Thật lạ, từ thời lập nước, kén chồng cho nàng
Mỵ Nương,vua Hùng thách cưới nào “voi
chín ngà,” nào “gà chín cựa...”,nào “ngựa chín hông mao...” - những sản vật chỉ
có ở trên rừng chứ dưới biển kiếm đâu ra và chẳng biết có “lo lót” gì vua cha không,Sơn Tinh thắng cuộc là cái
chắc.
Sự
thiên vị đó hiển nhiên làm “ThủyTinh” nổi giận gây chiến với các ông thần núi,
hàng năm diễn ra với cái tên là “ lũ lụt “? Và cũng thật lạ cứ sản vật ở trên rừng
thì các cụ ta gọi là thần –“ sơn thần” ,ngược lại ở dưới biển thì bị coi
là quái vật – “thuỷ quái”.
Cái
tâm lý trọng núi khinh biển ấy lại càng lạ lùng hơn khi bờ cõi Việt Nam ta có tới
trên 3200 kilômét bờ biển mà đời này qua đời khác trong tâm tưởng dân tộc chỉ
thấy có “ con cò bay lả bay la” chứ chẳng thấy đâu “con hải âu chao cánh trên
sóng bạc đầu” ? .
Sống bên bờ biển Đông mà cứ dúi dụi trong lũy
tre xanh ,bịn rịn với cây đa,giếng nước ,mái đình,phơi mặt cho đất bán lưng cho
trời,khiến cho bao đời mải miết với lối “suy nghĩ trên luống cày” bị cắt vụn bởi
nhũng “xiềng ba sào” để rồi trong đời sống
chỉ quen với nhũng kích thước nhỏ.
Có
phải vì thế mà văn hóa nghệ thuật của ông cha ta thiếu yêu tố hoành tráng ?
Thử
nhìn chùa Một Cột, một biểu trưng văn hóa Việt Nam mà cảm giác như mới chỉ dừng ở
mức độ mô hình. Rồi thăm cố cung triều
Nguyễn ở cố đô Huế và so sánh nó với những cung điện ở châu Âu,ở Trung Quốc mới
thấy hết cái nhỏ nhoi,đáng thương của các vua chúa phong kiến Việt nam.
Rồi
nhìn sang kiến trúc và hội họa mới thấy thiếu vắng nhũng kích thước lớn làm sao
– những tranh làng Hồ kích cỡ không vượt quá phiến cắt ngang của cây gỗ,nhũng
đình,những chùa cứ nép vào cây xanh của thiên nhiên miền nhiệt đới, chẳng dám
vươn lên mà cô đơn trên trời cao.
Rồi
ngay cả những kinh nghiệm đối nhân xử thế cũng chỉ khuôn trong quy mô xóm
làng,những “xấu đều hơn tốt lỏi”,”ăn cỗ đi trước,lội nước đi sau”,”đèn nhà ai rạng
nhà nấy...”cứ nhan nhản trong kho tàng dân ca,tục ngữ .Thiếu vắng hẳn “trường
ca” và “ trường thiên tiểu thuyết” tầm cỡ nhũng pho truyện tàu,cái “hơi thổi”
cuả dân tộc ta trong nghệ thuật chữ nghĩa sao mà ngắn,thượng số cũng chỉ tới “Truyện Kiều” của Nguyễn Du trong truyện thơ,
Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái trong văn xuôi.Sống trong những
lũy tre xanh bên bờ đại dương,phải chăng ông cha ta đã thiếu vắng tâm lý hoành tráng,lại thiếu
luôn cả tâm hồn biển cả và có phải vì thế mà dường như nỗi buồn
nhược tiểu đã chảy dài trong nhũng “Giọt
mưa thu”,những “Đêm đông”,những “Bèo
giạt mây trôi”,những “Người ơi người ở đừng
về”,những “Dạ cổ hoài lang”...buồn hơn nước mắt , thiếu hẳn cái khỏe khoắn,tự tin khát khao rong buồm
ra khơi đón gió lộng mãi ngoài đại dương
.Và
có phải vì thế cảm hứng xuyên suốt trong
nhũng Nam Cao,Ngô tất Tố,Nguyễn Công Hoan ...là kêu đói,than nghèo , thiếu
hẳn cái nhu cầu trừu tượng hóa ,cái mặc
khải ,tự tra vấn khi đối diện với cái mênh mông của biển cả.
Than
ôi,cái cảm hứng chủ đạo xuyên suốt mấy thế kỷ văn chương của ta phải chăng chưa
vượt qua nỗi buồn thân phận đói nghèo để
vươn tới cái nỗi mênh mang trong cõi vô thường và cái khát vọng
tìm tòi những kỳ bí thẳm sâu trong tâm hồn con nguời.
“ Từ thủa mang gươm đi
dựng nước,
“Ngàn năm thương nhớ đất
Thăng Long...”
Nỗi nhớ đất thật dai dẳng trong nhũng cuộc mở
mang bờ cõi chỉ theo đất theo ruộng mà tràn xuống phía Nam , nào đâu
dám rời đất mà xuống biển,đóng những đội tàu ra khơi thám hiểm,chinh phục những
vùng biển lạ.
Bởi
thế căn bệnh trầm kha thiếu máu phiêu lưu
đã làm chúng ta bằng lòng với nhũng gì vừa phải,nó là mảnh đất tốt
cho chứng chiết trung,dung hòa ,Phật,Lão,Trang,Kitô
giáo...cái gì cũng vào được hết,chung sống với nhau được hết ,tam tứ ngũ lục
giáo đồng môn được hết.
Sự
cuồng tín trong nhũng cuộc chiến tranh
tôn giáo, trong những cuộc giao đấu ý thức hệ là không thể có trên đất nước ta.Thực chất những người lính cầm súng trong
cả hai phe cộng sản và quốc gia trong cuộc
chiến vừa qua đâu phải vì hằn thù do sự khác biệt ý thức hệ ? Ngay cả cái hạt
nhân tàn khốc đấu tranh giai cấp ,cốt lõi của chủ nghĩa cộng sản du nhập vào Việt
Nam cũng bị pha loãng đi nhiều trong
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội .Một cuộc cải cách ruộng đất long trời lở đất như ở Trung quốc,một cuộc Đại
cách mạng văn hóa Trung Hoa với sức tàn phá khủng khiếp nếu như có vào Việt Nam thì những cơn bão đó
cũng bị kìm hãm mà dịu đi nhiều lắm (sự
sửa sai của nhũng người cộng sản Việt Nam ngay trong cải cách ruộng đất đã chứng
tỏ điều này).Vậy nhưng cái gì cũng có hai mặt của nó.Trong khi hóa giải được rất
nhiều sự tàn phá mù quáng thì chính cái căn bệnh ngại phiêu lưu,thiếu máu cuồng tín đó lại làm chúng ta chưa bao giờ
bị đẩy tới “cùng” để mà biến” cả.Đó cũng có thể là một lý giải về sự tồn tại
dai dẳng của chế độ cộng sản trên đất nước ta.
Trở
lại câu chuyện về tâm lý đại dương và tâm hồn biển cả,nếu như trí thức là bộ phận
sáng suốt nhất trong cộng đồng dân tộc thì trí thức Việt Nam kể cả vua Duy Tân
lẫn nhà cải cách Nguyễn Trường Tộ dường như chưa một ai thức tỉnh cho cả cộng đồng
cái tâm lý kỳ thị biển cả ấy.Nhìn lại lịch sử quân sự ,nhũng tên tuổi như Yết
Kiêu ,Dã Tượng,trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng quả là vô cùng ít ỏi so với
nhũng danh tướng và nhũng trận đánh trên bộ.Ngay cả những người cộng sản Việt
Nam,trận đánh tàu Madoch Mỹ ngày 5 tháng Tám năm 1964 trong vịnh bắc Bộ cũng là
một thứ lính cảm tử ôm bom ba càng xông vào xe tăng,rồi mãi tới trận Trung Quốc
tiêu diệt cả một tàu Việt Nam khu vực đảo Trường Sa,và cho tới tận ngày nay hải
quân của Cộng hòa XHCN Việt Nam vẫn tròm trèm là một con số không.
Thời
đó đã có nhạc sĩ cất lên tiếng hát “biển rộng của ta đâu có phải ao nhà của
chúng nó ?”. Than ôi,buồn thay,vài thập kỷ đã trôi qua,lực lượng trên biển của
người Việt Nam
vẫn chưa đủ mạnh để tránh cho biển Đông
của chúng ta khỏi trở thành “ao nhà của chúng nó”.
Rồi
thì ngay cả một cái Bộ thủy hải sản cồng kềnh cũng chưa có nổi một đội tàu đi
đánh bắt xa bờ mãi ngoài đại dương mà vẫn chỉ loanh quanh vùng cận hải.Đằng đẵng
những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất Bắc,người ta cũng chỉ “ưu tiên
phát triển công nghiệp nặng,ra sức phát triển công nghiệp nhẹ và lấy nông nghiệp
làm cơ sở” – vẫn là một thứ suy nghĩ “trên luống cày” chưa thấy một trí thức nào mách nước cho nhũng người cộng
sản hãy hướng cái nhìn ra biển cả.Gần đây ông Ngô Thế Vinh trong một cuốn sách
rất công phu và rất nhiệt huyết “ Cửu Long cạn dòng và biển Đông dậy sóng” cũng
đã khơi ra một mối quan tâm tới biển nhưng lại nghiêng về mặt bảo vệ lãnh thổ.
Vậy là căn bệnh trầm kha có 3200
kilômét bờ biển mà vẫn thiếu muối ăn vừa là cái điều kiện quy định tính cách của
trí thức Việt Nam vừa là món nợ tinh thần đối với cộng đồng dân tộc nếu như ta
thừa nhận trí thức là người nhận lãnh sứ mạng thức tỉnh và lay động đám
đông.Thiếu máu phiêu lưu,ngại ngần nhũng chân trời lạ,bằng lòng với nhũng chân
lý đồ hộp (fast food), tự biện minh gặp thời thế,thế thời phải thế”...liệu người
trí thức Việt Nam có dũng cảm nhìn nhận
nhũng căn bệnh có nguồn gốc sâu sa là sống ven biển Đông mà thiếu tâm lý đại
dương và tâm hồn biển cả ?
Nhớ lại cuộc ly hôn vĩ đại nhất vào buổi bình minh của thời dựng nước,50 người
con trai theo bà Âu Cơ xuống biển và đi
luôn một mạch cho tới tận bây giờ không ngoái lại tìm về quê cha,đất tổ ?
Thế
nhưng cuộc xuống biển bất đắc dĩ của cả triệu thuyền nhân Việt Nam vào những năm cuối của thập kỷ 70 thì chỉ không đầy
10 năm sau rất nhiều người con của bà Âu
Cơ đã trở lại. Gạt ra nhũng thảm kich trên hải đạo kinh hoàng,gạt ra nhũng căn
nguyên chính trị, nhìn nhận sự kiện như là một cơ hội phiêu lưu ra ngoài biển cả
của một bộ phận dân tộc,liệu ta có hy vọng
50 người con theo bà Âu Cơ đó có thể đón nhận tâm lý dại dương và tâm hồn
biển cả để góp cái phẩm chất mới mẻ đó
vào nỗi lo toan cho Tổ Quốc Việt Nam ?
Lời
đáp cho câu hỏi đó trước hết thuộc về trí thức hải ngọai và thật cảm kích biết
bao nếu trong những cuộc hội thảo ngoài nhũng đóng góp học thuật,chúng ta còn
được đón nhận những giải pháp thiết thực
làm sáng tỏ sứ mệnh muôn thủa của người trí thức nếu như ta đồng thuận với nhau
quan niệm kinh điển về trách nhiệm của
thất phu khi quốc gia chìm nổi trong hưng vong...
20 May 2001
N,T,

Vấn đề căn cơ là nếp nghĩ của người Việt Nam bị giới hạn bởi " lũy tre làng " và cái " bờ biển " quá lâu và cả đời của một người, vì vậy tư duy chỉ̉ quanh quẩn trong vòng luỹ tre và bờ biển đó. Cho nên trở thành thói quen cả trong sáng tác. Lại thêm bây giờ bị điều hướng trong sáng tác bởi Thể Chế Độc Tài Toàn Trị thì làm sao có được những tư tưởng hoặc tác phẩm phóng khoáng, vượt không và thời gian để chen chân cùng Thế Giới ? Chỉ khi nào tháo gỡ được độc tài và toàn trị thì tư duy VN mới vượt biên giới " luỹ tre làng " và vượt ra tới đại dương song hành với sự tiếp cận với đủ mọi luồn gío mới của văn học và tư tưởng của Thế Giới.
Trả lờiXóaThêm một nhận xét khác , theo tôi thì để cho con người dễ tiếp nhận lẫn nhau qua sự biết tôn trọng lẫn nhau thì mỗi con người VN phải nhìn lại chính mình, và tự hỏi lấy mình là " đã biết tôn trọng người khác , ngay cả người có dịa vị nhỏ, thấp hơn mình, đúng mức chưa ? Đây không phải là việc dễ làm, vì chúng ta đã bị " dạy từ nhỏ " một động thái mà ít ai chú ý tới tác hại của động thái này, đó là " Khoanh tay cúi đầu chào trong Lễ phép ". Tôi có viết một bài tham luận về sự tác hại của động thái này , bài viết qúa khổ phần phản hồi cho phép, nếu quý vị muốn dọc , mời vào Facebook THANH HUYNH hoặc email cho tôi : huynhthanh02@gmail.com và yêu cầu gởi bài " CẦN XÉT LẠI ĐỘNG THÁI KHOANH TAY CÚI ĐẦU CHÀO TRONG LỄ PHÉP "