VŨ HUY QUANG
Ai không nhớ quá khứ, kẻ
đó phải gánh chịu sự lập lại.
-George Santayana.
Mặt Trận Bình Dân do chính sách làm hòa đế quốc của Quốc tế cộng
sản, dưới chỉ đạo của Stalin, có ảnh hưởng sống chết đến các phong trào đòi độc
lập tại các xứ thuộc địa cũng như bán thuộc địa như Việt Nam, Trung quốc…vào những
năm 1935-37.
Tại miền Nam Việt Nam, chính sách này có ảnh hưởng rõ rệt dựa
trên những sách vở, tài liệu, như cuốn của Ngô Văn, “Việt Nam 1920-45, Cách mạng và Phản cách mạng thời Đô hộ thuộc địa”,
và cuốn của Nguyễn Văn Đính, “Tạ Thu
Thâu, từ quốc gia đến quốc tế”. Chính sách Mặt Trận Bình Dân, cũng gọi là Mặt
Trận Thống Nhất (thời bên Trung quốc có những bút chiến giữa Lỗ Tấn -Từ Mậu
Dung, xảy ra trong năm 1936 về đề tài Mặt Trận Thống Nhất, “Lỗ Tấn Tạp Văn” –
Trương Chính, 1998), không khác những luận chiến ở Việt Nam giữa nhóm Dương Bạch
Mai, Nguyễn Văn Tạo, Trần Văn Giàu với Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Nguyễn Văn
Đính…cùng năm 1936. Tại Trung quốc có hai người còn sống (tính đến 1995) là Trịnh
Siêu Lân, Hòang Phần Du, thì bên Việt nam, cũng có hai người đã chứng kiến, đã
lên tiếng, là tác gỉa Ngô Văn (xuất bản 1995, Pháp văn, nxb L’ínsomniaque),và
Nguyễn Văn Đính (1907-1985).
“Tin đồn Mặt trận Bình
dân chấn động Đông Dương, (sách Ngô Văn), ngày 9 tháng 6, 1936, có truyền
đơn đả đảo đế quốc Pháp của thợ thuyền, nhưng “Cũng như đảng CS Pháp, đảng CSĐD thỏa thuận với chính phủ Mặt trận Bình
Dân, chính sách Blum-Moutet là muốn
canh tân hệ thống chế độ thuộc địa chứ
không phải là từ bỏ sự thống trị đế quốc chủ nghĩa ở Đông Dương.” (tr. 215)
Chính sách Stalin là lao động đi chung (hợp tác tư sản- như bên
Trung quốc, hợp tác quốc cộng), thì ở Việt Nam, ngày 5 tháng 8, 1936, “tác gỉa Nguyễn Văn Tạo tuyên bố tán thành việc
đoàn kết dân tộc:”Những người lao động phải cùng đi chung với những nhà tư sản
để bảo đảm cho Đông Dương Đại Hội thành công.” (Tr.216)
Ngày 19, một điện tín của Minet lộ sự hoảng loạn:”…Trật tự của nước Pháp phải chế ngự trên toàn
cõi Đông Dương cũng như ở những nơi khác.” Tr. 218.
Phong trào bãi công đột khởi từ đầu tháng 6 năm 1936: Tại Trung
Kỳ, phu đồn điền cao su Đông Trang bãi công, ở Cần giuộc, Bặc liêu, Dầu tiếng,
Bến Củi Tây Ninh, xưởng cưa Tân Mai Biên Hòa…cũng bãi công. Gía sinh họat tăng,
phá gía đồng bạc.v.v.(Tr. 223, 224, 225)
Bãi công, biểu tình năm 1937, tính ra có đến 112 cuộc bãi công (Tr.227,228).
Bãi công ở sở Ba-son, ngày 5 tháng 4 1937. (Tr. 228,229). “Ở Nam kỳ, từ 1 tháng 6 đến 14 tháng 10, 1937, có 161 vụ án chính trị” (Tr.233)
Trong lúc ấy, chính phủ đế quốc chủ trương gì? “Phải đàn áp ập xuống, không phân biệt xu hướng
Stalin hay Trốtky”, ngày 2 tháng 7, 1937 (tr.244)
“Chế độ Hitler ám ảnh mẫu
quốc. Leon Blum trở lại chính quyền ngày 17 tháng Ba 1938 với một chương trình
phái tả, nhưng chỉ chưa đầy 3 tuần lễ đã rơi, giai cấp thợ thuyền chưa có thêm
được những lợi lộc mới nào. Mặt Trận
Bình Dân không còn nữa.” (tr.249).
“Năm 1939, báo Đông Phong
thả sức nói: Ngày 31 tháng 5, lập lại bài học thuộc lòng, tờ báo lên án những
người đệ tứ là kẻ thù của giai cấp nông dân.” (tr.255)
“Ngày 10 tháng 5 1939, Nguyễn Ái Quốc sau này là Hồ Chí Minh
[…] trong một bức thư – ký bí danh Line – từ Trung Quốc gửi về cho “các đồng
chí thân mến” ở Bắc Kỳ, nói về “bộ mặt
ghê tởm của chủ nghĩa Trốt ky và của những kẻ theo xu hướng ấy” […]
“Đối với bọn theo xu hướng
Trốtki, không thể liên minh cũng không thể khoan nhượng. Phải lột mặt nạ của
chúng bằng đủ mọi cách, coi chúng như tay sai của chủ nghĩa phát xít, phải tiêu
diệt chúng về mặt chính trị” (tr.256)
Đảng Cộng sản Pháp luôn luôn theo đúng đường lối của Quốc tế cộng
sản, lúc nghiêng bên này, lúc ngả bên kia,
“Vậy ta hãy đọc đọan
này:”Chúng tôi xét dường như không thể kéo dài sự giao thiệp giữa đảng ta với bọn
Trốtkít được nữa”, trong thư đề ngày 13 Mai 1937 của ông Gitton gởi sang cho Cộng
Sản Đệ Tam ở Saigon thì biết.” (tr 92, sách Nguyễn Văn Đính)
Ở Trung quốc, ngày càng nhiều người chú ý, càng nhiều người lên
tiếng cho quá khứ lịch sử của họ. Vịệt nam và Trung quốc là hai tấm gương lịch
sử soi chiếu nhau. Bao giờ có được những đối chất công khai như bài trả lời dưới
đây, từ hai quan niệm khác nhau về cùng đề tài, thời điểm, nhân vật…để lợi ích
cho thế hệ sau. Hay có lẽ, chỉ ở Trung quốc là có những người không muốn quên lịch
sử…?
(Về cuốn “Lịch sử Trốtkít
Trung Quốc” của Đường Bảo Lâm: (Interviews
with Wang Fanxi on Tang Baolin’s History
of Chinese Trotskyism)
Lời dẫn
(của Gregor Benton, biên tập cuốn “, China’s Urban Revolutionaries”, 1996, tr.203)
“Một trong hai người còn
sống, có đủ kinh nghiệm cá nhân và vị thế xứng đáng để chỉnh sự thật lại một
cách rõ rệt, trước những sai lầm cùng những dẫn chứng thiên lệch trong cuốn
sách của Đường Bảo Lâm, là Hoàng Phần Du. Theo luận định của Hoàng, có chín điểm
để trả lời cho cuốn sách của Đường, những điểm cốt lõi ấy được ghi lại trong
bài phỏng vấn ngày 29 và 31 tháng Năm 1995. Với sự giúp đõ của ông (Hoàng), tôi
(Gregor Benton) được bản trả lời chin điểm sau đây, gồm 16 trang. (Để có đầy đủ
chi tiết của bài phỏng vấn Hoàng Phần Du, có thể tìm đọc trong Bình Luận Thập
Nguyệt (tạp chí Tháng Mười), xuất bản ở HongKong, GPO Box 1014, bằng Hoa ngữ.)
Ngoài ông Hoàng, người Trốt
kít kia là ông Trịnh Siêu Lân (ở Thượng Hải). Họ Trịnh sinh năm 1901, nay mắt
không còn tinh tường nữa, may là với máy ghi âm, kính lúp, bản in chữ to, ông đọc
được và góp ý về chương 5 và 6 (cuốn của Đường Bảo Lâm). Được sự hợp tác của ông
Hoàng (ở Anh quốc), tôi (G.Benton) có được những trang ý kiến bằng chữ viết của
Trịnh, qua một chuyên viên kỹ thuật.
Trong số mới nhất của tạp
chí Nhật (1) Torotsukii kenkyu (Nghiên cứu Trốt ky), Đường (Bảo Lâm) xác nhận
mình là người “đại diện xuất bản” và là “bạn cố tri” của Trịnh (Siêu Lân). Người
ta có thể thấy tình bằng hữu này khó có thể hiện hữu, khi mà trong sách của Đường
chứa toàn những vu khống - thành ra lại rất đi đôi với thái độ bực tức của Trịnh,
khi ông phải trả lời những thắc mắc về cuốn sách của Đường.
“Đây là cuốn sách tồi tệ,”
ông kết luận, sau khi tổng kết toàn thể ý kiến của các Trốt kýt khác còn sống
sót tại Thượng Hải. “Đây là cuốn chống Trốtkýt
lải nhải, đảo lộn sự kiện, luồn vào toàn là những điều bất chính chỉ để phỉ
báng Trốtkýt. Phải vạch trần mọi lươn lẹo của cuốn sách ra.” Ông nói thêm, “Cuốn này, chỉ là những dội lại của đường
lối Vương Minh và Khang Sinh đem từ Moscow về Trung Quốc của phe Stalin hồi 1937.”
Sự gờm nhớm của Trịnh
Siêu Lân lộ ra về cuốn sách của ông “bạn cố tri” lên tột độ, khi Đường sử dụng
những lời “thú tội” của các tù nhân Trốtkýt của Mao trong Cách mạng Văn Hóa làm
“dẫn chứng.” Họ Trịnh chỉ ra những “thú nhận” tương tự bởi những nhà văn nổi tiếng
nhất bị vào ngục trong thập niên 1960, với những khai báo là họ đã theo một “chủ
thuyết không tin được”, nay Đường lại mang ra cốt làm nhục những người ấy, trong
khi cũng còn rất nhiều người, như thân phụ của danh cầm Phúc Tống là Phúc Lợi, thà
tự tử để khỏi cung khai những lời tự sỉ nhục mình và các đồng chí.
Ông kết luận, rằng cuốn
sách là một “văn bản hung hăng” của “kẻ thắng” trước “kẻ thua.” Mọi cáo buộc không
hề có một chứng cứ khả tín nào, chỉ “đáng phì cười.”
Dưới đây là 9 điểm phản bác của Hoàng Phần Du.
I.Cách mạng Thường trực
Leon Trotsky với thuyết Cách mạng Thường trực gồm hai khía cạnh:
”Dọc”, chỉ rằng trong những nước hậu tiến, giai cấp tư sản không thể làm cách mạng
nổi, nên tư sản và người xã hội chủ nghĩa làm cách mạng trong giai đoạn cách mạng
chiếu lớn ra và thực thi, dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản; và “Ngang”, là
“sự hoàn thành của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong biên giới quốc gia là điều
không thể được…Cách mạng xã hội bắt đầu ở đấu trường quốc gia, khai mở trên đáu
trường quốc tế, và hoàn tất ở đấu trường thế giới.”
Đường Bảo Lâm không đưa được ý niệm nào trong sách mình về cách
mạng hàng “Dọc”, và hoàn toàn không một chút khái niệm nào về cách mạng hàng “Ngang”,
đã thế tác gỉa còn hoàn toàn hiểu sai trong nghĩa “Ngang”. Ông ta lẫn lộn (2) về
cách mạng thường trực với suy luận mù
quáng cho rằng đó là sự “xuất cảng cách mạng sang nước khác bằng binh bị”, cái
ý tưởng này đối với lý thuyết của Trốtky thật là ngớ ngẩn.
Trốtky không hề chống quan niệm trợ giúp cuộc cách mạng nào có
thể nổ bùng ở các nước khác, ngay cả phụ trợ cuộc cách mạng nước đó bằng cách cử
quân đội để giúp. Nhưng ông chỉ chuẩn bị làm việc đó trong điều kiện hết sức gắt
gao. Trong bài phát biểu nổi tiếng in năm 1921, ông viết:
“Trước sự khủng khiếp của
đấu tranh giai cấp đang mở ra ngày nay, vai trò của can thiệp quân sự từ bên ngoài
chỉ xảy ra như một yếu tố phụ thuộc để góp. Can thiệp quân sự có thể để làm nhanh
hơn cho thắng lợi cách mạng. Nhưng nó không thể xảy ra nếu như điều kiện cách mạng
chưa đủ chin mùi – kể cả ý thức chính trị. Can thiệp quân sự không khác việc
dùng kẹp gắp trong sản khoa, đúng lúc thì làm cho việc sinh nở bớt khó, nhưng nếu
dùng sớm quá thì lại thành xảy thai.” (3)
Đường Bảo Lâm khẳng định qua hai thí dụ về Cách mạng Thường trực
theo nghĩa xuất cảng cách mạng bằng can thiệp quân sự. “Năm 1919,” ông ta viết, “cá nhân Trốtky đề nghị mang ba mươi hay bốn muơi ngàn kị binh đi Ấn; và
năm 1923, còn muốn đem Hồng quân đi Đức dưới quyền chỉ huy của mình để châm
ngòi cho vô sản ở đó làm cách mạng Âu châu.” Cả hai dẫn chứng đều không cơ
sở.
Thực tế là, chớm 1919, không có Hồng quân ở Nga. Quân đội Nga
Hoàng đã tan rã, và Hồng quân chỉ được tạo ra từ nền tảng là công nhân có vũ
khí cùng nông dân. Trốtky lập ra Hồng quân từ bãi vụn, rồi chỉ huy nó trong nội
chiến Nga. Năm mười-chin-mười-chin là năm hung hiểm nhất trong các năm nội chiến.
Làm sao Trốt ky có thể gửi ba hoặc bốn chục ngàn quân đi Ấn? Lại nữa, năm 1919
không có cuộc cách mạng nào ở Ấn để trợ giúp.
Còn về chuyện ở Đức cũng là đặt điều. Đúng, có khủng hoảng ở Đức
năm 1923, cũng có những luận chiến về cách mạng Đức, chủ yếu là giữa Zinoviev,
Bukharin và Trốtky. Tuy nhiên không ai trong số những người trên đề nghị ”gửi Hồng quân đi Đức để châm ngòi cho cách mạng
Âu châu.”
Đường Bảo Lâm không đưa ra được chứng cớ bảo đảm cho điều ông
ta nói Trốtky đã đề nghị gửi quân đi can thiệp nước ngoài. Toàn là những điều
nhái lại từ tuyên truyền chống cách mạng của giới báo chí buốc gioa phương Tây chỉ trích Xô viết vào cuối 1920, và đầu thập
niên ‘30. Chuyện Ấn Độ có thể lấy từ chuyện Harold Isaacs kể về Trốtky, rằng Trốtky
có lần nói, “có một nhân vật quân sự quan trọng“ đã “nhắc ông kế họach gửi kỵ
binh đến Ấn” (4) Nhưng câu chuyện trên chẳng chứng minh gì cho lý lẽ của Đường;
còn Đường thì lại không đưa được dẫn chứng lấy ở đâu.
II.Đánh chung; Đi riêng
Với Stalin và người Staliniêng, không có chuyện khác biệt giữa
“Mặt trận thống nhất” (cũng đôi khi gọi là “Mặt trận Bình dân”) và chuyện “cùng
chung hành động”. Về sự liên hệ giữa cộng sản, Tư sản, tiểu tư sản, và các giai
cấp lao động khác, những người theo Stalin chỉ có hai thái độ: theo họ không được
phê phán gì, thành người hoàn toàn theo đuôi; hay là chịu sự lên án, tố cáo, và
bị trừ khử. Họ không bao giờ hiểu nguyên tắc đánh chung là chuyện Đảng cách mạng
có thể, có khả năng, và cả duy trì sự liên hệ giữa Đảng của giai cấp Tiểu tư sản
(đôi khi cả với Tư sản) với Đảng của giai cấp lao động, để hoàn thành những mục
đích cho tiến trình cách mạng, trong khi cùng lúc, giữ vững tổ chức cũng như sự
độc lập chính trị của mình.
Đầu thập niên 1930 ở Đức, những người Stali-niêng gọi đảng Xã hội
Dân chủ là “xã hội-phátxít”, coi là kẻ
thù chính (hơn cả Nazi lúc ấy đang lên nữa), họ không chịu đi chung với Dân chủ
Xã hội, như Trốtky đề nghị. Sự chối bỏ này giúp Hitler lên chính quyền. Sau khi
Nazi có chính quyền, họ lại quay 180 độ, rồi để chống Nazi - Phát xít, họ kêu gọi
thành lập “Mặt trận Bình dân”, là từ ngữ khác của chính sách đầu hàng, cả trên
lý thuyết lẫn tổ chức - không chỉ đối với các đảng cải cách mà trước đó họ coi
là “kẻ thù chính” - mà đầu hàng cả với các đảng phái của Tư sản.
Trốtkít khắp thế giới, kể cả Trung quốc, luôn luôn chống chính
sách Mặt trận thống nhất, thí dụ như hồi 1924-27 và 1937-45. Nhưng không chống
việc đánh chung cho cùng mục đích với các đảng tiểu tư sản, trong những điều kiện
đặc biệt, cấp thiết, và chủ trương giữ nguyên tính độc lập, kế hoạch, tư tưởng
riêng của mình…
Có vẻ như Đường Bảo Lâm hiểu sự phân biệt giữa Mặt trận thống
nhất và chuyện đánh chung, nhưng vẫn cứ cáo người Trốtkýt chống Mặt trận thống
nhất, là “không chống Nhật”.
Về điểm này chính Trốtky bênh vực cho Trần Độc Tú, chống cáo buộc
của Lưu Dân Trình (Liu Renjing) (7) khi Lưu theo thuyết Cực Tả, đổ cho Trần Độc
Tú là theo cơ hội chủ nghĩa, đã đi với Quốc Dân Đảng, khi ủng hộ Lộ quân Mười Chín
chống Nhật bảo vệ Thượng Hải.
Ngày 8 tháng Tám 1935, Harold Isaacs tiếp xúc với Trốtky, ghi lại
cuộc nói chuyện:
“…ông (Trốtky) nghĩ rằng lý luận của Lưu rất không biện chứng,
lại mơ hồ. Chả hạn, Trốtky bảo phải phân biệt được “Mặt trận thống nhất” với
chuyện “đánh chung.”
Ngày 9 tháng Tám, bài tường thuật viết tiếp:
“…Hành động đánh chung, đặc biệt trong thời kỳ giới hạn, là một
chuyện, còn đầu hàng Tư sản là chuyện khác, như Mặt trận Bình dân ở Pháp là đầu
hàng Tư sản. Phải giữ cho tổ chức tính độc lập, nhưng giữ độc lập thế nào, đó
là cốt lõi. Chúng ta phải tiếp tục đánh
chung với các tổ chức sinh viên và tổ chức nông dân.” (nhấn mạnh trong
nguyên tác)
(còn tiếp)
(còn tiếp)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét