “đơn điệu”, nói theo “một giọng điệu” , viết theo một thi pháp, bởi vậy làm sao có tác phẩm hay ?
Cụ thể hơn nữa, Hoàng Quốc Hải đặt thẳng vấn đề với Đảng :
“ Vậy cái gì cản trở nhà văn ?”
Và ông rụt rè tự trả lời :
“ Phải chăng quyền tự do sáng tác, tự do công bố tác phẩm của nhà văn bị hạn chế ? “
Ông không dám trực tiếp đưa ra câu trả lời hiển nhiên :” quyền tự do sáng tác , tự do công bố tác phẩm của nhà văn không những bị hạn chế mà còn bị Đảng tước đoạt, khống chế…” . Và ông đá trái banh sang người cầm bút :
“ (Cái cản trở nhà văn) còn là sự tự kỷ ám thị, lâu năm trở thành nỗi sợ hãi  tới mức không dám viết về những điều mình nghĩ…”
Nhà văn không dám viết những điều mình nghĩ thì hẳn là chỉ còn viết những điều…Đảng nghĩ. Và Đảng nghĩ gì thì  cả nhà văn lẫn bạn đọc đều đã biết quá rõ : nào “Đảng ta thật là vĩ đại”, “ công ơn của Đảng thật là lớn lao”, nào sự lãnh đạo của Đảng đối với dân tộc Việt nam là toàn diện,  tuyệt đối , vĩnh viễn và không có gì thay thế được. 60 năm qua nhà văn Việt Nam viết đi viết lại suy cho cùng chỉ có chừng đó  trách gì bạn đọc chẳng quay lưng lại với nhà văn.
Đã khiếp sợ không dám viết những điều mình nghĩ, nhà văn còn bị “ràng buộc bởi “ chế tài những sai sót của nhà văn không được minh bạch, không có luật mà phụ thuộc vào định hướng chung chung. Và rồi ai cũng có quyền phá hỏng cả một sáng tác nghiêm túc của nhà văn, thậm chí phá nát cả sự nghiệp và cuộc đời nhà văn bằng nhận ï thức thấp kém của chính  một người uyền uy nào đấy. Tình trạng đó cho tới nay vẫn chưa chấm dứt…Thỉnh thoảng vẫn còn thấy những tác phẩm bị đình chỉ phát hành, bị thu hồi nhưng không công bố công khai, khiến tác giả và công chúng cũng không biết vì sao…”
Ai cũng có quyền chôn vùi một tác phẩm khi lu loa lên rằng nó “có vấn đề về tư tưởng”. Sự trừng phạt đối với “ Vào đời” của Hà Minh Tuân, “Đêm đợi tàu” của Nguyễn Đỗ Phú, “Vòng trắng” của Phạm Tiến Duật, “ Cây táo ông Lành” của Hoàng Cát …đều bắt đầu từ một sự lu loa như vậy. Người ta chưa quên những ông Vụ trưởng Vụ xuất bản đầy quyền uy mà nhận thức lại thấp kém như Lê Thành Công đã  bác bỏ không cho tái bản cuốn sách “ Anna Karênin” của Tolsoi với lý do nó là chuyện về….một con đĩ ngoại tình.
Có lẽ đây là lần đầu tiên, trên một diễn đàn công khai, một diễn đàn lớn như Đại hội nhà văn VN, một nhà văn đã lên tiếng thẳng thắn đòi tự do và dân chủ cho nhà văn và cả nhà báo :
“ Để chấm dứt tình trạng mù mờ đó cần phải xây dựng một xã hội đối thoại, xã hội dân chủ. Vì vậy, mọi thứ phải được minh bạch trên tinh thần thượng tôn pháp luật. Tôi đề nghị Nhà nước hãy trả lại cho văn chương , báo chí quyền tự do sáng tác  mà Nhà nước đã trưng dụng trong hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm vừa qua…”
Vậy là đã rõ, lấy cớ chiến tranh, Nhà nước đã tước đoạt quyền tự do và dân chủ của nhà văn, nhà báo và tình trạng đó vẫn kéo dài cho tới tận ngày nay chứ không phải như  các cán bộ của Đảng và Nhà nước kiểu như ông Lê Dụng , người phát ngôn của Chính phủ vẫn cứ leo lẻo rằng ở Việt Nam luôn luôn có tự do và dân chủ. Đây thực sự là một tố cáo công khai và mạnh mẽ ngay trước thềm của Đại hội Đảng cộng sản lần thứ 10 sắp tới. Về chế độ kiểm duyệt nhà văn Hoàng Quốc Hải đưa ra một hình ảnh thật hãi hùng :
“ Cả nước có tới gần 1000 tờ báo và tạp chí, nhưng quy về chỉ có mỗi  một ông Tổng biên tập, tránh sao khỏi đơn điệu và sáo mòn…”
