(tiếp theo)
nhà văn NHẬT TIẾN
19
NGƯỜI BẠN CŨ
Trừ năm 1976, dân chúng miền Bắc vào Nam tìm thăm thân nhân ngày càng
đông. Trong dịp này, tôi cũng có cơ hội được gặp lại Duy, một anh bạn kể
như là một trong ba người bạn thân thiết
nhất từ thời còn cắp sách đền trường, trong những năm theo bậc trung học.
Hồi đó, hầu như ngày nào
chúng tôi cũng gặp nhau. Ban ngày thì cặp kè trên đường đi học. Buổi tối sau khi
cơm nước xong lại đã tìm đền nhà nhau, khi thì trao đổi bài vở nhà trường, khi
thì bàn luận với nhau đủ thứ chuyện trên trời dưới biển. Tôi học được ở Duy rất
nhiều điều. Chẳng những vê luận văn đã rất
khá, anh còn có biệt tài viết Nhật Ký rất lưu loát, rất chăm chỉ đều đặn. Hầu
như anh không bao giờ bỏ sót một ngày
nào là không ghi chép một, hai trang . trong cuốn sổ riềng của mình. Tôi thực
tình không hiểu anh tìm ở đâu ra mà lắm ý tưởng để có thể viết được bền bỉ đến
thế. Có đôi lần anh mở hé cho tôi đọc một vài trang. Cũng cỏ khi anh chỉ thuật
lại cho tôi nghe vài ý tưởng mà anh vừa ghi chép xong. Tất nhiên là tôi chẳng
thề nhớ được điều gì, nhưng anh đã để lại trong đầu óc tôi một ấn tượng về con người
của anh, đa sầu đa cảm, hay tự đặt ra cho mình những thắc mắc vẩn vơ rồi tự lý
giải lấy cho mình. Còn tình yêu của anh thì cũng rất phong phú. Tôi thấy nhiều
lần anh khoe là đã bị ngây ngất vì một hình bỏng nào đó. Có người thì anh mới
thoáng nhìn thấy là đã yêu rồi mặc dù chưa hề biết gốc gác của người ấy ra sao.
Có người thì anh biết chỗ ở, biết thói quen ra vào, biết cả ngôi trường cô ta
đang học nhưng có mỗi cái tên thì anh chưa “điều tra" ra. Vậy mà hình bóng
của cô cũng đã chiếm nhiều trang giấy trong tập nhật ký của anh. Cái cung cách
vung vít tình cảm một cách vô cùng lãng mạn ấy, thật không còn từ ngữ nào đúng
hơn mâ tôi gán cho anh, đó là con người của anh "đặc sệt chất tiểu tư
sản". Khi Hiệp định Genève được ky kết vào tháng 7 năm 1954, tôi theo gia
đình vô Nam,
còn anh thì ở lại Hà Nội. Tnrớc lúc chia tay, chúng tôi~chỉ còn kịp kéo nhau đi
tiệm chụp chung một tấm hình. Khi ảnh được rửa ra 2 tấm, chúng tôi cùng ghi ở
phía sau một lời hẹn hò: "Hai năm sau chúng mình sẽ gặp lại. ".
Cái mốc thời gian ấy chẳng bao giờ tới cả . Vì năm 1955, ông
Phạm văn Đồng có gửi thư cho thủ tướng Ngô Đình Diệm, yêu cầu mở hội nghị hiệp
thương để bàn về việc tổng tuyển cử nhằm thống nhất đất nước. Nhưng Thủ Tướng
Ngô Đình Diệm đã bác bỏ đề nghị này dựa vào lý do chính phủ QGVN không ký vào hiệp định
Genève và nhất là vì không có bằng chứng nào cho thấy miền Bắc đặt quyền lợi
quốc gia lên trên quyền lợi Quốc tế Cộng sản .Thế là cuộc chia tay hẹn hò
"hai năm"giữa hai chủng tôi phải đợi mãi hơn 20 năm sau chúng tôi mới
có dịp gặp lại tại căn nhà của tôi ở bên Gia Định. Mà Duy lại đã xuất hiện rất
bất ngờ, không hề loan báo trước. Trên tay anh chỉ có mảnh giấy có vài chi tiết
của một bản đồ vẽ nguệch ngoạc. Chắc là ai đó ở Hà Nội đã cho anh địa chỉ của
tôi và anh đã mò mẫm tìm được tới . Khi anh sừng sững bước vào, tôi không thể
nhận được ra anh. Có vê như anh cố tình
không nói năng thêm gì để xem tôi có nhận ra anh hay không. Phải mất cả phút đồng
hồ để đầu óc của tôi bới tung quá khứ mong tìm ra một tên tuổi quen thuộc. Rồi
tôi buông một câu sững sờ :
- Duy phải không ?
Chúng tôi mừng tủi nắm chặt tay nhau. Cái hẹn hai năm tính ra
đã tới hai mươi hai năm mới được thực hiện. Bây giờ thì tôi có thế nhìn ngắm kỹ
để quan sát những đổi thay ở người bạn cũ. Anh già hơn trước dĩ nhiên, nhưng
tôi không thể ngờ anh lại có thể già đến thế. Mới ngoài bốn mươi mà tóc của anh
đã nhiều sợi bạc, nước da trắng trẻo rất công tử bột ngày xưa nay đã khô cằn và
đen sạm. Nhưng sự thay đổi nơi anh rõ nhất là ở nụ cười. Gặp nhau vui vê sao nụ
cười của anh vẫn héo hắt như chỉ cố gượng vui. Ngay cả khi anh nói chuyện, tôi thấy
anh luôn có vẻ ngập ngừng. Đâu rồi người bạn năm xua của tôi với đủ tính chất
hồn nhiên, tươi trẻ, năng nô, ồn ào ?
Tôi giữ anh lại suốt một ngày để có dịp .hàn huyên mặc dù nhiêu
lúc anh nằng nặc đòi ra đi, như thể sự lưu
lại bất an này đã đem lại cho anh nhĩmg cảm giác bất an. Trong tình cảnh
như thế, câu chuyện giữa hai chúng tôi
tất nhiên sẽ chẳng hào hứng gì như khởi
đầu tôi đã nghĩ. Tôi tưởng rằng sau ngần ấy năm xa cách, chúng tôi sẽ có biết
bao nhiêu câu chuyện để hàn huyên, bao nhiêu nỗi niềm để chia sẻ. Nhưng niềm
vui của tôi cứ bị vơi lụi đi dần khi thấy cung cách trò chuyện của anh không có
vẻ tự nhiên. Thỉnh thoảng, một người trong gia đình tôi đi ngang qua thì dù
đang nói gì anh cũng im bặt, đôi mắt láo liên, liếc ngang liếc dọc cứ như một kẻ phạm tội luôn luôn lo lắng mình bị
rình mò.
Nhưng dù giữ ý cách nào thì anh cũng tiết lộ cho tôi được biết
nhiều chi tiết buồn thảm trong đời sống của anh. Người anh cả của anh trước đây
là một quân nhân phục vụ trong ngành Quân Thứ Hành Chánh Lưu Động (GAMO -Groupe Administratif Operationnel) một loại tổ chức gồm cả quân sự lẫn chính trị do Pháp
tài trợ có nhiệm vụ tổ chức và bảo vệ cơ quan hành chánh tại xã ấp của những
vùng đã được quân đội Pháp chiếm lại khỏi tay Việt Minh Cộng sản. Cũng như số phận của tất cả những cựu quân nhân, công
an, canh sát hay công chức thuộc chế độ cũ, người anh của Duy đã bị gọi đi
trình diện và không có ngày trở về. Sự kiện này đã giáng một đòn rất mạnh vào tâm
lình của Duy. Đã thế, đời sống của gia đình Duy cũng bị gắn liền với cái lý
lịch "ác ôn"' của người anh cả của mình mà thêm khốn đốn; Tôi không
rõ Duy đã phải phấn đấu đến thế nào đê có thể tồn tại cho tới ngày nay, nhưng con
người của anh thỉ đâ bị tàn phá thấy rõ. Anh luôn có vẻ rụt rè, bất an, không
bao giờ nói năng đến hết lời, hết ý của mình vì cứ đang nói đến nửa chừng thì
anh chợt ngửng lại, như đê đón ý nguời
nghe. Con người tự tin, phóng khoáng, sẵn sàng biểu lộ hết ý nghĩ của mình mà không
cần phải quanh co, giấu giếm nay đã không còn.
Sau này thì tôi có thể xếp loại anh vào hàng ngũ một số trí
thức miền Bắc, những người không hề có tí chức vụ hay quyền năng nào nhưng cũng
chẳng muốn bon chen phấn đấu để mong kiếm chác thêm đôi chút bổng lộc gì. Họ
trái với nhiều người khác, tuy chức vụ hay quyền năng thì cũng chẳng hơn gì ai,
nhưng lại sẵn sàng bán rẻ linh hồn vì chút danh vọng hay quyền lợi. Đây là hàng
ngũ những kẻ sun soe, những chuyên viên đội đạp và là tác giả của những bài
viết ngồi xổm lên sự nguyền rủa của dư luận vì tính cách bịa đặt hay xuyên tạc
trắng trợn của nội dung bài viết.
Tôi thương hại cho Duy nhưng cũng mừng cho anh. Cái vốn Tiểu tư
sản cuối cùng mà anh còn lại đã khiến anh không đến nỗi phải đi bán rẻ linh hồn
cho dù con người đích thực của anh đâ chẳng còn tồn tại lừ bao nhiêu năm nay
rồi. Hôm chia tay, lôi gửi anh một gói quà, trong có vài món đồ dùng lặt vặt
kèm theo vài cuốn sách cũ mà tôi nghĩ rằng anh sẽ thích đọc. Nhưng anh đã mở
cái gói ra kiểm điểm lại từng món (một hành vi chẳng còn tiều tư sản chút nào
!) và bỏ lại mấy cuốn sách. Tôi nói :
- Sách này vô thưởng vô phạt, tôi mua lại trên vỉa hè Sài Gòn,
không sao đâu.
Anh mỉm cười héo hắt :
- Đem về chật va li. Để dành chỗ cho líp xe, đá lứa và bút bi
còn giá trị hơn.
Tôi ngạc nhiên:
- Bút bi mà cũng có giá kia à ? '
- Có giá chứ ! Nhất là bút bi đỏ. Nhiều thầy cô ngoài đó thiếu cả bút mực đỏ
để chấm bài cho học trò.
- Sao năm nào tới Ngày
Các Nhà Giáo cũng thấy Nhà nước ra hiệu triệu khoe là hết lòng chăm lo đời sống
của Thầy Cô.
Duy ngần ngừ rồi đạp : .
- Thì cũng có đấy, nhưng
tùy mức độ.
Tôi rất không ưa cái lối trò chuyện lấp lửng này (mà tôi đã gặp
ở nhiều người chứ chẳng riêng gì Duy), nên hỏi tới :
- Tùy mức độ là có hay không ? .
- Có chứ !
- Vậy đời sống giáo viên ngoài ấy được chăm lo đến mức nào ?
(còn tiếp)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét