Tổng số lượt xem trang

Thứ Ba, 23 tháng 6, 2015

PHẠM THẮNG VŨ - Con sóng dữ - KỲ 75


                         (tiếp theo)

Thông báo cả tuần lễ mà chẳng có mấy ai trong trại đến phòng Nhân quyền khai báo và số ít ỏi người đến báo tên thì đều cho biết đã bị đám lính gác tại đảo Ku Ku xâm phạm khi ghe họ ghé vào đó. Ku Ku là một đảo cỡ Galang, nằm trong vùng Riau của Indonesia gần đảo quốc Singapore. Nơi này từng chứa thuyền nhân Việt từ cuối thập niên 1970 trước khi Galang được chọn làm đảo trung tâm dành cho người tị nạn Khmer và Việt Nam. Trên đảo Ku Ku vẫn còn những dãy nhà cũ của người tị nạn năm xưa để lại, cũng không có dân cư địa phương sinh sống như ở Galang ngoài 1 tiểu đội lính Indo đồn trú. Khó tìm ra Ku Ku trên bản đồ trong số hằng hà đảo lớn nhỏ của vùng Riau này nếu như không có người dẫn đường. Có một quãng thời gian khá lâu đám lính trên đảo Ku Ku đã bạo hành với đàn bà-con gái Việt từ các ghe ghé vào. Giai đoạn này, Ku Ku thật sự là một địa ngục với các thuyền nhân Việt nhất là với phái nữ vì ngoài chuyện làm bậy với họ thì đám lính hung hãn đó còn đả thương cả nam giới Việt nữa. Chuyện bạo hành xảy ra tại Ku Ku đều do gã trung sĩ chỉ huy đám lính đầu têu mọi việc. Đặt chân xuống ghe vượt biên thì hầu như người Việt nào cũng đều chấp nhận những rủi ro có thể xẩy ra trên đường đi sau khi đã thoát khỏi tay công an biên phòng. Bão tố hoặc giông gió bất ngờ trên biển có thể nhận chìm ghe. Ghe bị hỏng máy phải trôi dạt vô định có khi làm thuyền nhân chết khát chết đói nếu không gặp tàu ngoại quốc tiếp cứu. Thêm vào các rủi ro đó thì ai cũng sợ cảnh ghe có thể lọt vào tay hải tặc. Qua được những cái ải tử thần kể trên nay đến được đảo Ku Ku thì lại lọt vào tay một bọn lính hung hãn, dâm đãng. Nói nào ngay, đàn bà-con gái Việt hầu hết da dẻ trắng trẻo so với dân Indo bản xứ da đen nên khi gặp gái Việt thì bọn lính đóng ở Ku Ku như mèo đói thấy mỡ. Ghe cặp bến, thuyền nhân vừa lên bờ xong xuôi thì bọn lính dở trò đồi bại liền làm như chúng không thể chờ đợi lâu hơn được. Tuy vậy, có người liều mạng chạy trốn vào rừng lánh nạn và chỉ lén lút mò ra kiếm miếng ăn khi chiều xuống hoặc vắng mặt bọn lính. Theo lời kể từ những nạn nhân của đảo Ku Ku thì trước khi dở trò, đám lính đã tách riêng nam giới ra một nơi khác khá xa cho khuất mắt. Ku Ku là một nơi tiếp nhận ghe vượt biên từ các đảo khác dẫn đến rồi sau đó thì mỗi tháng, Cao Ủy mới cho tàu lớn cặp bến Ku Ku để đón thuyền nhân nhập vào Galang. Thời gian thuyền nhân tạm trú ở đó không lâu nên cô gái nào trốn được vào rừng cho đến ngày gặp được tàu lớn đến rước hoặc may mắn ghe vượt biên vừa cập vào Ku Ku lúc đang có mặt nhân viên Cao Ủy thì coi như thoát nạn... lục tặc. Sự việc bọn lính ở đảo Ku Ku làm bậy cứ kéo dài cho đến khi có cái chết của một thuyền nhân vì chống lại chúng. Thuyền nhân này là cha của một cô gái trẻ, đẹp. Từ lúc đầu, cô gái đã không thoát tay bọn lính nhưng vì có sắc nên bị chúng hành hạ nhiều lần. Biết đám lính tái diễn mãi thì có thể con gái mình sẽ vong mạng nên khi một gã lính định làm bậy với cô, người cha đã ra mặt chống trả. Bọn lính xúm lại, đả thương hội đồng và làm ông ta chết. Tàu lớn của Cao Ủy đến đón thuyền nhân, nghe về cái chết của ông ta thì họ liền điều tra và sự việc đổ bể. Đại diện Cao Ủy vào cuộc với chính quyền vùng Riau và tất cả lính trên đảo bị hoán đổi đi nơi khác thay thế bằng người mới. Kể từ đó, ghe vượt biên ghé vào đảo Ku Ku không còn gặp thảm cảnh cũ. Ghe chúng tôi cũng có thể sẽ ghé vào đảo Ku Ku nếu như không gặp chủ nhân khách sạn ở Batam chỉ đường và cho tấm bản đồ. Có ghé vào Ku Ku thì phải chờ ít ngày mới có tàu lớn Cao Ủy đón về Galang và như vậy sẽ mất thêm thời gian. Thực ra không riêng gì một đảo Ku Ku mới có vụ bạo hành thuyền nhân Việt mà ở cả những đảo khác nữa cũng có lẻ tẻ nhưng chỉ là hành động cá nhân từ đám lính gác hay một viên chức địa phương cấp thấp. Bạo hành thường do hải tặc gây ra thì không biết ở các trại tị nạn bên Thái Lan như Panat Nikhom, Sikiew, Songkhla... có thông báo thuyền nhân khai tên như vậy không? Chấp thuận với việc làm của phòng Nhân quyền Cao Ủy, rõ ràng chính phủ Indo còn dành hảo cảm cho thuyền nhân Việt và không bao che tội phạm nước mình. Một điều thật đáng khen.

Có thông báo của phòng Nhân quyền Cao Ủy nhưng lại ít có người đến khai chuyện mình là nạn nhân bạo hành trên đường vượt biển. Thực ra, nhiều cô gái vì có sắc nên bị cả toán lính thay nhau hành hạ mà họ vẫn cố tình phớt lờ, chối không có. Thuyền nhân trong ghe đều biết rõ chuyện từng người và đã làm chứng khi nhân viên phòng Nhân quyền đến tận barrack hỏi chuyện. Thoạt đầu nghe phòng Nhân quyền Cao Ủy thông báo thì các nạn nhân nghĩ sẽ được giúp đỡ trong việc thanh lọc nên họ liền tiếp xúc, hỏi thăm nhưng khi biết nếu là nạn nhân thì chỉ được một gói quà nhỏ và nhà thương sẽ khám bệnh cùng điều trị sức khỏe riêng biệt. Chuyện thanh lọc thì nhân viên phòng Nhân quyền từ chối nói không có thẩm quyền, không thể can thiệp cho bất cứ ai. Chính vậy khiến nhiều nạn nhân đã dấu chuyện mình bị, không khai tên cho phòng Nhân quyền biết. " Có vài hộp sữa, bịch đường, cục xà bông, cái khăn tắm cùng được nhà thương khám bệnh thì thấm gì với danh dự một người con gái... Chuyện không muốn, nó đến thì phải dấu ", họ bảo nhau. Phòng Nhân quyền thông báo thời hạn chót rồi cả khi gia hạn thêm ngày, số nạn nhân vẫn rất ít so với ước đoán lúc đầu từ các báo cáo mà Cao Ủy đã nhận được. 

Tháng 6 rồi tháng 7 trôi qua trong lặng lẽ với đời sống tị nạn trầm lặng của thuyền nhân Galang. Khác với các trại tị nạn bên Hồng Kông, Malaysia, Thái Lan hay Phi Luật Tân... trên đảo Galang thuyền nhân Việt sống như nhau, không có khu trại cấm, không có hàng rào ngăn cách giữa người mới tới là thành phần Asylum seeker hay người tị nạn hoặc đã bị rớt thanh lọc. Mấy lần Cao Ủy xổ kết quả cùng với lớp thuyền nhân mới đổ thêm vào Galang thì tại các barrack, người đậu thanh lọc vui vẻ vì đã thành người tị nạn đang chờ ngày làm các thủ tục đi định cư sống hòa đồng với người bị đánh rớt thành di dân kinh tế lặng lẽ buồn, nuôi hy vọng từ bản kháng cáo của mình hoặc cam phận không tranh đấu như những trại tị nạn bên các nước khác mà chờ ngày hồi hương về lại quê nhà. Những buổi sáng ngày Chúa Nhật, người trong trại vẫn kéo nhau đi tắm biển hoặc làm các chuyến dã ngoại cắm trại trong rừng vui vẻ. Có lẽ nhờ đặc điểm là một đảo tị nạn biệt lập cùng với thái độ mềm dẻo, hảo cảm của chính phủ Indo dành cho thuyền nhân Việt mà Galang vẫn có được không khí êm ả như vậy. Những người từng có thời gian du học tại Hoa Kỳ như ông Bửu, anh Khảm thì cho là cuộc sống ở trại tị nạn coi vậy mà sướng vì cái ăn đã có Cao Ủy cung cấp thêm thân nhân thỉnh thoảng gửi giúp cho ít tiền. Nếu không có vụ thanh lọc thì cuộc sống của thuyền nhân chắc giống như trong trại tị nạn trước kia. Chẳng có mối lo lắng nào ngoài chuyện học Anh ngữ, giữ gìn sức khỏe để bù lại những ngày chật vật, đói khổ bên quê nhà và còn kiếm người bồ bịch (trong trại gọi là đẩy xe) cho vui rồi nếu đi định cư thì họ sẽ quên nhau mau chóng.

Trong các chuyến ghe đến Galang thời gian này cũng có một số thuyền nhân gốc miền Bắc Cộng Sản hoặc Việt Cộng miền Nam. Họ từng là công an, bộ đội, cán bộ văn phòng hoặc công nhân lao động bên các nước Cộng Sản Đông Âu trở về khi xong hợp đồng. Biết thân phận chỉ là thiểu số trong một cộng đồng cùng máu mủ nhưng hầu hết từng có lúc là nạn nhân trong tay mình hoặc đồng đội nên, họ rủ nhau cất chòi sống riêng ở khu vực gần rừng, xa hẳn với các barrack trong trại. Làm rẫy, đánh cá biển... để kiếm thêm vì họ không có thân nhân ở nước thứ ba gửi tiền giúp cho như các thuyền nhân gốc miền Nam VNCH. Sống ở Galang không lâu thì một số họ đã xin nhập đạo Tin Lành. Như đã nói ở các phần trước, ở Galang có 2 nhà thờ Tin Lành và đều do một mục sư người Indo tên Carrel quản nhiệm. Đồng đạo Tin lành với nhau gọi cộng đồng của họ là Hội Thánh. Công bằng mà nói Hội Thánh Tin Lành ở trại đã giúp đỡ về vật chất như quần áo, thức ăn... cho đồng đạo ngoài phần thực phẩm ít ỏi từ phòng Tiếp liệu Cao Ủy dành cho thuyền nhân. Điều này là một khác biệt so với các tôn giáo khác. Theo đạo do niềm tin chân thành hay do cái lợi trước mắt thì cũng khó mà biết nhưng có tham dự các buổi sinh hoạt trong Hội Thánh Tin Lành mới thấy sự chân thành, hòa đồng, đoàn kết... lộ ra trên khuôn mặt, cử chỉ của các đồng đạo với nhau. Thuyền nhân gốc Cộng Sản theo đạo Tin lành, có thể họ chỉ nhắm tìm một an toàn cho bản thân, nếu gặp chuyện rắc rối thì sẽ chạy đến gõ cửa nhà mục sư. 

Tháng 8 đến, ban Đại diện của hai trại 1 và 2 qua danh sách từ Cao Ủy đã thông báo có 379 người trong tổng số 1618 cựu quân nhân-viên chức chính quyền miền Nam VNCH có mặt tại Galang đã nhận kết quả thanh lọc. Trong số họ thì có 192 người đậu và 181 người bị rớt. Tỉ lệ này coi như gần 50% giữa đậu hay rớt thanh lọc. Dò danh sách số người bị Cao Ủy đánh rớt, thấy có 2 đại úy, 1 trung úy, 6 thiếu úy, 70 hạ sĩ quan và 102 binh sĩ. Chưa có sĩ quan cấp tá ở các lần Cao Ủy xổ kết quả dù trong trại có đại tá như Bùi Thế Dung, trung tá Nguyễn Văn Tòng, các thiếu tá Lâm Văn Rớt, Phan Thanh Miên, Nguyễn Danh Đắc... và người trong trại vẫn chưa biết số phận các sĩ quan cấp tá này sẽ ra sao trong các lần xổ ký tới. 

Sau vụ ông Alexander Casella tuyên bố những lời không thân thiện với người vượt biên Việt thì một tin đăng trên tờ báo South China Morning Post loan về lời nói của cựu tướng không quân Nguyễn Cao Kỳ trong lần ông ghé vào Hồng Kông. Ông bộc bạch rằng bản thân không mong muốn gì hơn là được trở về quê cũ và sau đó còn nói thêm: " Tôi biết nhiều người Việt đã ra đi cốt để tránh đời sống khó khăn, và một khi nhà cầm quyền Việt Nam thay đổi chính sách thì người Việt sẽ không còn vượt biên nữa ". Cái tin đó làm cho khá nhiều người trong trại tự dưng mất thiện cảm với ông cựu Phó Tổng thống miền Nam VNCH khi họ biết thêm trong thời gian lưu lại Hồng Kông, ông ta không hề nhân dịp này mà ghé thăm bất cứ một trại tị nạn người Việt nào. Vài thuyền nhân đã bực tức, chửi đổng... rồi vì vậy mà sinh chuyện cãi vã do người bênh, kẻ chống lại. Anh Khảm cho cái tin về bài viết trên báo South China Morning Post là xạo là vịt cồ và đã nói với tôi: " Đừng có tin mấy cái nhảm nhí đó Vũ à! Không phải cùng binh chủng mà anh bênh vực... Tờ báo này nói xấu cựu lãnh tụ miền Nam VNCH mình đây... Em hãy nhớ chuyện Bắc tiến cùng những phi vụ Skyraider Bắc phạt năm xưa của ông ta. ". Chỉ đến khi anh nhìn thấy tờ copy của trang báo đó chuyền tay trong trại thì mới tin và buồn bã, nói: " Báo chí ngoại quốc không dựng chuyện đâu... Thời buổi thay đổi nên làm người ta thay đổi theo... Cũng có thể bây giờ ông Kỳ đã bước vào tuổi già nên cái suy nghĩ khác với thời trai trẻ... Anh vẫn mong đây chỉ là hiện tượng nhất thời, sự bốc đồng như cá tính cố hữu của ông ấy... Mình đừng thấy đó mà suy về bản chất ông ta. Có điều anh thấy nếu tin này đúng sự thật thì rất buồn, vì ngay cả người Việt mình mà còn không thương cảm với thuyền nhân, trách gì cộng đồng quốc tế ngoảnh mặt ".


                            (còn nữa)

SỐNG NHƯ LÀ CHẾT - Tiểu thuyết NHẬT TUẤN - KỲ 17

                                          (tiếp theo)

                                        Chương 17

            

  Trận mưa cuối mùa đổ nước chốc lát rồi rút vào đâu đó như để tích nước trận sau. Cây cỏ ngoài vườn đổ rạp, một cành cây lớn gãy ngang còn gác một đầu lên thân cây chờ cơn gió nữa mới chịu đổ xuống. Rất may cây ngọc lan vẫn yên ổn trong vòng bảo vệ của cây tầm vông, Gã phải mất hai ngày cật lực mới dọn dẹp xong khu vườn. Nào phun thuốc diệt cỏ, nào gom những cành cây đổ vào một đống chờ mai mốt nắng lên sẽ đốt. Vậy là vườn đã sạch cỏ và cây đổ, giờ mới tới nhà ! Ôi chao ôi, bếp, phòng ăn, phòng khách, phòng ngủ, phòng đọc sách, phòng vi tính…dễ cả tháng nay không quét tước dọn dẹp, mạng nhện lòng thòng, mặt sàn cáu bẩn. Nhưng mà..thà chết còn hơn cầm cây lau nhà đưa tới đưa lui khắp xó xỉnh .Chịu thôi…mà đây là việc của đàn bà, ôm làm gì ? Gã sang nhà hàng xóm , nhìn thấy gã, lão mừng rỡ :
“ Mời ông sang xơi nước…”
Gã nhìn quanh :
“ Hôm nay không đi làm à ?”
Lão hàng xóm thở dài sườn sượt :
“ Có ai thuê nữa mà làm? Mủ cao su rớt giá thê thảm, chẳng có chủ nào thuê cạo nữa ?”
“ Vậy rồi lấy gì sống ?”
“ Nghe ngóng sao đã …không khéo phải lên Bù Đăng nhặt điều thuê cho người Xtieng thôi…”
“  Nó trả công có cao hơn cạo mủ không ?”
“ Tùy theo số lượng lượm dược trong ngày, tháng cũng được 400 ngàn…nhưng phải mang tăng võng đi nằm ngoài rừng, mưa gió thế này cực lắm…”
“ Ông có tin gì mầy thằng đào trộm xác chó của tôi không ?”
Lão hàng xóm lắc đầu :
“ Thôi quên đi ông ơi…không tìm được tụi nó đâu…chẳng qua đói quá thôi …”
Gã bực mình :
“ Cứ đói ăn vụng túng làm càn hả ?”
Lão hàng xóm gật gật :
“ Thì đúng thê chứ sao ? Hôm nay ông thử ra chợ coi, vắng như chùa bà đanh, chủ không thuê cạo mủ, tiền đâu mà đi chợ .Hôm rồi có thằng bé bố nó chết, mẹ nó bệnh, nhà hết gạo, nó phải đi ăn cắp mủ cao su bị bảo vệ bắt được, bắt thằng bé quỳ xuống uống luôn cả chén mủ  …”
“ “ Lũ chó..…Trời…vậy có sao không ?”
“ Đi cấp cứu gần chết chứ sao ? Nghe dân nói thằng bé ngoan lắm, năm nào cũng được danh hiệu cháu ngoan bác Hồ. Nó phải đi ăn cắp là vì mẹ nó vừa bệnh vừa đói thôi…”
Gã trợn mắt :
“ Thế tiền xóa đói giảm nghèo đâu ?”
Lão hàng xóm bật cười :
“  Ông này hay nhỉ…đến gạo với mì gói cứu trợ bão lụt còn bị xã nó ăn chặn nữa là tiền. Nghe nói đến cả dê với gà giống cấp cho bà con nghèo cũng về nhà cán bộ xã hết…”
Lại chuyện thời thế …cứ đà này từ chuyện tham ô tham nhũng thế nào cũng chuyển sang chuyện Trung Quốc chiếm biển Đông cho coi…Oi thôi thôi…dã xác định kệ cha sự đời, cả  4000 ngàn năm nay, chưa bao giờ giặc ngoại xâm lại móc nối được với bọn nội xâm hoành hành trên đất nước này, tan hoang và thê thảm đến thế, thiên mệnh đã đổ xuống đầu dân tộc này rồi, mai kia làm sao thoát được một cổ hai tròng ??
Gã chuyển ngay đề tài :
“ Ông tìm cho tôi một người quét dọn lau chùi nhà được không ?”
Lão hàng xóm ngây người rồi khi hiểu ra lão rối rít :
“Được chứ sao không. Thời nay dân đang đói, có tiền việc gì chẳng nhận huống hồ quét dọn nhà cửa ! Để tôi tìm cho ông người chẳm chỉ, cẩn thận… ”
Sáng hôm sau lão đã đưa người đến :
“ Đây..người làm thuê quét dọn cho ông đây…nếu ưng thì sáng nay làm luôn…”
Gã đưa mắt nhìn cô gái. Chắc khoảng 35-40, mặt tròn, tóc dầy, mắt lá răm, trắng  trẻo, đậm người nhưng rắn chắc. Nguy hiểm, nguy hiểm…Thuê loại này, lau nhà xong nó nhảy phắt lên giường thì nguy. Rồi em sẽ nảy ra nào bố đau bao tử nặng, mẹ ung thư gan, ba em nhỏ đang đi học…ôi thôi thôi…một gánh nặng đến gãy lưng…Vả lại gã còn chưa hết tê tái sau cuộc tình mới rồi khi gã còn đang ở căn hộ lầu 10 chung cư Sàigòn.
Hồi đó gã được mời kết bạn với một em có nickname rất lạ là Vân  Đá. Sau này khi đã thân thiết gã hỏi sao lại lấy tên Vân Đá, em cười :
“ Thì em tên Ngọc nhưng ở trong đá , muốn lấy được Ngọc phải đập đá ra…hí hí…”
Hay thật, ừ thì đập, chỉ phải lớp đá của em hơi dày, muốn tới được ngọc phải mất công đâp tổn hơi sức lắm. Vậy nhưng cứ thử coi sao.
Trước hết em giao hẹn mình yêu nhau trên mạng thôi, tuyệt đối không phải trên giường. Ấy chết, yêu kiểu gì kỳ vậy ? Thì là yêu theo kiểu…em mà. Mình cứ chát chít qua điện thoại, qua facebook cũng…hạnh phúc lắm rồi.
 Như thế là không… có màn nắm tay, hôn hít và tuyệt đối không lên giường…yêu theo kiểu em nó vậy mà…Thôi cũng được, cứ  thử coi sao ?
Vậy là ban ngày nhắn tin điện thoại , buổi tối chat facebook…toàn những lời yêu đương, ngọt ngào có thể thổn thức con tim tới cả ma xơ đã nhiều năm dâng hiến đời mình cho Chúa.
Tất nhiên dù là yêu ảo theo kiểu em đi chăng nữa thì vẫn phải thường xuyên kèm…của thật. Trước hết là một thẻ ATM mang tên em, tháng tháng gã phải nạp tiền vào đó để duy trì lửa tình yêu.
Nhưng cứ sống mãi trong ngọn lửa lạnh vậy gã thấy tê tái cả nỗi lòng. Gã đòi “cái đó”- cái mà bất cứ trong tình yêu nào cô gái cũng sẵn sàng dâng hiến cho chàng trai. Riêng em gái này tuyệt nhiên không. Mặc cho gã vật nài cô cứ khăng khăng ngay từ đầu anh với em đã thống nhất là yêu …theo kiểu của em mà.
Kiểu em là kiểu gì kỳ quái vậy ?
Sau cùng em thú nhận là sợ…chuyện đó lắm. Gã giật mình, vậy em “đồng tính” à ? Em chối đây đẩy, không phải, không phải, với bạn nữ em cũng sợ ..nắm tay lắm.
Gã không tin, nhất định không tin. Đúng như cái tên Vân Đá , nhất định bên trong đá có ngọc, nhất định bên trong em  có một ngọc lửa yêu mà chắc gã phải dầy công mới tới được nó. Nó phải là một ngọn lửa thiêng như lửa trong đền. Nó phải là ngọn lửa dữ dội, cháy rát như lửa hỏa diệm sơn. Nhất định gã sẽ kiên trì chờ đợi, kiên trì đập đá để lấy được ngọc. Nghĩ tới lúc em gái rên xiết trong vòng tay mình, mắt gã nảy lửa, tim nhảy thình thịch.
Phải rồi, bất cứ cái gì, phải trải qua bao gian nan thử thách mới đạt được thì đó mới là quà tặng tuyệt vời số phận ban tặng. Thế là mối tình trên mạng, tình ảo, tình yêu  theo kiểu của nàng cứ thế tiếp diễn. Tuy nhiên, gọi là yêu ảo nhưng cũng không ảo hoàn toàn. Em gái đã nhận lời đi càphê, đi ăn nhà hàng và đã cho gã tiến thêm một bước : cho nắm tay. Ôi trời, gã nâng niu tay em như vật thiêng liêng nhất đời. Gã kinh cẩn đặt lên đó một nụ hôn chảy từ con tim gã.Nhưng em đã rụt tay lại. Gã hổn hển :” Em sao ? Em sao thế?” “ Em không sao…nhưng em …không thích …”. Gã kêu lên :” Sao không thích ? Em phải nói là…chưa thích chứ ?”. Em nở một nụ cười tuyệt vời “ Ừ…em chưa thích…”. Gã suýt rơi nước mắt vì cảm động. Đã bảo mà, trong đá của em nhất định có viên ngọc, bên trong em nhất định có ngọn lửa tam muội ngày xưa có thể đốt chết được cả Tôn Ngộ Không.
Tối đó trên facebook lần đầu tiên em ban cho gã những nụ hôn cháy bỏng, tất nhiên đó chỉ là những nụ hôn…trên mạng, những nụ hôn tưởng tượng. Với gã, vậy cũng đã là hạnh phúc tuyệt vời. Đêm đó gã nằm mơ thấy em cháy đùng đùng như ngọn núi lửa đang phun trào..


23-6-2015
                            (còn nữa)
         

Thứ Hai, 22 tháng 6, 2015

YÊU THỜI ĐỒ ĐỂU – KỲ 195



                            (tiếp theo)



 Bà Chánh văn phòng nhỏ giọng :
“ Ong sang mà giải thích cho bên an ninh nội bộ. Sang ngay mà giải thoát cho con Tuyết đi, không để lát nữa nó giải về Ban bảo vệ nội bộ tỉnh uỷ thì lôi thôi to…”
Ong Bí thư  tái mặt, nhìn xung quanh. Mười lăm khuôn mặt trong Ban thường vụ đang chăm chăm nhìn ông như muốn ăn tươi nuốt sống ông  sau  vụ bị làm nhục bởi mấy gã an ninh nội bộ khám xét quá kỹ càng. Ong thừa biết ngưng cuộc họp và bỏ đi lúc này là vô cùng nguy hiểm, cả 15 cái miệng sẽ bới móc, nói xấu, đặt điều, vu cáo . Ong sẽ trở thành đối tượng để mọi người xúm vào công kích, chửi bới và ngay lập tức những thông tin này sẽ bay về Ban tổ chức thành uỷ và cái ghế Bí thư huyện của ông lung lay dữ dội. Vậy nhưng nếu không đi giải cứu con Tuyết trắng để mặc nó bị giải về Ban bảo vệ nội bộ thì càng nguy to. Chẳng cần khó khăn gì, chỉ doạ nạt dăm ba câu là con ranh này phun ra hết, nào ăn nằm với Bí thư huyện uỷ bao nhiêu lần, ở những đâu và nguy hiểm hơn nữa là nó sẽ phun ra những chuyện bí mật nội bộ văn phòng huyện uỷ nghe lén được.
Ong Bí thư huyện uỷ ruột nóng như lửa đốt loay hoay chưa biết tính sao, bà Chánh văn phòng lại giục :
“ Ong sang bảo lãnh cho con Tuyết đi. Để tụi nó giải về công an thành phố là nguy đó…”
Ong Bí thư huyện khổ sở :
“ Tôi sắp khai mạc cuộc họp thường vụ rồi…Đi sao được ?”
Bà Chánh văn phòng gắt :
“ Họp hành gì ? Chuyện kia nước sôi lửa bỏng không lo , lo ba cái chuyện họp hành vớ vẩn, lại sơ kết đợt học tập làm theo gương bác Hồ vĩ đại chứ gì ? Hoãn lại mai họp đâu có sao ?”
“ Nhưng hoãn họp rồi tôi đi để họ ngồi lại bàn tán thì nguy lắm..có cách nào giải tán được ngay tôi đi mới yên tâm được…”
Bà Chánh văn phòng cười nham hiểm :
“ Chuyện nhỏ…để tôi giải quyết cho…ông cứ giả vờ cho tiến hành khai mạc cuộc họp đi nhé ! ”
Nói rồi bà le te xách túi ra khỏi phòng. Ong Bí thư huyện nhìn theo thắc mắc không hiểu con mẹ này tính chuyện gì mà nói chắc như cua gạch vậy. Thôi kệ, cứ làm theo lời mụ chứ còn biết làm sao ? Nghĩ vậy ông cầm chiếc micrô, dọn giọng rồi cất giọng nghiêm trang :
“ Sáng nay tôi khai mạc cuộc họp của Ban thường vụ huyện uỷ bàn về việc sơ kết đợt học tập làm theo gương hy sinh của bác Hồ vĩ đại. Tôi yêu cầu các đồng chí phải tập trung cao nhất mọi trí tuệ, tâm tư , tình cảm để đúc rút ra những thành tích cũng như là những tồn tại…”
Ong Bí thư nói đến đó bỗng dưng mấy cái loa trong phòng họp im bặt, đèn điện tắt hết. Ong chợt hiểu ra, a…thì ra đây là đòn của bà Chánh văn phòng. Mất điện thì sao mà họp. Đèn đóm, máy lạnh, quạt trần…tắt hết, chỉ có nước giải tán cuộc họp. Nguyên là ngân sách ngày nay rất dồi dào. Trụ sở huyện uỷ, trụ sở Uỷ ban tha hồ mà xây dựng “to đẹp hơn, đàng hoàng hơn ” đúng như lời dậy của bác Hồ năm xưa khi tiến hành đánh Mỹ. Nghĩ lại những năm tháng đó còn thấy ớn xương sống. Trụ sở huyện uỷ chỉ là ngôi nhà cấp 4, tường phên, mái lá gồi, cả cái phòng họp chỉ có mỗi một cái quạt trần Gió Mới chạy lừ đà lừ đừ chẳng có tý gió máy nào. Cứ mỗi làn họp Ban thường vụ huyện uỷ, bên văn phòng lại phải chạy đi “trưng dụng” ba cái quạt tai voi Liên xô ở khắp các phòng Ban của huyện uỷ để mang về phục vụ cuộc họp của Ban thường vụ .
Ngày đó thật có nằm mơ cũng chẳng hình dung ra đưọc phòng họp huyện uỷ bây giờ. Nào đèn chùm kiểu Ý sáng dịu treo giữa phòng, nào bàn ghế toàn  gỗ cẩm  lai đón thợ tận Hà Nội về trạm trổ tinh vi. Nào hệ thống âm thanh “surround” khiến người phát biểu qua micro chỉ ho khẽ cái là vang lên cả phòng. Nào hệ thống máy lạnh treo tường đảm bảo không khí trong phòng họp lúc nào cũng mát lạnh cho dù bên ngoài trời đang nắng nóng đến chảy mỡ.
Những ngày khổ cực thời bao cấp đã lùi xa, các cán bộ Đảng bây giờ quen họp hành trong phòng máy lạnh, có các em chân dài súng sính trong bộ áo dài bưng nước giải khát toàn lại cao cấp. Duy có một thói quen các cán bộ không bỏ được đó là hí húi ghi chép mỗi khi cấp trên lên “quán triệt” tinh thần nghị quyết hoặc “huấn thị” những mênh lệnh mới.Cho dù mỗi Uỷ viên thường vụ đều được cung cấp một cái laptop loại xịn nhất , có thể ghi chép, ghi âm đủ thứ trong cuộc họp nhưng thường là không dùng tới, để nhà cho con chơi game mà vẫn kè kè cây bút bi với  cuốn sổ như thời bao cấp. Tình trạng đó là phổ biến ở tất cả các huyện trong tỉnh là vì các Uỷ viên thường vụ tuy ai cũng có bằng cao học như kỹ sư, thạc sĩ nhưng đều là bằng…đểu, tức bằng chạy, bằng mua cả. Trình độ văn hoá thực chất của quý vị nói chung là chỉ ngang cấp 2, bởi vậy họ ngại không muốn sử dụng máy vi tính. Vừa lôi thôi phức tạp lắm phím, lắm nút lại vì sợ mang tiếng là dùng laptop để đọc thông tin “ngoài luồng” tức đọc những tin tức không phải báo đài của Đảng.
Một nguyên nhân nữa khiến các cán bộ ngại dùng laptop là vì khi cấp trên “huấn thị” hay “ quán triệt” nếu người nghe giở sổ tay chăm chú ghi chép sẽ làm cấp trên hài lòng hơn là bấm bấm máy vi tính. Bởi vậy mặc dù huyện uỷ đã xuất tiền trang bị cho các Uỷ viên thường vụ mỗi người một cái laptop đắt tiền nhưng đến khi vào họp thì lại chỉ thấy các quý vị ấy hí húi ghi chép bằng sổ tay và bút bi.
Trở lại cuộc họp, ông Bí thư huyện lên giọng phàn nàn :
“ Quái quỷ …sao cúp điện không báo trước là sao ?”
Cả 15 vị trong Ban thường vụ chợt xanh mắt nhìn nhau. Chuyện gì thế này ? Họp thường vụ huyện uỷ mà nó dám cúp điện thì chắc là phải có chuyện gì rồi ? Ong Chủ tịch huyện ngó sang ông Trưởng Chi nhánh điện huyện :
“ Chuyện gì thế mày ? Sao dám cúp điện văn phòng huyện uỷ ?”
Ong Chi nhánh điện tái xanh mặt :
“ Làm gì có chuyện đó. Chắc có sự số gì trên đường dây thôi. Để em bảo tụi nó sang coi…”
Mất điện nên phòng họp trở nên nóng bức và ngộp thở, mọi người nháo nhào cả lên. Ong Bí thư chờ cho mọi người ai nấy đều sốt ruột thoát khỏi phòng mới long trọng tuyên bố :
“ Sáng nay bị sự cố mất điện, cuộc họp Ban thường vụ về công tác sơ kết đợt học tập theo gương bác Hồ vĩ đại sẽ hoãn tới sáng mai…”
Cả 15 ông bà trong Ban thường vụ chỉ chờ có thế , ai nấy vội vàng rút khỏi phòng họp , bất chấp ông Chi nhánh điện la oai oái :
“ Xin các đồng chí chờ cho chút…sẽ có điện ngay…sự cố chút xíu trên đường dây 150 kilôvôn thôi ạ…Anh em trên đường tới đây khắc phục ạ…”
Mặc kệ , mọi người rùng rùng kéo nhau ra khỏi phòng trước cặp mắt đắc chí của ông Bí thư huyện   uỷ. Ông  thở phào. Chà …cái trò cắt điện của con mẹ Chánh văn phòng xem ra độc thật. Không đuổi mà đi….chỉ loáng cái cả Ban thường vụ 15 vị đã chạy như ma đuổi . Thế mới biết cán bộ Đảng ta bây giờ quen bia bọt, rượu tây, máy lạnh , không có là biến sạch khỏi họp hành .
Bà Chánh văn phòng bước vào cười đắc chí :
“ Ong xem tuyệt chiêu tôi chưa ? Loáng cái là các quý vị cum cúp ra khỏi phòng họp …”
Ong Bí thư huyện dè dặt :
“ Nhưng thằng Giám đốc điện lực trong thường vụ vừa phát biểu là tuyệt đối không có chuyện cúp điện của huyện uỷ mà ? Bà làm sao để lòi mặt ra phá điện của cuộc họp thường vụ là nguy lắm đó…”
Bà Chánh văn phòng cười cười :
“ Yên trí…yên trí…tôi đã làm là kín cạnh lắm ông khỏi lo…có 10 thằng Giám Đốc điện lực cũng chẳng mò được ra …Thôi ông dẹp hết công việc đi cứu con Tuyết  không để tụi nó giải về tỉnh là nguy. Tôi đã tìm kế hoãn binh bảo tụi nó chờ đồng chí Bí thư huyện tới kiểm tra đã. Thoạt đầu tụi nó không nghe, cứ nằng nặc đòi giải đi ngay, khỏi cần Bí thư huyện uỷ tới kiểm tra, sau phải giúi cho tụi nó cái phong bì mới yên chuyện. …”
Ong Bí thư huyện uỷ vội rời văn phòng ba chân bốn cẳng bước nhanh xuống  phòng bảo vệ. Gã đội trưởng an ninh nội bộ tỉnh vẫn ngồi ghế kê giữa phòng, miệng phì phèo điếu thuốc, ngồi hai bên là mấy tên mặt mũi bặm trợn , thằng nào thằng nấy mắt trắng dã, môi thâm sì, giương mắt lên nhìn chẳng thèm đứng dậy chào đồng chí Bí thư huyện  uỷ  làm ông giận tím mặt. Ba thằng khỉ đột này láo thật, cậy thế tỉnh uỷ nên chẳng coi ai ra gì , nếu không trấn áp phủ đầu, nhất định tụi nó sẽ gây khó dễ. Nghĩ vậy, ông Bí thư huyện uỷ nghiêm sắc mặt, dằn giọng :
“ Tất cả đứng dậy ra ngoài hết, trừ đồng chí đội trưởng ở lại báo cáo Bì thư huyện uỷ…”
Mấy thằng lính an ninh ngơ ngác nhìn nhau. Gã đội trưởng giật mình nhìn vẻ mặt lầm lầm của ông Bí thư huyện, biết gặp phải thứ dữ nên vội vàng  đổi thái độ , hô to :
“ Thực hiện ý kiến chỉ đạo của đồng chí Bí thư. Tất cả ra ngoài chờ lệnh tôi…”
Mấy thằng khỉ đột líu ríu dắt díu nhau ra khỏi phòng. Ong Bí thư gật đầu hài lòng, lên giọng chỉ đạo gã đội trưởng an ninh :
“ Giờ đồng chí báo cáo đi…tình hình ổn định trật tự vừa rồi ra sao ?”
Gã đội trưởng hấp háy cặp mắt lươn , bực mình vì bị Bí thư huyện át giọng, nhưng sợ quyền uy của Đảng vốn là bản tính cố hữu của mọi loại cán bộ nên gã đành ấp úng :
“ Báo cáo đồng chí Bí thư, nhận được điện của đồng chí Chánh văn phòng huyện uỷ về nghi vấn có khủng bố, được sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí thường vụ thành uỷ kiêm Trưởng ban bảo vệ nội bộ chúng tôi đã xuống ngay hiện trường vừa rà soát bom, mìn, chất nổ vừa khám xét toàn bộ những người có mặt gồm 15 đồng chí uỷ viên thường vụ và một đối tượng không thuộc thành phần dự họp …”
Gã nói tới đây thì dừng lại chờ phản ứng của Bí thư huyện uỷ. Gã chẳng dại gì bộc bạch hết ruột gan ra. Phải chờ coi ý của lão Bí thư này coi sao đã . Phải hết sức cảnh giác không để lão chụp trách nhiệm xuống quấy nhiễu cơ sở, không hoàn thành nhiệm vụ thì nguy. Quả nhiên ông Bí thư huyện vội hỏi :
“ Đồng chí nói phát hiện một đối tượng không thuộc thành phần dự họp ?”
Gã đội trưởng gật đầu :
“ Báo cáo đúng thế. Đối tượng này không nằm trong danh sách Ban thường vụ lại có mặt trong phòng họp đúng vào giờ xảy ra tình trạng lộn xộn…”
“ Vậy đồng chí đã điều tra ra nguyên nhân gây ra lộn xộn chưa ?”
Gã đội trưởng suy nghĩ chút rồi trả lời :
“ Báo cáo chúng tôi đã có kết luận về nguyên nhân sự cố lộn xộn trước buổi họp thường vụ rồi ạ…”
Ong Bí thư huyện uỷ vội vàng :
“ Đồng chí giỏi lắm. Lập chiến công kịp thời.  Huyện uỷ sẽ đề nghị thành uỷ khen thưởng các đồng chí. Vậy nguyên nhân gây lộn xộn là gì ?”
Gã đội trưởng được khen nở nang cả mặt mày :
“ Báo cáo đồng chí Bí thư chuyện  lộn xộn sáng nay là do đối tượng không thuộc thành phần dự họp gây ra …”
Ong Bí thư huyện uỷ giật mình :
“ Đối tượng không thuộc thành phần dự họp gây ra ? Người đó là ai thế ?”
“ Báo cáo đó là một đứa con gái, 21 tuổi, tên là Tòng thị Tuyết, người rất trắng trẻo nên còn gọi là Tuyết trắng ạ …”
Ong Bí thư huyện uỷ kêu lên :
“ Tuyết trắng à ? Nó làm gì mà anh kết luận nó gây ra tình trạng lộn xộn trước cuộc họp thường vụ sáng nay…”
Gã đội trưởng lắc đầu :
“ Thực ra nó không làm gì cả, nó chỉ là nguyên nhân gây nên tình trạng lộn xộn thôi…”
Ong Bí thư tròn mắt :
“ Anh nói vậy là sao ? Nó không làm gì cả sao lại gây nên tình trạng lộn xộn trước cuộc họp được …”
Gã đội trưởng nghiêm trang :
“ Báo đồng chí Bí thư đúng như vậy.  Nguyên nhân tại con bé này nó trắng quá, người ngợm lại mũm mĩm cứ như người mẫu ấy, rồi lại còn ăn mặc hở hang , bốc lửa nữa. Chính vì thế một số đồng chí uỷ viên thường vụ bước vào phòng họp nhìn thấy nó cứ sững cả người , đứng chết trân một chỗ làm tắc nghẽn hàng ngũ không tiến lên được làm những người đi sau tưởng có chuyện gì chen nhau lên xem. Thế là có ai đó tưởng có khủng bố đánh bom cảm tử thế là tranh nhau chạy ra khỏi phòng, cứ loạn cả lên…”
Ong Bí thư huyện  uỷ bật cười :
“ Vậy là tại mấy ông kia chứ đâu phải tại con Tuyết trắng ?”
Gã đội trưởng gật gật :
“ Đúng như thế. Nhưng mấy ông kia đều là Uỷ viên thường vụ huyện uỷ , ai mà dám kết tội được mấy ông. Bởi vậy mới đổ hết tội lên đầu con Tuyết này vậy thôi…”
Ong Bí thư huyện  uỷ lắc đầu :
“ Không được…chủ trương của Đảng ta là mọi người phải sống và làm việc theo pháp luật xã hội chủ nghĩa. Công an và Toà án phải xử đúng người đúng tội, tuyệt đối không được gây oan sai. Đồng chí đổ tội lên đầu con Tuyết là phạm vào chủ trường đường lối của Đảng rồi…”
Gã đội trưởng sợ xanh mặt :
“ Báo cáo đồng chí Bí thư nếu mình không kết tội cho con Tuyết trắng này thì chẳng lẽ lại phải phê bình kiểm điểm  các đồng chí uỷ viên thường vụ vì mải ngắm con bé này gây nên lộn xộn trước họp thường vụ hay sao ?”
Ong Bí thư huyện uỷ lắc đầu :
“ Không được…không được…làm vậy mất hết uy tín của Đảng. Không lẽ đường đường là Uỷ viên thường vụ huyện uỷ mà lại tranh nhau nhìn gái đến nỗi gây mất trật tự cuộc họp sao ?”
Gã đội trưởng nhăn nhó :
“ Kết tội con Tuyết trắng không được mà quy trách nhiệm cho mấy đồng chí thường vụ cũng không xong. Vậy theo đồng  chí phải giải quyết sao giờ ?”
Ong Bí thư huyện uỷ mừng rơn. Vậy là ông là ông đã gài thằng đội trưởng này vào cái thế không thể quy tội cho con Tuyết trắng này được . Như vậy chẳng còn lý do gì để nó bắt con đó về thành uỷ nữa.

                               (còn tiếp)



ĐỖ QUYÊN - Trung-Việt Việt-Trung - Truyện - KỲ 11


                                    (tiếp theo)

Bốn là, anh ơi hết nhiệm kỳ này Trâu xin về hưu non. Bé Nghé Ọ (giờ thành ‘con gái Hàng Quạt’ rồi, nick gaihangquat trên phây, chú Thiết Ngôn vào xem nhận ra cháu không?) vừa trúng cả hai học bổng ở Singapore và Úc. Phúc ba đời nhà em! Bán thơ có ra đô cho con tự túc du học đâu? Mấy lần gọi người tính nhượng cái căn nhà hồi môn bé xíu mẹ để lại, Nghé Ọ chống. ‘Mẹ bán, con lao ngay ra cầu Long Biên trầm mình!’ - ‘Ấy đừng, đừng con! Cho mẹ xin, mẹ hiểu mà… Mẹ đã từng đùa với lửa, nay mẹ sẽ không đùa với bọn teen các con đâu!’ Con nhóc giỏi vặn vẹo, chịu nghiền ngẫm, ham sinh ngữ lại thêm tính lỳ; sẽ theo học ngành lý luận văn chương anh ạ. Thực hiện mộng của mẹ. Đường con cái, xong!
Xong là em sẽ chạy sang chơi sân Văn hội Độc lập Việt. Chắc các bác ấy cũng cho vào thôi? Là chú tiểu quét sân chùa cũng thích. Đâu dám làm sư ông sư bà. Cánh phản biện, phản kháng khó quản lắm. Ai còn lạ? Với nhiều bác dạo còn bên chính thống này, lắm khi em tức ói cả phở, không tranh biện nổi. Quốc gia hưng vong, Mỵ Châu hữu trách. ‘Sau Giàn khoan, người Việt còn có thể làm thơ tình hay không?’ - đó là dự phóng phỏng vấn hàng loạt văn thi sĩ trong tháng tới. Là một văn nghệ sĩ Trung yêu nước, Thiết Ngôn trả lời em đi! Em biết thơ mình cạn rồi. (Tình cạn theo; số anh đen nhỉ?). Cảm ơn giàn khoan đã cho Mỵ Châu làm thêm được chút gì với đời. Thật lòng, Hội em thì vẫn ô kê con gà đen, sống đủ viết đủ. Còn để sống đầy viết đầy, như em đang vương vào ba cái chuyện Trung-Việt Việt- Trung là vướng ngay ‘ông Cơ Văn Chế’. Anh rành quá mà! Thơ văn của chúng em không thể nào thành một nghề; như dịch thuật của anh, như lý luận phê bình của Nguyễn tiên sinh để còn tạo ra thế giới khác cho riêng mình mà vẫn có thể hiến đời. Văn chương là nghiệp, là đạo. Nhất biên đảo, văn thi sĩ không thể có hai gương mặt mà gương mặt nào cũng được coi là gương mặt.

Còn như các bác bên Việt Văn, vì lý do nào đó ta chẳng thèm biết, dứt khoát ứ chịu cho đàn bà hàng Quạt này nhập hội cùng, chưa biết chừng sẽ xuất hiện thêm một diễn đàn mạng, anh ạ.
Vị trí: Lề giữa (nếu tính theo Việt Văn: trang mạng ấy không là lề trái, mà lề trai trái. Chẳng trai trái sao bị cản phá nhiễu nhương tá lả như thấy trong dư luận và trên mặt báo? Nhiều nơi còn không vào được trang mạng này. Chứ mà lề trái thứ thiệt á, toi hẳn củ tỏi rồi!).
Nội dung: Chỉ có văn chương và chỉ có Biển Đông. Ngoại lệ: về lĩnh vực nhân văn có thể thêm lịch sử lúc cần thiết; về phạm vi địa lý còn có cả biên giới lãnh thổ khi thích hợp; và về trào lưu - tất nhiên chủ báo là đàn bà, phải bênh phe đờn bà! - cũng có dòng văn học nữ quyền gắn với cương vực lãnh thổ lãnh hải. (Chứ thân gái cô đơn, mạng Mỵ Châu không thể và không nên như mạng Việt Văn hầm bà lằng xáng cấu 1001 thứ về Việt về văn, lại thêm cả về Trung về triết về vân vân và vân vân).
Tên gọi: Đang chọn giữa ‘Văn Biển Đông’ cho mạnh mẽ, hoặc ‘Biển Đông, văn’ để điệu đà?
Motto: ‘Quốc gia hưng vong, quần thoa hữu trách’.
Phong cách: Đàn bà hơn nhau tiếng gáy. Không nói chàng cũng hay, lâu nay mỗi lần cờ-lích mạng của các nữ sĩ liền chị liền em như Gió Ù / Lê Thi Huê, Màu Da / Đăng Thơ Thơ chăm sóc chính, procontra.vn / Phạm Thi Hoài, Phong Diệp / Phong Diệp… là đàn bà hàng Quạt nóng hết cả mao (không phải lông đâu, nhà ngôn ngữ đôi khi chậm hiểu ạ: mouse! Mà mouse trong tiếng Việt vẫn là con chuột, ngôn ngữ gia lắm lúc thông minh đột xuất cũng đừng biến nó thành beaver/ con hải ly nha. Hi hi…

Anh thấy sao? Chắc chắn dịch giả - ngôn ngữ gia Thiết Ngôn sẽ phải là một cây bút đỉnh cho ‘Văn Biển Đông’ hoặc ‘Biển Đông, văn’. Văn lệnh như sơn! Bằng không, một dấu chấm vĩnh biệt to bằng núi Thái sẽ chính thức và không chậm trễ rơi xuống email này.

À, trước ngày đi Úc du học, Nghé Ọ bị Trâu dẫn dạo mấy vòng quanh Bờ Hồ. (Thời nay dân Hà Thành gốc không còn lệ đó.) Con bé khăng khăng không chịu nuôi giữ nghề gia truyền làm khuôn bánh anh ạ, dẫu là nghề phụ. Lạ thế? Lý do giống hệt em ngày trước: thiếu nữ ‘thanh lịch’ gì mà mồ hôi nhễ nhại, tay đục tay dùi, ghếch chân lên... Cuối cùng, em phải kể cho con nghe câu bà ngoại nó từng mắng mẹ nó: ‘Tiên sư bố nhà cô chứ. Mẹ cô không ghếch chân lên thì sao mà ra cô?’ Hai mẹ con ôm nhau khóc. Không nhớ con nó thế nào, chứ em lúc đó nước mắt đầm đẫm chẳng nhìn thấy Tháp Rùa trước mặt. Lại nhớ mẹ của em! Con thì khỏi lo. Thời nó chắc chắn không còn chịu đựng khổ đau như thời bà thời mẹ của nó đâu, anh nhỉ?

Chia sẻ riêng cùng anh. Có bị rò rỉ ra ngoài chắc các tiền bối cùng bạn văn chẳng nỡ trách. Thời đại của xì trét. Dân văn nghệ, sướng là dù buôn chuyện hay dở với đích văn chương và bằng lòng lành thì văn hữu chẳng ai rỗi hơi kết tội. Nhà thơ Đỗ Khờ năm ngoái trả lời phỏng vấn của Gái Hà Thành rằng đám văn thi sĩ chỉ nên là kẻ mua vui thiên hạ, như anh hề cung đình thuở xưa.”

Không ít đoạn trong những trao đổi trên được viết giữa các cú làm tình động đất cùng cuộc rượu ngất trời giữa Thiết Ngôn và người tình nam lý tưởng Trương Du. Những khi chủ nhân của bàn phím mê mị là thời cơ xọc vào của bàn tay lông lá từ Cục Tình báo Hoa Nam.

3.6

+ “Nỉ hãy thử cho ngộ biết về tác giả và về hai truyện đó; nhất là Truyện 2, Chuyện cái mũi khoan và bom dị bào”?

- “Trước khi là vợ đầu của chồng cũ của em, Đỗ Quyên là cán bộ Hội Phụ nữ; chưa hề cầm bút. Và chị đã từng không giữ chân được anh ấy lâu hơn em là bao. Cùng với một người đàn ông, cả hai chúng em đều không may về đường tình duyên; bù lại được trời thương trong nghiệp viết lách. Em và nhiều bạn viết không ngờ: vốn rất lãng mạn yểu điệu cà tửng cà tưng thế mà Quyên dám bám theo đề tài hết Trung-Việt lại Việt-Trung mạo hiểm dằng dai đau đáu đến vậy. Đã soạn ý, toan phân tích cho anh đôi chút; nhưng hỏi chuyện tác giả xong, em phát sợ. Cái trò phỏng vấn phỏng véo lắm khi báo hại nghề phê bình. Thảo nào sinh thời Nguyễn tiên sinh hay đe, ‘khi chết đi tôi muốn kéo theo vài cậu nhà báo, vài cô ký giả’.

+ “Thật rành mạch, ký giả kiêm phê bình gia Mỵ Châu có thể kể về nỗi sợ đó được chăng?”

- “Được chứ, sẽ nói về 8 cái Sợ theo từng điểm của thi pháp. Chưa bàn đến hay dở, bằng quan niệm của Roland Barthes, Mỵ Châu chưa hề được đọc sáng tác nào tương tự truyện Đỗ Quyên như một tác phẩm, cũng như một văn bản. [Mà sao hôm nay chàng hỏi khô khan thế? Ngọc thể bất an? OK, tiếp tục… Chàng động vào nơi nhạy cảm của cơ thể văn chương này rồi! Em thích…]

Sợ về chủ đề Trung-Việt:
Nuôi cả 10 năm, từ buổi đọc trên mạng ‘tin mật’ về cuộc thảm sát và cưỡng chiếm quân sự 1988 ở đảo Gạc Ma, chị Quyên vẫn cảm thấy chưa đủ sức viết. Đến cuối năm 2007, phía Trung đẻ ra cái gọi là thành phố Tam Sa (tiếng Việt bèn đặt cho tên là thành phố Ba Sàm!) ôm trọn Hoàng Sa và Trường Sa của Đại Việt. Nó đã làm bùng nổ các đợt biểu tình dữ dội của giới thanh niên, sinh viên tại Sài Thành, với dự phần của nhiều văn nghệ sĩ lề trái trong Nam như Nguyễn Viên, Trịnh Cương, Tuấn Kha, Trần Tiến Dung, Thận Nhi, Nynh Bakardi, Phan Bá Thơ, Vương Văn Quảng, Hà Vũ Trịnh… Thế rồi chị Quyên chỉ viết nổi 4-5 trang chưa thành truyện, đành dí tạm vào trường ca. Anh nhớ không, trước khi chính thức và đại trà cao trào văn học nghệ thuật chống xâm lược Biển Đông của năm 2014 này, ngay từ năm 2007 đã bùng phát mạch văn thơ kháng Trung ngoài luồng phi chính thống với ‘những ngôn ngữ chưa từng có trong văn chương Việt, phần nhiều được đăng trên tienve.info và damau.com như một hiện tượng của lịch sử văn học Việt đương đại’. Rồi tới hai năm 2011 2012 nóng nhất là sau vụ cắt cáp tàu Bình Minh ngoài Bắc đâu chịu kém cạnh cũng quất liền tù tì mươi cú biểu tình mỗi chủ nhật khi hoành tráng như voi hổ lúc xẹp lép như con tép đi đầu cùng với các chiến sĩ chống Tàu thực thụ còn có các vị văn nhân chí sĩ Hà Thành Huệ Chi Quang A Phạm Xuân Nguyên Nguyên Ngọc Chu Hảo… Vậy mà chị Quyên cũng chỉ dám phác dàn bài cho ‘rất nhiều truyện dài trong tương lai’. - Chị cười cười bảo em... - ‘May nhờ cái thằng chó HD-981 xông đến bà mới đẻ được thành tấm thành miếng thế này. Mà còn ở dạng hỗn mang văn bản, chưa nên một hình hài tác phẩm; nói theo lão Barthes của ông Nguyễn nhà mày!’ Em hoảng, dập máy liền. Mấy con mẹ văn sĩ sồn sồn lên đồng chữ nghĩa chạm mạch ngứa ghẻ hờn ghen thì thôi rồi…


                                     (còn nữa)

Chủ Nhật, 21 tháng 6, 2015

ĐI VỀ NƠI HOANG DÃ - Tiểu thuyết NHẬT TUẤN - KỲ 6

                 Sáu.

Ngay sáng hôm sau ông toán trưởng đã huýt còi tập họp:
“Đêm qua ai đốt rừng
Thằng học giả xua xua tay sau đít ra hiệu cho tôi lờ đi, nhưng không kịp, tôi đã giơ tay lên:
“Báo cáo, chính tôi”.
“Anh đốt làm gì? Phá hoại tài sản quốc gia hả?”
Thằng học giả nhanh nhảu:
“Báo cáo đồng chí đấy là sáng kiến phục vụ sản xuất đấy ạ. Mai mốt mình đi phóng tuyến đỡ phải phát cây, vừa tăng năng suất vừa tiết kiệm lao động”.
Ông toán trưởng quát lên:
“ Sáng kiến kiểu đó các anh giết tôi. Kiểm lâm họ biết được gô cổ cả lũ”
Tôi cười thầm, ông dọa thế thôi. ông nội thằng kiểm lâm cũng chẳng mò được lên cái đỉnh núi chỉ có vết chân thú này, tôi hiểu cái việc đốt rừng này chả là cái gì, ông bực bội cái khác, giận cá chém thớt vậy thôi. Tất nhiên, với ông, mọi nơi buồn, vui, cáu giận đều xoay quanh chuyện công tác, ngoài cái đó ra, hình như ông chỉ còn mỗi việc ăn và ngủ. Đôi lúc, thằng học giả lại thì thào: “Tao đố mày thủ trưởn g đang nghĩ gì? “ Tôi liếc nhìn ông lúc đó đang ngồi như một con cóc cụ nín rình đớp muỗi, ngay cả tấm bản đồ và cái địa bàn, những vật bất ly thân của ông đang đặt trước mặt, hình như cũng không phải thứ ông quan tâm. Bên trong cái vẻ ngoài băng lạnh kia, có trời biết được đang diễn ra những cảm nghĩ gì.
“Tao nghi lão này bị thiến quá, phải không có cặc mới sống được như lão”. Thằng học giả cứ khăng khăng như thế, nó bảo trên thế giới đã có cả một học thuyết về cái đó, và cứ theo lời nó giảng giải, mọi sự điên rồ của con người ta đều từ đó mà ra cả. Giả dụ như lão toán trưởng, mình ăn miếng ngon lão cấm, thịt phải kho thật mặn, canh bỏ ít mì chính thôi, nửa đêm khó ngủ mò dậy đọc sách lão cấm, tán tỉnh rờ mó đàn bà, lão cũng cấm luôn, cứ sống đúng như lão thì chỉ có quanh năm khoác ba lô, suốt ngày nói chuyện công tác, mẹ kiếp, sống như vậy thì điên nặng quá rồi còn gì. Rồi nó khoe với tôi là vừa mới phát minh một biện pháp giáo dục tinh thần yên tâm công tác rất có hiệu quả mà chưa một thủ trưởng nào nghĩ ra. Tôi không nhịn được cười: “Chính mày mới điên. Mấy ông Ban chỉ huy nghiên cứu có mỗi chuyện đó còn chẳng nghĩ ra huống hồ cái thứ tốt đen như mày”.
Nó đắc chí: “Ấy thế mà có đấy. Tiết lộ riêng với mày thôi nhé. Muốn cánh ta yên tâm công tác, khỏi thắc mắc tiền đồ, hưởng thụ, tốt nhất mấy ông trên cứ cho... thiến béng tất cả đi...”Rồi nó làm một động tác làm tôi sởn gai ốc. “Ấy đấy cứ thế là ai cũng suốt ngày chỉ nghĩ đến nhiệm vụ sản xuất như ông toán trưởng cả thôi”. Tôi nhìn chằm chằm vào mặt nó: “Chính mày mới điên, cái thằng mọt sách kia”. Nó phá ra cười ha hả, cười rũ rượi đến ràn cả nước mắt khiến tôi phải nhòm vào mắt nó: “Mày khóc đấy hả? “ Nó trừng mắt, đạp vào người tôi: “Cút mẹ mày đi”. Tôi quay lưng, không thèm chấp cái thằng thần kinh, sách vở tệ hại thế đấy, cứ đi làm, ăn no ngủ kỹ như tôi, như thằng hộ pháp quanh năm chẳng nhét lấy một hạt chữ vào bụng thì đâu đến nỗi dở người như thế.
Tuy nhiên những lời lẽ điên rồ của thằng học giả không phải là không gây cho tôi một ngờ vực nào đó. Dĩ nhiên ông toán trưởng không thể bị “thiến” được, bằng cớ là ông đã có một vợ ở quê xa lại làm có con với một bà trưởng phòng. Vậy nguyên cớ gì ông sống ép xác như một bộ xương khô thế? Tôi không tin đó là sự hy sinh quên mình vì lý tưởng. Còn một căn nguyên nào đó mờ mịt lắm mà bộ não vốn lười nhác của tôi không quen soi sáng những cái trừu tượng. Thôi kệ ông sống theo cách của ông, còn tôi có kiểu của tôi dẫu rằng tất cả mọi người trong toán thăm dò khảo sát đường này đều luôn được nhắc nhở chung một điều rằng phải thường xuyên sống vì người khác và luôn diệt trừ kẻ thù ở bên trong chính mình: Chủ nghĩa cá nhân trong mỗi chúng ta.
Ngay tối hôm đó, tôi đã biết ông toán trưởng bực mình chuyện gì rồi. Sau khi hí húi mãi với cái máy vô tuyến điện ở trong góc hang, ông lại họp chúng tôi, mặt đầy đau khổ, ông nói:
“Mấy hôm nay các đồng chí đã biết cả rồi, tuyến đường ta đang thăm dò húc phải vách đá rất dầy. Tôi đã điện về ban chỉ huy xin bỏ phương án này, cho thăm dò hướng khác vì vài tuyến vạch trên bản đồ có thể sai, không đúng với thực địa. Tối nay Ban chỉ huy đã điện trả lời: cấp trên đã nghiên cứu rồi, không thể có chuyện sai, chúng ta phải thăm dò cho hết tuyến đường”.
Tôi đá chân thằng hộ pháp cho nó thôi cười nhăn nhở với thằng cấp dưỡng, chú ý nghe ông toán trưởng. Với hai thằng đó, chuyện có vách đá hay không, cấp trên đã vạch đường đúng hay sai chả có gì quan trọng đó là việc mấy ông trên, thực ra, cả tôi cũng thế, cũng mặc kệ các ông như thằng hộ pháp và thằng cấp dưỡng thôi. Lúc bắt đầu thămdò tuyến đường, các ông bảo nó rất quan trọng, nó là con đường huyết mạch để phát triển miền núi tương lai, tôi cũng chấp nhận là nó rất quan trọng, giờ nếu mấy ông bảo thôi bỏ đi, nó chẳng có vai trò gì trong việc nối liền miền xuôi với miền ngược thì tôi cũng rất vui lòng mà đồng ý vậy thôi, “gái góa lo chi chuyện triều đình”. Tuy nhiên lại vẫn chỉ có thằng học giả là hay “rắc rối cuộc đời”, ông toán trưởng nói xong, tôi vừa nhổm dậy định lên võng đánh một giấc thì nó ngăn lại, giơ tay phát biểu:
“Tôi xin hỏi đồng chí toán trưởng, tại sao tuyến thăm dò đã húc vào khu vực vách đá dài như thế mà vẫn bắt anh em làm tiếp một cách mù quáng vậy?”
Ông toán trưởng sa sầm mặt:
“Anh phát biểu vô tổ chức. Anh dám nói cấp trên là mù quáng hả? Anh quên mất phải tin tưởng tuyệt đối ở Ban chỉ huy hả? Anh đứng trên lập trường giai cấp nào dám phát biểu vô tổ chức, vô kỷ luật thế?...”. Ôi thôi, cứ cái đà này ông xổ ra, không khéo thằng học giả bị quy vào tội phản động, thành phần tư sản chui luồn vào giai cấp công nhân để phá hoại. May cho nó, ông toán trưởng bất ngờ lên một cơn ho dữ dội, ông vốn mắc bệnh hen kinh niên, cứ lúc giở giời hoặc hăng lên phát biểu, tiêu phí quá đi phần hơi ông có thể hít vào, lập tức ông lên cơn ôm ngực nấc nấc thật khổ sở. Thằng học giả cũng có vẻ cáu lắm, mặt nó hầm hầm chờ ông toán trưởng vượt qua được cơn hen nó sẽ nổ lại ông chắc không kém gì lúc ông mang ngôn từ ra bắn giết nó. Thôi tôi đành phải dàn hòa, nếu không, cuộc họp kéo dài đến nửa đêm cũng không xong. Tôi nói:
“Đồng chí toán trưởng phát biểu rất đúng, chúng ta phải tuyệt đối tin tưởng cấp trên, thực địa có thể khác với bản thiết kế con đường, nhưng Ban chỉ huy thì không bao giờ sai. Còn ý kiến anh Hiếu (tên cúng cơm của thằng học giả) cũng có cái lý của nó. Anh lo con đường sau này không thi công nổi, như the là rất có tinh thần làm chủ. Tuy nhiên chắc chắn cấp trên đã lo cả rồi, mai mốt ta dùng bom nguyên tử, một vách đá chứ cả mười quả núi đá chúng ta cũng phá tan được hết.”
Thằng hộ pháp sướng quá vỗ tay:
“Hoan hô, nhất trí với cấp trên”.
Thằng học giả cũng phì cười, bao nhiêu tức giận xì ra hết. Riêng ông toán trưởng, tâm tư lúc này dồn hết vào việc cắt cơn hen, hơi sức đâu bới chuyện, cuộc họp thế là vui vẻ giải tán.
Sáng hôm sau, tôi yên chí được nghỉ thêm một ngày nữa vì ông toán trưởng tối qua lên cơn hen thế, bò dậy sao được. Vậy mà không, mới mờ đất tiếng còi của ông đã lại rúc lên, tàn nhẫn đánh vào hy vọng nghỉ ngơi của bọn tôi. Thằng học giả nằm trên võng, thò đầu ra càu nhàu:
“Cái lão này, người lão đúc bằng bêtông cốt sắt hẳn”.
Thằng hộ pháp mới thức giấc cũng lên tiếng:
“Tao đang nằm mơ thấy con vợ thằng xã đội chui vào võng tao, trời đất ơi, tao sắp sửa nhốt “con quỷ sứ” vào “cái địa ngục” thì lão thổi còi phá đám, tiếc ơi là tiếc...”
Tôi phì cười:
“Như thế là may cho mày lắm đó”.
Thằng hộ pháp trợn mắt:.
“May là may làm sao, phá giấc mộng vàng của người ta”.
“Nếu không thổi còi, cứ để hai đứa quần thảo nhau trên võng nhỡ đứt dây dám gãy cổ “con quỷ sứ” của mày lắm”.
Thằng hộ pháp cười hì. hì, nhảy xuống võng, lom khom tìm giầy. Tội nghiệp nó, năng lượng thừa chẳng biết đổ đi đâu đến nỗi ngay nghỉ trưa ngoài rừng nó cũng chẳng nghỉ, hì hụp một mình khiêng đá lăn xuống vực cho đất lở ầm ầm để vỗ tay cười. Tính nết nó hồn nhiên và trẻ con nhử thế. Có lần tôi nghe thằng học giả mắng nó: “Sao lúc nào tao cũng thấy mày nhăn răng ra cười thế. Sống như tù thế này, mày thích lắm hả? “. Thằng hộ pháp không những không tự ái mà còn hềnh hệch cái miệng: “Nạc quan là niều thuốc bổ nghe chửa? Nhăn nhó đăm chiêu như mày có ngày chết sớm”. Có lẽ bởi thế nó khỏe như một con trâu rừng chăng? Một nhà tạc tượng bắt gặp nó tắm truồng ngoài suối hẳn là phải ngẩn người thán phục và thèm thuồng cái cân đối, rắn chắc trong những cơ bắp của nó.
Còn thằng học giả cứ trầm trồ:
“Tiếc quá, tao tiếc cái thân hình lực sĩ của thằng hộ pháp quá. Bọn đạo diễn điện ảnh nhìn thấy nó là vồ ngay. Ấy thế mà cứ cái kiểu làm việc “mặt trời không lặn” này chỉ vài ba năm nữa là nó thân tàn ma dại. Tao mà có cái thân hình như nó, tao chia tay ông toán trưởng liền”. Tôi hỏi: “Mày sẽ làm gì? “ Nó phì cười: “Làm thằng đĩ đực chuyên hầu hạ các phu nhân của các ông lớn quanh năm sách cặp đi nước ngoài”. Tôi bảo nó phải từ bỏ ngay cái cách nghĩ xấu về mấy ông to đó đi họ toàn là những người được trui rèn trong đấu tranh. Nó cười sằng sặc chửi tôi quanh năm rúc rừng không biết thế nào là cuộc đời “đen như cứt chó”, rồi nó lại vỗ vai tôi gật gù: “Cũng được, thôi cũng được, mày cứ ngu thế này, cứ sống nơi hoang dã thế này đỡ phải nhìn thấy mặt trái cuộc đời có khi lại hay cơ đấy” Tôi đoán thằng họe giả phải có nỗi đau nào ghê gớm lắm nên thỉnh thoảng cứ nổi cơn dở hơi như thế. Chao ôi, cái “xã hội” của tôi nơi hoang dã này chỉ có bốn thằng đực rựa và một ông lão hết hơi mà cũng phức tạp, rắc rối đến thế, thử hỏi xuống thành phố người đông như kiến cỏ, chen vai thích cánh nhau thì còn loạn xạ đến đâu. Thôi, thà vất vả cực nhọc nhưng được sống với nắng rừng gió núi như thế này lại chả hơn ư? Tôi sung sướng hít một hơi khí mát lạnh căng đầy lồng ngực rồi thở ra thành tiếng hú dài. Những vách đá trắng im lìm như những bức tường thành khổng lồ vọng lại: “oa... oa... oa...” làm tôi càng hứng chí.
“Mày phát rồ đấy hả?”
Thằng học giả quát lên rồi bỗng nó trợn mắt nhìn thằng hộ pháp lễ mễ vác tới một tảng đá:.
“Kìa lại thêm một thằng phát điên”.
Thằng hộ pháp không trả lời, hì hục đẩy tảng đá tới mép vực “Một, hai... ba này...” nó bám chặt vào sợi dây leo lòng thòng, gồng cứng người lại rồi dùng cả hai chân đạp cho tảng đá lăn ầm ầm xuống dưới khe sâu

                             (còn nữa)

.PHỤ LỤC :

Little Saigon Radio Giới thiệu Đi về nơi hoang dã của nhà văn Nhật Tuấn...

 Vũ Kiểm và Thụy Trinh xin trân trọng kính chào quý thính giả...


Trước hết, như đã trình bày tuần trước, chiều ngày Thứ Bảy mùng 7 này sẽ có một cuộc gặp gỡ giữa những người yêu sách tại Hội quán Little Saigon Radio. Dưới sự bảo trợ của các nhật báo Người Việt, Việt Báo và Viễn Đông, cùng tạp chí Thế Kỷ 21, Công ty truyền thông Kícon.com, đài phát thanh VNCR, đài truyền hình Little Saigon Television, Little Saigon Radio và một số thân hữu, một buổi ra mắt sách rất đặc biệt sẽ được tổ chức vào lúc ba giờ chiều ngày Thứ Bảy tại Hội quán Little Saigon Radio, số 15781 Brookhurst, thị xã Westminster.
Xin mời quý thính giả tham dự đông đảo, để nghe nói chuyện về một tác phẩm độc đáo, là cuốn Đi về nơi hoang dã của nhà văn Nhật Tuấn. Được viết từ hơn 10 năm trước, cuốn truyện vừa được tái bản lần thứ tư ở hải ngoại, nhưng ở trong nước, suốt 10 năm qua, nó bị chôn vùi dưới sự im lặng nặng nề và lúng túng của nhà cầm quyền. Vì sao như vậy, có lẽ hai nhà văn Nguyễn Mộng Giác và Hoàng Khởi Phong có thể trình bày cho chúng ta trong buổi gặp gỡ cuối tuần này. Trong chương trình hôm nay, chúng tôi cũng sẽ có bài giới thiệu tác phẩm  Đi về nơi hoang dã của Nhật Tuấn:
Ánh mặt trời trong cõi hoang dã của Nhật Tuấn
Từ quá lâu rồi, những sáng tác văn học ở trong nước đều thuộc loại mà nhà phê bình Hoàng Ngọc Hiến gọi là “văn chương phải đạo”, với đề tài phải thích hợp với một số tiêu chuẩn chính trị. Tùy theo tình hình chính trị và cả nhu cầu bang giao của chế độ, tiêu chuẩn đó có thể thay đổi, nhưng sự canh chừng kiểm soát thì bất di bất dịch. Sau thời “đổi mới”, và nhất là từ khi cựu Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh ra lệnh “cởi trói” văn nghệ sĩ, thì một loạt sáng tác có giá trị đã ra đời. Đó là những năm 1990-1991. Mùa Xuân đó không kéo dài, nhưng cũng đủ gieo thêm sóng gió cho văn học.
Từ bên ngoài này, chúng ta vui mừng nghĩ tới một sự hồi sinh của văn học trong nước. Cũng từ ngoài, một số người lạc quan gọi trào lưu sáng tác đó là “văn chương phản kháng”, và lập tức gặp sự nghi ngờ của những người bi quan. Thành phần bi quan này cho rằng những sáng tác đó, như Những Thiên Đường Mù của Dương Thu Hương, Ly Thân của Trần Mạnh Hảo, Nỗi Buồn Chiến Tranh của Bảo Ninh chẳng hạn, là loại văn chương “đối lập cuội”, phản kháng giả. Nhờ khoảng cách địa dư, chúng ta nhiều khi đòi các tác phẩm đó phải chống cộng dứt khoát triệt để hơn. Và trong khi ở quê nhà, việc “cởi trói” văn nghệ bị lặng lẽ kết thúc thì ở bên ngoài, chúng ta lại thấy nảy sinh một phản ứng cũng nghiệt ngã không kém.
Đó là đòi hỏi các nhà văn trong nước phải cầm bút như kẻ giác đấu, để đánh những đòn chí tử vào đảng và nhà nước Cộng sản. Chưa được vậy, thì tác phẩm cứ bị coi là vô giá trị, dù nhiều người cũng chưa hề đọc. Chẳng những tác phẩm đã vô giá trị mà người viết còn đáng bị nghi ngờ là thi hành một âm mưu giao lưu văn hóa nào đó có lợi cho chế độ cộng sản. Ở cái cõi nhân gian mà sự đa nghi được dựng thành chân lý, và ai cũng có thể là phán quan thẩm định giá trị tác phẩm nghệ thuật theo tiêu chuẩn chính trị của mình, thì còn có chỗ nào cho văn chương và nghệ thuật?
Cuốn Đi về nơi hoang dã của Nhật Tuấn đã rơi vào hoàn cảnh đó. Bên trong chẳng dung, bên ngoài chẳng chịu, tác phẩm bị cả hai bên cho trôi vào quên lãng. Nhưng, may thay, chúng ta vẫn còn có những người yêu chuộng văn chương tìm cách tái bản tác phẩm này. Vừa rồi, nhà Xuất bản Huyền Trân tại California đã tái bản cuốn sách và mười năm sau những thịnh nộ ồn ào của cái thời vừa cởi đã cột, và bị cột rồi còn bị đánh, ta có thể bình thản đọc lại tác phẩm này...
Trước hết, để trấn an những người quá lo lắng cho nhu cầu chính trị, xin nói ngay là lâu nay, chúng ta ít có cuốn sách nào thuộc loại chống Cộng sâu sắc và triệt để đến như vậy. Nhiều người cho rằng nó còn dữ dội hơn Những Thiên Đường Mù của Dương Thu Hương, dữ dội như một lò lửa lạnh, vì nó thiêu đốt tất cả mà không gây tiếng nổ. Một số người đánh giá Đi về nơi hoang dã của Nhật Tuấn cũng sâu độc như Chuyện kể về năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn. Nếu cần, chúng ta có thể trích dẫn phản ứng của viên Cục trưởng Cục An ninh Văn hóa thời đó của Hà Nội, rằng “Nếu phải đánh thì đánh cuốn Đi về nơi hoang dã của Nhật Tuấn, chứ không phải Những Thiên Đường Mù của Dương Thu Hương, hay Ly Thân của Trần Mạnh Hảo...”
Quả vậy, cuốn truyện vỏn vẹn có 280 trang đã minh họa với nghệ thuật biểu tượng cao những nét bi hài nhất của xã hội chủ nghĩa nước ta. Bi nhiều hơn hài, vì sự giả tạo của cái dự kiến xây dựng chủ nghĩa xã hội như một cuộc hành trình vào vô định, mà người lãnh đạo nghiêm túc tiến hành, chăm chỉ và đầy nhiệt tình theo kiểu đốt sạch rặng Trường Sơn cũng cam. Và hài ở phản ứng rất người của các diễn viên trong bi kịch. Họ phản ứng như những con người phàm tục, trước một công trình vĩ đại như vậy. Phàm tục nhất chính là của người toán trưởng, vị chủ tịch kính mến của một cộng đồng rách rưới…
Như một truyện Tây du ký của cõi âm, năm nhân vật trong truyện có thể là điển hình của những căn tính rất người. Họ là ông Toán trưởng, người có được sự giao cảm với Thiên mệnh, là một Ban chỉ huy mơ hồ nào đó, qua cái máy vô tuyến điện đầy quyền uy trong rừng già. Họ là một anh Học giả, trí trá trong sự uyên bác nửa mùa và cũng chỉ ôm ấp một giấc mơ tầm thường, để sau này thành một toán trưởng tầm thường. Họ là một gã thẳng người to thớ, sống với bản năng, là tên Hộ pháp, có thể trở thành kẻ đào ngũ rồi cũng lại trở về với anh em vì bản năng của mình. Họ là một anh cán bộ đời sống, tên Cấp dưỡng có đầy phản ứng thực dụng như một con kiến. Sau cùng, trong đám rước điên cuồng này, có nhân vật xưng là Tôi, tiêu biểu cho con người tiểu tư sản, sáng suốt, tỉnh táo nhưng cũng đành chấp nhận luật chơi và nhìn vào quần thể còn lại như nhà nghiên cứu nhìn vào những con vi trùng qua kính hiển vi. Họ được giao phó nhiệm vụ phá rừng xẻ núi để đi tới một thiên đường mờ mịt nào đó, gọi là đỉnh Hua Ca. Và dù có đâm vào vách núi đến tóe máu, họ vẫn đi, phải đục núi mà đi, vì Ban chỉ huy chẳng thể nào lầm được… Bên kia vách núi, chắc chắn phải có cái ngày mai tươi sáng đó. Cả tác phẩm, ngoại trừ một chữ “đồng chí”, ta tuyệt nhiên không thấy một ám chỉ nào về chủ nghĩa cộng sản hay chủ nghĩa xã hội. Nhưng, chẳng ai có thể lầm được…
Tuy nhiên, nếu chỉ đọc tác phẩm ở khía cạnh đó, để yên tâm là mình đang có trong tay một sáng tác chống cộng sâu sắc, có lẽ bạn đọc sẽ bị thiệt thòi rất nhiều. Chúng ta nên tự giải thoát khỏi hai thái cực, hoặc là đọc loại văn chương phải đạo, khô như ngói và thô như vải đay, hoặc đọc vào loại văn chương đả đảo, trong đó mọi giá trị hay thần tượng cộng sản phải được di xuống đất đen. Chúng ta cũng nên tránh phản ứng của một thứ trọng tài độc đoán, khi nhìn vào đấu trường chỉ biết xem ai đánh đảng quyết liệt hơn ai. Nên trả cho nhà văn cái quyền được sáng tác theo sở nguyện.
Nếu đọc lại Đi về nơi hoang dã của Nhật Tuấn trong tinh thần đó, độc giả sẽ khám phá ra một tác phẩm văn chương có giá trị hơn là những châm biếm cay độc dành cho một chế độ đáng ghét. Vì trong cuộc hành trình vào vô vọng, ngần ấy nhân vật đều có những biến thái về tâm tính. Họ không bị đóng khung trong nhiệm vụ bôi bác chế độ. Họ có thể yếm trá đấu trí với nhau trong một môi trường mà sự tồn tại là quy luật căn bản, nhưng họ cũng đấu tranh với chính bản thân, để tìm lại cái hồn người trong một trò chơi của quỷ. Và chính là những xoay chuyển, nhiều khi đột ngột, đôi khi ngây thơ và thường là rất thương tâm, đã khiến họ không tới được cái đỉnh Hua Ca kinh tởm kia, mà trở lại cõi thế rất người. Một điểm đặc sắc của tác phẩm là các nhân vật nữ. Trong cả câu chuyện của năm kẻ đi phá núi xẻ rừng, như một vở kịch đen, tác phẩm không có một nhân vật nữ nào. Nhưng, ẩn hiện trong suốt vở kịch, vẫn là hình ảnh của đàn bà.
An phận nuôi đứa con hoang là bà trưởng phòng, người tình chốc lát của ông toán trưởng, trước khi ông thủ diễn vai lãnh tụ tìm đường cứu nước. Nồng nàn mà nông nổi là vợ thằng xã đội, người đã làm thằng Hộ pháp đào ngũ rồi lại trở về. Ngây thơ mà tính toán như em bé búp bê của thằng Học giả, người làm giấc mơ sự nghiệp của hắn trở thành ác mộng của thủ đoạn. Thánh thiện và đẹp nhất vẫn là hình ảnh của nàng Sao, một thiếu nữ gốc thiểu số, với sự chân chất và thủy chung của người miền núi. Nàng lóng lánh tựa viên kim cương trong cõi u tì trầm luân đó. Nhật Tuấn không viết nhiều, mà chỉ vài câu cũng làm nổi rõ tâm lý của họ. Như cái chốt bật của định mệnh, những nhân vật nữ đó ngự trị ở từng trang sách, và thành nguồn cứu rỗi cho cái nhân loại xoay trở nơi chốn lầm than kia. Điểm đáng chú ý khác của tác phẩm, là hình như tác giả đã sống rất thực trong thế giới xẻ núi lấp sông trên mạn ngược, nên những đoạn mô tả chặng đường chông gai trong rừng già u tối hay núi non khốc liệt, đã có giá trị như một bức tranh hiện thực buồn thảm.
Sẽ phải có một ngày nào đó, mà văn chương nước nhà cần được giải phóng khỏi những sứ mệnh lập thuyết, những hình thái luận đề về cái lẽ đúng sai, để trở thành tác phẩm diễn tả trung thực những phấn đấu của con người trong môi trường nghiệt ngã nhất, hầu bảo toàn được nhân tính của mình. Loại văn chương đó có thể nói tới những cái rất riêng, thí dụ như sự tăm tối của một xã hội Á Châu lầm than trong quyền sinh sát của một đảng phù thủy nhược tiểu, nhưng cũng lại nêu lên những vấn đề rất chung của nhân loại, những vấn đề muôn thuở ở mọi thời mọi nơi.
Cuốn truyện Đi về nơi hoang dã dường như đã mở cho chúng ta cái hy vọng đó. Và nên được đón nhận như một tác phẩm văn chương có thể tồn tại rất lâu mà chẳng cần xác định giá trị nhờ nội dung phản kháng. Điểm đặc biệt nhất, sẽ ám ảnh chúng ta trong suốt chiều sâu của tác phẩm, là phong cách viết của tác giả. Ông có thể là một người phóng đãng, cực kỳ cynic, cực kỳ đểu cáng trong cách cười khẩy vào thảm kịch của mình, nhưng ông không tuyệt vọng về bản chất con người. Cho nên, trong cõi hoang dã của ông, chúng ta vẫn thấy lấp lánh ánh sáng mặt trời.
Vì vậy, tác phẩm không để lại dư vị đắng chát cho người đọc, mà vẫn hứa hẹn một buổi bình minh khác, chắc chắn không phải là trên đỉnh Hua Ca.


 

.

Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2015

PHẠM THẮNG VŨ - Con sóng dữ - KỲ 74



                                       (tiếp theo)

Ngồi một lát, tôi hỏi anh Khảm về mối thân thiết với cụ Hoàng, ông Tiến sĩ và ông cựu Xã trưởng ở quán cà phê bác sĩ Luân trong cái đêm đó thì anh Khảm kể cụ Hoàng là bác họ của một bạn tù chung với anh trong thời gian ở trại cải tạo và qua thư giới thiệu của anh bạn đó bên Mỹ gửi vào trại, anh mới biết ông cụ. Anh bảo:

- Không vợ không con, sống đời độc thân từ lâu rồi khi đến đây lại tiếp tục cu ky một mình trong căn nhà nhỏ ở đầu Zone 1, nơi khu vực Galang 1 nối với Galang 2. Theo anh nghĩ, ông cụ này dính líu vào một tổ chức phục quốc nào đó bên quê nhà và hình tích chắc đã lộ nên phải xuống ghe vượt biên. Em thấy, một người già yếu mà dự một chuyến đi nguy hiểm thì phải có điều gì đó không ổn trong đời sống khiến ông cụ phải đi gấp. Tôi gật đầu đồng ý với anh Khảm và hỏi: " Sao anh không thử hỏi ông cụ cho biết rõ ".

- Hỏi thử cụ? Anh Hoàng trả lời tôi rồi lắc đầu và tiếp: " Bình thường ông cụ rất kín tiếng, chỉ khi nào có cái hứng thú như buổi tối hôm ấy thì mới góp chuyện thôi ".

- Còn ông cựu Xã trưởng xã An Nhơn Tây Gò Vấp và ông Tiến Sĩ gì gì đó? Tôi hỏi tiếp thì anh Khảm nói: " Ông cựu Xã trưởng từng có lúc ở chung trong trại tù cải tạo với anh. Ông này, em nghe giọng nói cũng biết là dân Bắc di cư 54. Chính ra thì ông bị đám Việt Cộng miền Nam thủ tiêu ngay sau ngày chúng chiếm được Sài Gòn, nhưng may mà thoát được "

- Ủa! Chứ không phải ông ta ra trình diện rồi bị Cộng Sản tập trung cải tạo sao anh?

- Không! Ông kể ngay những ngày đầu khi bọn Cộng Sản vào Sài Gòn thì đã gọi ông đến công sở xã trình diện và để chỉ dẫn cho chúng cách điều hành hành chánh tại địa phương. Lẽ ra việc chỉ dẫn này chỉ gói gọn trong 3 ngày là xong và ông có thể về nhà làm người dân thường như lời của đám cán bộ Cộng Sản đã nói với ông. Nghe vậy, ông ta đã chỉ dẫn tận tình cho các cán bộ Việt Cộng miền Nam mới từ rừng ra học cách thức điều hành hành chánh của xã đó nhưng sau cả gần một tuần lễ thì mấy gã vẫn ù ù cạc cạc chẳng xong việc nên chúng bảo ông phải tiếp tục. Tự nhiên, một buổi trưa về nhà ăn cơm thì trong lòng ông bồn chồn lo lắng như bị lửa đốt. Đoán sắp có chuyện xảy đến cho bản thân, ông ta nói cho vợ biết thì bà này sai thằng con trai chạy xe đến nhà mấy ông bạn cũng là xã trưởng xã phó của các xã khác trong vùng Hốc Môn-Gia Định để hỏi thăm tin tức. Thằng bé đi rồi khi về thì nó kể người nhà của những gia đình đó cho biết các đồng sự của ông ta đã bị bắt sau khi chỉ dẫn xong công việc cho đám cán bộ Cộng Sản. Biết chuyện chẳng lành, ông ta liền bỏ trốn lên tuốt trên vùng Dốc Mơ-Gia Kiệm và làm rẫy chung với bà con ruột thịt. Dù vậy, chỉ được gần hai năm thì bị công an tại địa phương phát giác. Chúng đã bắt ông ta và gửi đi tù cải tạo rồi sau này gặp anh trong cùng một trại.

- Ông ta không chờ trình diện như các người khác, lại phải trốn... mà em thấy trốn cũng đâu thoát. Tôi hỏi.

- Vụ trình diện chỉ công khai ở những tuần lễ sau đó. Còn giai đoạn ông kể thì nếu ông không bỏ trốn thì đã bị đám Việt Cộng miền Nam thủ tiêu như các người khác rồi.

- Sao ông cựu Xã trưởng lại biết mấy ông kia bị thủ tiêu?

Anh Khảm không trả lời ngay mà ngồi nhìn tôi trong một khoảng khắc rồi mới tiếp: " Thời bây giờ bớt sắt máu rồi chứ vào năm đó thì đám Việt Cộng miền Nam thù hận các viên chức hành chánh cấp xã ấp của chính quyền miền Nam VNCH lắm. Tại sao vậy? Có thể vì họ là dân địa phương nên rành rẽ về các hoạt động của đám Việt Cộng trong vùng. Tên tuổi, nhà ở đâu, con cái của ai... họ biết hết. Và, các viên chức hành chánh thường là những người có uy tín với dân chúng. Người có uy tín nhưng không cùng phe với Cộng Sản thì sớm muộn gì chúng cũng tìm cách ám hại, cho đi buôn muối có ngày. Chiếm được miền Nam thì đây cơ hội để chúng trả cái thù cũ, ông cựu Xã trưởng biết số phận đang chờ mình và cái linh tính của người từng đối mặt với bọn nằm vùng nên ông phải bỏ trốn ngay. Bị bắt sau gần hai năm nhưng khi đó bọn Việt Cộng miền Nam đã bị đám Cộng Sản Bắc Việt cho ra rìa hết cả rồi nên ông ta mới thoát chết và chỉ bị tù cải tạo. Tới giờ này, nhiều gia đình các viên chức hành chánh xã-ấp thuộc chính quyền miền Nam VNCH trong vùng Hốc Môn-Gia Định vẫn chưa biết được chỗ thân nhân họ bị thủ tiêu năm xưa để tìm đến lấy cốt về cải táng ".

- Trời ơi! Còn ông Tiến Sĩ thì sao hả anh? Tôi chắt lưỡi và hỏi tiếp anh Khảm.

- Ông đó thì anh không rõ chuyện... Chỉ một hai lần gặp ông ta ở nhà cụ Hoàng và vào buổi tối hôm đó ở quán bác sĩ Luân. Hôm nào em có rảnh thì đi với anh đến thăm cụ Hoàng chơi cho biết chỗ.

Nghe anh Khảm nói, Yến buột miệng xin nếu có đi thì cho nàng đi theo. Yến xin đi theo vì tính hiếu kỳ khi nghe tôi kể về những điều cụ Hoàng nói. Tôi thì mong có dịp gặp lại cụ Hoàng để nghe được các chuyện lạ. Anh Khảm dường như đoán được ý định của Yến muốn nhân có dịp gặp mặt thì sẽ nhờ cụ Hoàng đoán số, xem tử vi... nên dặn:

- Có muốn đi theo thì cứ đi cho biết... nhưng mà đến đó rồi thì đừng có nhờ ông cụ đoán số hay tử vi tử viếc gì. Buột miệng hỏi mấy vụ này thì ông cụ sẽ chối phắt, nói không biết đâu. Nếu may gặp lúc ông cụ có cái hứng, mình mới có thể.

Nói vậy nhưng anh Khảm lại bận bịu chuyện dạy học còn tôi thì đi làm thiện nguyện hàng ngày cũng hết thời gian nên vẫn chưa có dịp đến được nhà cụ Hoàng. Tháng Tư trôi qua cùng với việc chờ đợi Cao Ủy xổ tiếp thanh lọc mà không thấy rồi tháng Năm đến chung với các nguồn tin chính phủ nước Anh cử viên chức ngoại giao sang Hoa Kỳ để tìm sự đồng thuận về chuyện cưỡng bức hồi hương thuyền nhân nhưng vẫn không thành. " Chỉ có Mỹ mới cứu bọn mình được thôi ", thuyền nhân trong trại bảo nhau và ai cũng mong như vậy, nhưng cách thức chính phủ Mỹ làm thế nào với thuyền nhân thì chẳng ai đoán được.

Gần cuối tháng Năm trên báo Làng Văn, Văn Nghệ Tiền Phong gửi vào trại có đăng tin về lời tuyên bố của một viên chức cao cấp của Phủ Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc đặc trách vùng Đông Nam Á về thuyền nhân đã làm bực tức cả trại. Viên chức đó tên Alexander Casella. Ông ta nói: " Kế hoạch cưỡng bức hồi hương sẽ giúp giảm bớt làn sóng tị nạn của thuyền nhân Việt Nam. Khi có các vụ cưỡng bức hồi hương diễn ra, người Việt Nam trong nước sẽ hiểu rõ vấn đề và không còn vượt biên nữa ". Người trong trại bàn nhau khi tuyên bố như vậy, ông Casella này đã lộ rõ sự vô trách nhiệm và chẳng chút nhân đạo nào của viên chức một cơ quan mang danh bảo vệ người tị nạn. Không chỉ có thuyền nhân ở trại tị nạn Galang bất bình về lời nói của ông Casella, báo chí bên Hồng Kông cũng cho rằng nếu chủ trương của ông Casella là đường lối của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc thì cơ quan này nên thay tên thành Phủ Cao Ủy Bức Chế người Tị Nạn. Cơ quan này nên vận động tài trợ từ các nước độc tài hoặc Cộng Sản, hơn là dùng tiền của thế giới tự do để điều hành công tác trái với chủ trương cơ bản của mình.

Dù có các biến động ở các trại tị nạn từ Thái Lan, Hồng Kông, Malaysia đến Phi Luật Tân... nhưng chính quyền Nam Dương vẫn không tỏ lộ một thái độ gì để có thể làm thuyền nhân trong trại Galang hoang mang. Họ thường đi sau các hành động của các nước khác, thuyền nhân trong trại cũng biết điều đó. Hầu như tuần lễ nào vẫn có thêm các ghe vượt biên từ Malaysia, từ Việt Nam đổ người vào trại và phòng An ninh P3V thì cho tin là sẽ có thêm một toán luật sư ngoại quốc từ Hoa Kỳ, Anh Quốc, Singapore, Ấn Độ... đến để tiếp sức phỏng vấn thuyền nhân ở Galang.

Một thông báo của phòng Thông tin ban Đại diện trại đã làm thuyền nhân xôn xao, đó là phòng Nhân quyền trực thuộc Cao Ủy yêu cầu ai từng bị bạo hành trên đường vượt biên thì phải báo cáo sự việc cho họ biết. Bạo hành! Phòng Nhân quyền giải thích là thuyền nhân đã bị cưỡng hiếp do hải tặc hay do viên chức, binh lính thậm chí dân cư địa phương khi ghe họ phải ghé vào. Ghe vượt biên rủi gặp hải tặc thì ít khi nào chúng cưỡng hiếp đàn bà-con gái xong rồi bỏ đi sau khi vơ vét hết vàng bạc mà thông thường, chúng bắt vài cô hoặc tất cả phái nữ như trường hợp của chuyến tôi đã đi trong lần trước. Có khi chúng còn lái tàu chạy thật xa lấy đà rồi quay lại húc cho bể tan tành chiếc ghe, giết sạch người vượt biên bất kể già-trẻ để xóa sạch các tang chứng.


                                     (còn nữa)

SỐNG NHƯ LÀ CHẾT - Tiểu thuyết NHẬT TUẤN - KỲ 16

                         ( tiếp theo) 



                         Chương 16

Cả đêm hôm đó, cả tiểu đội xúm vào đào huyệt. Mộ thằng đó chẳng ở đâu xa, tại ngay chỗ nó ngồi tự bắn vào đầu. Đèn nhang không có, chỉ chiếc đèn pin che sáng còn một lỗ bằng hạt đậu. Kỷ luật chiến trường rất nghiêm. Có thằng dùng đèn pin viết thư cho vợ bị "con đầm già"  L19 phát hiện nã đại liên vào nơi ém quân , bị gọi về tiểu đoàn lãnh kỷ luật.
Gã dùng chiếc đèn pin hạt đậu lia lia trên mặt xác chết.Vẻ đau đớn hoảng loạn lúc mới chết đã biến đâu, lúc này nom nó thanh thản và bất cần đời. " Bố mày thoát  rồi. Chúng mày ở lại còn là khốn nạn với cuộc đời chó đểu này…" Vẻ mặt của nó dường như muốn nói thế. Nó cũng như những thằng trong tiểu đội, sau lúc cái lạnh ghê người  của thần chết tạt ngang  người, mở mắt ra là sờ ngay vào vai, vào mặt, vào cánh tay…thấy vẫn ổn, mới biết chắc  mình chưa chết, lằn đạn  chỉ xẹt ngang, lúc đó thằng nào thằng nấy nghĩ ngay đến mẹ, đến vợ, và nếu có phép mầu nào đó đưa chúng nó quay về thì ngay lập tức chào biệt "cuộc chiến đấu thần thánh"chống Mỹ cứu nước""hằng ngày chính trị viên vẫn nhồi nhét vào đầu.
Nhưng phép mầu ấy không bao giờ có, tất cả vẫn bị đẩy đi trên chuyến  tàu định mệnh để rồi hoặc chết trong một quả bom tọa độ, hoặc tan xác trong B52 rải thảm, hoặc ngã xuống dưới lằn đạn của đối phương. Tự chết theo kiểu thằng này là độc đắc. Chắc không có trường hợp thứ hai.
Gần sáng mới liệm xong. Vì nó chết trong tư thế ngồi nên không tài nào ruỗi thẳng hết người, đành liệm bằng ba cái võng bó lại trong tư thế lúc chết. Cái lỗ huyệt phải đào rộng ra mới thả được nó xuống. Gã xúc xẻng đất đổ xuống, thằng tiểu đội trưởng vội ngăn lại :
" Khoan đã…khoan đã…chưa chôn được.."
" Sao chưa chôn ? Mày còn định bấm giờ hả ?"
Thằng tiểu đội trưởng lắc đầu :
" Phải chờ thằng quân lực trên tiểu đoàn  …"
" Rách việc…chết thì cứ chôn …còn chôn được không mất xác là may..chờ làm đ…gì ? Mà quân lực xuống làm gì ? "
" Chắc nó xuống truy điệu đọc điếu văn…"
Gã bật cười :
" Có giết được thằng Mỹ nào mà đòi truy điệu…"
Nói vậy nhưng vẫn cứ phải chờ. Mãi gần trưa thằng quân lực mới dẫn xác tới. Một thằng béo tốt, trắng trẻo miệng phì phèo điếu thuốc. Cả tiểu đội sán lại vây quanh nó. Thằng nào thằng nấy mắt trợn ngược nhìn lom lom vào điếu thuốc trên tay thằng quân lực làm nó  hoảng quá dụi ngay đút túi. Một thằng lên tiếng :
" Rút bao thuốc trong túi ra cho anh em coi cái !"
Thằng quân lực tái mặt :
" Làm gì có…còn mỗi điếu này thôi…"
Bốn thằng vây quanh áp sát thằng quân lực. Nó kêu to :
" Tụi mày tính ăn cướp hả ?"
Không thằng nào trả lời. Một thằng thọc tay vào túi thằng quân lực rút ra bao thuốc :
" Còn nguyên bao mà dám bảo còn mỗi điếu…"
Gã cười rinh rích :
" Thuốc Trường Sơn hút liền nguyên gói …rượu Hồng Đào nốc cạn cả chai..". Đồng chí trên tiểu đoàn bộ sướng quá mà, nhượng lại anh em gói thuốc cho thắm tình quân ngũ đi…"
Gói thuốc lập tức bị xé ra, mỗi thằng phì phèo một điếu.  Thằng tiểu đội trưởng phải dàn hòa :
" Đồng chí thông cảm…anh em dưới  này đói thuốc lâu quá rồi…"
Thằng quân lực tím mặt không biết nói sao đành ra lệnh :
" Cả tiểu đội tập trung…nghi lễ bắt đầu…"
Tất cả đứng vây quanh huyệt mộ. Nhìn xuống vẫn thấy gói xác bọc bằng võng bạt nằm lù lù. Gã thắc mắc :
" Không có hương hoa, quốc kỳ gì cả à ?"
Thằng quân lực cau mặt ra hiệu cho tiểu đội trưởng , thằng này hô :
" Nghiêm…phút mặc niệm bắt đầu…"
Lập tức không chờ mặc niệm, thằng quân lực rút túi ra tờ giấy dõng dạc đọc :
" Ngày…tháng…năm..Đảng ủy đơn vị nhận thấy :  họ tên…tuổi…đơn vị…nguyên quán đã có hành động tiêu cực, trốn tránh nghĩa vụ người đảng viên cộng sản, trách nhiệm của người  chiến sĩ quân đọi nhân dân Việt Nam, nay quyết định khai trừ ra khỏi đảng anh…"
Cơn giận bốc lên ngùn ngụt, hóa ra không phải diễn văn truy điệu mà quyết định khai  trừ đảng đọc trước lúc hạ huyệt…Khốn nạn, bất nhân đến thế là cùng. Gã gào lên :
" Câm ngay…câm ngay…mang cái quyết định khốn nạn này về họp chi bộ mà đọc…lúc này tao cấm mày không được đọc…Mày đọc thêm một chữ tao giết mày "
Nói rồi gã bật khóc, khuỵu hai chân xuống bên huyệt mộ. Thằng quân lực đứng ngây đơ, im thít không dám đọc tiếp. Thằng tiểu đội trưởng cầm xẻng xúc đất dổ ào ào xuống huyệt. Không ai bảo ai tất cả cùng làm theo nó. Chẳng mấy chốc ngôi mộ đã đầy lên. Thằng quân lực mặt tái xanh tái tử, im thít , nhét ngay tờ giấy vào túi :
" Chúng mày…chúng mày muốn làm loạn hả …tao sẽ báo cáo đưa hết tụi mày ra tòa án binh …"
Một thằng to con nhảy tới thộp ngực áo nó  :
" Không ai chấp nhận đọc quyết định khai trừ đảng rồi mới cho chôn. Mày cứ về báo cáo thằng bố mày đi. Thằng nào ký cái quyết định này là thằng khốn nạn, bất nhân, vô lương tâm. Đảng đéo gì chết rồi vẫn không tha. Mày cứ về mách đi. Nhưng mà nhớ tụi tao có làm sao nhất định sẽ có thằng cho mày ăn đất. Thôi…biến !"
Nó len lén xách túi lủi nhanh. Thằng tiểu đội trưởng lo lắng :
" Thế nào nó cũng báo cáo. Tụi mày chuẩn bị tinh thần ra Tòa án binh…"
Gã chửi :
" ĐM…tội đâu tao chịu hết. Cứ đổ riệt cho tao, không liên quan tới thằng nào cả…"
Ba ngày sau, tiểu đội nhận lệnh chuyển vào tuyến trong. Không thấy nhắc nhở gì đến vụ thằng quân lực bị cấm không cho đọc quyết định khai trừ đảng.Một là nó sợ không dám báo cáo, hai là cấp trên cũng muốn giấu chuyện này, lộ ra chỉ xấu  mặt đảng chứ chẳng đẹp đẽ gì khi đối với đồng chí đã chết quá là bất nhân,vô lương tâm.
Hôm sau, trước khi ròi đi, gã ngồi bên mộ mới.
Thôi mày ở lại, tao đi. Trời đất này đéo biết đời đi về đâu, có thể tao theo mày sớm, có thể sống  sót tới ngày hòa bình. Chắc mày không được báo tử về xã đâu, cũng không được phong liệt sĩ. Thôi cần đéo gì ba cái thứ đó. Tao sẽ về tận nhà mày, gặp bố mày, vợ mày, con mày. Tao sẽ đưa cái ba lô của mày cho họ và tất nhiên giấu nhẹm chuyện mày tự tử, chỉ kể mày đã hy sinh anh dũng trong khi lọt vào ổ phục kích và chẳng để lại dấu tích  gì. Đúng, tao sẽ làm thế và chắc mày sẽ đồng ý chứ ? Lúc ấy cuộc chiến tranh khốn nạn này đã qua đi rồi. Thôi đừng để cái xác thối của nó hành hạ những người còn sống nữa. Mày đồng ý với tao chứ ?
Vừa lúc đo có tiếng trực thăng phành phạch trên đầu, rồi có tiếng nữ eo éo qua loa :
" Các chiến binh cộng sản chú ý…chú ý… đây là đài "mẹ hiền" phát thanh  từ  Sàigòn, thủ đô nước Việt Nam Cộng Hòa …mời các chiến binh đón nghe buổi phát thanh "sinh Bắc tử Nam…".
Hai tiếng "tử Nam" tạo thành tiếng vọng rền rĩ cứ lặp đi lặp lại.
 A..không nhá…bố mày còn lâu mới chết nhá…mà có chết cũng đéo liên quan gì tới chúng mày nhá …
Chiếc trực thằng cứ vòng vòng trên đầu, tiếng loa cứ dội xuống dai dẳng như bò đái. Cái trò tâm lý chiến này xem ra chẳng tác dụng gì. Nếu có thằng nào "bê quay" , chắc chẳng phải do tác động  của mấy con "thiên nga" này. Nó có những nguyên nhân người ngoài cuộc chẳng ai hiểu nổi. Như cái thằng nằm dưới mộ này đây.
Gã chợt nổi nóng giương AK lên nã một tràng vu vơ… chiếc trực thăng đã khuất sau rặng cây xa xa..
                           
(còn nữa)
20-6-2015