Ông Tổng biên tập, chủ bút của cả ngàn tờ báo đó chính là đông chí Nguyễn Khoa Điềm kính mến, Uỷ viên Bộ chính trị, Trưởng ban văn hoá và tư tưởng, người nắm giữ vận mệnh của tất cả những ai cầm bút , cầm cọ và cầm đàn, số phận  của tất cả những sản phẩm vật thể và phi vật thể dính dáng tới văn hoá nghệ thuật. Ông chỉ cho xuất hiện và tồn tại những gì có lợi cho Đảng của ông – ngược lại điều đó ông thẳng tay cấm đoán. Đó không chỉ là chuyện hôm nay mà đã có từ ngày “các nhà văn có Đảng”. Nhà văn Hoàng Quốc Hải còn đòi thể chế hoá quyền tự do sáng tác  thành luật :
“ Công dân nhà văn Việt Nam không được phép viết ra , cũng như không được phép công bố  những điều mà luật pháp đã ngăn cấm. Ví dụ tuyên truyền cho dâm ô, bạo lực, kích động các phần tử phản động chống lại Nhà nước…Trái lại công dân nhà văn Việt Nam có quyền được viết , được công bố những sáng tác phẩm của mình trên các phương tiện thông tin và in ấn với những nội dung mà luật pháp không cấm…”
Như vậy nhà văn có thể vạch mặt bọn tham nhũng, sự hủ bại và phi lý trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước…chỉ được “quyền” như thế cũng đủ cho nhà văn nhà báo tung hoành ngòi bút lắm rồi, nhưng mà sức mấy Đảng cho phép.
Ngoài tự do sáng tác, Hoàng Quốc Hải còn đòi :
“ Ngoài  quyền tự do sáng tác đã bị Nhà nước trưng dụng của nhà văn, nhà báo còn có quyền được  thông tin khách quan của công chúng. Chiến tranh đã chấm dứt 30 năm rồi mà văn chương báo chí vẫn sống trong cảnh mù mờ…”
Người ta còn nhớ những chuyện “cười ra nước mắt” như kiểu đưa tin về chiến tranh Iraq vừa qua của các phương tiện truyền thông Việt Nam. Một ông tướng Phó Tổng tham mưu quân đội Việt Nam nhảy lên ti vi hăng hái phân tích tình hình chiến sự và khăng khăng nhận định rằng Mỹ sẽ sa lầy vào một thế trận chiến tranh du kích trùng trùng điệp điệp, rằng thủ đô Bátđa sẽ trở thành một Stalingrat ( thời Liên xô chống Đức) kiên cường, bất khuất ….làm bà con cả nước cứ tin như đinh đóng cột rằng không bao lâu nữa nhất  định Mỹ sẽ thua Iraq không khác gì thua Việt Nam trước đây. Đúng một cái, không đầy 3 ngày sau, cũng cái đài ti vi đã đưa ông tướng lên bình luận này buộc phải đưa tin chế độ độc tài của Saddam đã sụp đổ hoàn toàn. Thông tin đã được Đảng lèo lái như thế đấy và đã đến lúc Đảng phải trả lại cho Nhà nước quyền kiểm duyệt trong khuôn khổ pháp luật :
“Tôi đề nghị Nhà nước nên thành lập một cơ quan kiểm duyệt . Ví dụ đó là Cục kiểm duyệt chẳng hạn, đặt nó trong Bộ nào, ngành nào thì tuỳ ý…”
Đây là một đề nghị thực sự nhức nhối đối với Đảng, bởi lẽ từ xưa tới nay mọi việc kiểm duyệt đều nằm trong tay Đảng; trong những cuộc họp giao ban hàng  tuần , hàng tháng với Tổng biên tập, phóng viên các báo cán bộ Ban tư tưởng thường đưa ra những yêu cầu của Đảng trong đưa tin và uốn nắn những bài vở không có lợi cho Đảng. Đó thực sự là một sự kiểm duyệt trong bóng tối mà nhà văn yêu cầu đưa ra nó  ngoài ánh sáng. Mới đây người ta được biết ràng chính Lương Quốc Dũng, quan chức cao cấp Nhà nước bị bắt quả tang cưỡng hiếp gái vị thành niên đã đút lót tiền cho Vụ trưởng Vụ báo chí Vũ Duy Thông và Phó ban tư tưởng văn hoá Hồng Vinh  và quả nhiên sau đó ông Trưởng ban Nguyễn Khoa Điềm đã ra lệnh cấm báo chí không được đưa tin vụ này khiến trong một thời gian dài nó bị chìm vào im lặng. Nắm quyền kiểm duyệt trong tay và thực hiện nó trong bóng tối, Đảng thủ lợi nhiều bề như vậy trách gì Đảng cứ khư khư nắm giữ nó.

                                                   ( còn tiếp)



Thứ Tư, 21 tháng 9, 2011

HỘI NHÀ VĂN QUA CÁC KỲ ĐẠI HỘI (1)

                  Hội nhà văn của nước ta…





                      “…mấy thằng chạy chức đi ra đi vào

                          nghèo thì đậu phụ thuốc lào

                          giàu thì rượu ngoại phong bao phải dày

                          tiền tươi phải tới liền tay

                        “Chấp hành”* một ghế nhận ngay khó gì …”

       

Ngay trước ngày khai mạc Đại hội lần thứ 7 Hội nhà văn Việt Nam, 24-5-2005, dư luận trong giới cầm bút đã ì xèo chuyện “ chạy ghế” vào Ban chấp hành, chuyện “lật đổ” nhà thơ Hữu Thỉnh , người ngồi đã quá lâu trên ghế Tổng thư ký Hội, người xây dựng “bộ máy” cấp 1 ( cơ quan của Hội) và bộ máy cấp 2 ( báo chí, xuất bản, hãng phim, bảo tàng…) toàn bằng đồng hương Vĩnh Phú.

  Trên báo Công an nhân dân đã đăng công khai bài viết của nhà thơ Phạm Tiến Duật tố cáo Hữu Thỉnh “phạm pháp”, lộng quyền, ôm đồm, bao biện hết cả tiền của Đảng rót cho nhà văn. Ngay trong đại hội, cuộc “vận động hành lang” vẫn diễn ra náo nhiệt, nhà thơ Trần Ninh Hồ mất cả buổi trưa để vận động lão nhà văn Nguyễn Quang Sáng lên “ tham luận” yêu cầu Hữu Thỉnh từ chức, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo , Nguyễn Thuỵ Kha, nhà văn Trung Trung Đỉnh, Cao Tiến Lê…dáo dác khắp nơi mong kiếm được một vé vào Ban chấp hành. Và ngay trong đám các nhà văn Vĩnh Phú chia nhau các loại ghế ở Hội nhà văn, cũng không thống nhất thành một khối, trước đại hội cũng “uýnh” nhau lộn bậy khiến bà con lại có thơ rằng :

“ Mấy thằng Vĩnh Phú đánh nhau

Hữu Thỉnh vỡ đầu Tiến Duật sứt tai

Văn Chinh chém mướn vòng ngoài

Vĩnh Tuấn nổi cáu dở bài bọ hung

Chung quy cũng tại vua Hùng…

Đẻ ra một lũ vừa điên vừa khùng…”

Hữu Thỉnh, Phạm Tiến Duật, Văn Chinh, Trương Vĩnh Tuấn đều là người Vĩnh Phú, quan chức Hội nhà văn.Tuy nhiên, dù có chạy chọt đấu đá ra sao thì mọi mơ tưởng của mấy anh nhà văn đều hão huyền bởi lẽ vấn đề “nhân sự “ là do cấp trên quyết định đúng như lời ông Nguyễn Khoa Điềm, Trưởng ban tư tưởng văn hoá phát biểu tối ngày 22 tháng 4 trong cuộc họp giành riêng cho đảng viên :” Uỷ viên chấp hành các đồng chí bầu  ai thì bầu riêng Tổng thư ký phải để cho  Đảng chỉ định…”. Và theo tinh thần chung cho các Hội, để giữ vững ổn định chính trị, tránh xáo trộn , tốt nhất là bầu ông Vũ Như Cẫn lãnh đạo , quả nhiên Đại hội đã “bầu ra” Tổng thư ký ( giờ đổi thành Chủ tịch) vẫn là Hữu Thỉnh, Phó Tổng thư ký ( tức Phó Chủ tịch) vẫn là Nguyễn Trí Huân – không có gì thay đổi.

Đại hội lần thứ 7 diễn ra trong tình hình các nhà văn hầu hết đã được “thuần hoá”, đã trở thành “bé ngoan” của Đảng, bởi vậy Đảng không còn lo những tiếng nói “phản kháng”, “chống đối” cất lên từ diễn đàn đại hội. Duy nhất có nhà thơ đòi đa nguyên đa Đảng là Bùi Minh Quốc mới được tha “quản chế” thì lại bị “Đại hội cơ sở các nhà văn miền Đông Nam Bộ” không bỏ phiếu cho đi dự Đại hội toàn quốc. Tuy nhiên ông Bùi Minh Quốc vẫn bay ra Hà Nội đòi vào Hội trường Ba Đình trong lúc đại hội đang họp và bị công an mời ra vì không có …huy hiệu vào cửa vốn chỉ phát cho đại biểu chính thức. Không chùn bước, nhà thơ Bùi Minh Quốc lại kiện Ban tổ chức đã cho cả nhà phê bình Phạm Quang Trung ở Đà Lạt đi dự đại hội khi ông này đã bị khai trừ khỏi hội về tội tham ô, hơn nữa, nhà thơ Bùi Minh Quốc vẫn ứng cử vào Ban chấp hành dẫu không trúng nhưng vẫn đạt được hơn 100 phiếu bầu, qua đó cho thấy tỷ lệ “ủng hộ phản kháng” ngầm trong bụng của các nhà văn Việt Nam là 20 phần trăm.

Ngày đầu tiên 23 tháng 4, họp “nội bộ”, trong hầu hết những tham luận “tát nước theo mưa” đòi nhà văn đứng vững trên lập trường của Đảng, bỗng nảy nòi ra bài tham luận của nhà văn Hoàng Quốc Hải có tựa đề “ Nỗi niềm tác phẩm đỉnh cao”.

Trước hết ông đưa ra thân phận cay đắng của nhà văn “đỉnh cao “ Vũ Trọng Phụng :

“ Sinh thời ông chỉ ao ước :” Nếu ở đời có được cơm mà ăn no nhỉ ?” . Năm 27 tuổi ông qua đời vì bệnh lao phổi để lại một người con gái 2 tuổi và một đống tác phẩm. Không ít trong số mấy chục tác phẩm của ông đạt đỉnh cao thế giới.”                           

Vậy mà những tác phẩm ấy bị vùi lấp trên nửa thế kỷ, không một lần được tái bản. Bởi một thời gian rất dài người ta vu cho ông là phần tử trốt kít (Trosky). Tới khi tác phẩm của ông được tái bản, chị Vũ thị Hằng , con gái ông đã ngoài 50 tuổi, chỉ dán mắt nhìn tác phẩm của cha mình trở thành tài sản chung của xã hội theo “luật bản quyền” mới ban hành..

Chị Hằng và chồng chị đã đưa phần mộ của cha mình về ngôi vườn tại quê hương làng Mọc. Ngôi mộ được xây cất đàng hoàng, ốp đá cẩm thạch mà không có bất kỳ tài trợ nào từ Nhà nước và các hội đoàn. Sự thờ ơ đến bội bạc của đương thời và hậu thế khiến nhiều nhà văn nản lòng…”

Nhưng đó là chuyện từ thời…tự lực văn đoàn, còn chuyện của Hội nhà văn 10 năm lại đây (1996-2005), ông Hoàng Quốc Hải nhận định :

“ số lượng tác phẩm của các nhà văn phát hành không phải là ít nhưng không khuấy động được công chúng. Không khí văn học bình lặng như mặt nước ao thu. Khá nhiều tác phẩm “tốt” cả về nội dung lẫn nghệ thuật nhưng công chúng bạn đọc vẫn thờ ơ và đòi nền văn học phải có đỉnh cao. Đòi hỏi đó là nỗi bức xúc của công chúng trước hiện thực xã hội. Bởi soi vào tác phẩm văn học họ thấy hụt hẫng.”

Độc  giả đòi hỏi như vậy vì sao các nhà văn không đáp ứng được cho dù “ cái nền hiện thực xã hội trong mười năm gần đây , dư thừa chất liệu cho các nhà văn Việt Nam làm nên tác phẩm đỉnh cao. Đây là cơ hội , dù nó là cơ hội đem lại nhiều bất hạnh cho số đông nhưng nếu bỏ qua sẽ là một tiếc nuối , một ân hận…”

Đúng là chưa bao giờ, xã hội cung cấp cho nhà văn nhiều chất liệu đến như thế này :

“ Bức tranh xã hội đủ mầu sắc. Vui có, buồn có, bi thương có, âm mưu thủ đoạn có, tham nhũng hối lộ có, lừa đảo có, đểu cáng có, bất hiếu bất mục, bất nhân bất nghĩa…không thiếu một loại nào . Đặc biệt lũ cơ hội xuất hiện nhan nhản. Đó là những kẻ tiếm quyền hành để tước đoạt trắng trợn tài sản quốc gia , hối hả tich luỹ vốn liếng để mau chân chạy sang hàng ngũ tư bản. Và bây giờ chúng đang âm mưu rửa tiền để  hợp thức hoá và công khai hoá số tài sản khổng lồ mà chúng chiếm đoạt bằng các thủ đoạn bất lương.

Công chúng đòi hỏi nhà văn bằng ngòi bút và lương tâm của mình phải vạch mặt bọn chúng, “không cho chúng nó thoát”. Phải cho tái xuất hiện các gương mặt kiểu Nghị Quế, Nghị Hách, Xuân tóc đỏ, bà Phó Đoan, Bá Kiên, Chí Phèo …thời hiện đại”

Những dòng văn mang đầy tính công tố và kết tội này được đọc giữa Hội trường Ba Đình, tiếc thay cử toạ lại là các nhà văn, ví thử là các đại biểu quốc hội – các ông nghị nổi tiếng “gật”, thì không biết  các quý “đại biểu’ ấy sẽ phản ứng như thế nào ?

Bức tranh hiện thực phong phú như vậy lại tuyệt nhiên không phản chiếu được vào tác phẩm, bởi thế “ công chúng mới chối bỏ.”. Độc giả quay lưng lại với các tác phẩm văn học là “điều tệ hại nhất đối với nhà văn . Đó còn là dấu hiệu báo trước một nền văn học đang vững chắc bước vào giai đoạn suy thoái…”

Nhận định này hoàn toàn đi ngược với Hội nhà văn trong Báo cáo tổng kết 5 năm nhiệm kỳ 6 do nhà thơ Hữu Thỉnh trình bày trong ngày khai mạc chính thức tại Hội trường Ba Đình ngày 24-4-05 với sự có mặt của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh , nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười , Trưởng ban Bí thư  trung ương Phan Diễn, Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm :

“ 5 năm qua văn học ta có thêm nhiều tác phẩm có giá trị về tất cả các thể loại . Mối quan tâm về hệ thống giá trị mới đang được xác lập , về đạo đức xã hội , về bảo vệ các giá trị truyền thống của dân tộc là những thông điệp thường gặp trong các tác phẩm văn học…”

Rõ thật là trống đánh xuôi kèn thổi ngược…



                                                                               (còn tiếp)





          



Thứ Ba, 20 tháng 9, 2011

COMPUTER..."TIỀN ĐỊNH"


 KỂ CHUYỆN NHÀ VĂN NƯỚC NGOÀI (3) :
    
                 computer...“tiền định”

                 

                          ( tiếp theo)

                                                                                                                                                   

            Sau một đêm đi chơi đã đời tại bãi đá tảng Godland bên bờ biển Baltic với những hình thù giống như đòan người đứng trên bờ nhìn ra biển thẳm,tôi ngủ mê mệt tới 7 giờ sáng đã nghe tiếng điện thọai thúc vào tai.

Tôi nhấc máy càu nhàu hỏi  có việc gì dậy sớm vậy? Nhà văn Stefan bên kia đầu giây nhắc đã  tới giờ dậy ăn sáng.Ăn sáng, mới nghe hai tiếng này tôi đã thấy ngán ngẩm hết cả mình mẩy .Hầu như tất cả các khách sạn trên đất Thụy Điển đều  cho khách trọ  qua đêm ăn sáng miễn phí và tất cả các khách sạn đều có thực đơn ăn sáng hệt nhau : batê, thịt nguội, giăm bông, mứt ,trứng cá ...và  cà phê,nước quả,nước trà. Đi qua mấy  khách sạn, nơi nào cũng “tái bản “ bằng ngần ấy món, sáng nay,tôi hy vọng khách sạn ở khu nghỉ mát cao cấp này sẽ bày món khác,nhưng vừa xuống phòng ăn,tôi đã thấy nhà văn Thomas vừa quệt bơ vào bánh mì vừa nháy mắt với tôi.Hóa ra  ở đây dẫu có sang trọng hơn  nhưng món ăn sáng thì cũng ngần ấy món như các nơi khác .

Nhìn vẻ mặt rầu rầu của tôi, Thomas vẫy tôi lại gần và dúi vào tay tôi một…gói mì ăn liên. Oh My God…đâu ra của quý thế này ? Tôi cảm ơn rối rít rồi tỉnh bơ ngồi ngay giữa bàn ăn xung quanh tòan các quý ông quý bà Thụy Điển sang trọng ăn  đồ tây, còn tôi bóc ngay gói mì bỏ vào bát nước xôi, sụyt sọat thật ngon lành.Còn  đang  nhâm nhi,Tomas đã chạy vào dục tôi ra xe.Tôi tán tỉnh :

              “ Sáng nay ở lại nghỉ thêm vài tiếng cho khỏe, trưa hãy đi...”

               Stepan lắc đầu :

              “Không được,đúng 9 giờ phải xuống phà đi Oskarshamn...số đăng ký vé 3123940...12 giờ ăn trưa...14 giờ xuống phà tới Oskarshamn thăm bảo tàng “Doderhuntan”...18 giờ...”

              Nói xong anh ta xách nghiến ngay valy của tôi ra xe.Tôi đành chạy theo  bụng luyến tiếc một chén trà nóng sau tô mì nóng trong cái lạnh đầu đông của xứ tuyết.Thế là đúng y như cái đồng hồ : 9 giờ chiếc xe bus nhỏ của chúng tôi đã lăn bánh xuống phà...12 giờ ngồi vào bàn ăn trưa...14 giờ đặt chân xuống Oskarshamn ,chưa kịp ngắm phố xá, đã phóng ngay tới nhà bảo tàng Doderhuntan,ở đó đã có một cô hướng dẫn viên chờ sẵn...18 giờ về tới khách sạn và một cuộc tiếp xúc với các nhà văn địa phương cũng đã đang đợi chúng tôi.

             Than ôi,vừa buông mình xuống chiếc giường đệm dày,với tay cầm chiếc remote mở kênh “pay tivi “ (xem kênh này phải trả tiền,80 cuaron lối chừng 160 ngàn một ngày đêm) để xem một phim Holywood vừa mới ra lò đã lại nghe tiếng Tomas ầm ĩ trong điện thọai gọi xuống đi dự chiêu đãi với các nhà văn.Vừa leo lên xe tôi đã than một câu chữ Hán “Nhất ẩm nhất trắc giai do tiền định...”, dịch cho Stephan và Tomas nghe , và nói thêm rằng lúc này mỗi miếng ăn mỗi miếng uống của chúng tôi  đều do hai anh định trước.Tomas nói “tốt ...tốt ...” rối rít và hy vọng trong chuyến đi này mọi việc đều diễn ra theo đúng kế hoạch.

Tiếc thay,trong lúc lập kế họach ,hai ông nhà văn Thụy Điển đã quên không đưa vào một yếu tố rất quan trọng : tính lè phè của người Việt Nam.Nào sáng ra phải có ấm trà đặc,cơm xong phải ngồi  nhâm nhi với cái tăm trong miệng, buổi trưa phải ngả cái lưng nhắm mắt một giấc trưa dù là vài chục phút.Đằng này tôi cứ bị lôi đi xềnh xệch từ tỉnh này qua tỉnh khác, nào bảo tàng,thắng cảnh,trường học,nhà máy,nào di tích lịch sử,tòa báo,Nhà xuất bản...kín  mít các cuộc gặp gỡ,các cuộc hội thảo.Tôi luôn miệng ca cẩm dù rằng chúng cứ việc bay theo gió,chiếc xe con cứ lăn bánh bon bon trên đường vòng quanh phần phía Nam đất nước Thuỵ Điển.

Tối hôm đó tôi hân hạnh ngồi cạnh một nhà văn nổi tiếng cỡ nhất nhì Thụy Điển : ngài Smith Goran Tunstrom.Ông nói với tôi rằng ông rất hạnh phúc khi cầm bút viết văn ,tôi trả lời ông rằng tôi thì ngược lại,tôi chỉ viết thật hay khi tôi bị cuộc đời cho ăn...quả đắng.đến lượt tôi hỏi lại ông :

        “ Ông có cho rằng sứ mệnh của nhà văn có phần nào giống như chúa cứu thế, cũng phải chịu đóng đanh trên thập giá của đời sống để có thể nói được đôi điều gì đó cho nhân dân họ không ?”

        Ông Smith Goran Tunstrom nhìn tôi giây lát rồi lắc đầu :

        “ Không,tôi không có ý định phải chịu đóng đanh trên thập giá để làm cáI gì đó tương tự như chúa cứu thế,tôi chỉ là nguời quan sát,chứng kiến và kể lạI thôi..”

        Tôi nói  mỗi nhà văn là một cõi riêng,không ai giống ai và chúng ta tồn tại bởi những cái rất riêng ấy và tôi tuy không cùng một cung cách với ông  nhưng  tôi rất tôn trọng nó và cái chính  của mỗi người vẫn là viết sao cho thật hay.Ông ngồi im có vẻ tư lự,sau  đó ông cụng ly với tôi  và nói chậm rãi :

       “ Có lẽ anh nói đúng...viết  về nỗi bất hạnh. thường dễ hấp dẫn,dễ hay..”

       Tôi nói với ông rằng một trong những nỗi bất hạnh lớn nhất của con người là nỗi bất hạnh trong tình yêu và phải chăng ông không có cái đó ?Ông nhà văn “no...no...” rối rít và ông kể với tôi rằng  trong đời ông chỉ yêu có một nguời , người đó chính là vợ ông bây giờ.Ông sống rất hạnh phúc với nàng, tuy nhiên,ông không thể từ chối những cô gái trẻ khác tới với ông,và thật đáng ngạc nhiên,ông vẫn coi như thế là sự chung thủy. Tôi cười :

       “ Vậy vợ ông có chung thủy với ông theo kiểu đó không ?”

      Ông cười :

       “ Tôi đã viết cả một cuốn sách về nỗi ghen tuông khi cô ta chung thủy với tôi theo kiểu  như thế. “

      Tôi hỏi ở vợ ông có cái gì mà ông yêu nàng đến thế,ông đáp gọn :

”sự hiểu nhau”.

Tôi a lên một tiếng thích thú,đúng vậy,thật hạnh phúc biết chừng nào khi hai con người hiểu nhau và cùng nói chung một thứ ngôn ngữ trong suốt cuộc đời.Có một tình yêu như thế thật bõ cho ta sống...Cứ như thế  chúng tôi trò chuyện rôm rả và khi tiệc tàn ông rủ tôi đi chơi với ông ở các đảo phía bắc Thụy Điển.Tôi nhận lời ngay và báo cho Tomas và Stefan biết.Hai anh chàng này lắc đầu lia lịa nhất định không cho tôi đi theo ông nhà văn kia bởi lẽ mọi việc đã được sắp xếp hết ở trong chương trình.Nói rồi Tomas móc túi đưa cho tôi coi lại bản kế hoạch.Bản này tôi đã được đọc ở nhà trước khi đi do anh chàng đại diện quỹ SIDA ở lãnh sự quán Thụy Điển đưa cho coi.Lúc đó tôi chỉ lướt qua,thật không ngờ nó là một bản “tử vi” quy định một “tháng sống trong đời “ chi tiết tới từng giờ và đã đưọc chuẩn bị từ nửa năm trước đây,được đưa vào computer và đã trở thành ý chí của “thượng đế’ không có thể nào thay đỏi được nữa.Stefan chỉ vào bản kế họach :

       “ Bây giờ mình về khách sạn ngủ.Sáng mai 7 giờ dậy.8 giờ ăn sáng.9 giờ di chuyển tiếp sang tỉnh Lund...ở đó ngưòi ta đã đặt phòng cho mình từ mấy tháng trước từ số phòng 201 tới số phòng 203....11giờ30 nhận phòng xong mình đi dùng bữa trưa với Xí nghiệp thủy tinh.”.

         Tôi vội vàng :

       “ Thôi khỏi đọc,khỏi đọc,tôi biết rồi,tôi biết rồi,nào chúng ta lên đường về khách sạn ...ngủ...”

          Tôi đành xin lỗi không thể nào nhận lời mời đi chơi với ông Tunstrom và hẹn gặp lại ông ở ...trên mạng internet sau khi tôi trở về Việt Nam.Ông nhìn tôi cười hiền lành và nói rằng rồi đây cái máu nổi hứng bất tử của các nhà văn chắc cũng phải được chương trình hóa ở trong computer.Tôi bắt tay ông thật chặt và nhìn theo ông khóac chiếc áo da trên vai đi vào dãy phố tối .Tôi chợt thấy ở ông có vẻ gì đó rất lôi thôi ,luộm thuộm mà ở tôi những cái đó dường như có thừa.Có lẽ sự giống nhau đó làm cả hai chúng tôi cùng quyến luyến khi chia tay.

                                                                                



                                                                                                                       

       

      

           

                   

               

         


Thứ Hai, 19 tháng 9, 2011

NAY Ở TRONG THƠ NÊN CÓ... MẬT GẤU


       VĂN CHƯƠNG THẾ HỆ @ :

  “ Nay ở trong thơ nên có...mật gấu”                     
                                                                                         

Chuyện xảy ra vào tết Nguyên tiêu năm Kỷ Sửu (2009)
Như đã thành lệ, nhà văn già, nhà văn trẻ Hà Nội lại nô nức kéo nhau đến Quôc Tử Giám chơi...thơ. Từ sáng sớm, con đường xung quanh Giám đã chật cứng xe máy và xe hơi. Người làm thơ và người yêu thơ kéo tới dự “hội thơ” dễ phải tới vài ngàn. Già trẻ hớn hở, ăn mặc sang trọng, đông vui  còn hơn cả ngày 30, mồng một vì hai ngày đó Hà Nội ...vắng tanh do ít nhất 80 phần trăm “người Hà nội” đã trở về quê chính gốc ăn tết.
Năm nay xe hơi tới dự lễ cũng đông gấp mấy lần năm ngoái, chứng tỏ  quan chức ngày càng tỏ ra “ta cũng có văn hoá” lắm đây chứ chẳng  “xôi thịt” như mồm miệng thiên hạ vẫn chửi.
Bước vào sân nhà Thái học, đập ngay vào mắt là các tấm poster thơ của các nhà thơ “chống Mỹ” nổi tiếng: Lá đỏ (Nguyễn Đình Thi), Mũ tai bèo (Ngô Văn Phú), Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây (Phạm Tiến Duật), Rừng ơi (Nguyễn Thị Hồng Ngát), Pháo binh (Chế Lan Viên), Gậy trên đường (Xuân Hoàng), Nhật ký sau cơn sốt (Nguyễn Đức Mậu) v.v…
Như mọi năm, sau lễ thượng cờ thơ, ông Hữu Thỉnh Chủ tịch Hội nhà văn đọc diễn văn khai mạc, diễn ngâm bài thơ Nguyên tiêu của Hồ Chủ tịch  rồi làm lễ thả lên trời 50 câu thơ của 50 “thi nhân” đứng hàng đầu vẫn là Hồ Chí Minh, Tố Hữu...rồi sau cùng mới tới các cây bút choai choai mới ra lò. Chẳng hiểu 50 câu thơ viết những gì, chỉ chắc một điều tránh cho xa đề tài nhạy cảm đòi tự do dân chủ và chống Trung Quốc ngoại xâm.
Kể ra các nhà thơ và người yêu thơ xứ ta vô cùng lạ lùng. Sắp tới ngày 17 tháng Hai kỷ niệm 30 năm ngày Trung Quốc xâm lược mà cả cái hội thơ rầm rộ ngay giữa trung tâm văn hoá Hà Nội cấm thấy ai nhắc tới hai chữ “ Trung Quốc” gọi là có.
Bên “sân khấu thơ trẻ” với tên gọi  “Thơ 360◦”  thì khỏi nói, toàn “chơi” thơ tào lao, vô thưởng vô phạt, tránh xa mọi “nhạy cảm” mà các nhà thơ trẻ đã thuộc nằm lòng.
Trước hết, chương trình được xây dựng thành 4 phần riêng biệt, có chủ đề cụ thể là cái "lõi" để các tác giả trình diễn các bài thơ của mình:
Phần 1 : "Để có giật mình nảy những mầm xuân",
Phần 2 : "Mùa gieo vần"
Phần 3 : "Mùa sống và yêu"
Phần 4 : "Mùa chữ".
Xen giữa các bài thơ là trình diễn các tác phẩm âm nhạc để gây được sức trẻ trung, hấp dẫn hơn với người xem.
Và thế là các tên tuổi mới toanh như Nguyễn Anh Vũ, Lữ Thị Mai, Huyền Minh, Nguyễn Quang Hưng, Điệp Giang, Lệ Bình Quan, Thuỵ Anh, Nguyễn Phan Quế Mai... thay nhau nhảy lên sân khấu trình diễn...thơ .

Chới với tay nhau xoáy vòng nước cuốn
nếu đuối sức vẫy vùng xin còn mắt vớt hồn nhau
                                        Nguyễn Anh Vũ

Buổi sáng đuổi bắt buổi chiều
Email đuổi bắt họp hành điện thoại
Tiếng chim gù buổi sáng vuột khỏi tay xa vời, xa mãi
Cổ vật ngày mới ngắm bình minh
                                       Nguyễn Phan Quế Mai

Thơ thẩn như vậy thì bác Hữu Thỉnh cho phép “các cháu” nhảy lên sân khấu hò hét thoải mái làm nhà thơ Trần Quang Quý, thành viên Ban tổ chức Sân thơ trẻ phải than :
“ Thơ trẻ hôm nay còn ít đời sống thực tế, nhiều tác giả còn quá trọng hình thức với cách ghép vần, ngữ âm mà chưa chú ý đến nội dung, còn thiếu những tâm sự với bạn đọc. Ý tưởng các tác phẩm cũng chưa thật rõ ràng và thiếu sự tự tin cần thiết là điều đang tồn tại ở các tác giả trẻ hôm nay. ...”
Năm nay không có những trò “giật gân” kiểu như năm ngoái nhà thơ già Dương Tường nhảy lên sân khấu lấy cuộn giấy vệ sinh cuốn quanh người, cạnh đó một em 9x đọc bài “Thả đỉa ba ba”. Các “bé thơ “ ( bé làm thơ) cũng không quậy bằng năm ngoái chắc là do vắng mặt các “liền chị” như Phan Huyền Thư, Vi Thuỳ Linh...hoặc giả năm nay có cả các đồng chí lãnh đạo Đảng nhà nước cũng tới “coi thơ” nên Ban tổ chức có phần “tịt ngòi” hơn năm trước.
Tuy vậy, các nhà thơ trẻ lại tiếp thị thơ và tên tuổi mình rất bặm trợn. Nhà thơ trẻ Đoàn Quỳnh Như bày ra giữa bãi cỏ một tấm giấy điều rực rỡ, tự nguệch ngoạc bài thơ “Ngày phồng rộp” để giới thiệu tập thơ... chưa ra mắt của mình. Cây bút hiện sống bằng nghề viết kịch bản phim và đóng vài vai diễn nho nhỏ này cho biết do thơ của mình quá bạo liệt nên mãi cả năm rồi chưa xin được giấy phép. Tuy chẳng bán được gì, nhưng "tiết mục" của Quỳnh Như cũng được chấm giải ba "hạng mục" tập thơ trình bày  ấn tượng. Thi sĩ  trẻ Ngô Liêm Khoan thì xén rời tập “Trở mình trong máng xối” của mình thành những tờ rơi, đích thân phân phát tận tay người xem kèm câu khuyến mãi "anh chị muốn mua nguyên tập, xin ghé qua bàn bên kia". Phạm Trung Thành còn đưa cả vợ con theo để "tiếp tay" cho bàn trà thơ và công cuộc bán thơ của người chồng - cha thi sĩ. Thành xếp những tập thơ được đồng nghiệp tặng thành hình một cây chổi, còn các tập thơ của mình, Thành dồn lại thành một đống rác có ghi chú đây là "thơ rác Phan Trung Thành". Vậy nhưng cái "đống rác" này lại có nhiều người ghé qua hỏi thăm, chụp ảnh và mua. Giữa ngày hội của thơ ca, thấy các cây bút trẻ nhiệt thành như những nhân viên tiếp thị tờ rơi giữa ngã tư đường phố mà cảm thấy...”phục” bệnh sốt ruột làm thiên tài của các “thi sĩ thế hệ @”.
Bên “sân thơ” của các bác già thì khỏi nói, do không thể “cưa sừng làm nghé” để “chơi thơ” theo kiểu..”hậu hiện đại” của lớp thơ trẻ, các bác đành phải chấp nhận chơi trò...truyền thống cách mạng . Vậy là các bác chỉ  đọc thơ xoay quanh chủ đề “Trường Sơn thời đánh Mỹ” mà theo ông Chủ tịch Hội thì đó là “thơ mẫu mực” :
"Trường Sơn là chủ đề cũ nhưng đã trở nên mẫu mực. Càng nghe lại người ta càng thấy hay, đặc biệt là khi những câu thơ này được đọc lên trong không khí ngày hội lớn".
Phụ hoạ với ông Chủ tịch Hội, một bác già yêu thơ chắc có sự sắp xếp của Ban tổ chức đã phát biểu khi nghe loại “thơ Trường Sơn” này :
"Thơ thế mới là thơ , ý nghĩa, hào hùng, đọc lên nghe náo nức. Chứ đọc thơ trẻ bây giờ, bác thấy cũng giống như là mình đi ra đường, chữ nghĩa chạy loạn xạ, không có nhịp điệu, cũng chẳng ngay hàng thẳng lối, mà nghe thanh âm như còi xe ầm ĩ".
Không biết có phải do hội thơ năm nay, thơ trẻ, thơ già, thơ choai choai đều có chung một đặc tính là ...”thơ nhát sợ”, đều là một thứ “thơ thỏ đế”, ‘thơ chữ thọ đeo sau lưng” nên tại quầy bán sách ở bên giếng Thiên quang trong Văn Miếu, ngay trước hàng bia tiến sĩ, có một doanh nghiệp “chơi đểu” bày bán sách kèm theo ...mật gấu.
Ông chủ quầy sách này chắc thấy văn chương, thơ phú ở ngày hội thơ xa lạ như thi ca của người ngoài hành tinh, né tránh bao nhiêu đớn đau, thăng trầm của nhân dân, câu thù câu tạc véo von nịnh bợ hoặc tình tang vô lối, các nhà văn, nhà thơ và ngay cả các nhà trí thức đang hèn đi, không mấy ai dám nói lên điều mình nghĩ nên mới nhắc nhở các nhà thơ nên uống “mật gấu” trước khi làm thơ cho có chút gan góc, dũng khí.
Như vậy yêu cầu ngày xưa của “bác Hồ” :
”Nay ở trong thơ nên có thép”
ngày nay nên đổi thành :
“Nay ở trong thơ nên có...mật gấu”
thì mới phù hợp với yêu cầu của thời đại mới.
Thông điệp này xin gửi tới toàn thể các nhà thơ già thơ trẻ, lão làng cũng như mới vào nghề . Trước khi  hạ bút nhả ngọc phun châu xin hãy uống một tí ti...mật gấu.