Một sự lạ xảy
ra trong cái nếp sinh hoạt thường ngày vốn dĩ quay đều như kim đồng hồ: hôm nay
ông trưởng toán cho chúng tôi được nghỉ. Thằng hộ pháp sướng quá nhẩy cẫng lên
cười hềnh hệch:
“Tại cái
vách đá đấy. Ông toán trưởng hướng địa bàn thế nào đâm mẹ nó vào chỗ đó đào sao
được thành đường. Phen này cánh mình tha hồ ngồi chơi sơi nước”.
Thàng học
giả tỏ ra hiểu biết:
“Mày đừng
trách oan ông toán trưởng, ông ấy lấy hướng địa bàn không sai đâu. Lỗi tại mấy
ông trên Ban chỉ huy, cứ ngồi bàn giấy vạch đường trên bản đồ rồi bắt con người
ta lần ra bằng được. Ngờ đâu bản đồ đi một đằng, thực địa nó lại khác. Ở các nước
văn minh người ta thăm dò khảo sát bằng máy bay, cứ ngồi trong phòng kín, bấm
nút truyền số liệu về trung tâm thôi, chả cái xứ nào phải mò mẫm bằng con dao
phát rừng như tụi mình”.
Tôi chợt nhớ
những điều ông toán trưởng hứa hẹn vơi tôi, ông bảo nước mình cũng đã cử người
sang các nước bạn học nghề khảo sát bằng hàng không, tôi cứ cố gắng lên, dăm năm
nữa ông sẽ đề nghị Ban chỉ huy cử tôi đi học. Thôi thôi, tôi xin nhường lại cái
viên kẹo ngọt đó cho thằng học giả, tôi bảo nó:
“ Ở nước ta
khối người được đi nước ngoài học cái đó rồi. Có văn hóa như mày, phấn đấu lên,
mai mốt nhất định sẽ được đi...”
Nó phá ra cười:
“Mày nói như
ông toán trưởng ấy. Thành phần cơ bản như thằng hộ pháp nhà quê kia còn chưa đến
lượt, huống hồ tao con nhà tư bản”.
Giọng nó vừa
chua chát vừa ngậm ngùi pha chút bất cần đời, nhưng tôi hiểu nó chẳng buông
trôi cuộc sống theo kiểu “bấc đến đâu, dầu đến đấy “ như nó vẫn nói. Nó còn ham
hố nhiều thứ lắm, bởi thế nó mới ngốn sách như vậy chứ. Nếu không, nó đã sống hồn
nhiên cây cỏ như thằng hộ pháp. Thế còn tôi? Mọi ngày đi làm, sống ào ào theo
công việc, chẳng có thời gian, hơi sức đâu mà ngẫm nghĩ, vậy nhưng chiều nay
sau một ngày nghỉ ngơi đột xuất, nằm dài trên võng ngước nhìn làn mây trắng hờ
hững trôi trên trời xanh, bỗng dưng tôi cảm thấy thấp thỏm một nỗi niềm vu vơ
nào đó. Tôi ra đời dưới một ngôi sao “quả tạ” chẳng thế mà ngay trước khi tôi cất
tiếng khóc chào đời, bố tôi đã bỏ mẹ tôi đi biệt đâu đó chẳng ai biết để bà uất
ức, ốm hậu sản mà chết khi tôi còn chưa dứt sữa mẹ. Tuổi thơ tôi trôi qua trong
bốn bức tường cao của trại cô nhi, khi khôn lớn, tôi được chuyển qua trại thanh
niên vừa học vừa làm.
Trong cái đầu
bã đậu của tôi chẳng lưu giữ một hình ảnh nào của cái người đời gọi là tình mẫu
tử, mái ấm gia đình, có chăng chỉ là hình ảnh một đứa bé lấm lét như một con vật
tội tội xung quanh những người đi xem vườn thú vào những ngày chủ nhật. Thế nhưng
dù có là con vật đi nữa thì cái sức sống của nó cũng dai dẳng chẳng kém gì con
người, nhiều khi tôi cũng thấy lạ, chẳng hiểu sao tôi sống sót được cho đến tận
bây giờ? “Tại mày quá khổ rồi nên không
còn biết thế nào là khổ nữa”, thằng học giả giải thích như thế, nó còn bảo
tôi đã sinh ra và lớn lên “dưới cấp con người”, rồi như nó sợ tôi tự ái, nó gộp
luôn cả nó, cả thằng hộ pháp, cả ông toán trưởng nữa cũng đang sống “dưới cấp
con người “ như thế. Tuy nhiên, những lời dài dòng của con mọt sách ấy chỉ thoảng
qua tai, chẳng chui vào đầu tôi được chút nào. Tôi cần quái gì ba thứ lý lẽ đó,
và suy cho cùng ngoài nửa kí gạo hàng ngày đổ vào cái dạ dày cho nó co bóp, tôi
chẳng còn cần cái gì hết. Và ngay cả sự nghĩ ngợi gây nên bởi cái màu xanh vời
vợi của bầu trời trên đầu tôi kia, xem ra cũng chẳng là cái gì, quẳng béng nó đi
và ngủ.
Thằng học
giả đánh thức tôi dậy vào lúc tối đã lâu lắm. Nó lôi tay tôi chỉ lên trời:
“Dậy, dậy...
mày có thấy cái gì kia không?:
Tôi ngáp, bảo
nó rằng tôi chẳng thấy cái gì và dù có cái gì cũng chẳng dính dáng đến tôi, đi
chỗ khác chơi cho tôi ngủ.
“Thằng ma tịt,
dậy đi, trăng sáng thế kia mà ngủ như lợn tao tưởng mày cũng còn một quả tim chứ?
Cái thằng
trí thức xó rừng này rõ rách việc, dẫu sao nó cũng làm tôi buồn cười, chợt nhớ
quả tim lợn ngày trước nó thưởng cho tôi. Quả thực đêm nay trăng sáng quá, tròn
vành vạnh treo mãi trên cao, tỏa xuống núi rừng một thứ ánh sáng lạnh lạnh. Tôi
theo chân thằng học giả lần theo vệt mòn lên cao lên cao mãi.
Và rồi trước
mắt tất cả đã nằm hết ở bên dướí kia: những chỏm núi nhọn với những bóng cây đen
sì, những cánh rừng tranh nhấp nhô trải xa mênh mông, những ngọn đồi bát úp bên
những khe sâu đen thẫm. Trăng tròn và to quá khiến bầu trời như thấp hẳn xuống.
Hoang vu và lạnh lẽo trườn đi theo ngọn gió tới khắp các thung sâu và các trảng
trống. Chao ôi, tưởng như cõi nhân gian đã bị xóa sạch sau một cơn hồng thủy và
ở cái nơi đất trời tiếp giáp này chỉ có hai thằng chúng tôi thôi. Mỗi đứa ngồi
trên một tảng đá, quay lưng lại nhau và ngợp đi trong ánh trăng trong vắt. Bỗng
thằng học giả sờ tay vào người tôi thì thào:
“Mày còn đó
không?”
“Tao đây,
mày vẫn đấy chứ?”
“Không biết,
tao không biết tao là tao hay là ai nữa thế?”
Tôi im lặng
nhìn theo một vệt sao đổi ngôi kéo dài trên bầu trời, biến mất vào đâu đó. Nó
biến đi đâu nhỉ?.
“Này, mày ơi...”
“ Cái gì?
“Mày nói đi
chứ, nói gì cũng được, nhưng mày phải nói đi.”
Tôi biết
nói gì bây giờ? Chẳng có cái gì để nói trong lúc này, ngay cả ngẫm nghĩ cũng
không, cứ ngồi thế này và ngồi thế này.
“Nói đi, mày
nói đi...”
Vẻ vật nài,
hoảng hốt của nó làm tôi đành phải nói:
“Tao vừa thấy
một ông sao biến đi. “.
“Vậy có một
người vừa từ giã cõi trần. “ ...
“Nó biến đi
đâu? Chui vào vực thẳm hả?”
“Trong vũ
trụ không có những vực thẳm nhưng có những lỗ đen.”
Thế rồi nó
giảng giải chẳng cần biết tôi có hiểu hay không. Sự thực tôi chẳng nghe gì, kệ
xác nó với các lỗ đen trên vũ trụ, tôi đang mải đuổi theo một ý nghĩ rất mơ hồ
hình như mới nảy ra và tôi sợ rằng tôi đang mất nó.
Nó hỏi:
“Mày bảo
trong con người có những lỗ đen như trong vũ trụ không?”
“Tao không
biết”
“Tao cho rằng
có đấy. Cái đó có thể gọi là những hố thẳm trong lòng người.”
Tôi vùng dậy:
“Tao nghĩ
ra rồi.”
“Gì thế?
Cái gì thế?”
Nó cũng đứng
bật dậy, hoảng hốt. Tôi nhìn gương mặt trắng bệch của nó, cười nhếch mép:
“Tao với
mày đốt rừng đi.”
Nó trợn mắt
lên, lắp bắp:
“Cái gì?
Mày nói cái gì? “.
“Đốt rừng.
Tao với mày đốt rừng chơi.”
Thằng học
giả bỗng bật cười. Nó hùa ngay với tôi đi kiếm tre và lá khô. Tôi giằng lấy bao
diêm run bần bật trong tay nó. Lát sau, tôi trèo lên tảng đá cao nhất, rồi xuôi
theo chiều gió, tôi ném bó đuốc cháy đùng đùng vào đám cỏ tranh. Thoạt đầu ngọn
lửa còn chới với lăm le muốn tắt, nhưng rồi gió thúc vào làm nó cuồn cuộn bốc
lên, lem lém lan ra, lan ra mãi. Thế rồi chẳng mấy chốc, bên phía dưới kia ngay
trước mắt tôi đã là cả một biển lửa với những ngọn sóng hò reo đuổi nhau chạy
xa tít tắp, thắp sáng rực cả một vùng trời. Tôi ngây người thán phục cái hoành
tráng của quang cảnh đang diễn ra, miệng tấm tắc:
“Đẹp thật,
lửa cháy đẹp thật...”
Thằng học
giả nhấc bổng tôi lên quay trôn Và reo hò:
“Ha ha, bạo
chúa Nêrông đốt thành La Mã...”
(còn nữa)
PHỤ LỤC :
.
VỀ NHẬT TUẤN, TÁC GIẢ CUỐN "ĐI VỀ NƠI HOANG
DÃ"
( Bài viết của VŨ ÁNH trên Nhật Báo Viễn Đông, xuất
bản ở Nam California, số ra ngày 14-4-2001)
Trên một website của Hội nghi yahoogroups.com,
ông Nguyễn Hữu Nghĩa đã viết như thế này :
"Bà Bút Vàng là aỉ Theo cuộc điều tra riêng
của Làng Van , bà Bút Vàng là Đỗ Thị Thuấn em ruột của bà Đỗ Phương Khanh, em vợ
của Nhật Tiến. Công an Nhật Tuấn là em ruột của Nhật Tiến. Nhật Tiến là "tư
lệnh tiền phương" chỉ đạo Giao Lưu Văn Hóa (Hoa Hồng Đỏ) tại hảí ngoại qua
sự móc nối công tác. . "
Đọc đoạn ngắn như trên, tôi đã thấy không muốn đọc
nữa, dù rằng tôi biết ít ra ông Nguyễn Hữu Nghĩa cũng là một nhà báo, sinh sống
ở nước ngoài cũng đã khá lâụ Tôi biết ông là do đọc trên báo, chứ chưa bao giờ được
hân hạnh gặp mặt ông. Nhưng trong đoạn văn của ông nó gợi lại cho tôi hình ảnh
cũ đã ăn sâu vào tâm khảm tôi trong suốt thời gian ngồi tù Cộng Sản và 4 năm sống
với chế độ đó ở ngoài đờị Cái lối dùng liên hệ bố me, anh em, bà con của một người
để qui kết người đó là một thủ thuật để đàn áp hèn mạt không thể tưởng tượng nổi
của những người Cộng sản. Người quốc gia
chân chính là những người thường lên án hành động nàỵ Từ chỗ " công an Nhật
Tuấn" là em ruột của Nhật Tiến đến chuyện Nhật Tiến là tư lệnh tiền phương
chiến dịch Giao Lưu Văn Hóa ở hải ngoại, qua sự móc nối công tác" cái kết
luận chỉ phải đi một con đường ngắn hời hợt, bằng phẳng một cách đáng sợ. Nó giống
một mảnh giấy học trò, viết mực tím nguệch ngoạc vài dòng thô sơ lên án bà nội
tôi và hàng chục ngàn người khác trong cuộc đấu tố ruộng đất ở Miền Bắc Việt
Nam năm 195Ọ Thế rồi, lại thêm chữ Hoa Hồng Đỏ, rồi "tư lệnh tiền phương của
chiến dịch giao lưu văn hóa " toàn là những từ ngữ gợi lên cho người đọc một
cái gì vừa kín, vừa hở lại vừa nông cạn. Thế nhưng "kinh " nhất là
nhóm từ "theo cuộc điều tra riêng" trong giác thư của ông Nghĩa .
Trong thời gian 4 năm sau khi được thả ra khỏi
tù, anh chàng công an khu vực nơi tôi cư ngụ đã hàng trăm lần nói với bà mẹ tôi
: "ở trên (tức thượng cấp của anh ta) vừa cho tôi hay là anh Ánh hồi này
linh tinh lắm (thời gian mới đi tù về tôi đi làm lò gạch và sau đi chở gỗ bằng
xe ba bánh cho mấy lán gỗ) và theo chỗ điều tra riêng của cháu, thì. anh ấy hay
tiếp xúc với thành phần không tốt mới ở trại cải tạo rạ.." Bà mẹ tôi hiểu
ý "theo chỗ điều tra riêng " của anh ta tức là cái giá bằng hai góc
thuốc lá ba số 5 thì mới dập ta ('t được kết luận của những " cuộc điều
tra riêng ấy, một cái kết luận dễ dàng, vô luật pháp (vì là điều tra riêng ) có
thể khiến cho tôi lại phải khăn gói quả mướp vào " hấp" lại ở lâm trường
Sao Vàng (Pleiku) ít ra cũng là 3 năm. Như vậy vị chi là 17 năm tù trong cuộc đời
của thằng con trai của bà. Vì thế bà cụ tôi sợ lắm và phải xì thuốc lá ra cho
yên chuyện.
Tôi nêu ra những sự kiện thực tế mà tôi trải qua
chỉ để giải thích lý do tại sao tôi không tin bất cứ một sự kết luận dễ dãi nào
không mất công trưng ra bằng chứng, nhất là những kết luận có thể làm thương tổ
n đến danh dự của người khác. Nếu tôi không thích ông Nhật Tiến, thì liệu tôi
có thể " vẽ " ông Nhật Tuấn bằng những hình ảnh còn kinh hãi hơn hình
ảnh người công an hay không? Được chứ, ai lại không có khả năng đó vì nó dễ
dàng lắm, nhưng tôi nghĩ nếu làm như vậy tức là tôi đã phản bội tất cả những dậy
dỗ của gia đình và học đường về sự cần thiết của ngay thẳng và chính trực ở đờị
Những đồng hương tỵ nạn ở đây đã từng là nạn nhân của chế độ Cộng sản tất không
thích bất cứ một ai cáo buộc và lên án người khác mà không cần bằng chứng.
Có lẽ là nhà báo, nhà văn, lại có điều tra riêng,
chắc ông Nghĩa cũng không gặp khó khăn lắm khi chứng minh và bằng tài liệu cũng
như hình ảnh khả tín về những sự việc ông cáo giác ông Nhật Tuấn và ông Nhật Tiến
chứ ?
Đề cập đến giác thư mà ông Nguyễn Hữu Nghĩa cho
phổ biến trên website, tôi chẳng có ý gì khác hơn là chỉ muốn mọi việc được
sáng tỏ để làm giảm bầu không khí ô nhiễm do cái cách chống cộng bằng những phương
pháp giống như phương pháp mà Cộng Sản đã áp dụng đối với các đồng hương tị nạn
Cộng Sản ở đây thời gian họ còn ở trong nuớc, kéo dài hơn hai thập niên qua rồị
Điều thứ hai mà tôi muốn đề cập với ông Nguyễn Hữu Nghĩa là ông đã đọc tác phẩm
"Đi Về Nơi Hoang Dã " của tác giả Nhật Tuấn chưa ? Nếu đọc rồi thì
xin ông cho biết đoạn nào trong cuốn tiểu thuyết tuyệt vời này là ca tụng chế độ
Cộng Sản. Bởi vì theo tôi , nếu nói cuốn " Đi về nơi hoang dã"là một
cuốn tiểu thuyết chống Cộng sâu sắc thì cũng là chỉ mới nói tới một phần. Nó
còn hơn thế nữa . Nó chống cái ác, cái xấu, cái đê tiện, hèn mọn, lòng ganh tị
nhỏ nhen, sự hoang tưởng của những bộ óc trì độn dùng chính sự trì độn đó để bịt
mắt mọi người, và những điều này có thể xảy ra ở dưới bất cứ chế độ nào trên thế
giới chứ không chỉ dưới chế độ Cộng Sản. Nhưng Nhật Tuấn, con người can đảm ấy đã
dám lấy mạng sống của mình để viết lên những sự thật mà ông trải qua trong suốt
thời gian làm một anh công nhân địa chất để viết cuốn Đi Về Nơi Hoang Dã".
Cứ giả thử tác giả Nhật Tuấn là một công an đi nữa thì đây chính là một anh
công an có nhân cách.
Bởi vì có nhân cách, thì mới có đủ can đảm và
lòng nhân ái để viết bản cáo trạng đối với một chếđộ bằng tác phẩm Đi Về Nơi
Hoang Dã.Một người ở hải ngoại nhất là ở Mỹ, một đất nước tự do viết một ngàn tờ
cáo buộc chế độ ở Việt Nam thì làmột điều dễ dàng . Chẳng ai bắt bớ , cho đi tù
, ăn đói, làm việc nặng, có khi là cái chết. Nhưng nhà văn Nhật Tuấn còn ở
trong nước. Mặc dù đang thời kỳ cởi trói văn nghệ, nhưng cái thòng lọng vẫn
còn. Nó có thể xiết lại bất cứ lúc nàọ Nỗi đau này nếu xẩy ra nữa thì cũng chỉ
có Nhật Tuấn và gia đình ông cũng như gia đình ông Nhật Tiến gánh vác . Cho
nên, họ có tội gì mà phải lãnh những cáo giác không cần nêu bằng chứng như vậy
??. Thế còn " Đi Về Nơi Hoang Dã" thì sao ? Xin hãy đọc một đoạn dưói
đây trong lời giới thiệu tác phẩm : "Vậy nhưng rồi tới cái ngày ngay cả
ông toán trưởng là người lãnh đạo cái đoàn người đi trên núi này rồi cũng đã trắng
mắt, cay đắng nhận ra rằng Ban chỉ huy đã sai trong chỉ đường vạch lối, vậy nhưng
ông vẫn phải nhắm mắt tuân theo "mệnh lệnh là mệnh lệnh, tuyệt đối phải chấp
hành, nhiệm vụ chính trị cao nhất của chúng ta trong lúc này là đi tới, đi tớị...",
nhưng mà đi tớị.. đâu, đi tới cái đỉnh Hua Ca chỉ có trong tưởng tượng bằng bất
cứ giá nàọ Vậy là đã thành một chân lý "Ban chỉ huy không bao giờ
sai", đừng có tranh cãi, triết luận, hội thảo hội thiếc gì với cấp trên hết,
nếu không thì sẽ thành thằng "phản động" "Anh dám nói cấp trên
là mù quáng hả? Anh quên mất phải trường giai cấp nào mà phát biểu vô tổ chức,
vô kỷ luật vậỷ". Cả 5 ngưòi trong đoàn địa chất đành im lặng sống giữa một
xã hội hà khắc, lạnh lùng, không chấp nhận bất cứ một lý luận nào chứng minh
cái sai của ngưòi chỉ huy toán địa chất nàỵ Nhưng họ không buông xuôi , họ triết
luận với các lý thuyết gia của con đuờng hoang tưỏng ..bằng " chính cuộc đời
thê lương của họ". Thảm kịch ấy phải chăng đã là là một niềm tin sắt đá rằng,Cái
Xấu, Cái Ác không còn lý do để tồn tạị . Cứ như thế cái khẩu khí của Nhật Tuấn
như tiếng nói sang sảng của một công tố viên nhân danh con nguời cáo buộc một
lãnh tụ, một tập đoàn, một thế lực trong một chế độ dù là Công sản hay quốc gia
nhưng độc tàị Cái khéo và sự tuyệt vời của Nhật Tuấn chính là việc ông dựng lên
các nhân vật " không tên" như là một sự tự nhiên : ông toán trưởng,
thằng cấp dưỡng, thằng hộ pháp, thằng học giả và " tôi", nhưng ngưòi đọc
đều biết rõ danh tánh của những con ngưòi như thế. Họ có mặt khắp nơi, ở Việt
Nam, ở Trung Cộng, ở Cộng sản Bắc Hàn, ở Cuba, ở Á châu, ở Trung Đông, ở Âu Châụ
đâu cũng có thể có những con ngưòi nàỵ .Và một điều cần nhấn mạnh ở đây, trong
cuốn tiểu thuyết Đi Về Nơi Hoang Dã của Nhật Tuấn , không bao giờ thấy bóng
dáng của sự giận dữ của nhân vật " tôi", không bao giờ có những nhóm
từ chúng ta thường đọc thấy trong những tờ truyền đơn , những nhóm từ vô nghĩa
và kệch cỡm. Nhật Tuấn đã đem tất cả tấm lòng để viết những lời cáo buộc cái Xấu,
cái Ác, cái Đơn Điệu, Sự Bưng Bít va Sự Hành Hạ Con Ngườợi Bằng Chính Cái Ngu Dốt
Một Cách Bệnh Hoạn Của Những Kẻ Có Quyền. Không gì tuyệt vời hơn là người ta được
đọc một bản cáo trạng đối với chế độ độc tài , hà khắc bằng một tác phẩm như
" Đi Về Nơi Hoang Dã". Nhưng quan trọng nhất, theo nhận định của nhà
văn Hoàng Khởi Phong , đây là một tác phẩm văn chuơng thật hay của văn học hiện
đạị Nhật Tuấn đã " đứng dậy cùng với nỗi đau của chính ông hoà tan trong nỗi
đau của mọi ngườị- HKP " để viết bản thông điệp về Con Người nàỵ
VŨ ÁNH

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét