VŨ HUY QUANG dịch
“Bà Giang Tĩnh, cháu là Tân Hoan đây.” Tôi lên tiếng, nhưng
muốn bật khóc: Tôi đã từng ngồi với bà nhiều đêm, không biết gì hết. Nay tôi
mường tượng cảnh bà ngồi một mình trong im lặng suốt 45 năm, ngực tôi muốn
nghẹn thở.
Trước khi tôi kịp trấn tĩnh, cửa mở.
Bà đứng trước mặt tôi, hỏi,”Cô chưa về ư? Sao cô biết tên tôi?”
Tôi cầm tay, dắt bà lại gần cửa sổ, chúng tôi lại ngồi cạnh
nhau. Nhưng lần này tôi không muốn im lặng nữa. Tôi nhẹ nhàng thuật bà nghe
những điều tôi biết về bà, do bố tôi kể lại. Giang Tĩnh khóc, mặc cho nước mắt
chảy. Tôi nghẹn họng với bao nhiêu thắc mắc chất chứa, rồi chỉ nói lên được mỗi
một câu,”Bà đang nghĩ về Cao Đạt, phải không?” Tới đây, bà ngất đi.
Khiếp hãi, tôi gọi điện cho khách sạn, nhờ họ gọi xe cứu thương
khẩn cấp.
Tôi đi cùng Giang Tĩnh đến bệnh viện quân đội. Ban cấp cứu
không cho tôi vào cùng buồng khám bệnh với bà, tôi chỉ còn cách đứng ngòai nhìn
bà qua cái cửa kính con. Bà nằm im lìm trên giường trong căn buồng trắng tóat,
càng làm tôi hồi hộp, lo sợ. Tôi chỉ còn biết vừa khóc vừa gọi thầm,”Bà Giang
Tĩnh, Tỉnh dậy đi! Dậy đi!”
Đầu óc tôi quay cuồngvới
những ý nghĩ lộn xộn, rồi tôi thiếp vào giấc ngủ. Tôi mơ thấy những người đàn
bà kêu khóc, vật vã, rồi tỉnh dậy mà chẳng thấy khỏe khoắn chút nào.
Ngày kế, tôi thăm Giang Tĩnh bốn năm lần, nhưng lần nào bà cũng
cứ thiêm thiếp. Y sĩ giảng cho tôi biết, rằng bà sẽ phải ngủ vài ngày nữa là
ít, vì bệnh nhân đã kiệt lực rồi.
Một chiều tối, vào ngày thứ năm, rốt cuộc Giang Tĩnh tỉnh lại.
Bà tỏ vẻ ngỡ ngàng không hiểu mình đang ở đâu, bà cố mở miệng nói. Tôi đặt một
ngón tay lên môi bà, nhỏ nhẹ giải thích cho bà đầu đuôi. Bà nghe, vừa nắm tay
tôi ra ý cảm ơn, rồi câu đầu tiên bà nói, là ”Cha cô có khỏe không?”
Cái đập nước ngăn chúng tôi đã đổ, rồi chuyện đời Giang Tĩnh
tuôn trào trong lúc bà nằm tựa gối trên cái giường bệnh viện trắng tóat. Bà
thuật cho tôi chuyện đời bà.
Năm 1946, Giang Tĩnh trúng tuyển vào Đại Học Thanh Hoa. Ngày đầu tựu trường, cũng
là ngày đầu cô Giang Tĩnh nhìn thấy Cao Đạt. Giữa đám sinh viên, anh đã có cái
gì khác những sinh viên khác, không phải vì bảnh bao hay lộ ra tài ba gì. Anh
chỉ lẳng lặng giúp các sinh viên mới thu xếp hành lý, trông như một người lao
công đang làm việc. Giang Tĩnh và Cao Đạt được xếp cùng lớp, trong lớp đã có
nhiều nam sinh viên bị vẻ tươi mát cùng vẻ đẹp của cô thu hút. Không giống họ,
Cao Đạt chỉ ngồi yên lặng trong một góc lớp hay ngồi sâu trong khuôn viên
trường để đọc sách. Ngòai việc anh ta là một mọt sách, Giang Tĩnh chả để ý gì
đến anh.
Giang Tĩnh là cô gái sống động, hay nghĩ ra những sinh họat cho
cả lớp tham gia. Một ngày mùa đông, tuyết đổ đầy trời, sinh viên ra đường cùng
nhau đắp tuyết làm một hình nộm. Giang Tĩnh đề nghị làm hai người tuyết, lấy
kẹo cong dính trên mũi. Với hai đám sinh viên nam nữ, họ đố nhau bịt mát mà hôn
người tuyết. Ai hên thì trúng kẹo mà ăn, ai xui thì phải ăn tuyết.
Ngày hôm sau, tuyết đổ nhiều hơn, trải thành thảm tuyết dầy
trên đất, đa số sinh viên đều nằm ỳ ở cư xá. Thế rồi, trong khỏang nửa phiên
học lớp tối, dưới ánh đèn mờ từ hành lang, một người đàn ông phủ đầy tuyết bước
vào. Anh đến trước Giang Tĩnh, khó khăn mới lôi ra trong túi anh hai chiếc kẹo
cong. Tay anh lẫn kẹo đềo đông cứng. Chưa ai kịp nhìn ra
anh là ai, anh đã quay đi, khỏi lớp học. Cô Giang Tĩnh dù kinh ngạc cũng nhận
ra đó là Cao Đạt. Ngày hôm sau, các bạn có bàn tán xôn xao chuyện chơi trò
người tuyết, cô chỉ đứng lặng yên, nhìn đôi kẹo cong trong tay mình, rồi nhìn
ra trời tuyết bên ngòai, tưởng tượng Cao Đạt đã đi trong tuyết như thế nào.
Lần đầu trong đời cô cảm
được sự chắc nịch của nam giới cùng sức mạnh của họ; cô cảm như mình là một nữ
nhân vật chính trong sách truyện, làm đó cô thao thức suốt đêm.
Giang Tĩnh chú ý anh nhiều hơn. Bản tính lầm lỳ của anh làm cô
cứ hết dự đóan này đến dự đóan kia, làm đầu cô cứ rối beng. Ngòai chuyện anh
đem kẹo cho, anh ta vẫn thờ ơ với cô, không giống như các nam sinh khác đang
theo đuổi cô. Cô bắt đầu hi vọng được anh chú ý, phải tìm cớ để gợi chuyện với
anh. Bao giờ cũng thế, anh trả lời lấy có, rất thụ động, không tỏ chút gì hào
hứng cả, cả cử chỉ lẫn lời nói. Thế mà thay vì làm cô dãn ra, anh lại làm cô
càng hi vọng.
Ngay lúc kỳ thi cuối khóa, Cao Đạt vắng mặt trong lớp hai ngày
liên tiếp; bạn cùng phòng nói anh ta cứ ngủ. Giang Tĩnh không tin anh ngủ lắm
thế, nhưng cô không được phép vào cư xá nam sinh vì luật thời ấy rất nghiêm,
phân chia ranh giới nam nữ trong trường. Đến ngày thứ ba, rồi cô lẻn khỏi lớp
trong khi ai nấy đang chăm chú làm bài, cô vào tận buồng Cao Đạt. Khẽ mở cửa,
cô thấy Cao Đạt ngủ li bì. Mặt anh đỏ bừng. Khi cô cầm tay anh đặt vào mền, tay
anh nóng hừng hực. Dù thời ấy nghiêm cấm tiếp xúc da thịt nam nữ nếu chưa là vợ
chồng, cô vẫn sờ trán, sờ mặt Cao Đạt. Đúng là sốt. Giang Tĩnh to tiếng gọi tên
anh, nhưng anh vẫn ngủ.
Giang Tĩnh chạy ngược về lớp, la to cho mọi người biết chuyện
nguy kịch. Ai nấy chạy tứ tán, người kiếm thày, người kiếm y sĩ. Rồi một y sĩ
đến, bảo bệnh tình Cao Đạt may mà biết kịp thời: Chỉ cần thêm nửa ngày nữa,
không chữa chạy sẽ chết vì chứng sưng phổi. Thời ấy, không có bệnh viện trong
khuôn viên Đại Học Thanh Hoa. Y sĩ kê toa cho Cao Đạt mươi mười lăm thang thuốc
Bắc, bảo rằng phải có thân nhân người bệnh túc trực sắc thuốc, săn sóc đắp băng
lạnh, lau khăn gỉảm nhiệt bằng nước đá cho anh liên tục, mới mong khỏi bệnh.
Cao Đạt không hề nói anh có thân nhân, bạn bè nào ở Bắc
Bình. Ngay lúc đó, Giang Tĩnh bước lên,
nói ”Tôi xin nhận chăm sóc anh ấy. Cao Đạt là hôn phu của tôi.”
Ông Khoa trưởng chuyên nghành là người nhân đức. Ông dàn xếp cho
các nam sinh rời phòng khác, lấy chỗ cho Cao Đạt tĩnh dưỡng và Giang Tĩnh được
phép chăm sóc Cao Đạt. Nhưng cô vẫn bị nghiêm cấm chuyện ngủ lại trong phòng
nam sinh.
Trên mười ngày đêm, Giang Tĩnh liên tục đắp khăn lạnh lên trán
Cao Đạt, rửa ráy và cho anh ăn, sắc thuốc cho anh uống. Ánh sáng tỏ lên trong
đêm tại buồng người bệnh, mùi đắng của thuốc Bắc tỏa ra ngòai hành lang lẫn với
tiếng hát nhỏ của Giang Tĩnh. Cô hát những bài ca miền nam của quê anh, cho
rằng làm anh vui mà sớm lại sức. Các bạn học, đặc biệt nam sinh, chỉ biết thở
dài trước sự tận tụy của Giang Tĩnh khi chăm sóc Cao Đạt.
Với sự cần cù của Giang Tĩnh, Cao Đạt khỏe dần. Y sĩ cùng phải
bảo, Cao Đạt thóat được hàm răng sắc của tử thần.
Tình yêu họ thế là rắn chắc hơn nữa – hết còn ai ghen tị gì sau
khi biết những hi sinh mà họ cho nhau. Thế mà vẫn có người xầm xì, là cặp Giang
Tĩnh-Cao Đạt không xứng, khác gì đem hoa đẹp đem đi cắm trên bãi phân trâu.
Bốn năm sau đó tại Đại Học, Giang Tĩnh và Cao Đạt nâng đỡ nhau
cả trong học vấn lẫn đời sống. Một ngày qua, là một ngày chứng tỏ thêm sự thắm
thiết của họ - mối tình đầu của cả đôi, không nao núng bất cứ lý do nào.
Cả hai đều tốt nghiệp Kỹ sư cơ khí, và với Đất Mẹ mới thành
hình, còn non nớt, rất cần những kiến thức của họ về kỹ thuật quốc phòng. Giang
Tĩnh được phân phối đến một căn cứ quân sự miền Tây-Bắc, còn Cao Đạt thì tới
nhiệm sở là một căn cứ quân sự ở Mãn châu. Trước khi xa nhau, họ hẹn nhau nhất
định sẽ có cuộc đòan tụ trong khuôn viên Đại Học Thanh Hoa, để có dịp cho nhau
nghe thành tích của cá nhân mình với Cách mạng, rồi sẽ đến trung tâm Bắc Kinh
cùng ăn kẹo cong cắm mũi người tuyết năm nào. Rồi họ sẽ ký hôn thú với thị thực
của Đảng, sẽ du hành đến quê nhà Cao Đạt ở hồ Đại Hồ, nam Trung quốc, họ sẽ lập
gia đình ở đó. Thỏa thuận này khắc sâu trong tâm hồn Giang Tĩnh.
Ngược với mọi mong đợi, họ bị trói chặt trong nhiệm vụ quân đội
năm sau đó, lúc cuộc chiến tranh Triều Tiên nổ bùng. Năm thứ ba xa nhau, Giang
Tĩnh bị thuyên chuyển tạm thời đến trung tâm bình nguyên Trung quốc, nội bất
xuất ngọai bất nhập. Năm thứ tư, Cao Đạt đổi đến một căn cứ không quân miền
Đông Trung quốc. Địa chỉ thư từ của họ chứng minh họ là những người cốt lõi của
sự cấp thiết cho tân Trung quốc đối với những nhu cầu quân sự mới.
Sự miễn cưỡng của họ khi phải xa nhau tỏ đầy ra trong hộp kỷ
niệm thư từ của nhau, đồng thời cũng chứng tỏ khó khăn gia tăng cùng tột cho
việc tái hợp. “Bổn phận với Đảng” đủ làm cho không biết bao dự định tan nát,
lại còn ngăn trở mọi thông tin của họ nữa. Cuối thập niên ‘50, Giang Tĩnh bị
điều tra về gốc gác xuất thân của gia đình, kết qủa cô bị cho vào trại
nông-cải, để “cải tạo” ở một vùng nông thôn Sơn Tây. Lúc đó là lúc tầm quan
trọng của nhu cầu quốc phòng xuống hàng thứ yếu, và tầm quan trọng của đấu
tranh giai cấp đưa lên trên cùng. Cô mất hết tự do cá nhân, không được liên hệ
với ai, cũng như không đi đâu được. Cô gần như mất trí vì thương nhớ Cao Đạt,
nhưng những nông dân có nhiệm vụ quản thúc cô từ chối gíup cô. Họ không dám
cữơng lệnh Mao chủ tịch nếu như họ thả Giang Tĩnh đi: Cô có thể là gián điệp,
có thể sẽ tiếp xúc vơi bọn phản-cách mạng. Sau rồi cũng có đề nghị, hay là cô
lấy một nông dân làm chồng, sẽ đổi được thành phần xã hội với căn cước cá nhân
mới. Yêu thương Cao Đạt sâu sắc, cô không chịu.
Giang Tĩnh sống chín năm trong một ngôi làng ở Sơn Tây. Nơi bờ
suối là nơi dân làng sinh họat tán gẫu, cũng là nơi nghe ngóng thông tin bên
ngòai. Giang Tĩnh coi dòng suối như phương tiện duy nhất cho cô nói chuyện được
với Cao Đạt. Hầu như hàng đêm, cô ngồi bên suối, im lìm chuyển những ý nghĩ của
cô gửi đến Cao Đạt, tưởng tượng dòng nứơc đem tình thương cô đến với anh. Nhưng
dòng suối không đem về cho cô tin tức người cô mong.
Nhiều năm sau, dân làng dần quên cô, cô đã trở thành nông dân y
như họ. Chỉ có một đặc điểm nơi cô còn sót lại, là một mình cô với ngần ấy tuổi
là chưa có chồng.
Cuối thập niên 1960, một nhân viên chính quyền về làng, trao
cho Giang Tĩnh lệnh thu xếp ra đi. Lệnh là “nắm lấy cách mạng mà nỗ lực sản
xuất”. Phong trào Bài-Xôviết bắt đầu.
Ngay khi về đơn vị, Giang Tĩnh phải chứng tỏ được hai điều. Một
là, khả năng cô không thay đổi gì cả. Những năm lao tác làm cô gìa đi. Bạn đồng
sự khó khăn lắm mới nhận ra cô, cũng như không tin cô còn có thể làm việc như
cũ. Họ cho cô những bài tập khảo sát khả năng. Sau một tuần, họ phải chịu là
trí thức xuất sắc cũ của cô không hề bị mất.
Hai là, điều này quan trọng với cô hơn cả, là cô tìm được dấu
tích Cao Đạt. Bạn đồng sự, đồng học ai nấy xúc động chuyện của cô, đều tình
nguyện chia nhau tìm tông tích Cao Đạt. Ba tháng sau, họ cho biết anh bị khép
tội “phản động” cùng “nghi can họat động cho Quốc Dân đảng”. Họ cũng tìm được
những nhà tù anh phải trải qua, nhưng chỉ có thế, còn không biết anh ở đâu bây
giờ. Giang Tĩnh cũng tuyệt vọng, nhưng không chịu thua hòan tòan: Một khi không
có tin chính thức khai tử anh, cô vẫn sẽ hi vọng. Đó, là điều làm cô sống.
Trong những năm của Cách mạng Văn hóa, cô may mắn hơn nhiều
đồng nghiệp. Cô được thượng cấp ngầm bảo vệ vì tài năng trí tuệ của cô, họ dấu
cô một chỗ khỏi thanh tra của Hồng Vệ binh nhiều lần. Cô trả ơn cho ban lãnh đạo
đã chịu hiểm nguy để cứu cô, bằng cách đóng góp nhiều công trình khoa học cho
họ.
Giang Tĩnh không ngừng truy tìm Cao Đạt. Cô đi từng làng, từng
tỉnh mà anh đã đi qua, ngay cả đến hồ Đại Hồ, nơi họ đã nhắc tới xưa kia. Cô
đến đó hai lần. Nhưng không tăm hơi gì.
Trong những năm 1980, sau thời kỳ Cải Cách Đổi Mới, người dân
như tỉnh dậy sau cơn ác mộng chính trị và xã hội, đều muốn chỉnh đốn những
ngược ngạo trước kia. Giang Tĩnh cũng là một trong vô số người tìm tung tích bà
con thân nhân mất tích, qua điện thọai, thư từ, điều tra cá nhân. Lòng nhiệt
thành của Giang Tĩnh lại bị coi là thứ yếu: Sau bao nhiêu cay đắng, tan tác,
đối với họ, chuyện Cao Đạt thì là chuyện tình của cô, không phải chuyện tình
của họ. Cách Mạng Văn Hóa đếm không xuể những nạn nhân tình cảm, rồi người ta
thấy, chuyện ưu tiên cho những thiết thực trước mắt quan trọng hơn bất cứ
chuyện tình cảm, dù xúc động thế nào đi nữa.
Khi Giang Tĩnh nhận bản danh sách những người sẽ tham dự buổi
Kỷ niệm thành lập Đại Học Thanh Hoa năm 1994, bà truy cứu kỹ càng tên Cao Đạt,
nhưng không tìm ra. Khi bà đi Bắc Kinh dự hội, bà đem theo hàng chục tờ in xin
giúp truy tìm người thất tung, đẻ cho các cụu sinh viên giúp đỡ.
Ngày đầu tiên của lễ hội, thành viên đổ về khắp mọi nơi của
Trung quốc, tụ hội trong khuôn viên Thanh Hoa. Bạn học trẻ mừng rỡ: Họ khen
nhau trông không khác xưa mấy. Thế hệ gìa hơn hơi ngập ngừng, đa số bọn họ,
phải đợi cho đến khi vào buồng được sắp xếp sẵn cho đồng khóa, lúc ấy may ra họ
mới nhận ra nhau.
Không ai nhìn ra được Giang Tĩnh trong lúc náo nhiệt, bà cũng
không nhận ra được ai. Nhân viên trực ban của Đại học đưa bà đến căn phòng dành
riêng cho sinh viên cùng khóa của bà. Ngay khi ngồi xuống, Giang Tĩnh nhìn lập
tức vào tấm lưng của người đàn ông ngồi trước, người đàn ông mà dù chỉ thấy tấm
lưng bà cũng không bao giờ nhầm lẫn được, sau bao nhọc nhằn, gian khổ - Cao
Đạt. Giang Tĩnh chấn động; bà bắt đầu run rẩy, tim đập dồn dập rồi bà bất tỉnh.
Nhân viên trong ban tổ chức xuất hiện, đỡ bà dậy, lo lắng, không hiểu chuyện
gì, “Hay là bà bị lên cơn đau tim?” Bà không nói được – chỉ khóat tay ra hiệu
là bà không sao cả, rồi chỉ tay về phía Cao Đạt.
Bà đứng dậy, cố bứơc đi đến chỗ Cao Đạt, tim bà nặng trĩu nên
bước đi rất chậm. Ngay khi bà sắp lên tiếng, bà nghe ông đang giới thiệu,”Đây
là vợ tôi, Lâm Chân, đây là con gái lớn, Niệm Hoa, cháu gái thứ hai, Niệm
Giang, cháu gái út, Niệm Tịnh. Vâng, vâng, chúng tôi mới tới…”
Giang Tĩnh tê liệt tòan thân.
Cao Đạt quay lại đúng lúc ấy, ông run rẩy lập tức khi nhìn thấy
Giang Tĩnh. Ông há hốc. Bà vợ ông lo lắng hỏi, “Sao thế.” Ông run
rẩy,”Đây…đây…là Giang Tĩnh.”
“Giang Tĩnh? Lẽ nào…” Hẳn là bà đã từng nghe tên này.
Ba người cao niên cạnh nhau cùng chấn động, cùng im lặng, cùng
không biết phải làm gì. Vợ Cao Đạt ứa nước mắt
nói với Giang Tĩnh, là bà chỉ lấy ông sau khi ông nghe tin Giang Tĩnh đã
qua đời. Rồi bà nhóm dậy bước đi, cho Giang Tĩnh và Cao Đạt ngồi lại với nhau,
nhưng Giang Tĩnh ngăn lại.
“Xin đừng…Xin đừng đi. Thời ấy chúng tôi còn trẻ, đấy là chuyện
ngày xưa, còn bà đang có cả gia đình thời nay; Tôi được biết Cao Đạt hạnh phúc
thì tôi càng đỡ một mối lo: Xin đừng làm gì động chạm đến gia đình này.”
Giang Tĩnh không biết có nói thật lòng không, nhưng rõ là bà
thành thực.
Khi cô gái út của Cao Đạt biết Giang Tĩnh là ai, cô nói,” Tên đầu
tụi con gồm 3 chữ,”Niệm Giang Tĩnh”(Nhớ Giang Tĩnh) Ba mẹ con giảng là, tên
chúng con đặt ra để nhớ về bà. Cách Mạng Văn Hóa làm đời người xáo trộn cả. Bà
cũng đã thấy như thế, con xin bà tha thứ cho cha mẹ con.”
Giang Tĩnh bỗng nhiên thấy bình an, đủ sức đứng lên, nắm tay vợ
Cao Đạt, nói,” Cám ơn bà nhớ tôi, cám ơn bà cho ông ấy một gia đình hạnh phúc.
Từ nay trở đi, tôi hạnh phúc hơn, vì tôi đỡ một mối lo. Nào, ta cùng đi tham dự
liên hoan với nhau nào.”
Ai nấy đi theo Giang Tĩnh đến Khách Sảnh. Sau khi an vị, Giang
Tĩnh lặng lẽ lẻn ra về khách sạn của bà, rồi ở đó bà đốt những tờ in tìm người,
và cùng lúc những tờ giấy rã thành than, cũng là lúc niềm hi vọng và ý muốn duy
trì đời sống nơi bà tan rã.
Vài ngày sau, bà gọi điện về nhiệm sở yêu cầu gia hạn nghỉ. Họ
cho biết có một điện tín của ai đó tên Cao Tiến gửi bà, nói “khẩn”. Đó là lúc
Giang Tĩnh hiểu ra, là vì Cao Đạt đổi tên, nên bấy lâu không tìm được.
Giang Tĩnh đáp xe lửa đi Đại Hồ, tính mua nhà khu đó, như dự
tính của bà cùng Cao Đạt ngày xưa. Bà thấy không đủ tiền cũng như sức nữa, nên
đến ở khách sạn cạnh hồ. Bà không muốn tiếp xúc với ai, chỉ sống bằng mì gói,
trộn với nước nóng để đủ cho bà trầm ngâm suốt đêm suốt ngày.
Giang Tĩnh sắp kể xong chuyện đời bà. Bà yếu ớt khóat tay một
vòng trước mặt.
“Bốn-mươi-lăm năm liên tục thương nhớ ông ta, nước mắt tôi có
thể đọng thành vũng. Mỗi ngày tôi chờ đợi cạnh vũng nước ấy, vì nó cho tôi sự
yên tĩnh và lòng yêu thương. Tôi tin người tôi thương sẽ bước ra khỏi vũng
nước, sẽ ôm tôi – nhưng ông ấy ra khỏi vũng nước rồi, cạnh ông là người đàn bà
khác. Bước chân họ làm tan vỡ sự yên tĩnh của mặt nước. Làn nước gợn lên, xóa
mất hình ảnh phản dội của mặt trời mặt trăng – thế là tôi hết hi vọng.
“Để tiếp tục sống, tôi cần phải tẩy xóa hình ảnh Cao Đạt cùng tình
cảm của tôi. Tôi mong Đại Hồ giúp tôi được, nhưng cái gì ghi dấu đã
bốn-mươi-lăm năm thì rất khó tẩy.”
Tôi nghe sự trống vắng trong giọng Giang Tĩnh, chứa những buồn
bã và tuyệt vọng. Không lời nào có thể an ủi được.
Toi phải trở về với con tôi là PanPan và công việc, nhưng tôi
không muốn Giang Tĩnh ở một mình, tôi gọi điện hỏi bố tôi ngay tối đó, là ông
có thể cùng mẹ tôi đi Ngộ Đức thăm bệnh Giang Tĩnh ít ngày được không. Họ đến
ngay hôm sau. Khi tiễn tôi từ bệnh viện về, mẹ tôi bảo,”Giang Tĩnh hẳn là đẹp
lắm lúc trẻ.”
Tuần sau, cha mẹ tôi về lại Nam Kinh. Cha tôi kể là, được Giang
Tĩnh đồng ý, ông đã liên hệ với nhiệm sở của bà. Họ đang lo lắng cho bà, nên
gửi ngay người đi Ngộ Đức thăm nom bà. Cha tôi còn bảo, không cho Giang Tĩnh
biết, ông đã kể chuyện bà bằng điện thọai cho các bạn học ngày xưa. Ông gìa cộc
cằn khô khan của tôi, không nén được xúc động, vừa nói vừa khóc,”Chúng ta đều
biết Giang Tĩnh đau khổ dường nào, nhưng không ai hiểu nổi bề sâu tình cảm của
bà.”
Cha tôi cũng tìm ra được lý do Cao Đạt đổi tên, ông cũng đã kể
cho Giang Tĩnh: Một thủ lãnh Hồng Vệ binh nơi trại tù lần thứ nhì của Cao Đạt
lại trùng tên với ông. Ông bị đổi tên thành Cao Tiến, tên ấy đâm ra ghi trên
hết thảy sổ hộ tịch tù nhân về sau, một việc rất phi luật. Cao Tiến khiếu nại
khắp nơi, chỉ được trả lời câu trả lời độc nhất,”Bao nhiêu sai lầm trong Cách
Mạng rồi – Ai mà sửa cho hết mọi điều?” Sau nữa, có người báo tin cho Cao Đạt,
là Giang Tĩnh đã tử nạn giao thông hai mươi năm rồi, cho nên ông để cho tên Cao
Đạt chết theo.
Giang Tĩnh bảo, “đàn bà là nước, đàn ông là núi” – so sánh như
thế không biết có đúng không? Tôi nêu câu hỏi trên đài, chỉ nội một tuần, nhận
được trên hai trăm hồi đáp. Trong số đó, có tới mười câu góp ý lại từ chính
đồng nghiệp trong Đài của tôi. Anh chàng Lý Bự trong sở tôi viết,”Đàn ông Trung
quốc cần đàn bà để tạo ra hình ảnh của mình – như bóng núi in trên mặt nước.
Nhưng nước lại đổ từ trên núi mà xuống. Thề thì hình ảnh mà nước in ra, là hình
ảnh của núi hay của nước?”
-Vũ Huy Quang dịch
(7-2012)
đàn ông và phụ nữ cần nhau để tạo ra hình ảnh phản chiếu hoàn thiện con người mình, có tốt có xấu nhưng đó là 1 phần của nhau
Trả lờiXóa