(tiếp theo)
****
thư ngỏ gởi văn nghệ sĩ
trong phong trào
văn
nghệ phản kháng tại quê nhà
(Trong “Trăm Hoa vẫn Nở Trên Quê Hương” –
Trang 795)
Thân gửi các anh chị:
Chúng tôi, một số anh chị em hằng thao thức đến vận mệnh đất nước, hội
họp nhau qua chương trình Hội Thoại Tự Do, nhằm mục đích nghiên cứu tìm hiểu
những vấn đề then chốt nóng bỏng của quê hương qua những chương sách vừa trình
bày ở trên, đã cố gắng giới thiệu với độc giả, nhất là độc giả ở hải ngoại, một
cao trào văn nghệ mà chúng tôi gọi là Cao trào Văn nghệ Phản kháng.
Một số nhận định của chúng tôi đã được nêu lên, một vài vị trong các anh
chị đã được đề cập đến, kèm theo những văn liệu mà chúng tôi coi là tiêu biểu.
Dĩ nhiên, cao trào văn nghệ phản kháng ở quê nhà không chỉ vỏn vẹn có thế.
Vốn tích lũy âm ỉ từ nhiều năm, có cơ hội bộc phát từ những năm cuối của
thập niên 80, đặc biệt là hai năm 1987, 1988, chỉ riêng với một số tài liệu
hiếm hoi mà chúng tôi tìm được, chúng tôi cũng đã nhìn thấy tính chất đa dạng
và phong phú của một dòng văn chương trung thực, nói lên được thực trạng đau
xót của quê hương và cuộc sống cay cực buồn tủi của đa số quần chúng.
Nếu quan niệm rằng tác phẩm nghệ thuật là thông điệp người sáng tạo gửi
đến cho người thưởng ngoạn, thì chúng tôi, ở cương vị những độc giả của các anh
chị, chúng tôi đã nhận được từ phía các anh chị rất nhiều thông điệp, có thể là
những băn khoăn về đời sống, những thôi thúc trách nhiệm của người cầm bút,
những ray rứt của lương tâm, những bàng hoàng vì ảo tưởng, có thể là những cay
đắng hay phẫn nộ về những kinh nghiệm sống các anh chị đã từng trải qua.
Nhưng ngoài những trăn trở đớn đau bàng bạc trên trang giấy, thước phim,
dòng nhạc, lời kịch… Chúng tôi còn nhận ra những ưu tư, những khát vọng, những
đòi hỏi, những tuyên ngôn đấu tranh cho quyền làm người, đấu tranh cho tự do
sáng tạo nhằm phục vụ cho những giá trị chân chính của con người và của dân
tộc. Đã đành những ràng buộc của đời sống không cho phép các anh chị được nói
hết khát vọng của mình, hoặc tác phẩm của các anh chị chưa được phép phổ biến
trọn vẹn và trung thực như các anh chị đã can đảm viết ra, nhưng chúng tôi cũng
hiểu được phần nào tâm nguyện của các anh chị. Đó là khát vọng được sống chân
thực trong một đất nước thực sự tự do, thực sự dân chủ, thực sự phồn vinh, khát
vọng chính đáng và đơn giản đó, trớ trêu thay, không phải lúc nào cũng được nhà
cầm quyền trân trọng lắng nghe. Nhiều văn nghệ sĩ trí thức chân chính trên thế
giới đã bị đàn áp, tù đầy vì tư tưởng nhân bản của mình. Sakharov ở Liên Sô đã
phải chịu đựng biết bao nhiêu lời phỉ báng xuyên tạc, biết bao nhiêu năm bị
quản thúc cô lập cuối cùng mới được công nhận là “lương tâm của thời đại, đất
nước”. Ngay trên quê hương chúng ta, nhóm Nhân văn Giai phẩm đã bị truy chụp
biết bao nhiêu tội chỉ vì muốn:
Yêu ai cứ bảo rằng yêu
Ghét ai cứ bảo rằng ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu…
(Thơ Phùng
Quán)
Đó là chưa kể đến trường hợp những văn nghệ sĩ chỉ vì muốn nói lên khát
vọng chân thực của mọi người mà hiện đang bị giam cầm như Nguyễn Chí Thiện,
Doãn Quốc Sỹ, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát.. v.v…
Các anh các chị có thể khác chúng tôi về quá khứ, đứng khác phía với
chúng tôi trong cuộc chiến tranh kéo dài đằng đẵng hơn ba mươi năm, nhưng qua
tác phẩm của các anh chị, chúng tôi mừng rỡ được thấy rằng dù ở đâu, lúc nào,
cũng có những văn nghệ sĩ trí thức can đảm nói lên tiếng nói của lương tâm,
không hổ thẹn với lòng tin cậy của quần chúng. Trước đây, chúng ta đã nhìn nhau
xa lạ. Chúng ta đã ngó nhau hận thù. Biến cố lịch sử tháng 4 năm 1975 tự nhiên
đẩy giạt chúng ta ra xa nhau thêm, khoảng cách giữa những kẻ chiến thắng và kẻ
chiến bại. Một bên lớn tiếng kết tội! Một bên nhẫn nhục chịu đựng. Hoặc nếu có
ai may mắn không phải trực diện với cảnh truy chụp tàn nhẫn đó thì cũng đành
nhắm mắt quay đi, chứ không có ý kiến gì khác về con đường đã vạch ra của bạo
lực. Để được yên thân, nhiều người trong chúng ta đã cam chịu nhận đóng những vai
trò hèn mọn của một vở kịch lớn đã diễn ra trên đất nước. Chúng ta đã nói những
điều không muốn nói. Chúng ta đã giấu kín một cách tủi hổ, những ý nghĩ, tình
cảm, tư tưởng chân thật.
Mười lăm năm ròng đã trôi qua kể từ cái mốc lịch sử tháng 4 năm l975. Thời
gian đã đủ dài để cho mọi xáo trộn bèo bọt của đời sống lắng xuống.
Dù ở trên phần đất nào, trong hay ngoài quê hương, dù định kiến chính trị
khác biệt như thế nào, thì qua lời viết của các anh chị, chúng tôi nhận thấy
chúng ta vẫn còn nhiều điểm tương đồng. Chúng ta đã cùng mang chung những nỗi
đớn đau khi nhìn thấy quê hương điêu tàn, đồng bào lầm than khổ cực. Chúng ta
đã có chung một niềm mơ ước về một tương lai đẹp đẽ của đất nước, ở đó giặc
dốt, giặc nghèo, giặc ngu muội bị đẩy lui và mỗi người Việt Nam có được một đời sống đáng sống.
Vì ở xa cách quê hương cả một đại dương, không có cơ hội hít thở trực
tiếp bầu không khí khắc nghiệt ở quê nhà, nên chúng tôi chỉ có thể chia xẻ
trong muôn một những nỗi nhọc nhằn, những cơn trăn trở thao thức, những khát
khao được hiện thành lời, được viết thành chữ của các anh chị. Chúng tôi ý thức
rất rõ rằng để làm được những việc đó, các anh các chị đã phải sẵn sàng trả giá
cho những sự thực cần phải viết ra. Chúng tôi hiểu rằng sự lên tiếng bằng cách
này hay cách khác của các anh thị, đều xuất phát từ những rung động tận cùng
của trái tim những con người đã kinh qua những cay đắng khổ nhục. Bằng ngòi bút
và lương tâm của mình, các anh chị đã cất lên tiếng nói của nhiều người, đã
cảnh cáo chế độ trước hố thẳm tăm tối mà dân tộc chúng ta sắp sa vào.
Được may mắn sống ở một nơi có quyền tự do phát biểu những gì mình nghĩ,
chúng tôi thông cảm những băn khoăn do dự và những nỗi đe dọa chờn vờn các anh
chị đã trải qua.
Chúng tôi không có quyền đòi hỏi gì ở các anh chị, vì biết rằng quyết
định im lặng hay lên tiếng là tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của các anh chị,
tùy thuộc vào lương tâm của chính mình hơn là chờ đợi những lời khen chê bên
ngoài. Chúng tôi cảm phục lòng can đảm của các anh chị và không mong ước gì hơn
là được thấy các anh chị càng ngày càng có nhiều người biểu đồng tình, để sự
thật được phục hồi, nhân phẩm được tôn trọng. Độc Lập, Tự Do không còn là cái
chiêu bài của quyền lực, và Hạnh Phúc là mơ ước gần gũi có thể với tới được của
mọi người Việt Nam
chúng ta.
Hải ngoại, ngày 14-7-1990
Nhóm Chủ Biên
*********
V .- Dư luận
về cuốn
Trăm Hoa Vẫn
Nở Trên Quê Hương
.
Cho tới tận bây giờ, tôi chưa hề được đọc một bài điểm sách nào nói về
nội dung cuốn Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương, để nghe tác giả phân tích xem các
bài viết trong cuốn sách có những bài nào cần mổ xẻ, tranh luận.
Nhưng những thứ bài chửi bới rác rưởi thì nhiều vô số kể! Qua những trang
sách với Lời Mở Đầu và Lá Thư Kết Thúc ở trên, hẳn độc giả thấy những nhận
định, những chủ trương, đường lối, tâm tình của những người thực hiện cuốn sách
này đã quá rõ ràng, đã chứng tỏ không bao giờ có thể có chuyện chúng tôi là “lũ
văn nô, quỵ lụy in tác phẩm của các nhà văn trong nước để tuyên truyền cho Cộng
sản” mà nhiều kẻ cầm bút ở hải ngoại vốn chưa từng nhìn thấy cuốn sách, chưa
đọc qua một dòng nhưng vẫn nhắm mắt lăng mạ.
Ở trên tôi bất đắc dĩ phải dùng chữ “rác rưởi” bởi vì nhiều bài đã chứa
đựng những ngôn từ hạ cấp, với luận điệu
chụp mũ hàm hồ, toan tính vu oan giáng họa cho những người thực hiện cuốn sách,
và nhất là thủ đoạn cắt xén câu văn in trong sách để xuyên tạc nội dung tư
tưởng của đoạn văn hòng đánh lừa độc giả. Hành vi đê tiện này nếu không gọi là
rác rưởi thì không biết còn danh từ nào khác hơn nữa để diễn tả sự kiện theo
đúng bản chất của nó. Xin nêu một vài thí dụ cụ thể :
1) NGUYỄN THIẾU NHẪN lên án
cuốn Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương :
(trích - với những chỗ tô đậm để nhấn mạnh)
“Sự thật là những loạt sách này chỉ nhằm thực hiện kế hoạch kiều vận theo
chỉ thị của Đảng về “giao lưu văn hóa”, các văn nghệ sĩ này được phép chống
Đảng để xây dựng Đảng cho thêm vững mạnh chứ có phải phản kháng gì đâu. Mấy ông
văn nghệ sĩ lưu vong tỵ nạn chắc vì nhớ cái cũi sắt của “nền văn chương cũi
sắt” ở trong nước mà họ đã liều sống, liều chết để thoát ra, nên bèn ra báo Hợp
Lưu và xuất bản sách “Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương” (THVNTQH) đem về nước để dâng Đảng, lập công.
Nhật Tiến, nhà văn đoạt giải Văn Chương Toàn Quốc thời Đệ Nhị Cộng Hoà
Miền Nam
viết trong sách này những lời như sau:
“Chúng tôi vẫn thao thức với vận
mệnh đất nước. Dù ở trên phần đất nào, trong hay ngoài quê hương, dù định kiến
chính trị khác nhau như thế nào, qua lời các anh chị, chúng tôi vẫn thấy chúng
ta còn nhiều điểm tương đồng”.
Để đáp lại những lời tha thiết xin xỏ để “hoà giải hòa hợp, xóa bỏ hận
thù” này của nhà văn Nhật Tiến, những đảng viên cầm bút của VC đã đáp ứng như
thế nào? Xin mời độc giả đọc bài trả lời cho những người thực hiện quyển
THVNTQH của tờ Quân Đội Nhân Dân xuất bản ngày 18 tháng 5 năm1991, như sau:
“Thật là lố bịch, những kẻ đã từng
làm bồi bút phục vụ chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở Việt Nam trước đây, khi
nhân dân phá bỏ chế độ thực dân năm 1975, thì chạy trốn ra ngoài sống lưu vong,
tiếp tục phản bội lại lợi ích dân tộc. Họ đã tự nguyện nhận tiền, nhận vàng, đô
la của thế lực quốc tế, tự nguyện làm công cụ thực hiện mọi mưu đồ chính trị
đen tối cho chúng, nay lại tự nhận mình là bạn đồng hành đi tìm tự do, dân chủ
với những người cầm bút trong nước, những người đã từng vào sinh ra tử với sự
sống còn của dân tộc trong Kháng Chiến Chống Pháp, Chống Mỹ.”
Thật là đau đớn! Thật là chua chát cho những kẻ bạc đầu, đen óc – như nhà
văn Nhật Tiến và những kẻ cùng-đi-một-đường với ông ta! Đã bị những người cộng
sản cầm bút chê hôi mùi thực dân đế quốc lại còn đòi đi song hành chỉ vì muốn
cướp công lao xương máu của họ, vì họ đã “vào sinh ra tử với sự sống còn của
dân tộc.”-
(hết
trích)
NGUYỄN
THIẾU NHẪN
Nguồn :
http://nguyenthieunhan.wordpress.com
Trả
lời của Nhật Tiến :
Đây là một bằng chứng bắt quả tang sự cắt xén lươn lẹo một đoạn văn rồi
tuôn ra luận điệu chụp mũ để xuyên tạc sự thật. Nguyễn Thiếu Nhẫn tưởng người
đọc không có tài liệu hay cơ hội đối chiếu nên vẫn theo thói quen giở thói bất
lương của mình. Trong đoạn văn Nguyễn Thiếu Nhẫn trích ở trên:
“Chúng tôi vẫn thao thức với vận
mệnh đất nước. Dù ở trên phần đất nào, trong hay ngoài quê hương, dù định kiến
chính trị khác nhau như thế nào, qua lời các anh chị, chúng tôi vẫn thấy chúng
ta còn nhiều điểm tương đồng”,
Anh ta đã cố ý cắt xén phần sau của toàn câu, mà nguyên văn đã in ở những trang trước về “lá thư ngỏ gởi văn nghệ sĩ trong phong trào văn nghệ phản kháng tại quê
nhà ”, xin nhắc lại như sau:
“ Dù ở trên phần đất nào, trong hay ngoài quê hương, dù định kiến chính
trị khác biệt như thế nào, thì qua lời viết của các anh chị, chúng tôi nhận
thấy chúng ta vẫn còn nhiều điểm tương đồng. Chúng ta đã cùng mang chung những
nỗi đớn đau khi nhìn thấy quê hương điêu tàn, đồng bào lầm than khổ cực. Chúng
ta đã có chung một niềm mơ ước về một tương lai đẹp đẽ của đất nước, ở đó giặc
dốt, giặc nghèo, giặc ngu muội bị đẩy lui và mỗi người Việt Nam có được một đời
sống đáng sống. ”
(xin coi lại phần gần cuối trang 41)
Nguyễn Thiếu Nhẫn trả lời ra sao với những độc giả của anh ta về cung
cách cầm bút thiếu lương thiện này khi thò tay cắt câu sau (phần in đậm dưới
đây) rồi dùng câu trước tác giả chưa nói hết ý, để làm luận chứng cho sự chửi
bới vô tội vạ của mình :
“Chúng ta đã cùng mang chung những
nỗi đớn đau khi nhìn thấy quê hương điêu tàn, đồng bào lầm than khổ cực. Chúng
ta đã có chung một niềm mơ ước về một tương lai đẹp đẽ của đất nước, ở đó giặc
dốt, giặc nghèo, giặc ngu muội bị đẩy lui và mỗi người Việt Nam có được một đời
sống đáng sống?”
Và các độc giả của Nguyễn Thiếu Nhẫn sẽ nghĩ sao khi bây giờ thấy rõ mình
đã bị anh ta nhồi nhét vào đầu những luận-cứ lươn lẹo, cắt xén, xuyên tạc để vu
cáo và nhất là nhân danh chính nghĩa “chống Cộng” cứ to mồm hô hoán chửi bới cả
một công trình tim óc của nhiều người !
Than ôi! Thị trường chữ nghĩa ở hải ngoại
trong bao nhiêu năm nay vẫn đầy rẫy những thứ rác rưởi này, hỏi nếu ai cũng cứ
im lặng mãi mãi thì những thứ lộn sòng
chữ nghĩa này còn quấy hôi bôi nhọ, làm nhục bộ mặt của những người Việt Quốc
Gia chân chính cho tới bao giờ ?
(còn tiếp)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét