Tổng số lượt xem trang

Chủ Nhật, 5 tháng 7, 2015

PHẠM THẮNG VŨ - Con sóng dữ - KỲ 77


                                    (tiếp theo)

Tuần lễ cuối của tháng 8 thì Cao Ủy xổ tiếp kết quả thanh lọc và đúng như linh tính tiên đoán từ trước, anh Khảm cùng chị Phượng đều cầm giấy đậu. Một chầu nước ăn mừng đã được anh chị khoản đãi nhóm chúng tôi ở quán bác sĩ Luân ngay sau khi vừa ra khỏi khu vực thanh lọc. " Bây giờ anh mới thực sự an tâm ăn no, ngủ yên chờ ngay đi định cư mà phần chắc sẽ là Hoa Kỳ. Anh sẽ gặp lại phi trường Travis trong vùng California nơi mà năm xưa bọn anh đã từng đến trong chuyến tu nghiệp quân sự ". Ngừng một chút anh Khảm hoan hỉ: " Làm sao mà anh có thể rớt được hả Vũ! ". Trông anh thật khác với vẻ mặt lo âu ở mấy ngày trước sau khi nghe loa phóng thanh báo tên trong danh sách đi nhận kết quả. Chia vui với anh chị mà lòng chúng tôi có chút ganh ghét vì thấy cả hai người họ đã thành lớp người khác trong trại. Tương lai đang mở rộng trước mắt họ. Chúng tôi cũng lo lắng vì thấy tỉ lệ người rớt thanh lọc vẫn nhiều hơn đợt trước.

Như trong các đợt xổ thanh lọc kỳ trước, lần này con số cựu quân nhân-viên chức chính quyền miền Nam VNCH bị Cao Ủy đánh rớt không kém. Cứ suy nghĩ chủ quan cho là nếu lý lịch liên quan đến chế độ cũ thì sẽ được Cao Ủy chấm đậu thành người tị nạn chính trị đã không còn như lúc khởi đầu nữa. Giờ đây ai cũng thấy nếu bản thân từng bị Việt Cộng bỏ tù vượt biên hay tù học tập cải tạo mà không biết cách khai báo trong lúc thanh lọc thì dễ dàng bị Cao Ủy đánh rớt như chơi. Trường hợp một cựu đại úy pháo binh bị đánh rớt ở các lần xổ trước tại trại đã làm nhiều người lo âu nhưng tin nói về các cựu quân nhân-viên chức miền Nam VNCH ở trại Sungei Besi bị chính quyền Malaysia đánh rớt thanh lọc và đã xếp họ vào danh sách di dân kinh tế để chờ ngày cưỡng bức hồi hương mới thật sự làm thuyền nhân mất ăn mất ngủ. Vì, trong danh sách này có cả cựu trung tá Lê Văn Trọng nguyên là tiểu đoàn trưởng của Sư đoàn 7 Bộ Binh. Ông Trọng này bị Việt Cộng bắt tù cải tạo gần 8 năm trời, chuyển giao qua 8 trại tù từ Nam chí Bắc cùng gần 4 năm quản chế tại địa phương. Thế mà, khi vượt biên đến được đất Mã, dù mang theo được giấy tha, sổ quản chế... nhưng vẫn không giúp gì cho việc chứng minh lời khai của bản thân ông.

Càng nhiều người bị Cao Ủy đánh rớt thì viễn cảnh về lại quê nhà sẽ không xa khi buổi tối ở barrack nghe tin radio của VOA, BBC... nói là ở nước Anh, chính đảng Lao Động hồi nào tới giờ vẫn áp lực với chính quyền chống việc cưỡng bức thuyền nhân Việt ở các trại tị nạn bên Hồng Kông hồi hương thì nay họ lại tuyên bố thôi không còn chống đối chuyện này nữa. Ở bên Malaysia thì ông Ngoại trưởng Abdullah Bin Ahmad Badawi lên tiếng kêu gọi các nước trong hiệp hôi ASEAN nên xúc tiến việc trục xuất thuyền nhân Việt cùng với chuyện 2 nước Thái Lan, Lào thỏa thuận với Cao Ủy Liên Hiệp Quốc về kế hoạch cưỡng bức hồi hương 60.000 người tị nạn Lào gốc Mèo trong các trại ở biên giới Thái Lan mà không thấy có một chống đối nào về phía chính phủ Hoa Kỳ dù là trong số người tị nạn này có hàng ngàn chiến sĩ từng cộng tác mật thiết với họ trong thời chiến tranh trước năm 1975. Hoa Kỳ mà không giơ tay ra can thiệp cho đám người Lào gốc Mèo này thì rồi cũng sẽ có ngày đến phiên thuyền nhân Việt. Thấy tôi lo sợ ra mặt, Yến bảo: " Lo làm gì anh Vũ! Cái gì đến thì nó sẽ đến dù mình không muốn. Ai có số đi định cư thì rồi sẽ đi... Còn không... rủi phải về Việt Nam thì về. Cứ coi như mình đi vượt biên mà không thành như bao nhiêu người còn đang kẹt bên quê nhà vậy ". Nàng nói hoài làm tôi bực mình, đã gắt: " Em có về thì cũng còn có ngày đi đoàn tụ với thân nhân ở Úc nên không lo... Thử như anh, không người thân thuộc ở nước thứ 3 bảo lãnh cho thì xem... Ở đó mà nói hay ". Chỉ vậy thôi mà cũng làm cho Yến giận tôi trọn cả ngày liền.


Cao Ủy mộ thêm luật sư đến từ Hoa Kỳ, Ấn Độ, Anh, Singapore để tăng tốc độ thanh lọc thuyền nhân như Michael, Larry đến từ Hoa Kỳ, Lưu Lệ Trinh từ Singapore, Sharon O Day đến từ Do Thái, Peter đến từ Hòa Lan và các luật sư khác đến từ Ấn Độ, Phi Luật Tân nữa. Đặc biệt có 2 luật sư được thuyền nhân chú ý nhiều nhất là Kim Chi, một Việt kiều tại Mỹ. Cô luật sư này có vẻ hiền, ít nói. Nhìn mặt, tuổi cô khoảng ba mươi và khá đẹp. Đặc biệt là cô ta có mầu da trắng ngà mịn màng nên khiến ai trong trại cũng phải chú ý khi gặp lần đầu. Hầu như người da vàng châu Á sống ở xứ lạnh đều có nước da như cô. Người trong trại thấy có Kim Chi đều tin là nếu gặp được cô trong buổi thanh lọc thì sẽ dễ dàng hơn. " Người Việt với nhau thì phải giúp thôi. Gia đình cô ta chắc cũng dân di tản năm 1975 hoặc không thì cũng vượt biên như mình chứ khác gì ". Luật sư thứ 2 là Simon người Anh quốc đến từ HongKong nơi đã, đang là các trại đầu sóng ngọn gió của dân tị nạn Việt. " Simon là sát thủ thuyền nhân bên HongKong đó, chả chặt đẹp biết bao người mình rồi, thuyền nhân phản đối dữ quá nên Cao Ủy Trưởng khu vực Châu Á mới chuyển cha nội sang trại Galang mình ", họ đồn thổi như vậy. Thêm các luật sư thì Cao Ủy cũng cần thêm những thiện nguyện viên giúp việc điền các mẫu khai lý lịch của thuyền nhân trước buổi sơ vấn. Nhóm thiện nguyên viên trong phòng Dịch thuật chúng tôi định bỏ việc hết cả để xin làm chân viết lý lịch cho Cao Ủy vì tin chắc nếu giúp việc cho họ thì họ sẽ giúp lại trong khi thanh lọc. Biết chuyện, ông Bửu đã trấn an, khuyên cả nhóm đừng bỏ việc và nói Cao Ủy cũng biết việc làm của chúng tôi. " Mình dịch thuật giấy tờ của thuyền nhân cho họ thì họ sẽ phải giúp lại mình chứ, các cậu cứ làm ở đây. Tôi sẽ trình bày với ông Peter-Cao Ủy trưởng về công việc của các cậu. Rồi sẽ ổn cả thôi, cần gì cứ phải là nhân viên viết lý lịch ". Chính vì cái khẩn khoản, nói chắc của ông Bửu mà cả nhóm chúng tôi tiếp tục làm việc tại phòng Dịch thuật thay vì đầu quân sang làm người viết lý lịch cho Cao Ủy và đó chính là điều sai lầm tệ hại nhất đã làm tôi phải kéo dài thời gian gần 7 năm trời sống ở trại.

Dù đã nhiều người hồi hương về Việt Nam rồi mà dòng người Việt đổ vào trại tị nạn Galang vẫn không ngớt. Có tin từ phòng An ninh P3V xác nhận đảo tị nạn Galang bây giờ là nơi nhận hết các ghe thuyền nhân từ bên Việt Nam, bên Malaysia và Singapore chuyển qua. Tin này đúng vì qua thư của thân nhân bên đảo tị nạn Pulau Bidong gửi vào trại cho biết thuyền nhân bên đó cứ mỗi tuần phải chuyển vào đất liền tới mấy trăm người. Lý do của việc làm này, chính phủ Malaysia nói là trả lại hòn đảo đó cho tiểu bang Trengganu để làm nơi du lịch. Trong những chuyến ghe đến trại gây chú ý nhất là có 2 thuyền nhân mang theo được các bộ hài cốt lính Mỹ tử trận tại Việt Nam trong thời chiến trước đây. Người thứ nhất mang 3 bộ hài cốt có gần như đầy đủ từ sọ, xương cẳng chân, đòn tay, ngón... Người thứ hai thì chỉ có một nhúm vài mẩu bỏ gọn trong một lọ thủy tinh nhỏ xíu. Như một chuyện không ngờ, tôi đã gặp người thứ hai nầy khi ông ta đến phòng Dịch thuật nhờ thảo dùm lá thư bằng Anh ngữ. " Tui muốn anh giúp tui viết một lá thư để báo cho phòng JVA biết về bộ hài cốt Mỹ mang theo được ", ông ta khẩn khoản. Như đã kể ở các đoạn trước, JVA là phòng định cư của phái đoàn Hoa Kỳ tại tất cả các trại tị nạn của thuyền nhân Việt, chính vậy nên ông đã nghĩ họ có thể giúp cho việc định cư của ông sẽ chóng vánh hơn. " Tui mong họ sẽ can thiệp cho trường hợp của tui để khỏi phải bị thanh lọc và được đi định cư tại Mỹ sớm hơn ".

Lá thư! Thực ra là lời kể của ông về bộ hài cốt nhưng ngồi tại phòng Dịch thuật kẻ ra người vô thường xuyên đã làm tôi rối trí, không theo sát câu chuyện được nên tôi đề nghị tìm một chỗ vắng vẻ để ông thuật lại từ đầu. Người đàn ông đó đồng ý ngay. Hai chúng tôi đi ra hướng ngoài đường, vừa đi ông ta vừa nói: " Tui đã phải mất công sức, thời gian và tiền bạc để có được nó chứ đâu dễ dàng gì. Hồi còn bên quê nhà thì khác, nay mang nó sang được đây thì phòng JVA phải giúp lại. Mình tìm thấy hài cốt quân nhân nước họ thì họ phải trả ơn tui chứ anh. Người Mỹ muốn làm gì mà chẳng được, một cái vé tị nạn cho tui thì nhằm nhò gì. Không lẽ họ lại để cho tui đã cất công sang đây mà phải hồi hương. Tui mang hài cốt thật chứ đâu phải đồ dỏm như của ông kia ".

Thì ra là vậy. Tôi gật đầu, biểu lộ đồng tình với ông ta nhưng rồi thắc mắc:

- Sao ông biết mấy bộ hài cốt Mỹ của ông kia mang theo là đồ... dỏm?

- Trong lúc giao tranh, đạn bay bom nổ... nếu bị sát thương thì dễ gì mà còn nguyên vẹn hình hài. Rồi thân xác nằm đó có khi bị vùi lấp trong đất trong nước cả một thời gian dài tất nhiên xương cốt phải mai một đi chứ anh. Làm sao mà còn tồn tại từng cái được, đơn giản quá mà.

Hai chúng tôi vào một bàn dưới bóng cây mát ở quán cà phê Cam Ly, gọi thức uống xong thì người đàn ông nói:

- Tui tên là Nhật, thấy anh Vũ còn trẻ thôi thì tui gọi bằng chú cho thân nha.

Tôi nghe vậy liền gật đầu thì ông Nhật tiếp: " Câu chuyện kiếm ra hài cốt Mỹ này nó dài dòng lắm đâu phải một sớm một chiều mà có nó ngay được chú. Thực ra lúc đầu không phải chỉ có mình tui mà là cả một nhóm 3, 4 anh em cùng đi tìm cả thẩy đó, mỗi người một hướng rồi khi biết chỗ rồi mới họp nhau lại cùng đào chung. Khởi sự tui chẳng biết về vụ hài cốt Mỹ gì ráo, chẳng qua bạn tui là anh Chu có người thân ở bên Mỹ viết thư về dặn là ráng kiếm được hài cốt quân nhân Mỹ rồi kín đáo báo tin cho chính quyền Hoa Kỳ biết thì sẽ được họ cho vào định cư. Chính vì vậy mà cả bọn tui mới bàn nhau đi tới mấy chỗ hồi xưa có căn cứ Mỹ đóng quân hoặc là nơi từng giao tranh khốc liệt để dò hỏi dân địa phương xem sao, may ra sẽ gặp ".

Ông Nhật kể vì là dân ở Sài Gòn nên trong nhóm phân công ông tản về vùng Củ Chi-Hậu Nghĩa trên hướng Tây Bắc về tỉnh Tây Ninh giáp với nước Campuchia. Củ Chi là nơi Sư đoàn 25 Bộ Binh Hoa Kỳ từng đồn trú tại ấp Cây Bài thuộc xã Phước Vĩnh An gần địa danh Hố Bò giáp với tỉnh Bình Dương. Căn cứ nơi lính Mỹ đóng quân đó Việt Cộng gọi tên Đồng Dù nguyên thủy là một cánh rừng cao su trồng từ thời thực dân Pháp. Để tránh tai mắt của công an Việt Cộng, trong vai những người đạp xe đạp đi mua ve chai-đồ cũ, ông Nhật đã rong ruổi qua nhiều thôn xóm của Củ Chi-Hậu Nghĩa như Tân Phú Trung, Tân Thông, Cây Bài... và có lúc đã đi khá xa xuống tuốt tận Thái Mỹ, Sò Đo hoặc Phước Hiệp gần Trảng Bàng. Củ Chi thời chiến tranh thì phía Việt Cộng gọi địa phương này là Đất Thép Thành Đồng vì những trận giao tranh ác liệt giữa họ và quân đội viễn chinh Mỹ cùng miền Nam VNCH. Hàng ngày đạp xe mua ve chai-đồ cũ như vậy nhưng hễ ghé nơi nào thì ông Nhật đều khéo léo dò hỏi dân cư địa phương về những chuyện liên quan đến lính Mỹ hành quân hoặc về các trận đánh như người hiếu kỳ muốn biết chuyện.

- Biết được chỗ nào là nơi hồi xưa đánh nhau khó lắm chú Vũ... Mà ngay cả biết chỗ đó rồi thì hài cốt lính Mỹ ở đâu ra? Nó như mò kim đáy biển vậy. Ông Nhật cười với tôi sau làn khói thuốc lá rồi chậm rãi kể: " Tui đã định bỏ vùng Củ Chi để đi sang bên Chơn Thành hay Bến Cát xem sao thì tình cờ trong một lần đạp xe vào xã Trung Lập Thượng lại gặp được một cậu bé gọi tui vào nhà để gia đình bán ít đồ cũ. Giống như tất cả các căn nhà trong vùng quê đó, nhà cậu bé là một căn nhà nhỏ mái lợp tôn tường gạch chung với ván gỗ cũ. Dân trong vùng này mới về dựng lại cơ nghiệp sau khi hết chiến tranh và đều giống nhau ở chỗ nhà nào cũng có khoảnh vườn trồng đầy cây ăn trái như ổi, mít, dừa... bao chung quanh. Vào nhà rồi thì tui gặp một phụ nữ và bà ta hỏi có mua máy hát cũ thì sẽ bán cho. Đó là cái máy hát dĩa chạy bằng cách quay dây thiều cách đây cả hàng mấy chục năm cùng khoảng một chục dĩa đá hát cải lương Asia cũ. Lần đầu tiên trong đời tui mới thấy tận mắt cái máy hát xưa cũ như vậy. Trông thật ngộ vì nó được đặt gọn trong cái thùng gỗ và còn nguyên cả cái loa kèn to đùng ngẩng cao bên cạnh. Có hàng chữ Pathe ở cái biển đồng rỉ mốc xanh nằm ở một góc của cái thùng gỗ thì chắc cái máy hát phải ra đời từ thời còn vua Bảo Đại. Tui hỏi thì bà chủ nhà cho biết đây là vật còn sót lại của gia đình. Xem kỹ mới biết cái máy hát đã hư và nếu tui mua thì chỉ có thể bán lại cho dân sưu tập đồ cổ. Nghĩ vậy nhưng tui biết kiếm được người muốn mua nó đâu phải dễ. Đồ quỷ nầy rước về nhà làm gì vì thực sự mình có phải là dân ve chai-đồ cũ đâu? Tui nghĩ vậy nên đã trì hoãn bằng cách nói với bà chủ nhà để thư thả, cho thời gian đi hỏi mối trước đã rồi sẽ trả lời sau. Căn nhà đó là một gia đình 3 người gồm cậu bé, mẹ và bà ngoại. Người đàn bà hỏi chuyện tui là mẹ cậu bé và họ mưu sinh bằng cách làm bánh ướt bán tại nhà cũng như bỏ mối cho bạn hàng của cái chợ xép nhỏ trong vùng. Tui nghĩ bánh ướt nó khác với bánh cuốn ở chỗ không có nhân thịt mà chỉ là chút hành phi vàng cho thơm. Sẵn bụng đang đói, tui liền mua ít bánh ướt để ăn. Nước mắm chấm thì chủ nhà cho không một chén nhỏ còn chanh, ớt thì hái ở cây trồng ngoài sân nhà. Từ hôm đó, nếu mỗi lần đạp xe vào thăm dò trong vùng này thì thỉnh thoảng tui ghé vào căn nhà họ để nghỉ chân chốc lát hay mua bánh ướt ăn hoặc làm một bụng ổi chín ngoài vườn, kể cũng thú ". Ông Nhật vừa kể vừa cười với tôi như thể đang ngồi trong căn nhà cùng khu vườn đầy cây trái năm đó.


                           (còn nữa)


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét