(tiếp theo)
Nữ sĩ Mỵ Châu quý mến,
Bây
giờ, chúng ta cùng nhau nhìn nghiêng theo vài luồng quan niệm đang nóng trong
khảo cứu văn hóa dân tộc Việt. Mà xưa nay giữa con mắt bá tánh thì văn hóa Việt
lại là… văn hóa Trung!
Công
bằng, không phải vậy đâu. Đến như tôi yêu Tổ quốc Trung lắm lắm mà vẫn phải
chịu phục Giáo sư Trần Quốc Vương của các bạn từng khu biệt rất đúng về văn hóa
Việt trong sự đối sách với văn hóa Trung.
Tiền đề chuẩn nhất của Trần quân: ‘Từ trong cội nguồn, văn hóa Việt khác
văn hóa Trung, tuy cả hai nền văn hóa cổ truyền ấy đều thuộc phạm trù văn minh
nông nghiệp.’;
Kết luận rành rọt nhất của Trần quân: ‘Dù có giao tiếp và hỗn dung văn
hóa Việt-Trung nhưng khuynh hướng giao tiếp và hỗn dung đó vẫn là Việt hóa chứ
không phải là Trung hóa; và văn hóa Việt không khi nào là một bản sao chép từ
văn hóa Trung.’;
Ví dụ sát dạ dày nhất của Trần quân: ‘Việt: ăn cơm, xôi: dùng đôi đũa;
Trung: ăn bánh, cháo.’
Thế
nhưng nhiều người Việt ưa xuề xòa mất cảnh giác ‘trái tim nhầm chỗ để trên đầu’
thấy gì na ná Trung-Việt Việt-Trung thì bảo không sao đâu lọt sàng xuống nia.
Còn người Trung vốn khắt khe cực đoan luôn lấy mình là trung tâm, coi thiên hạ
chạy trời không khỏi nắng Hoa Sơn, không thoát nước Hạ Thủy. Cả hai đều sai!
Chỉ Trần quân đúng!
Vậy mà đến nay tôi mới thủng cái vấn đề vì
sao mươi năm qua câu chuyện nguồn gốc dân tộc, văn minh của người Việt và người
Trung lại sôi sùng sục trong các lò tư tưởng Việt. Đúng ra chỉ ở các lò
ngoại biên. Tôi không biết các nhà dân tộc học Việt chính thống tự xử ra sao.
Chỉ biết ngẫu nhiên, đúng dịp giàn khoan kéo vào kéo ra biển Nam Hải, tại Hà
Thành ngàn năm văn vật của nữ sĩ Hàng Quạt đã bùng lên một cuộc hội thảo bất
thành tại Trung tâm Văn hóa Ý, nhưng lại thành công với một chuỗi tranh luận
trên mạng. Đó là về cuốn sách vừa ra lò từ nhà xuất bản Trí Thức: sách chuyên
khảo mang tên Thủy Tổ Người Việt - Người Mường của học giả độc lập Tạ Đạo. Tất nhiên chúng tôi, bằng trách nhiệm công dân
(là chính) và bằng lương tri khoa học (là phụ), phải tán đồng công trình đó
chứ. Bên cạnh các phản bác sấm sét về nội dung lẫn phương pháp từ cả phía chính
thống lẫn phi chính thống (với các tính từ mạnh như ‘phản dân tộc’, ‘ngụy khoa
học’) thì tính độc đáo, chất nghiêm túc và sự kỳ khu trong phong cách học thuật
của Tạ quân cũng được nhiều đồng nghiệp đồng bào khác tán thưởng dẫu kết quả
của công trình là rất bất lợi cho người Việt lúc này và mai sau. Nể phục giới
nghiên cứu Việt biết cách tỏ ra khách quan, tôi thấy mình không nên lạm bàn.
Nhưng nữ sĩ cũng nên đọc nhanh hai nhận định gọn từ các gia chủ.
Nội dung cuốn sách: Nguồn gốc của hai nền văn
hóa Đá mới Phùng Nguyên và Đồng thau Đông Sơn; sự tạo thành các nước Xích Quỉ,
Việt Thường, Văn Lang, Âu Lạc, Nam Việt như là những quốc gia tổ tiên người
Việt; qua đó làm sáng rỡ nguồn gốc người Việt-người Mường, hai tộc người vốn
khác nhau từ 4.000 năm qua. (Lời nhà xuất bản)
Kết luận: Người Mường là chủ nhân văn hóa
Phùng Nguyên, đến trước; còn người Việt hay Lạc Việt là chủ nhân văn hóa Đông
Sơn, đến sau. Và cả hai đều là những di dân từ phương Bắc. (Tạ Đạo)
Sấm sét đã sinh ra từ câu sau cùng!
Càng thấu hiểu dân Việt bao nhiêu khi họ thường nhắc đến cái
trường tồn của người Lạc Việt (với cuộc Hán hóa ngàn năm trước) và của người Việt
hiện đại (trong sự thực dân hóa trăm năm mới đây) như điều kỳ diệu có một không
hai trong lịch sử các tộc người trên thế giới, chúng tôi càng thông cảm bấy
nhiêu trước quan điểm ngược lại với khuynh hướng chính thống từng được cộng
đồng khoa học quốc tế công nhận từ đầu thế kỷ 20 khi người Pháp cai trị hoàn
toàn đất nước này.
Kết luận nổi tiếng của trường phái Viễn Đông Bác Cổ đã đóng đinh vào
trước tác của các sử gia độc lập và quan trọng nhất (như Trần Trọng Kim, Đào
Duy Anh…) và xuyên thấu đến nền sử học chính thống hiện đại:
‘Chúng ta đủ chứng cớ quả quyết rằng, người
An Nam ngày nay là dòng dõi trực hệ của người nước Việt bị diệt năm 333, và
tiên tổ ngàn xưa từ thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên đã ở tỉnh Triết Giang nước
Trung ngày nay; rằng tiếng Việt vay mượn khoảng 70% từ tiếng Trung.’
Thế nhưng, hiện nay, luồng quan
niệm ngược chiều đã cho rằng người Việt (có gốc là người tiền sử từ châu Phi qua biển Hồng Hải
đến) 40.000
năm trước đã khai phá đất nước Trung rồi lan ra toàn châu Á với những
chiếc rìu đá như công cụ ưu việt nhất của loài người thời ấy; rằng một khi
người Việt mang đa dạng di truyền cao nhất trong 7 nhóm dân Đông Á thì đất Việt
hiện nay từng là cái nôi của các dân tộc châu Á và cũng là nôi văn minh châu Á.
Hiền hữu Võ Thị Mỵ Châu, nàng có nhận ra đó
là các luận điểm kỳ dị không? Điển hình và nồng thắm đến mức cực đoan trong
mươi năm qua là 2 nhà nghiên cứu độc lập: Cung Đình Thành quá cố và Hà Văn Thúy - người đã, đang và sẽ ‘viết
lại’ lịch sử dân tộc và đất nước Trung của chúng tôi.
Chúng tôi rất không hài lòng!
**
À, mới nhất, mấy tháng trước, có thêm
vị thứ ba là Tiến sĩ Đỗ Kiên Cương đưa ra một giả thuyết mới nữa về nguồn gốc
người Việt, khi sử dụng các chứng cớ nhân chủng học phân tử trong 20 năm qua và
phát hiện năm 2012 về nguồn gốc mới của lúa nước thuần hóa.
Cứ theo Tiến sĩ
Đỗ thì trong làn sóng thiên di thứ nhất, người Việt là hậu duệ của người hiện
đại châu Phi với nước da đen nguyên thủy tới đất Việt hiện nay từ 40.000 năm
trước; họ góp khoảng 20% vào vốn gien người Việt hiện tại. Người theo làn sóng
thiên di thứ nhất chính là nguồn gốc chủ yếu của cư dân Đông Á. Rồi khoảng
30.000 năm trước, người thiên di thuộc làn sóng thứ hai men theo núi Himalaya
tới miền bắc đất Việt hiện nay và nhiều nơi khác tại Đông Nam Á, cũng như tới
Vân Nam, Quảng Tây (để hình thành người hiện đại đầu tiên tại Trung). Người theo
làn sóng thiên di thứ hai góp khoảng 80% trong vốn gien người Việt hiện nay.
Giả thuyết của
Đỗ Tiến sĩ đang tạo bàn tròn cãi
cọ giữa tam vị: tác giả cùng nhị vị Hà
Văn Thúy (vị này á, bàn nào bất kể tròn méo cứ dính đến nguồn gốc Việt là có
mặt) và Lê Nguyên K. (mới xuất hiện).
Đả phá tanh bành luận điểm của
học giả Tạ, Tiến sĩ Đỗ có 2 kết
luận giống như 2 học giả Cung và Hà: Một, người Việt cổ đã tham gia vào làn
sóng Bắc tiến của các cư dân nông nghiệp để tạo nên cộng đồng Đông Á ngày thêm
đông đúc. Hai, bằng chứng phân tử và di truyền học chứng tỏ người Việt có tính
đa dạng di truyền lớn nhất trong dân cư Đông Nam Á và cả vùng Đông Á; tức là họ
nằm trong nhóm cư dân lâu đời nhất trên khu vực rộng lớn này.
Nữ sĩ thấy sao ạ? Cũng oai và
oách đấy nhỉ! Còn về sự hòa huyết giữa người phương bắc (tổ tiên chúng tôi) và
người Việt (tổ tiên của nữ sĩ), Đỗ Tiến sĩ bảo rằng nó chỉ góp phần nho nhỏ vào
vốn gien người Việt hiện đại. Ông tiến sĩ đoán: sự hòa huyết đó chắc là chỉ xảy
ra từ thời Bắc thuộc lần thứ nhất, sau khi An Dương Vương Thục Phán nghe lời cô
con gái rượu mê giai xúi dại làm mất nước năm 179 trước Công nguyên?
Chúng tôi rất không hài lòng.
Oái oăm là nền tảng khoa học của nhị vị Cung và Hà đã dựa trên công trình
của chính những nghiên cứu gia người Trung là Giáo sư P. Chu
cùng cộng sự tại Đại học Thanh Hoa. Được công bố năm 1998 về quan hệ di truyền
của dân số Trung, công trình đó phủ nhận quan niệm cũ (người Trung tự sinh
thành và tiến triển độc lập trên đất Trung) khi khẳng định: Loài người hiện nay
có tổ tiên duy nhất ở Đông Phi, xuất hiện khoảng 170.000 năm trước; Nguồn gốc người Trung là
từ Đông Nam Á di cư lên, và người Đông Nam Á đó cũng không hẳn tự phát sinh tại
đấy mà lại đến từ châu Phi qua đường Nam Á 70.000 năm trước. Cũng thế: 50.000
năm trước người Đông Á di cư ra các đảo Đông Nam Á và rồi sang Ấn
Độ; 30.000 năm trước, họ qua eo Bering chinh
phục châu Mỹ.
Nữ sĩ chắc cũng nhớ, thật ra cách
đây vài chục năm đã có bằng chứng khảo cổ học và địa chất ủng hộ quan điểm nói
trên và làm lung lay nhiều thuyết tiền cổ đứng vững qua nhiều thập kỷ của thế
kỷ 20 về sự tiến hóa các nền văn minh trái đất.
Từ
điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia nói rõ: nền văn minh Đông Nam Á thể hiện
qua dòng ‘văn hóa Hòa Bình’ đã có rất sớm từ 15.000 năm trước Công nguyên, và
không phải là kết quả của các chủng tộc khác từ Trung di cư xuống. Người Đông
Nam Á cổ đã biết trồng cây này, làm đồ gốm này, đúc đồng sớm nhất thế giới này;
tức là biết làm các vật đó trước mấy ngàn năm so với 3 khu vực văn minh khổng
lồ nhất là Trung Đông, Ấn Độ và Trung. Tôi còn nhớ ý tưởng sau đây từng làm nức
lòng dân Việt của nữ sĩ: từ 6.500 năm trước Công nguyên văn minh Đông Nam Á đã
lan truyền đến các vùng khác trong đó
có Trung, tức là văn hóa Long Sơn và văn hóa Ngưỡng Thiều đều là nối dài của
văn hóa Hòa Bình. Mà thị xã Hòa Bình chỉ cách Hồ Gươm có 73 cây số! Hai chúng
ta đã từng có những ngày đêm ‘thư giãn’ ở đó, nữ sĩ Tổng thư ký còn nhớ hay nữ
sĩ Tổng thư ký đã quên?
(còn tiếp)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét