Tổng số lượt xem trang

Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2014

CHUYỆN XƯA NAY MỚI NÓI - KỲ 143 - Trí thức Việt Nam bên bờ biển Đông

      
 Thật lạ, từ thời lập nước, kén chồng cho nàng Mỵ Nương,vua Hùng thách cưới nào  “voi chín ngà,” nào “gà chín cựa...”,nào “ngựa chín hông mao...” - những sản vật chỉ có ở trên rừng chứ dưới biển kiếm đâu ra và chẳng biết có “lo lót”  gì vua cha không,Sơn Tinh thắng cuộc là cái chắc.
Sự thiên vị đó hiển nhiên làm “ThủyTinh” nổi giận gây chiến với các ông thần núi, hàng năm diễn ra với cái tên là “ lũ lụt “? Và cũng thật lạ cứ sản vật ở trên rừng thì các cụ ta gọi là thần –“ sơn thần” ,ngược lại ở dưới biển thì bị coi là  quái vật – “thuỷ quái”.
Cái tâm lý trọng núi khinh biển ấy lại càng lạ lùng hơn khi bờ cõi Việt Nam ta có tới trên 3200 kilômét bờ biển mà đời này qua đời khác trong tâm tưởng dân tộc chỉ thấy có “ con cò bay lả bay la” chứ chẳng thấy đâu “con hải âu chao cánh trên sóng bạc đầu” ? .
 Sống bên bờ biển Đông mà cứ dúi dụi trong lũy tre xanh ,bịn rịn với cây đa,giếng nước ,mái đình,phơi mặt cho đất bán lưng cho trời,khiến cho bao đời mải miết với lối “suy nghĩ trên luống cày” bị cắt vụn bởi nhũng “xiềng ba sào” để rồi  trong đời sống chỉ quen với nhũng kích thước nhỏ.
Có phải vì thế mà văn hóa nghệ thuật của ông cha ta thiếu yêu tố hoành tráng ?
Thử nhìn chùa Một Cột, một biểu trưng văn hóa Việt Nam mà cảm giác như mới chỉ dừng ở mức độ mô hình. Rồi  thăm cố cung triều Nguyễn ở cố đô Huế và so sánh nó với những cung điện ở châu Âu,ở Trung Quốc mới thấy hết cái nhỏ nhoi,đáng thương của các vua chúa phong kiến Việt nam.
Rồi nhìn sang kiến trúc và hội họa mới thấy thiếu vắng nhũng kích thước lớn làm sao – những tranh làng Hồ kích cỡ không vượt quá phiến cắt ngang của cây gỗ,nhũng đình,những chùa cứ nép vào cây xanh của thiên nhiên miền nhiệt đới, chẳng dám vươn lên mà cô đơn trên trời cao.
Rồi ngay cả những kinh nghiệm đối nhân xử thế cũng chỉ khuôn trong quy mô xóm làng,những “xấu đều hơn tốt lỏi”,”ăn cỗ đi trước,lội nước đi sau”,”đèn nhà ai rạng nhà nấy...”cứ nhan nhản trong kho tàng dân ca,tục ngữ .Thiếu vắng hẳn “trường ca” và “ trường thiên tiểu thuyết” tầm cỡ nhũng pho truyện tàu,cái “hơi thổi” cuả dân tộc ta trong nghệ thuật chữ nghĩa sao mà ngắn,thượng số cũng chỉ tới  “Truyện Kiều” của Nguyễn Du trong truyện thơ, Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái trong văn xuôi.Sống trong những lũy tre xanh bên bờ đại dương,phải chăng ông cha ta  đã thiếu vắng tâm lý hoành tráng,lại thiếu luôn cả  tâm hồn  biển cả và có phải vì thế mà dường như nỗi buồn nhược tiểu đã chảy dài trong nhũng “Giọt mưa thu”,những “Đêm đông”,những “Bèo giạt mây trôi”,những “Người ơi người  ở đừng về”,những “Dạ cổ hoài lang”...buồn hơn nước mắt , thiếu  hẳn cái khỏe khoắn,tự tin khát khao rong buồm ra khơi đón gió lộng mãi ngoài đại dương
.Và có phải vì thế cảm hứng xuyên suốt trong  nhũng Nam Cao,Ngô tất Tố,Nguyễn Công Hoan ...là kêu đói,than nghèo , thiếu hẳn  cái nhu cầu trừu tượng hóa ,cái mặc khải ,tự tra vấn khi đối diện với cái mênh mông của biển cả.
Than ôi,cái cảm hứng chủ đạo xuyên suốt mấy thế kỷ văn chương của ta phải chăng chưa vượt qua nỗi buồn thân phận đói nghèo để  vươn  tới cái nỗi  mênh mang trong cõi vô thường và cái khát vọng tìm tòi những kỳ bí thẳm sâu trong tâm hồn con nguời.
                         “ Từ thủa mang gươm đi dựng nước,
                        “Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long...”
   Nỗi nhớ đất thật dai dẳng trong nhũng cuộc mở mang bờ cõi chỉ theo đất theo ruộng mà tràn xuống phía Nam, nào đâu dám rời đất mà xuống biển,đóng những đội tàu ra khơi thám hiểm,chinh phục những vùng biển lạ.
Bởi thế căn bệnh trầm kha thiếu máu phiêu lưu   đã làm chúng ta bằng lòng với nhũng gì vừa phải,nó là mảnh đất tốt cho  chứng chiết trung,dung hòa ,Phật,Lão,Trang,Kitô giáo...cái gì cũng vào được hết,chung sống với nhau được hết ,tam tứ ngũ lục giáo đồng môn được hết.
Sự cuồng tín  trong nhũng cuộc chiến tranh tôn giáo, trong những cuộc giao đấu ý thức hệ là không thể có trên đất nước  ta.Thực chất những người lính cầm súng trong cả hai phe cộng sản và quốc gia  trong cuộc chiến vừa qua đâu phải vì hằn thù do sự khác biệt ý thức hệ ? Ngay cả cái hạt nhân tàn khốc đấu tranh giai cấp ,cốt lõi của chủ nghĩa cộng sản du nhập vào Việt Nam cũng bị pha loãng đi nhiều  trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội .Một cuộc cải cách ruộng đất  long trời lở đất như ở Trung quốc,một cuộc Đại cách mạng văn hóa Trung Hoa với sức tàn phá khủng khiếp  nếu như có vào Việt Nam thì những cơn bão đó cũng bị kìm hãm  mà dịu đi nhiều lắm (sự sửa sai của nhũng người cộng sản Việt Nam ngay trong cải cách ruộng đất đã chứng tỏ điều này).Vậy nhưng cái gì cũng có hai mặt của nó.Trong khi hóa giải được rất nhiều sự tàn phá mù quáng thì chính cái căn bệnh ngại phiêu lưu,thiếu  máu cuồng tín đó lại làm chúng ta chưa bao giờ bị đẩy tới “cùng” để mà biến” cả.Đó cũng có thể là một lý giải về sự tồn tại dai dẳng của chế độ cộng sản trên đất nước ta.
Trở lại câu chuyện về tâm lý đại dương và tâm hồn biển cả,nếu như trí thức là bộ phận sáng suốt nhất trong cộng đồng dân tộc thì trí thức Việt Nam kể cả vua Duy Tân lẫn nhà cải cách Nguyễn Trường Tộ dường như chưa một ai thức tỉnh cho cả cộng đồng cái tâm lý kỳ thị biển cả ấy.Nhìn lại lịch sử quân sự ,nhũng tên tuổi như Yết Kiêu ,Dã Tượng,trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng quả là vô cùng ít ỏi so với nhũng danh tướng và nhũng trận đánh trên bộ.Ngay cả những người cộng sản Việt Nam,trận đánh tàu Madoch Mỹ ngày 5 tháng Tám năm 1964 trong vịnh bắc Bộ cũng là một thứ lính cảm tử ôm bom ba càng xông vào xe tăng,rồi mãi tới trận Trung Quốc tiêu diệt cả một tàu Việt Nam khu vực đảo Trường Sa,và cho tới tận ngày nay hải quân của Cộng hòa XHCN Việt Nam vẫn tròm trèm là một con số không.
Thời đó đã có nhạc sĩ cất lên tiếng hát “biển rộng của ta đâu có phải ao nhà của chúng nó ?”. Than ôi,buồn thay,vài thập kỷ đã trôi qua,lực lượng trên biển của người Việt Nam vẫn chưa đủ mạnh để tránh  cho biển Đông của chúng ta khỏi trở thành “ao nhà của chúng nó”.
Rồi thì ngay cả một cái Bộ thủy hải sản cồng kềnh cũng chưa có nổi một đội tàu đi đánh bắt xa bờ mãi ngoài đại dương mà vẫn chỉ loanh quanh vùng cận hải.Đằng đẵng những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất Bắc,người ta cũng chỉ “ưu tiên phát triển công nghiệp nặng,ra sức phát triển công nghiệp nhẹ và lấy nông nghiệp làm cơ sở” – vẫn là một thứ suy nghĩ “trên luống cày” chưa thấy  một trí thức nào mách nước cho nhũng người cộng sản hãy hướng cái nhìn ra biển cả.Gần đây ông Ngô Thế Vinh trong một cuốn sách rất công phu và rất nhiệt huyết “ Cửu Long cạn dòng và biển Đông dậy sóng” cũng đã khơi ra một mối quan tâm tới biển nhưng lại nghiêng về mặt bảo vệ lãnh thổ.
        Vậy là căn bệnh trầm kha có 3200 kilômét bờ biển mà vẫn thiếu muối ăn vừa là cái điều kiện quy định tính cách của trí thức Việt Nam vừa là món nợ tinh thần đối với cộng đồng dân tộc nếu như ta thừa nhận trí thức là người nhận lãnh sứ mạng thức tỉnh và lay động đám đông.Thiếu máu phiêu lưu,ngại ngần nhũng chân trời lạ,bằng lòng với nhũng chân lý đồ hộp (fast food), tự biện minh gặp thời thế,thế thời phải thế”...liệu người trí thức Việt Nam  có dũng cảm nhìn nhận nhũng căn bệnh có nguồn gốc sâu sa là sống ven biển Đông mà thiếu tâm lý đại dương và tâm hồn biển cả ?
         Nhớ lại cuộc ly hôn vĩ đại nhất  vào buổi bình minh của thời dựng nước,50 người con trai theo bà Âu Cơ xuống biển  và đi luôn một mạch cho tới tận bây giờ không ngoái lại tìm về quê cha,đất tổ ?
Thế nhưng cuộc xuống biển bất đắc dĩ của cả triệu thuyền nhân Việt Nam vào  những năm cuối của thập kỷ 70 thì chỉ không đầy 10  năm sau rất nhiều người con của bà Âu Cơ đã trở lại. Gạt ra nhũng thảm kich trên hải đạo kinh hoàng,gạt ra nhũng căn nguyên chính trị, nhìn nhận sự kiện như là một cơ hội phiêu lưu ra ngoài biển cả của một bộ phận dân tộc,liệu ta có hy vọng  50 người con theo bà Âu Cơ đó có thể đón nhận tâm lý dại dương và tâm hồn biển cả để  góp cái phẩm chất mới mẻ đó vào nỗi lo toan cho Tổ Quốc Việt Nam ?
Lời đáp cho câu hỏi đó trước hết thuộc về trí thức hải ngọai và thật cảm kích biết bao nếu trong những cuộc hội thảo ngoài nhũng đóng góp học thuật,chúng ta còn được  đón nhận những giải pháp thiết thực làm sáng tỏ sứ mệnh muôn thủa của người trí thức nếu như ta đồng thuận với nhau quan niệm kinh điển  về trách nhiệm của thất phu khi quốc gia chìm nổi trong hưng vong...

         20 May 2001

                             N,T,


1 nhận xét:

  1. Vấn đề căn cơ là nếp nghĩ của người Việt Nam bị giới hạn bởi " lũy tre làng " và cái " bờ biển " quá lâu và cả đời của một người, vì vậy tư duy chỉ̉ quanh quẩn trong vòng luỹ tre và bờ biển đó. Cho nên trở thành thói quen cả trong sáng tác. Lại thêm bây giờ bị điều hướng trong sáng tác bởi Thể Chế Độc Tài Toàn Trị thì làm sao có được những tư tưởng hoặc tác phẩm phóng khoáng, vượt không và thời gian để chen chân cùng Thế Giới ? Chỉ khi nào tháo gỡ được độc tài và toàn trị thì tư duy VN mới vượt biên giới " luỹ tre làng " và vượt ra tới đại dương song hành với sự tiếp cận với đủ mọi luồn gío mới của văn học và tư tưởng của Thế Giới.
    Thêm một nhận xét khác , theo tôi thì để cho con người dễ tiếp nhận lẫn nhau qua sự biết tôn trọng lẫn nhau thì mỗi con người VN phải nhìn lại chính mình, và tự hỏi lấy mình là " đã biết tôn trọng người khác , ngay cả người có dịa vị nhỏ, thấp hơn mình, đúng mức chưa ? Đây không phải là việc dễ làm, vì chúng ta đã bị " dạy từ nhỏ " một động thái mà ít ai chú ý tới tác hại của động thái này, đó là " Khoanh tay cúi đầu chào trong Lễ phép ". Tôi có viết một bài tham luận về sự tác hại của động thái này , bài viết qúa khổ phần phản hồi cho phép, nếu quý vị muốn dọc , mời vào Facebook THANH HUYNH hoặc email cho tôi : huynhthanh02@gmail.com và yêu cầu gởi bài " CẦN XÉT LẠI ĐỘNG THÁI KHOANH TAY CÚI ĐẦU CHÀO TRONG LỄ PHÉP "

    Trả lờiXóa