Tổng số lượt xem trang

Thứ Hai, 16 tháng 3, 2015

PHẠM THẮNG VŨ - Con sóng dữ - KỲ 54




                       (tiếp theo)

Đặc biệt, trong số giấy tờ ký gửi chờ dịch thì tôi đã tận mắt thấy các bản sao Giấy ra trại của vài viên tướng miền Nam VNCH như Trần Bá Di, Nguyễn Thanh Sằn và Hồ Trung Hậu... do các thuyền nhân mang đến mà nơi mục can tội, quản giáo Việt Cộng chỉ ghi vỏn vẹn hàng chữ đánh máy là Chuẩn tướng hay Trung tướng Ngụy quyền. 
- Trên thế giới, xã hội Cộng Sản của nước nào thì cũng đều giống nhau ở chỗ người dân là một tù nhân dự bị và chỉ chờ có dịp là họ bị bọn công an bắt giam. Anh không nhớ tên của người đã phát ngôn ra câu nầy nhưng nghĩ nó thật đúng. Lời anh Khảm nói sau khi nghe tôi kể về chuyện giấy tờ của thuyền nhân mang theo gửi trong phòng Dịch thuật và anh tiếp: " Anh đọc sách thấy nói ở bên Liên Xô hay Đông Đức gì đó thì nhiều người dân mỗi tối trước khi đi ngủ đều phòng sẵn một túi nhỏ có đựng bàn chải, kem đánh răng, thuốc trị bệnh, xà phòng... để nếu giữa khuya họ bị công an ập vào bắt bất ngờ thì sẽ có cái dùng trong nhà tù. Anh em mình sống nơi đây tuy chưa biết số phận sẽ như thể nào trong thời buổi thanh lọc nhưng dẫu sao, vẫn may mắn hơn những người còn kẹt ở bên quê nhà ".
Một hôm, cô Hà thư ký của phòng đã mời cả nhóm anh em chúng tôi đến nhà riêng để ăn giỗ người cha chồng nên anh Đinh Vinh quyết định cho đóng cửa nghỉ làm sớm lúc gần trưa. Chúng tôi cùng kéo nhau đi ra đường lộ chính rồi băng ngang qua khu công trường Consortitum đang được xây dựng dở dang. Cây ván, cỏ tranh đánh thành từng tấm lá để lợp mái, gạch, cát và các cuộn lưới sắt... bỏ nằm ngổn ngang trên mặt đất. Nhân công chia thành từng tốp nhỏ đang hì hục dọn bỏ cây cối, khuân gạch-đá hoặc ban cho bằng phẳng các chỗ gồ lồi và hố đất trũng. Căn nhà nhỏ của vợ chồng cô Hà nằm ở cuối vùng đất công trường dọc theo một lối đi khác ở cạnh chân đồi. Đám nhân viên chúng tôi hùn tiền với nhau mua một thùng bia lon Foster và hai chai rượu trắng hiệu Arak có hình ông già chống gậy để làm quà ăn giỗ. Đến nơi thì ai cũng cảm thấy đói bụng khi mùi thơm món ăn bay ngào ngạt và rồi vì chờ mãi mà không gặp ông Bửu cùng cô Hòa nên cả bọn chúng tôi đành quây quần thành một vòng tròn trên nền nhà. Cả đám ngồi vây chặt các tô Cà ri gà, dĩa Cá chiên xù vẩy, bát Khổ qua nhồi thịt, thố Kiểm, thố Chè đậu trắng cùng các khay bún sợi và bánh mì xắt thành lát mỏng... Bữa giỗ thật quá ngon và thịnh soạn trong khung cảnh thiếu thốn của trại tị nạn. Ngồi ăn một lúc, vì không uống được rượu-bia nên tôi xin kiếu vợ chồng cô Hà cùng các nhân viên khác để ra về trước. Khi quay ngược lối cũ thì tôi gặp Tám Kiệt và ông Phát đang ngồi nghỉ dưới bóng một cây thấp trong khu vực công trường. Thấy tôi, Tám Kiệt giơ tay vẫy và nói:
- Cậu Vũ đi đâu vào tuốt trong này vậy? Công việc làm trên phòng Dịch thuật đó chắc bận dữ ha. Có gấp gáp gì không, ngồi chơi uống trà với tụi nầy cho vui.
Nghe vậy, tôi liền ghé lại ngồi với hai ông. Không như lúc còn ở trại trong rừng bên Malaysia, từ hồi nhập vào Galang tới giờ thì tôi cũng ít có dịp ngồi trò chuyện với Tám Kiệt. Ông Phát rót một ly nước trà còn nóng mời tôi uống và nở miệng cười, xuề xòa:
- Cậu làm ở phòng Dịch thuật tuy không lương nhưng thấy vậy mà có tương lai hơn tụi tui nhiều. Biết chuyện gì là lạ... liên quan tới thanh lọc xin cậu làm ơn nói cho tụi tui biết với nha. Mai mốt khi gần ngày sơ vấn chắc phải nhờ đến cậu dịch hộ cho các giấy tờ tui mang theo đó.
Trong barrack thì ai cũng biết tôi làm thiện nguyện ở phòng Dịch thuật và họ nói coi như tôi không phải lo lắng gì về chuyện thanh lọc nữa. Cao Ủy cũng như bên thanh lọc Indo sẽ giúp nhân viên của phòng Dịch thuật vì thực tế, chúng tôi đã phụ giúp công việc của họ. Ngay ông Bửu thì cũng nhiều bận quả quyết với đám nhân viên chúng tôi y vậy. Còn chúng tôi, ai nghe các điều này cũng thấy ngon ơ.
Công trường bề bộn vật liệu nằm vương vãi đây đó trong một khu vực khá rộng và theo như Tám Kiệt nói thì nhà thầu Titan sẽ cất 9 dãy nhà ván gỗ lợp tranh thật lớn mà họ dành để huấn nghệ cho thuyền nhân trong trại. Cao Ủy bỏ tiền dựng khu Consortitum và họ để cho hai người Mỹ da trắng quản lý.
- Chừng xây xong, Cao Ủy họ sẽ dạy người mình những nghề gì vậy hả anh Tám? Tôi hỏi thăm.
- Ô! Sửa xe gắn máy, thợ điện, thợ nề, thợ mộc, may cắt quần áo, hớt tóc, đánh máy chữ và buôn bán nhỏ... nè. Tui nghe nói vậy đó. Tám Kiệt trả lời.
Nghề mà Cao Ủy huấn nghiệp cho thuyền nhân như vậy không phải dành cho người sắp đi định cư ở nước thứ 3. Nói với Tám Kiệt và ông Phát về suy nghĩ của riêng tôi thì cả hai người họ gật đầu.
- Cậu nói đúng! Ông Bob quản lý có nói với tụi tui là dạy các nghề này cho thuyền nhân trước khi họ hồi hương về lại Việt Nam. Chính vì nghe vậy nên tụi tui mới lo mới rầu nè. Ông Phát chậm rãi trả lời trong làn khói thuốc.
Một ngôi trường với 9 dãy nhà quá rộng như diện tích hiện có thì Cao Ủy sẽ huấn nghệ được rất đông người cùng một lúc và chỉ trong thời gian ngắn là hoàn tất khoá học. Điều ông Phát lo lắng rất đúng vì rõ ràng Cao Ủy đã chuẩn bị các phần việc họ sắp làm trong ý định hồi hương thuyền nhân về lại quê nhà. Ở đây có trường dạy nghề thì các trại tị nạn khác bên Thái Lan, Malaysia, Phi, Hồng Kông... chắc cũng tương tự. Tám Kiệt ngồi yên lặng hút thuốc lá và dù vẫn luôn cười niềm nở thân mật nhưng khuôn mặt y đã lộ vẻ lo âu. Không như ông Phát là một cựu thông dịch viên cho quân đội Mỹ trước đây thì tôi nghe kể thời miền Nam VNCH, Tám Kiệt chưa hề đi lính hoặc là nhân viên trong guồng máy hành chánh công quyền. Tám Kiệt chỉ là dân buôn bán bình thường như nhiều người khác. Những điều vừa trò chuyện với nhau, tự dưng làm cả 3 người chúng tôi đâm lo về một tương lai dữ nhiều-lành ít đang chờ trước mắt. Khi còn ở dưới ghe, người nào cũng nghĩ một khi đến được trại tị nạn thì chỉ còn chờ ngày thơ thới định cư ở nước thứ 3 nào đó như Úc, Mỹ hoặc Canada... Nghĩ vậy nhưng chỉ cần một thời gian ngắn sống trong trại thì nhiều người đã tan biến mọi hy vọng sau khi dò hỏi tin tức từ những thuyền nhân đến trước đó. Người phải lo lắng cùng ít có hy vọng về cuộc thanh lọc là những thuyền nhân mà bản thân không hề dính líu chút nào với chính quyền miền Nam VNCH trước đây. Có làm việc thiện nguyện thông thường như ở zone hoặc ở ban Đại diện người Việt thì cũng chưa chắc. Ai cũng nói phải làm việc cho phòng An ninh P3V hay phòng thanh lọc Indo hoặc bên phía Cao Ủy... như phòng Dịch thuật tôi đang làm thì mới có hy vọng. Ngồi trò chuyện với Tám Kiệt và ông Phát, tự nhiên tôi thắc mắc không biết cái phòng Dịch thuật nơi mình đang làm thiện nguyện, thực sự nó có trực thuộc bên Cao Ủy hay bên phía thanh lọc Indo như lời đã nghe? Và, ông Peter Cao Ủy trưởng cũng như các sĩ quan bộ Nội vụ Indo thực có biết chúng tôi giúp sức hàng ngày cho công việc của họ hay không? Chắc tôi phải dò hỏi điều này với các bạn đồng sự trong phòng xem sao. 
Nhìn lại vẻ mặt gầy gò, hốc hác, mệt mỏi pha lẫn lo lắng của Tám Kiệt trước mắt, tôi phân vân không biết chuyện tình ái giữa y cùng Ánh Diễm nay ra sao rồi? Hai người họ vẫn lén lút với nhau như hồi còn ở trại trong rừng bên Malaysia hay giờ đây, vì lo lắng chuyện thanh lọc nên cũng chẳng thiết đến nhau nữa.
Những lần trò chuyện qua lại với nhau trong barrack cũng như khi cả đoàn ghe đi khai báo lý lịch cá nhân, tôi biết thời còn miền Nam VNCH, Tám Kiệt từng dạy hoạ kỹ thuật tại trường cơ khí Cao Thắng và có lúc từng làm chủ một garage sửa xe hơi cho đến khi Việt Cộng tràn vào Sài Gòn thì y xoay qua buôn bán. Những năm gần đây thì y tổ chức vượt biên và đã đánh nhiều chuyến thành công. Tám Kiệt sống rất thoải mái trong trại và thực sự gia đình y chẳng phải thiếu thốn gì đến nỗi phải đi làm cho nhà thầu Titan để nhận lương công nhật hàng ngày. Đệ tử rồi người ơn trong các chuyến vượt biên năm xưa đã gửi tiền đến trại tiếp tế cho gia đình y đều đều. Điều mà Tám Kiệt lo âu giống như mọi thuyền nhân khác trong trại Galang là chuyện thanh lọc. Tám Kiệt bây giờ trông khác hẳn một Tám Kiệt khi ở trại trong rừng bên Malaysia dù lúc nào y cũng vẻ mặt niềm nở khi tiếp chuyện với bất kỳ ai. Tôi không ngạc nhiên khi nhìn Tám Kiệt gầy gò, hốc hác trước mặt rồi nhớ lại có lần nghe y than với người trong barrack rằng có lúc ăn uống không vô. Còn Ánh Diễm? Như đã kể ở trên, Ánh Diễm đi vượt biên một mình và khi nhập trại Galang đã sống chung với 2 phụ nữ cùng con nhỏ của họ sát bên cạnh chỗ ở của nhóm chúng tôi. Sáng nào cũng vậy, nhiệm vụ của tôi và Đỉnh là dậy thật sớm để quẩy đôi thùng xuống suối gánh nước về barrack cho cả nhóm 5 người dùng trong ngày. Yến, Đào và Bẩy không còn phải xuống tắm dưới suối nữa. Khi trời mới tang tảng sáng thì suối mới có nước trong. Không lâu sau, Đỉnh nhận gánh nước thuê cho riêng mình Ánh Diễm rồi sau đó cũng chính nó đã dẫn Ánh Diễm ra mắt anh Khảm để xin học Anh ngữ. Có những buổi trưa, Đỉnh và Ánh Diễm ngồi với nhau tại cái bàn cây cạnh barrack để ôn bài cũ vừa học. Một lần tình cờ khi vừa từ phòng Dịch thuật về barrack ăn cơm trưa thì tôi đã thấy Tám Kiệt đứng nấp sau thân cây Tràm bông vàng gần đó và đang dõi mắt quan sát hai người họ. Kể lại cho Đỉnh nghe và mong biết để phòng nhưng nó chỉ cười cười mà không nói gì với tôi. 
                          (còn tiếp)



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét