(tiếp
theo)
Nhà văn Nguyên Ngọc:
những suy nghĩ và hành động trong
cao trào văn nghệ phản kháng
Nhà văn Nguyên Ngọc (tên thật là Nguyễn văn Báu), sinh năm 1932
tại Quảng Nam.
Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ông gia nhập quân đội năm 1950. Tốt nghiệp
trường Lục quân Khu 5, tham gia chiến trường một thời gian rồi trở thành phóng
viên báo Quân Đội Nhân Dân, khu 5. Tác phẩm đầu tay “Đất nước đứng lên “ xuất
bản năm 1956 viết về cuộc chiến đấu của một thanh niên thuộc bộ lạc Bahnar tên
là Núp và dân làng Kông Hoa, được trao giải nhất về tiểu thuyết thuộc giải Văn
Học 1954-1955 của Hội Văn Nghệ Việt Nam (miền Bắc). Sau đó in tiếp những tác
phẩm như: Mạch Nước Ngầm, Rẻo Cao, Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc, Đất
Quảng. Năm 1962, là chủ tịch Chi Hội Văn Nghệ Giải Phóng miền Nam Trung Bộ và
phụ trách tờ báo Văn Nghệ Quân Giải Phóng Khu 5, sáng tác với những bút hiệu
khác như Nguyễn Trung Thành, Nguyễn Kim.
Sau 1975, ông ra Hà nội, công tác ở tạp chí Văn Nghệ Quân Đội,
rồi phụ trách Ban Thường Vụ Hội Nhà Văn V.N trong cương vị Bí thư Đảng Đoàn.
Nhìn lại quá trình sáng tác của Nguyên Ngọc từ 1956 đến l975, Nguyễn văn Long
trong Tự Điển Văn Học V.N. đã nêu nhận định :
“Sự quan tâm hàng đầu đến những vấn đề có ý nghĩa trọng đại
lịch sử của dân tộc và cách mạng cùng với niềm say mê những tính cách anh hùng
khiến cho tác phẩm của Nguyên Ngọc mang tính chất hùng tráng lại đậm nét trữ
tình và chất lý tưởng .”
Sau năm 1975, trong sự tan rã của chế độ VNCH miền Nam, và
trước những vấn đề nẩy sinh trong cuộc thống nhất đất nước do sự hòa nhập ồ ạt
của dân chúng hai miền Nam Bắc sau hơn một phần tư thế kỷ cách biệt vì chia
cắt, người cầm bút nói chung đã phải đối diện với những thực tế ngày càng gay
gắt. Vấn đề khả năng quản lý và lãnh đạo của các cán bộ miền Bắc trong sinh
hoạt xã hội miền Nam.
Vấn đề cải tạo Công Thương Nghiệp Tư Bản Tư doanh. Vấn đề tù nhân Cải tạo với
sự dính líu liên hệ gia đình của nhân dân cả hai miền. Vấn đề thất bại thảm
thương của chiến dịch vận động đi Kinh tế mới (lý thuyết thì rất hay ho nhưng
thực tế là cả một sự đầy đọa quần chúng trong tinh thần vô trách nhiệm). Vấn đề
thuyền nhân ồ ạt ra đi. Vấn đề hủ hóa của những con người đã từng đóng góp tích
cực cho cách mạng. Và đời sống xã hội ngày càng đi xuống về cả mặt vật chất lần
tinh thần. Đó là những lý do mà sau 1975, giới cầm bút đã không đưa ra được
những tác phẩm có giá trị tiêu biểu, tương xứng với “thành quả vĩ đại” mà chế
độ miền Bắc đã đạt được sau cuộc chiến thắng mùa xuân 1975.
Rõ ràng đã có một sự trăn trở trong tâm thức người cầm bút khi
họ nhìn ra xã hội chung quanh, với đầy rẫy những gai nhọn của đời sống thực tế
hằng ngày. Và đó hẳn cũng là lý do mà Đảng Đoàn Hội Nhà Văn Việt Nam đã phải tổ
chức hội nghị một số đảng viên trong Hội để bàn về “Sáng tác văn học” vào tháng
6-1979 để bước đầu trao đổi ý kiến trước khi đem ra thảo luận rộng rãi trước
toàn thể hội viên.
Nhân danh Bí thư Đảng đoàn, nhà văn Nguyên Ngọc đã đọc một bản
“Đề cương đề dẫn thảo luận ở Hội Nghị Đảng Viên bàn về sáng tác văn học”.
Nếu trước đây, lao mình vào cuộc chiến với “Sự quan tâm hàng
đầu” những vấn đề “có ý nghĩa lịch sử dân tộc và cách mạng” và với niềm “say mê
những tính cách anh hùng”, Nguyên Ngọc
đã viết như một sự đóng góp hăng hái cho cuộc chiến đấu mà ông nghĩ là thần
thánh, viết như một tuyên dương cho những cá nhân xả thân vì lý tưởng anh hùng
cách mạng, thì nay trong bản Đề dẫn kể trên, nhà văn đã có dịp thẩm định lại
quá trình sinh hoạt văn học của giới cầm bút với cái nhìn thâm trầm hơn, sâu xa
hơn và thoát ly được cái tình cảm bồng bột, say mê vì lý tưởng hơn. Ông nhận
định rằng:
“Trong văn học, lồ lộ khá rõ là số phận chung của cả dân tộc,
cả đất nước, nhưng còn số phận riêng của từng người, từng thành viên trong đội
ngũ lớn đó thì còn quá sơ lược, giản đơn. Mặt yêu nước nổi bật lên và đây là
chỗ mạnh của văn học ta thời kỳ này như đã nói ở trên nhưng mặt đấu tranh xã
hội thì không rõ bằng. Tính thơ lý tưởng của cuộc chiến đấu được biểu hiện khá
mạnh nhưng còn tính sần sùi, phức tạp của đời sống thì yếu hơn. “
Tính sần sùi, phức tạp của đời sống ấy là gì, nếu không là tính
cách trở lại với con người đích thực cùng với những nỗi khốn cùng mà con người
phải chịu đựng trong chiến tranh.
Thân phận con người như thế, trong một thời gian dài bị khỏa
lấp đi vì những nhu cầu của chiến tranh, nhưng khi hòa bình trở lại, nó đã trở
thành mối day dứt của những người cầm bút có lương tri khi một mặt phải trực
diện với những thân phận đó hiện diện đầy rẫy trong xã hội trước mắt, và một
mặt khác viết lách vẫn phải nằm trong sự chi phối của tính Đảng, tính cách
mạng, để chỉ có thể in ấn được những gì có tính cách “phải đạo”.
Đó là lý do mà Nguyên Ngọc đã phải nêu lên trong bản đề dẫn:
“Chính trong thời điểm này, các lực lượng văn học của ta trước
nay đã hình thành được một thế bám sâu khá đẹp trên các địa bàn, ở các mũi nhọn
của cuộc sống nay hầu hết đều bị bật ra khỏi các vị trí của mình. Mất liên hệ
với đời sống chúng ta bỗng bối rối mất phương hướng “, và rằng : “Phải chăng
lúc này có hiện tượng không ít phổ biến là người viết văn cứ viết mà không thật
tin ở chính điều mình viết ra . “Người là muối mà chính người lại không mặn thì
biết lấy gì để muốí người. “ Văn học nói theo một cách nào đấy là lòng tin.
Không có lòng tin lớn thì không bao giờ có thể có văn học lớn. “ (Bản đề dẫn, tháng 6-1979)
Bước sang lãnh vực lý luận, phê bình văn học, một hình thức
công an văn hóa nhằm ngăn chặn và triệt tiêu ảnh hưởng của những tác phẩm đi ra
ngoài lề lối văn chương “phải đạo”, cũng trong bản đề dẫn nói trên, nhà văn
Nguyên Ngọc nhận định:
“Có lẽ điều đáng lo hơn cả trong tình hình công tác lý luận,
phê bình văn học thô thiển kéo dài, là ở chỗ nó đã tạo nên có thể nói là những
định kiến xã hội đơn giản, dung tục đối với văn học, xói mòn năng lực thẩm mỹ
của người đọc, mặt khác thấm cả vào chính người cầm bút, xói mòn ý chí sáng
tạo, dũng khí sáng tạo nghệ thuật và ý thức trách nhiệm xã hội đứng đắn của nhà
văn, tạo nên sự cản trở vừa ở ngoài họ, quanh họ và ở chính họ. “
Trên cương vi một bí thư Đảng đoàn, và với sự mẫn cảm về tình trạng
sinh hoạt văn học tồi tệ của một người cầm bút có lương tri, vào thời điểm đó
(tháng 6-1979), Nguyên Ngọc tuy mong muốn đi tìm một lối thoát cho sự sáng tạo
của người cầm bút, nhưng vì ông vẫn còn tin tưởng ở đường lối lãnh đạo sáng
suốt của Đảng, nên phương hướng giải quyết vấn đề của ông vẫn không ngoài sự
trông cậy vào sự chỉ đạo của giai cấp lãnh đạo. Ông nhận định :
“Một nguyên nhân khác nữa đã hạn chế những thành tựu của văn
học ta vừa qua là ở sự chỉ đạo cụ thể đốí với sáng tác. Nói chung vừa qua,
trong chỉ đạo sáng tác chúng ta còn dừng lại ở chỉ đạo đề tài, chưa đi sâu vào
chỉ đạo chủ đề hoặc có thì cũng còn khá chung chung. Chỉ đạo đề tài là rất quan
trọng. Buông lỏng chỉ đạo đề tài sẽ để dẫn đến phủ nhận chức năng xã hội của
văn học. Đánh đồng tất cả đề tài tức là phủ nhận sự cần thiết văn học phải luôn
luôn hướng vào những mũi nhọn nhất của đời sống và như vậy cũng không thể nhận
ra tính đúng đắn sâu sắc của những chủ đề lớn, những nội dung lớn của đời sống.
Nhất là khi trong hiện thực diễn ra những biến động sâu, mạnh, phức tạp, thì
việc chỉ đạo chủ đề càng có ý nghĩa quyết định “ (Đề dẫn, tháng 6,1979)
Đúng là lề lối suy nghĩ của Bí thư Đảng đoàn của một hội nhà
văn trong sinh hoạt của một xã hội đã gần một phần tư thế kỷ luôn luôn chịu
đựng sự lãnh đạo của Đảng cầm quyền, phủ nhận khả năng suy nghĩ và cảm hứng tự
do sáng tạo của người cầm bút.
Tuy nhiên ngần ấy năm trời trôi qua, từ 1979 đến 1987, hẳn thời
gian đã đủ chín mùi để nhà văn Nguyên Ngọc ngày càng cảm thấy khả năng của giới
lãnh đạo văn nghệ không phải là vô hạn, và nhất là sự rung cảm nghệ thuật của
họ lại càng không phải là sự rung cảm nghệ thuật của người cầm bút chân chính.
Do đó, con người văn nghệ của Nguyên Ngọc hẳn đã đấu tranh kịch
liệt với con người Bí Thư Đảng Đoàn, và kết quả là nhà văn Nguyên Ngọc đã nhẩy
vô nhập cuộc với phong trào văn nghệ phản kháng tuy trễ tràng hơn một năm sau
so với những báo khác, nhưng lại là sự đóng góp tích cực nhất, tiêu biểu nhất,
dọn đường để cho nhiều nhà văn phản kháng có cơ hội đưa ra ánh sáng những tác
phẩm của mình.
Nhận công tác Tổng Biên Tập báo Văn Nghệ, cơ quan ngôn luận
chính thức của Hội Nhà Văn V.N. từ tháng 6, 1987, nhà văn Nguyên Ngọc phải lèo
lái tờ báo ngay đúng thời điểm phong trào văn nghệ đổi mới đang lên cao với
những đồng nghiệp nhập cuộc sớm sủa khác như tờ Tiền Phong, Lao Động, Phụ Nữ,
Tuần Tin Tức ở miền Bắc, hay những tờ Đại Đoàn Kết, Sài Gòn Giải Phóng, Tuổi
Trẻ, Sông Hương, Lang Bian,.., ở miền
Nam. Tuy trễ hơn các đồng nghiệp khác hơn một năm sau, nhưng với sự lèo lái của
người Tổng Biên Tập Nguyên Ngọc, tờ Văn Nghệ đã mau chóng trở thành ngọn cờ đầu
đăng tải những truyện ngắn, những bài ký có nội dung phản kháng sâu xa và mạnh
mẽ, gây được sự hưởng ứng hết sức sâu rộng và có tiếng vang rộng rãi cả trong
nước lẫn ngoài nước. Sau đây là phần nhận định của nhà văn Mai văn Tạo trong
việc đánh giá sự đóng góp của tờ Văn Nghệ trong phong trào văn chương đổi mới:
“Tờ Văn Nghệ xông thẳng vào những vấn đề vô cùng bức xúc của
con người và xã hội, phanh phui, phê phán và lên án những hành vi xấu xa tội
lỗi xúc phạm đến đời sống và con người. Khoảng cách giữa đời sống và thơ văn
trên trang báo dần dần thu ngắn lại. Những bất công xã hội, bọn cường hào mới,
kẻ lợi dụng chức quyền vơ vét của công ức hiếp nhân dân được nhìều ngòi bút có
lòng còn dũng khí vạch mặt và tố giác gắt gao, nghiêm khắc. Cái đêm hôm ấy đêm
gì, Vua lốp, Tiếng hú con tàu, Tướng về hưu, Công lý chẳng quên ai... tưởng
chừng không bao giờ được ra mắt người đời, thì nhiều tháng qua đã phơi bầy trên
những trang Văn Nghệ. Chưa bao giờ báo Văn Nghệ hội tụ được đông đảo người sáng
tác trên khắp mọi miền đất nước như thời gian qua. Và chính vì thế, độc giả từ Bắc chí Nam đã đón nhận Văn Nghệ
như người bạn trung thực, đồng cảm cảnh ngộ oan khuất của mình. Chưa bao giờ Văn nghệ
được coi là tờ báo của mọi người như
những tháng gần đây.
(Các nhà văn nói về vụ “báo Văn
Nghệ” - Đất Việt, Canada, tháng 2-1989)
(còn
tiếp)
.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét