Tổng số lượt xem trang

Thứ Hai, 23 tháng 3, 2015

NHẬT TIẾN : Chuyện bé Phượng - Tiểu thuyết - KỲ 17






                        (tiếp theo)
Hai đứa còn đang giằng co thì một gã đàn ông đã nhớn nhác chạy lại. Gã kêu lên mừng rỡ:
          - Cúc!
          Cúc quay ngoắt lại. Nó nhận ngay ra kẻ đang đi tới, nên vội vàng rỉ tai Phượng:
          - Chuồn ra xa ! Tao với mày không quen nhau.
          Phượng bị nó đẩy khuất vào một hàng hiên. Gã đàn ông chạy tới nhăn nhở:
          - Mày khá lắm Cúc ạ. Sắp thành “mõi” chuyên nghiệp rồi. Đâu?
          Cúc vỗ vào bụng mình. Không chờ nó, gã ta luồn tay vào trong vạt áo của nó moi ra cái ví, Cúc nhẩy lên:
          - Chia đôi đấy nhé!
          Gã đàn ông đáp lại bằng một cái nhìn dữ tợn. Gã mở ngăn đựng tiền vơ vét rồi liệng cái ví vào một gốc cây. Cúc lải nhải:
          - Chia đôi! Chia đôi!...
          Gã rút cho nó một tờ giấy trăm rồi ấn đầu con bé đẩy đi. Cúc hét lên:
          - Ăn hiếp vừa vừa chứ. Công của người ta...
          Nhưng gã đàn ông đã đá thêm cho nó một cái rồi biến mất vào bóng tối. Cúc nhìn theo và nhoẻn một nụ cười. Nó trở lại tìm Phượng, khoái chí nói: “Bây giờ trả lại tao đây”.
          Phượng moi trả nó tập giấy bạc. Cúc nhét vội vào cạp quần rồi nói:
          - Số mày đỏ. Rích kê thế này mày muốn ăn gì tao cũng cho.
          Phượng lắc đầu:
          - Tao không đói. Tao không muốn ăn gì cả. Tao không chơi với mày nữa.
          Cúc lăn ra cười. Rồi không đáp, nó lôi tuột Phượng vào một cửa hàng bán hoa quả. Nó nói liến láu:
          - Cho hai quả táo, hai quả lê, hai quả xoài với lại một lạng nho thứ rụng rồi.
          Mụ bán hàng quắc mắt lên:
          - Có tiền không đã?
          Cúc rút ngay ra xấp giấy bạc giơ lên rồi nhìn mụ bằng một cái nhìn hỗn xược. Với tất cả sự ngạc nhiên mà Phượng không bao giờ ngờ tới, Phượng thấy mụ ta túm lấy tay con Cúc và la lớn:
          - Ăn cắp! Ối các ông các bà ôi! Ăn cắp!
          Con Cúc vùng lên. Nhưng nó đã bị ghì cứng bởi hai bàn tay chắc nịch. Nó la lên: “Đồ ăn hiếp! Đồ ăn hiếp!”
          Trong khi ấy mọi người đổ xô đến. Mụ đàn bà phân bua:
          - Các ông, các bà coi. Tôi vừa mới quay đi, thoắt một cái nó đã nhót một xấp bạc này lên rồi.
          - Đồ ăn gian, đồ nói dối. Quỷ sứ vặn lưỡi bà ra. Tiền này của tôi có. Hỏi con bé này xem.
          Lưỡi Phượng líu lại, nó chưa biết đáp làm sao thì một người đã nói:
          - Ừ của mày, vậy mày nói xem mày có bao nhiêu?
          Con Cúc cứng họng không biết trả lời làm sao cả. Nó chỉ la lối om xòm:
          - Đồ ăn hiếp, đồ ăn cướp cơm chim!
          Một người nóng mắt tát cho nó một cái làm nó chúi đi. Con bé cất mồm chửi loạn xạ. Một người khác nói “Đem giao nó cho cảnh sát!...” Nhưng mụ bán hàng đã nhìn ra chung quanh với cặp mắt biết ơn rồi nói:
          - Thôi, tôi xin các ông các bà. Hãy tha cho nó làm phúc. Tôi cũng chưa mất gì !
          Con bé bị đá thêm một cái nữa bắn ra ngoài vỉa hè. Nó vội ôm đít vùng lên chạy…
                                                          *
          Phượng vẫn còn bàng hoàng như một người mê chưa tỉnh. Bài học ngoài phố như một ngọn roi quất vào những ý  nghĩ phẳng lặng và chất phác của nó. Nó cho rằng chưa bao giờ nó có thể tưởng tượng được một sự gì ghê gớm hơn thế. Tự nhiên, nó không thấy ghét con Cúc nữa. Nó cho rằng sự khổ nhục hằng ngày mà Cúc phải chịu đựng làm cho nó trở nên một đứa đáng thương hơn. Nó dừng lại ở một chỗ ven hồ và suy nghĩ mãi về Cúc. Bỗng Cúc lại hiện ra đằng sau nó. Phượng kêu lên vui mừng, mừng hơn cả lúc hai đứa gặp nhau. Cúc nói:
          - Tao sẽ quẳng bom vào cửa hàng con mẹ khốn nạn ấy.
          Phượng giật nẩy mình:
          - Chết chửa! Đừng! Tao lậy mày đừng làm thế.
          Cúc phá lên cười:
          - Giời ơi là giời! Mày dễ tin thật. Tao đào đâu ra bom mà ném.
          Phượng mỉm cười:
          - Ừ nhỉ, thế mà tao không nghĩ ra.
          - Nhưng nếu có bom thì tao cũng dám ném thật. Ném cho nó chết nát xương ra để xuống âm ti quỉ sứ rút lưỡi cái đồ ăn gian nói dối.
          Một lát Phượng hỏi:
          - Chúng mình đi đâu bây giờ?
          - Đi đâu mà chẳng được. À tao quên chưa hỏi. Tại làm sao mày lang thang ở ngoài phố?
          Phượng đáp:
          - Tao được nghỉ phép đi chơi đến ngày mai. Người ta mời tao đến nhà ăn réveillon. Nhưng tao không chịu được. Tao trốn!
          - Tại làm sao mày không chịu được?
          - Tại tao không thích.
          - Chắc là nó cho mày ăn cơm thừa, nhai xương chó phải không?
          Phượng đỏ mặt:
          - Không phải! Trái lại là đằng khác. Họ cho tao mặc áo đẹp, cho đồ chơi, cho bánh và uống trà nữa.
          Cúc hỏi ngay:
          - Đâu! Áo và đồ chơi đâu?
          - Thì tao đã bảo tao trốn ra mà. Tao không thích, tao trả lại hết.
          Cúc nhăn mặt:
          - Đồ sĩ diện hão. Thật là phí của. Tao thì tao không dại như mày.
          Phượng định nói:
          - Tao khác, mày khác.
          Nhưng nó lại thôi. Nó cảm thấy yêu và thương Cúc hơn là mười lăm phút về trước. Cũng vì thế, nó thân mến khoác tay mình lên tay Cúc và đi sát vào bên cạnh bạn. Bây giờ đến lượt Cúc hỏi:
          - Đi đâu bây giờ?
          Phượng nói:
          - Hay là trở về trong Viện?
          Cúc nhăn mặt:
          - Thèm vào. Về để mà lại phải ngắm mấy bà nhăn như khỉ đỏ đít ấy à. Đi chơi ở ngoài này sướng hơn.
          - Rồi đêm nay mình ngủ ở đâu?
          Cúc chỉ ra chung quanh:
          - Thiếu gì hàng hiên của các cửa hiệu. Mày không biết chứ, ngủ ngoài hè còn sướng bằng mấy là chui rúc vào trong cái ổ chuột của lũ chúng mày.
          Hai đứa vô tình đi trở lại phía sân nhà thờ. Trời càng khuya, người ta càng đứng đông nghẹt. Cúc kéo Phượng ngồi xuống một bệ đá. Nó nói: “ Ngồi đây nghỉ một lát”
          Phượng không đáp, ngẩng đầu lên nhìn cái tháp chuông in trên nền trời lạnh và lấp lánh những vì sao. Những giải cờ xen lẫn với những bóng đèn nối từ ngọn tháp xuống mặt đất soi sáng rực cả một vùng rộng rãi. Cúc nói:
          - Đêm Nô-en vui ghê. Nhưng mà tao đói. Mày có đói không?
          Phượng ngập ngừng nói:
          - Tao cũng thấy hơi đói.
          Cúc chép miệng:
          - Hoài của. Nếu con mẹ ấy không ăn hiếp thì tao với mày bây giờ cũng đã được ngồi chén mì xào rồi. Mày ăn mì xào bao giờ chưa?
          Phượng bỡ ngỡ:
          - Chưa.
          - Mì xào ngon tuyệt! Nhưng phải ăn ở hiệu lão Tầu béo dưới bến phà cơ. Nước mỡ của lão rưới lên những sợi mì vàng óng thì phải biết. Chỉ cần nom thấy cũng đã rỏ rãi ra rồi.
          Nói xong con bé nuốt ừng ực như thể đang nuốt những sợi mì qua cổ họng. Một lát nó lên tiếng:
          - Ăn mì xong rồi đi ăn chè ở sau Sở Máy điện thì sướng bằng lên thiên đàng!
          - Đừng có nói láo.
          Cúc toe toét:
          - Thật đấy. Tao không biết thiên đàng nhà mày có gì khoái không, chứ ăn chè ở đấy thì không chê vào đâu được. Lần nào tao cũng phải làm hai bát, mỗi bát hai đồng.
          Bỗng Cúc vụt đứng dậy. Thân hình nó vẹo hẳn đi. Hai chân nó khuỵu xuống. Dáng đi của nó đúng hệt dáng đi của một người què. Nó tiến theo một bà to béo vừa lướt qua mặt hai đứa. Rồi nó cất giọng lè nhè:
          - Lậy bà, con ăn mày bà đồng cơm bát cháo.
          Phượng trố mắt ra nhìn. Nó nom thấy bà kia đứng lại, mở ví trao cho Cúc một đồng bạc. Cúc khệnh khạng vài ba bước nữa rồi đứng vụt lên, chạy về chỗ cũ. Nó nói:
          - Mày chờ ở đây một lát. Chỉ mười lăm phút nữa là có đủ tiền ăn cả mì lẫn chè.
          Phượng níu tay nó lại, sợ hãi: “Đừng, đừng. Ăn mày xấu hổ lắm.”
          Con Cúc nhè ngay lưỡi vào sát mũi nó rồi nói:
          - Xấu cái cục…c…Bộ mày tưởng trên thế gian này có một mình tao ăn mày thôi chắc.
          - Nhưng từ thuở bé đến giờ tao chưa quen một đứa nào đi ăn mày cả.
          - Thôi đi cô! Thế bọn mồ côi nhà các cô không phải đi xin người ta thì dễ cơm nó ở trên giời rơi xuống đó chắc.
          Thấy Phượng sịu ngay mặt lại và nước mắt long lanh, con Cúc dịu giọng:
          - Tao lậy mày, mày cho tao ăn mày mười lăm phút thôi. Mười lăm phút nữa tha hồ vung vinh, không đứa nào phải đói cả.
          Phượng không trả lời, ôm mặt thút thít khóc. Con Cúc kéo ngay tay nó tiến ra chặn đường một vị linh mục đang bước lên thềm đá:
          - Giê su ma, con lậy Cha, Cha thương kẻ khó làm phúc. Chị em chúng con nhịn đói từ mấy ngày hôm nay.
          Vị linh mục đứng dừng ngay lại chăm chú nhìn vào hai đứa. Chợt miệng ông ta há hốc ra nhìn con Phượng. Ông ta đã nhận ra con bé xinh xắn có giọng hát hay như chim hót vẫn thường tới hát với ban đồng ca bên nhà thờ. Ông ta kêu lên sững sờ: “ Phượng!...”
          Phượng hốt hoảng giằng tay con Cúc ra và vùng lên chạy. Cúc đẩy mạnh ông Cha sang một bên rồi đuổi theo sau. Nó hét lên:
          - Phượng! Phượng!
          Nhưng tiếng kêu của nó bị át đi bởi tiếng chuông nhà thờ đang bắt đầu ngân nga đổ hồi. Giờ phút linh thiêng nhất đã điểm. Giờ phút Chúa ra đời.


                                                           22






                       

Chủ Nhật, 22 tháng 3, 2015

GẶP CỤ GIÀ HÀNỘI



- Thưa cụ…cụ là dân "o la gin" HàNội"…
- Hànội gốc, ba đời Hànội. Thủa bé "trèo me" trèo sấu, nhặt quả bàng, leo lên cây cơm nguội, bắt ve quanh Hồ hoàn Kiếm bỏ vào màn ngủ sáng ra lột xác thành ve sầu kim kêu đinh tai, đã có lần tớ câu được cả baba ở đền Ngọc Sơn nữa  đấy…
- Thế còn cây Hànội ?
- Hồi năm 1953, gánh Chuông Vàng Thủ đô có diễn tích "Chàng Samson và nàng Đa lệ lan" kể về mái tóc chàng Samson, bao nhiêu sức mạnh siêu nhiên của chàng đều nằm ở đó, sau bị nàng Đa Lệ Làn lừa cắt mất trong lúc ngủ, thế là chàng Sam son mất hết sức mạnh bị kẻ thù tiêu diệt…
- Cụ kể tích này với ý gì ạ ?
- Cây Hànội cũng giống mái tóc chàng Samson đó, triệt hạ nó đi Hànội sẽ mất đi hồn cốt, mất đi sức mạnh,mất đi " lắng hồn núi sông ngàn năm", mất đi Thăng Long, Đông Đô, Hà Nội..
- Cây Hànội quan trọng thế sao người ta triệt hạ nó ?
- Cốt lõi là văn hóa. Những người ký quyết định này chắc chắn không phải người Hànội, họ chỉ là dân nhập cư từ Thanh Hóa, Bắc Ninh hay đâu đó. Họ không có hồn cốt của người Hànội, tuổi thơ của họ không bắt ve, trèo me, trèo sâu, họ hoàn toàn không hiểu được những gì ẩn chứa đằng sau một cây cơm nguội, một cây phượng vĩ sân trường, một cây bàng lá đỏ. Cây là người đấy anh ạ. Cây đứng đấy ghi nhận và chứng kiến hết mọi đổi thay của Hànội qua bao năm tháng thăng trầm.Bởi vậy họ không thể biết triệt hạ cây Hànội là đánh vào kỷ niệm, đánh vào lòng tự hào, đánh vào tình  thương nhớ Hànội của cả triệu người Hànội trên cả nước và trên khắp thế giới…"
- Thưa cụ ngoài văn hóa lùn ra còn nguyên nhân nào nữa ?
- Tiền….chắc chắn là tiền…ngày nay nếu có tiền chắc chắn nó sẵn sàng đào mả bố nó lên nói gì đến cây Hànội.
- Qua vụ này cụ thấy gì ạ ?
- Con người trong hệ thống chính trị này.Khi thắng thế thì vênh vang :" chặt cây không cần hỏi dân", khi vào thế bí thì chối đây đẩy, đẩy trách nhiệm cho cấp dưới. Còn sĩ phu Bắc Hà thì im thin thít. Nào Hội nhà văn VN , Hội Nhà văn Hànội, nào Hội lịch sử, Hội cây cảnh, Hội bảo vệ môi trường…chẳng anh nào dám lên tiếng phản đối. Tóm lại là ..hèn!
- Cụ còn thấy gì nữa ạ ?
- B52 đánh Hànội cũng chẳng động chạm gì tới cây Hànội. Ấy thế mà chỉ trong vài ngày, 2000 cây đã bị triệt hạ. Thật không có gì bêu xấu Đảng  cho bằng triệt hạ cây Hànội. Mà theo tôi vụ này thiệt hại nhất là hai anh đứng đầu đảng và chính quyền. Đại hội sắp tới rồi mà lùm sùm vậy khó mà vào nhà đỏ, nhất là khối anh dịp này thừa gió bẻ măng. Khổ vậy đó, tất cả tại lòng tham. Cụ Nguyễn Du nói rồi "máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê". Họ mê cả rồi, họ dám làm cả những việc cấm kỵ. phạm cả vào tổ tiên, phạm cả vào hồn thiêng dân tộc.. Thật đáng lo thay.
- Cảm ơn cụ


23-3-2015

NT





Thứ Bảy, 21 tháng 3, 2015

BÁC BA PHI ĐI THĂM MỸ - KỲ 153




                                   (tiếp theo)


Kể cũng lạ, mới gặp chiều qua mà lúc chia tay đã thấy bịn rịn. Bà chủ nhà đưa bác Ba Phi ra tận xe dặn dò :
“ Chắc là bác chưa về Việt Nam đâu. Sớm cũng phải hai tuần nữa. Vậy bác cố quay lại ăn với vợ chồng tôi bữa cơm chia tay kẻo bác về Việt Nam biết bao giờ mới gặp lại …”
Bác Ba Phi ngập ngừng :
“ Tôi về ngày nào là phụ thuộc vào cô Ut nhà tôi, nên cũng không thể hứa trước được. Có điều nếu có thời  gian thế nào tôi cũng quay lại thăm anh chị…”
Chiếc xe hơi ra khỏi khu nhà, bác Ba Phi ngoái lại vẫn thấy bà chủ nhà nhìn theo. Bác thở dài :
“ Bà xã ông có vẻ giàu tình cảm quá ha !”
Ong chủ nhà cười cười :
“ Bà nhà tôi vẫn vậy. Cứ có khách đến chơi một, hai hôm, lúc khách đi thế nào bà ấy cũng thẫn thờ mất cả buổi…”
Bác Ba Phi cảm động :
“ Tôi về gặp cô Ut rồi trước khi về Việt Nam tôi cố thu xếp thăm ông bà lần nữa…”
Ong chủ nhà reo lên :
“ Vậy thì còn gì bằng nữa. Ở bên này mọi người sống hơi biệt lập, kể cũng buồn, có khách đến là nhà vui như tết…”
Chiếc xe chạy qua siêu thị, bác Ba Phi vội vàng :
“ Ong cho tôi xuống đây, thế nào tôi cũng tìm ra đường về nhà cô Út…”
Ong chủ nhà can :
“ Bác đừng xuống đây, bác cứ chỉ đường cho tôi đưa bác về tận nhà , đi bộ mỏi chân…”
Bác Ba Phi lắc đầu :
“ Khong sao đâu, đi bộ dễ tìm đường hơn, ngồi trên xe ngộ nhỡ lầm đường phải quay tới quay lui thì rắc rối lắm. Ong cứ cho tôi xuống đây là tốt lắm rồi…”
Ong chủ nhà đành dừng xe cho bác Ba Phi xuống. Ong ấn vào tay bác cái danh thiếp :
“ Đây là số điện thoại, địa chỉ của tôi, chừng nào rảnh, bác cứ điện thoại tôi sẽ tới đón bác đi chơi…”
Bác Ba Phi cảm động :
“Cảm ơn ông…tôi sẽ quay lại thăm ông…”
Chiếc xe chạy đi rồi, bác Ba Phi còn xách cái túi đựng mẻ, gia vị, chân giò … đứng nhìn theo. Vợ chồng nhà này thật tốt và tình cảm thật. Cái đó cũng là do vẫn nặng lòng với quê hương đấy thôi. Hèn chi nghe nói ở bên Mỹ này nhiều ông bà già Việt kiều vào những năm cuối đời cứ thích về Việt Nam để…chết. Hồi còn ở quê, bác Ba Phi nghe nhiều người nói mấy ông bà già Việt kiều cứ thích về quê chết chẳng qua là cho nó…rẻ, chứ làm hậu sự ở Mỹ tốn kém lăm, hết cả mấy chục ngàn đô la lận. Sang đây bác mới biết không phải vậy, cái chính là người Việt Nam thường gắn bó sâu nặng với quê hương đất nước. Dù cho có đi khắp bốn bể phương trời, lòng người Việt vẫn đau đáu hướng về nơi chôn nhau cắt rốn. Trong các cộng đồng dân tộc sống trên đất Mỹ, chắc có người Việt Nam là luôn suy nghĩ, luôn có những hành động liên quan tới đất nước nơi mình sinh ra nhất.  Nào biểu tình chống Việt cộng, chống Trung cộng, nào hàng năm tết nhất lại ùn ùn kéo về…thật hiếm có dân tộc nào đã đi ra nước  ngoài định cư rồi còn hướng về quê cha đất tổ như người Việt Nam.
Bác Ba Phi đang ngơ ngác tìm đường về chợt trong chỗ đậu  xe có người chạy ra vẫy bác rối rít. Quái, ai lại nói tiếng Mỹ vậy nhỉ ? Khi người đó lại gần, bác Ba Phi mới trố mắt ra . Ồ tưởng ai, hoá ra thằng Tommy con rể bác. Lâu nay  Tômmy  đi làm suốt ngày, lại ngôn ngữ bất đồng,tối về cơm xong lại rúc vô buồng riêng, nên bố vợ con rể chẳng có dịp trò chuyện được mấy. Hôm nay nó gặp bác mừng cuống cả lên, xì xồ một hồi câu gì chẳng biết. Chắc nó trách bố vợ bỏ đi đâu mất tiêu làm vợ chồng nó lo sốt vó hẳn thôi. Nghĩ vậy rồi vừa ra hiệu bằng tay, bác ba Phi vừa nói bằng miệng :
“ Đi chơi…đi chơi…không lo…không lo…có người  đưa về…”
Tưởng chàng rể Mỹ sẽ ngẩn ra không hiểu gì, không ngờ chàng Tommy gật lia liạ, miệng xì xồ gì đó rồi lôi tay bác Ba Phi về chỗ đậu xe. Chắc nó  bảo mình theo nó đi về hẳn thôi. Nhưng sao hôm nay nó không đi làm nhỉ ? Mọi ngày vào giờ buổi sáng này nó đã đang ở Sở ? Bác Ba Phi lại dùng cả hai tay để chỉ trỏ, miệng hỏi rối rít :
“ Đi làm…đi làm…không đi làm ?”
Bác không biết nó làm cái việc gì , khi ở nhà chỉ thấy nó ngồi trước bàn vi tính, nên bác dùng 10 đầu ngón tay gõ gõ vào không khí theo kiểu đánh máy rồi lại lấy bàn tay xua xua để ra hiệu “mày không đi làm à ?”. Làm vậy mà Tommy nó hiểu mới hay chớ ? Nó ra hiệu  hôm nay nó được nghỉ nên đánh xe đưa vợ  nó đi chợ. Hoá ra cô Ut đang ở trong siêu thị , bác Ba Phi lại dùng cả hai tay ra hiệu để hỏi. Tưởng nó ù ù cạc cạc ngờ đâu nó hiểu mới lạ chớ . Nó ra hiệu đúng cô Ut đang mua đồ trong siêu thị và bác Ba Phi cứ chờ ở đây rồi cả ba người cũng về. Bác Ba Phi lại ra hiệu hỏi thằng con cô Ut đâu ? Tommy lại trả lời bằng ra hiệu là nó đi học rồi. Trời đất, hoá ra dù bất đồng ngôn ngữ nhưng người ta vẫn có thể trò chuyện được với nhau  chỉ bằng ra hiệu bằng hai tay thôi.
 Bác Ba Phi nhớ lại có lần coi tivi thấy một ông Thượng nghĩ sĩ đang phát biểu, đằng sau ông có một cô cứ dùng hai tay ra hiệu gì đó. Hỏi cô Ut hoá ra đó là người phiên dịch theo ngôn ngữ riêng dành cho người điếc. Lúc đó bác ngạc nhiên đến mức khó tin, ông Thượng nghị sĩ kia đang nói chuyện trên trời dưới biển làm sao mà phiên dịch sang “ra hiệu” bằng tay  được nhỉ . Hôm nay “giao tiếp” được với Tommy chỉ bằng ra hiệu thôi, bác mới thấy chuyện cô phiên dịch bằng tay kia là có thật.
Bác Ba Phi và chàng Tommy còn đang nói chuyện bằng ra hiệu với nhau cô Út  đã đẩy xe hàng từ trong siêu thị bước ra. Nhìn thấy bác Ba Phi cô mừng rỡ :
“Oh My God…tía đi đâu mà đi cả đêm làm mọi người  lo lắng quá. Con định sáng nay tía không về chắc phải gọi điện cho 911 để họ đi tìm…”
Bác ba Phi hoảng hồn :
“ Ay chớ... ấy chớ…việc gì mà phải gọi điện 911 cho rắc rối ra. Rồi nó tính chi phí vài ngàn đô có mà chết  ? Tía tìm được ông bạn rồi về nhà ổng chơi chứ có đi đâu xa đâu ?”
Cô Ut cười  cười :
“ Con chịu tía thật…đi đâu cũng có người tiếp rước, đi đâu cũng có người  xin làm quen. Thật chẳng bù cho con…quanh năm  suốt tháng chẳng quen thêm người bạn mới nào ?”
Nói rồi cô quay sang nói một tràng tiếng Mỹ với chàng Tommy. Hai người nói chuyện với nhau oeo oeo như tiếng mèo kêu làm bác Ba Phi ù cả tai, chẳng hiểu nó nói gì. Chợt thấy thèm thuốc, bác Ba Phi đi ra phía góc sân châm thuốc hút. Cô Ut dứt chuyện với chồng nhìn ra không thấy bác Ba Phi đâu, nhớn nhác nhìn quanh cũng chẳng thấy, cô hoảng hồn tưởng bố lại trốn đi chơi nữa. Cô chạy cuống lên đi tìm thì hoá ra bác Ba Phi đang ngồi vắt chân phì phèo điếu thuốc. Cô Ut chạy tới hổn hển trách :
“ Oh My God…tía đi ra đây mà không bảo con, cứ tưởng tía lại trốn đi chơi nữa. Hết cả hồn…”
Bác Ba Phi cười cười :
“ Thèm thuốc quá nên ra đây ngồi hút chứ còn đi đâu ? Giờ các vàng cũng chẳng đi nữa…”
Cô Ut bật cười :
“ Không dám đâu ạ…cứ thả ra tía lại không đi một chuyến nữa cho coi…”



                                      (còn tiếp)

PHẠM THẮNG VŨ - Con sóng dữ - KỲ 55



                                   (tiếp theo)


Một sáng Chủ Nhật, nhóm chúng tôi làm một chuyến pinic đi tắm biển Galang theo lời hẹn với anh chị Khảm-Phượng. Đây là lần đi tắm biển đầu tiên của nhóm chúng tôi. Thấy Đỉnh loay hoay bên các món ăn-thức uống mang theo, tôi hỏi thì nó cho biết vì có thêm cả Ánh Diễm đi cùng. Gặp nhau ngay trước quán cà phê Dạ Lý của bác sĩ Luân, nhóm chúng tôi cùng anh chị Khảm-Phượng đi qua kho trữ dầu hôi của Cao Ủy rồi men theo con đường đất đỏ quanh co bên các hàng cây rừng xanh rậm cùng bờ đất đồi thoai thoải chạy dài gần cả cây số thì mới ra được bãi biển. Đây rồi, làn nước xanh dương bên bờ cát trắng quen thuộc như mọi bãi biển đang trải dài trước mắt chúng tôi. Một làn gió mát từ hướng biển thổi vào làm cả đám chúng tôi khoan khoái vì thấy nỗi mệt phải cuốc bộ đoạn đường khá dài đã tan mất hẳn. Dọc theo bờ cát trắng, dưới các tán lá rộng của các bụi cây ven đường đã có từng nhóm người khác trong trại xí chỗ từ lúc nào rồi nên nhóm chúng tôi đành phải đi tiếp vào sâu hơn để mong tìm được nơi nghỉ chân. Ở đảo tị nạn Galang vì phòng an ninh P3V cho phép thuyền nhân đi tắm biển chỉ nội trong ngày Chủ Nhật nên vào ngày này, lúc nào bãi biển cũng đông người. Tiếng í ới gọi giúp nhau căng các tấm bạt che nắng gần các bụi cây cùng tiếng đệm đàn Guitar vang vang từ một nhóm trẻ nam nữ đang đùa cười nắc nẻ với nhau trong một lùm mát. Vài trẻ nít chạy tới chạy lui chơi trò cút bắt hoặc khoe cho nhau xem những con còng nhỏ xíu mà chúng vừa bắt được. Gió biển thổi mát lạnh nhưng ánh nắng đã bắt đầu chói chang làm cả nhóm chúng tôi rảo nhanh chân kiếm chỗ nhưng vì đi trễ nên khó tìm được một nơi ngon lành. " Mình đành phải đi sâu vào phía trong thôi ", anh Khảm bảo.

Như hình ảnh thường thấy ở các đảo hoang, bãi biển Galang thật đẹp vì nó vẫn còn nguyên những cảnh của thiên nhiên. Nước biển xanh lơ cùng bãi cát trắng phẳng chạy thật xa mới đến mép nước y như bãi biển ở Long Hải gần Vũng Tàu. Sát bờ là các bụi cây nhỏ như Ô rô, Cóc kèn hoặc các cây nhơ nhỡ như Mù u, Đước, Trâm biển... Trên bờ, cạnh bên đường đi là các bụi cây thấp mọc nối nhau từng vạt tiếp giáp liền với rừng rậm. Đi mãi đến khúc bờ thưa người thì cả nhóm mới chọn được một chỗ vừa ý ở dưới bóng hai bụi cây Mù u thấp để làm nơi nghỉ chân. Trải tấm nylon khá rộng trên nền cát, đám chúng tôi ngồi nghỉ ngơi, dõi mắt nhìn chung quanh. Người người kéo nhau xuống tắm xa xa nơi mép nước của biển đang cơn triều cường. Tôi, Đỉnh và anh Khảm lấy các tấm võng nhựa căng dưới những cành thấp của bụi cây trong lúc chị Phượng kéo cả bọn Yến, Đào, Bẩy cùng Ánh Diễm vào trong rừng để thay quần áo tắm. 3 người nam giới chúng tôi chỉ trần xì với một quần short và tuy chưa xuống nước mà đã cảm thấy lạnh. Có lẽ vì chúng tôi ngồi trong bóng cây mát lại có gió biển. Anh Khảm cũng rùng mình nhưng khích lệ nói là cứ xuống nước tắm một lát thì sẽ thấy ấm thấy quen ngay. 

Khi các cô gái trong nhóm từ rừng ra tới nơi thì anh Khảm bảo cả bọn ai muốn tắm thì tắm nhưng nên để một người ở lại trông chừng đồ đạc và sẽ ăn uống chung một lượt cho tiện vào lúc trời trưa. Nhìn chung quanh, không hiểu sao nữ giới ở trại tị nạn Galang lại không mặc bikini như ở các bãi biển bên quê nhà mà thay vào đó là bộ quần short-áo thun y như với nam giới chúng tôi. Đỉnh hỏi thì anh Khảm trả lời: " Cũng chẳng hiểu tại sao nữa em, thực ra Cao Ủy và phòng an ninh P3V đâu có cấm nhưng người mình ở đây khi tắm biển thì anh chưa thấy ai mặc bikini. Có lẽ vì đang ở nước Hồi giáo nên người tị nạn mình e dè ".

Vừa lúc, có hai cặp nam nữ ghé vào một bụi cây bên cạnh chỗ chúng tôi. Anh Khảm thấy họ thì hỏi nhỏ với tôi và Đỉnh.

- Các em biết hai cha nội đó không vậy?

Nhìn hai người đàn ông một cao một thấp đang lúi húi sắp xếp các túi đồ đạc, tôi và Đỉnh lắc đầu. Anh Khảm tiếp.

- Thạc và Văn đó. Lát nữa có dịp thì anh sẽ kể cho tụi em nghe chuyện về họ. Giờ mình đi tắm trước đã.

Thạc, Văn! Ra là hai người nầy. Đến trại mới có vài tuần lễ thì chúng tôi đã nghe các chuyện kể về họ. Hai người tị nạn mà không một phái đoàn của nước thứ 3 nào dám nhận cho định cư vì câu chuyện vượt biên của họ. Nhưng chỉ là các câu chuyện vụn vặt được nghe mà không rõ ràng làm tôi háo hức muốn anh Khảm kể liền nhưng anh đã xua tay ngầm bảo đi tắm ngay. Tôi và Đỉnh kéo nhau xuống bãi cát mà giờ đây ngấn nước triều lên đã gần với bờ hơn trước. Chân tôi dẵm lên những viên tròn nhỏ nằm dầy chi chít trên mặt bãi cát mịn do bầy Dã tràng vừa se để lại mà chỉ chốc lát nữa thôi thì nước biển sẽ làm mất đi công trình của chúng. Gần đó, vài người đi lòng vòng lật các hòn đá khá lớn để mong bắt được các con ốc biển hoặc ghẹ bị mắc kẹt khi nước rút. Bãi biển ở đây khá đẹp vì có bãi cát trắng mịn trải dài song song với rừng cây trên bờ và khi lội ra thật xa nhưng vẫn chỉ ngập tới phần bụng. Tôi gặp lại Ánh Diễm, chị Phượng rồi thấy cả Bẩy, Đào và Yến nữa đang vùng vẫy trong nước giữa đám đông người tắm biển. 

Tiếng ai đó trong bọn họ gọi lớn hai đứa tôi: 

- Anh Đỉnh, anh Vũ ơi! Lại đây với tụi em cho vui.

Tôi và Đỉnh từ từ tiến lại chỗ họ. Trong làn nước trong vắt ngập gần tới ngực, các cô gái nầy thật đẹp. Làn da trắng hồng, các lọn tóc đen trên cổ trên bờ vai của họ. Nước biển đã dán y phục sát vào người họ cho thấy lờ mờ nhưng rõ ràng là các bờ ngực căng tròn với các núm nho nhỏ. Nước trong vắt có thể thấy cả phần bụng của họ với lỗ rốn sâu cùng cặp đùi đứng trên mặt cát. Tôi và Đỉnh nhìn họ mà ngơ ngẩn. Đó là họ mặc quần short-áo thun chứ nếu mà là bikini thì còn đẹp còn quyến rũ tới đâu nữa. Thấy tôi và Đỉnh cứ nhìn xăm soi lại cười tủm tỉm nên các cô gái đã lộ vẻ mắc cỡ trên khuôn mặt đỏ hồng. Kể cũng lạ, không muốn hai đứa tôi ngắm thì mấy cô gọi đến để làm gì. Đã thế lại mặc quần áo mỏng nữa, ai bảo!

- Phải chi mình giữ lại các áo phao thì có nó mặc vào mới dám lội ra ngoài xa. Ánh Diễm lên tiếng.

- Tụi em lội dở ẹt à. Anh Vũ, anh Đỉnh chắc lội giỏi lắm ha? Đào góp lời.

Đỉnh mỉm cười, nói:

- Không biết anh Vũ sao chứ tui lội thì dở nhưng lặn lại rất giỏi... tới 3 ngày mới nổi đó.

- Đang tắm biển mà Đỉnh nói nghe thấy ghê vậy. Chị Phượng hấp tấp cắt lời.

Ngoại trừ Đào và Bẩy là dân vùng sông nước nên bơi lội dễ dàng chỉ có chị Phượng, Ánh Diễm và Yến là không biết bơi thật. Rồi đám chúng tôi lần lượt tản ra nhập chung với những người khác đang ngụp lặn đây đó. Tắm, đùa nghịch cho đến khi chị Phượng và Đào đến gần bảo cả đám lên bờ nghỉ. Đỉnh và Ánh Diễm đang gần bên nhau trong một chỗ khá xa, tôi vòng tay làm loa gọi to nhưng cả hai vẫn không nghe. 

Lên bờ đến chỗ dừng chân thì thấy anh Khảm đã làm xong các ổ bánh mì kẹp thịt hộp pate cùng dưa leo, muối tiêu sẵn sàng cho cả bọn rồi lại có cả xôi vò, chuối và cả nước ngọt Pepsi nữa. Thấy người anh Khảm vẫn khô rang, tôi hối anh đi tắm đi thì chị Phượng cười, nói:

- Trời ơi! Ổng làm như dân nghiện thuốc phiện đó em, ra biển toàn ngồi hóng gió hoặc đi lòng vòng trên bờ không hà.

Tôi cũng ít tắm biển vì cái cảm giác khó chịu khi nước mặn nó dính vào người sau mỗi lần tắm. Biển ở Galang không có vụ tắm lại bằng nước ngọt để xả chất mặn như bên quê nhà nên tôi đành phải lấy khăn lông ra cố lau cho khô người rồi ngồi xuống lấy nước và cùng ăn uống chung với cả bọn.

Bữa ăn dã chiến qua thật nhanh mà chưa thấy Đỉnh và Ánh Diễm lên bờ nghỉ. Tôi đảo mắt nhìn tìm mà không thấy hai người họ ở đâu trong số đông đang tắm lố nhố tuốt đằng xa. Chị Phượng cùng 3 cô Đào, Bẩy và Yến kéo nhau đi dạo trên bờ cho biết đây đó. Thấy đám 4 người của nhóm Thạc, Văn đi tắm biển chưa về, tôi liền hỏi anh Khảm về câu chuyện của họ. Ngồi lại gần bên tôi, anh Khảm kể: 

- Vũ biết là hai người họ đến trại trước ngày Cao Ủy tuyên bố Cut Off Day đóng cửa chỉ bằng một chiếc ca nô nhỏ. Galang cách nước mình bao xa thì Vũ cũng biết rồi mà họ dám khai là vượt biên thẳng từ Việt Nam sang đây bằng chiếc ca nô đấy. Khai vậy nhưng khi các nhân viên phòng an ninh P3V xuống kiểm tra dưới ca nô thì lại thấy có y phục của nữ giới gồm cả áo ngực, quần lót mà kích cỡ to nhỏ khác nhau. Thêm vào đó họ cũng thấy có cả vàng lá và tiền Đô cả cọc nữa mới chết.

- Đi vượt biên từ Việt Nam sang Galang bằng ca nô! Làm sao có đủ xăng dầu mà chạy máy? Tôi hỏi anh Khảm dù đã nghe kể về chuyện vượt biên bằng ca nô của họ từ trước đó rồi.

- Thì vậy! Thêm cái vụ y phục phụ nữ còn sót lại trong ca nô nữa lại càng làm cho Cao Ủy và phòng an ninh P3V nghi ngờ về câu chuyện của họ đã khai.

- Rồi sao nữa hả anh.

- Ca nô nhỏ như vậy thì ai cũng biết không thể nào làm một chuyến hải hành tuốt từ bên quê nhà để đến đây được. Không có mặt nữ giới trên ca nô vậy thì quần lót, xú chiêng đó là của ai? Hai người nầy khai là anh em ruột mà Vũ thấy họ thì một cao một lùn, một trắng một đen. Anh em ruột, thực ra cũng có thể có như vậy nhưng so khuôn mặt cả hai lại khác hẳn nhau và đặc biệt là một người nói giọng Bắc, một người nói giọng miền Nam. Chính vì vậy mà Cao Ủy và phòng an ninh P3V đã nghi ngờ về nhân thân của hai người nầy nên chẳng có phái đoàn nước thứ 3 nào chịu nhận cho họ đi định cư hết. Đến Galang lâu lắm rồi mà cả 2 anh em họ vẫn cứ phải ở lỳ trong trại. Có lẽ, luật sư phỏng vấn của phái đoàn các nước thứ 3 cũng sợ đưa lầm tội phạm vào nước họ nên mới từ chối chứ em. Anh Khảm lắc đầu sau khi ngừng kể.


                                        (còn nữa)

Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2015

YÊU THỜI ĐỒ ĐỂU - KỲ 176

                                      

                               (tiếp theo)



Gã thư ký cười theo :
“ Thôi chị  ơi...đó là chuyện thường tình của con người mà.  Ở nước ta, hy sinh hạnh phúc cá nhân, không lấy vợ, tránh xa đàn bà may ra chỉ có bác Hồ mới làm nổi  ...”
Bà Chánh văn phòng huyện uỷ trợn tròn mắt :
“ Mày nói cái gì ? Bác Hồ mà tránh xa đàn bà ?”
Gã thư ký ngạc nhiên :
“ Ủa...bà chị tỉnh hay mơ đấy ? Hiện nay toàn Đảng toàn dân đang phát động phong trào học tập gương đạo đức vĩ đại của Hồ Chủ tịch mà chị lại không tin vào việc bác Hồ hy sinh hạnh phúc gia đình để mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân hay sao ?”
Bà Chánh văn phòng huyện uỷ bật cười :
“ Sao em ngây thơ quá vậy ? Hy sinh hạnh phúc gia đình và hy sinh lạc thú của thể xác là hai thứ khác nhau. “
Gã thư ký ngơ ngác :
“ Sao hai thứ đó lại khác nhau ?”
Bà Chánh văn phòng huyện uỷ  :
“ Chị tưởng mày làm tới chức thư ký của ông Sáu thì chắc đầu óc cũng không đến nỗi bã đậu, và cũng am hiểu chuyện bí mật cung đình ai dè cũng bị bưng bít như thằng dân vậy thôi...”
Gã thư  ký lắc đầu :
“ Chị nhầm to rồi. Thư ký văn bản như em cũng chỉ là ...cái đồng hồ thôi. Công việc chủ yếu là lên lịch họp, lịch tiếp khách, giờ giấc ăn, ngủ, đụ , ỉa của thủ trưởng thôi. Mọi việc cơ mật em đâu có biết gì , thằng em lại càng không biết gì hết. Càng lên cao các thủ trưởng càng không tin nhau, bởi vậy thư ký như em  ai tin mà tiết lộ chuyện cơ mật ?”
Bà Chánh văn phòng tỏ vẻ thông cảm :
“ Vậy mà từ trước chị cứ tưởng chú em biết nhiều thâm cung bí sử lắm đấy. Nghe em  nói chị mới hiểu em chẳng biết cái con mẹ gì thật ...”
Gã thư ký tò mò :
“ Cứ như chị nói thì hoá ra chị không tin vào đạo đức cao đẹp của Hồ Chủ tịch hay sao ?”
Bà Chánh văn phòng đảo mắt xung quanh coi có ai nghe trộm ? Các cán bộ Đảng Nhà nước thường là vậy. Có chuyện gì giật gân khó mà cất giữ  trong lòng, nhất đối với  nữ cán bộ.
Nhưng sự đời, chuyện lớn chuyện nhỏ mà cứ bị ém nhẹm, chất chứa khác gì có ngọn lửa đốt ở bên trong. Bởi vậy từ chuyên chó bị chẹt xe ngoài đường tới chuyện đồng chí lãnh đạo Đảng bị hắt xì hơi nếu nghe lỏm được đều phải nói ra cho bằng hết, chưa kể lại còn phóng tác, vẽ rắn thêm chân cho  thêm ly kì.
Chẳng hạn một dạo có chuyện vợ đồng chí A, cán bộ cấp cao đi du lịch các nước tư bản vào siêu thị thấy vắng hoe, mắt trước mắt sau nhét túi chiếc kính gọng vàng khi ra “quên” không trả tiền bị bảo vệ giữ lại. Bà phu nhân này đâu có biết dù siêu thị vắng như chùa bà Đanh nhưng vẫn bị kiểm soát chặt chẽ bằng hệ thống camera. Bởi vậy sau khi đã dày công cất cái kính mãi trong chỗ kín nhất bà cứ khăng khăng kêu lớn làm gì có chuyện đó, đường đường là phu nhân cán bộ to, đô la xếp cả đống ai thèm làm chuyện ăn cắp vặt . Cái bọn bảo vệ siêu thị này thật có mắt như mù, không biết bà là phu nhân đồng chí A, vẫn cắp cặp đi quốc tế tiếp xúc toàn với Bộ trưởng với Thủ tướng, gây chuyện với bà khác nào gây chuyện với Nhà nước Việt Nam ? Cái bọn bảo vệ siêu thị này thật chẳng hiểu gì về các thứ luật miễn trừ trong ngoại giao.
Bà cứ thao thao bất tuyệt như vậy. Thật đúng là gái đĩ già mồm. Đến khi bảo vệ  cho bà coi lại phim đã quay trong camera hiện rõ cảnh bà nhìn trứớc nhìn sau không thấy bóng ai liền vội vàng cầm cái kính nhét mãi vào bên trong...quần lót bà mới đớ cả người, hết đường cãi, đành phải vào phòng kín lấy kính ra trả lại cho siêu thị.
Chuyện chỉ có thế thôi. Nhỏ như con thỏ ấy mà. Vậy mà đồn đại mãi về tận trong nước rồi thêm mắm thêm muối thành chuyện bà phu nhân ăn cắp hạt xoàn trong tủ  kính trị giá cả triệu đô la, bị cảnh sát bắt giam, Bộ ngoại giao phải cử người sang tận nơi xin cho bà tại ngoại mới thoát được về nước.
Xem như vậy đủ biết những chuyện “bí mật cung đình” thường thường bị lọt ra bao giờ cũng ít ra là có đôi chút sự thật . Các cụ đã dậy không có lửa sao có khói . Đương nhiên những “bí mật” đó nghe rồi phải tỉnh táo suy nghĩ, chớ có mới  nghe lọt tai đã tin xái cổ thì...oan uổng cho ...”cung đình” quá.
Chuyện “bí mật cung đình” về bác Hồ cũng vậy. Cán bộ trung cao cấp ai cũng biết cả, tuy chẳng ai dám nói ra mồm, nhưng với các bà, giữ trong lòng những chuyện kiểu đó còn khó hơn là giữ bom nổ chậm trong người. Bởi thế sau khi nhìn trước nhìn sau không thấy ai, bà Chánh văn phòng huyện uỷ mới ghé tai gã thư ký :
“ Vậy ra anh không biết gì thật à ?”
Gã thư ký ngớ người :
“ Biết cái gì kìa ? Có chuyện gì mà bà chị nghiêm trọng qúa vậy ?”
Bà Chánh văn phòng huyện uỷ hạ giọng :
“ Chuyện về đạo đức cao đẹp của bác Hồ vĩ đại đó. Tôi công nhận về nêu gương “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” thì không ai qua được Bác nhưng về chuyện...chuyên quan hệ với phụ nữ thì lại khác đó ạ ...”
Gã thư ký trợn tròn mắt :
“ Khác là khác thế nào ? Xưa nay sử sách vẫn ghi bác Hồ đã hy sinh hạnh phúc gia đình để dâng hiến hết cho sự nghiệp giải phóng dân tộc mà...”
Bà Chánh văn phòng huyện uỷ gật đầu :
“ Thì cái đó ai mà không biết ? Đứa con nít ngồi trên ghế nhà trường cũng biết. Có điều bác chỉ hy sinh hạnh phúc gia đình tức là không vợ không con một cách chính thức , công khai thôi, còn lạc thú thân xác thì Bác đâu có hy sinh ?”
Gã thư ký trợn tròn cả mắt vì kinh ngạc :
“ Chị nói vậy tức là chẳng hoá ra bác Hồ hủ hoá à ?”
Bà Chánh văn phòng tái cả mặt vội vàng :
“ Suỵt...suỵt...bé cái miệng chứ....tôi đâu có nói bác Hồ hủ hoá, tôi chỉ nói bác Hồ có quan hệ chăn gối...tức là có ngủ...có ngủ chung với đàn bà ?”
Gã thư ký sửng sốt :
“ Thật không ? Chị nói phải có bằng cớ tên tuổi cụ thể đấy nhé, nếu không thành tội nói xấu lãnh tụ là...chết...”
Bà Chánh văn phòng vênh mặt :
“ Sách báo người ta nói đàng hoàng chớ bộ. Hồi ở Trung Quốc bác Hồ cũng đã lấy vợ đó là gì ? Bà này tên là Tăng Tuyết, Minh tàu khựa chính hiệu. Nghe nói ở với bà này một thời gian rồi bác bỏ người ta lẻn về nước làm cách mạng...”
Gã thư ký trợn mắt :
“ Chuyện tày đình vậy sao trong sử Đảng không thấy ghi nhỉ ? Ngay cả trong cuốn “ Những mẩu chuyện về Hồ Chủ tịch” cũng không thấy nói tới nhỉ ?”
Bà Chánh văn phòng cười khẩy :
“ Thì tác giả cuốn này là Trần Dân Tiên là chính bác Hồ chứ còn ai. Trần Dân Tiền là ông tiên xuống trần ở với dân mà. Vỗ ngực ghê chưa ? Bác tự viết sách ca ngợi mình đời nào viết chuyện mình có vợ ?”
Gã thư ký lắc đầu :
“ Chuyện ghê gớm quá. Ai bảo chị Trần Dân Tiên là bác Hồ ?”
Bà Chánh văn phòng bật cười :
“ Chuyện đó thì cán bộ, đảng viên ai không biết ? Chị thật không ngờ đầu óc thằng em lại ngu lâu đến vậy ?”
Gã thư ký chưa tin, vẫn còn hồ nghi :
“ Cái chuyện tày đình này để em về phải tìm hiểu, tra cứu thật kỹ thì mới dám tin...”
Bà Chánh văn phòng cười toét miệng :
“ Thì về hỏi ngay thủ trưởng Sáu Thượng đó. Coi ông ấy nói sao ?”
Gã thư ký lắc lầu :
“ Cố nội em cũng không dám hỏi. Ông ấy lại báo cho bên bảo vệ nội bộ gọi em lên xét hỏi thì em vỡ nồi cơm !”
Bà Chánh văn phòng huyện uỷ cười  mũi :
“ Thanh niên gì mà nhát thế ? Mày cứ hỏi thử coi, cho kẹo ông Sáu Thượng cũng không dám báo cáo sang bên bảo vệ nội bộ. Ông ấy dại gì mà rây với cái đám cớm chìm đó, có khi hại tới cả chính ông nữa. Cứ hỏi đi, chắc chắn ông Sáu Thượng còn biết khối giai thoại về bác Hồ kia đấy...”
Gã thư ký thật thà :
“ Giai thoại về bác Hồ thì ai mà chẳng biết. Chẳng hạn như trong buổi lễ đọc tuyên ngôn độc lập ở vườn hoa Ba Đình , mấy lần bác hỏi nhân dân :” Tôi nói đồng bào nghe rõ không ?”. Rồi thì giữa đêm đông giá rét, bác Hồ chợt thức thấy anh lính bảo vệ mặc có mỗi cái áo mỏng, bác bèn đem áo trấn thủ của bác ra cho anh mặc đúng không ?’
Bà Chánh văn phòng bật cười :
“ Những chuyện đó thì con nít đang cắp sách đi học đứa nào cũng biết. Chị muốn nói tới những giai thoại về vợ lớn vợ nhỏ của bác Hồ kìa. Chẳng hạn như ngoài bà Tăng Tuyết Minh người tàu có cưới hỏi chính thức, bác còn có cô Nông thị Trưng hồi tiền khởi nghĩa, nữ du kích phục vụ bác trong hang Pắc Bó, rồi tới cô Nông thị Xuân hồi Bác và Đảng đã về tiếp quản Hà Nội. Cô Nông thị Xuân này nghe nói bị thằng cha Bộ trưởng Bộ công an Trần Quốc Hoàn hiếp rồi cho xe hơi cán chết...”
Gã thư ký hoảng sợ bịt tai lại, lắc lia lịa :
“ Ôi chết chết...kinh khủng...kinh khủng quá...Bà chị nghe đâu ra chuyện tày trời đó. Bác Hồ là tinh hoa của cả dân tộc, là tấm gương đạo đức sáng ngời cho cả nước Việt Nam noi theo, đời nào Bác lại làm những chuyền đồi bại, hại đến luân thường đạo lý đến vậy. Chẳng lẽ đường đường một đấng lãnh tụ tối cao như Bác mà lại để yên cho vợ của mình bị hiếp, bị giết chết như vậy sao ? Em không tin, em không tin...”
Gã thư ký giãy nảy lên như phải bỏng. Gã không sao nuốt nổi những  chuyện cung đình động trời vậy. Giả tỉ như chuyện đồng chí Lê Thanh Hải, Bí thư thành uỷ Sàigòn chạy chức mấy chục tỉ, chuyện anh Hoàng Ty con trai ông Thủ tướng Phan Văn Khải bắn chết con trai ông Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm mà vẫn khơi khơi ngoài vòng pháp luật, chuyện bà Cầm vợ ông Thủ tướng Võ Van Kiệt ngủ với lái xe...những chuyện cỡ đó thì gã còn có thể để lọt tai được chứ còn cái chuyện cô Nông thị Xuân, vợ bác Hồ bị hiếp và bị giết chết thì thật không sao tưởng tượng nổi, đúng là địch nó bịa chuyện nói xấu bác Hồ để hạ bệ thần tượng của Đảng và của nhân dân Việt Nam .
Phản ứng như vậy của gã thư ký thật ra cũng không có gì là lạ. Sau hơn nửa thế kỳ được Đảng và Nhà nước nhồi nhét vào đầu, phải thừa nhận tuyệt đại đa số dân miền Bắc vẫn tin tưởng vào đạo đức sáng ngời, trí tuệ thiên tài của ông Hồ Chí Minh, vẫn đinh ninh ông là có công lớn với dân tộc, đã chỉ đường dẫn lối cho toàn dân thoát khỏi ách tàn bạo của phong kiến, đế quốc, đã đưa dân tộc đến đỉnh cao chói lọi đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ. Nếu ai còn nghi ngờ điều đó, cứ thử làm một cuộc tổng điều tra hẳn sẽ thấy 90 phần trăm dân số vẫn còn sùng bái, nhớ tiếc bác Hồ và chỉ mong bác sống lại để một lần nữa ra đi tìm đường cứu nước , diệt trừ hết bọn  tham nhũng, cứu muôn dân khỏi áp bức, đói nghèo.
Gã thư ký suy nghĩ như vậy là rất hợp với đầu óc của tầng lớp cán bộ trung sơ cấp trong cộng đồng của gã. Riêng bà Chánh văn phòng huyện uỷ sao lại lọt ra khỏi cái đám đó để có những suy nghĩ “bạo thiên nghịch địa”, báng bổ cả lãnh tụ tối cao như vậy ?
Nguyên là bà Chánh văn phòng huyện uỷ có một người cháu họ xa là Việt kiều Mỹ về nước nhận họ hàng và qua bà tìm hiểu các cơ hội đầu tư ở huyện nhà. Trong thùng quà anh cháu biếu bà chẳng hiểu sao lại lẫn mấy cuốn sách in ở nước ngoài. Thoạt đầu bà cũng không để ý, sau thấy mấy cái tựa sách có vẻ giật gân , chẳng hạn như “ Hoa xuyên tuyết ", " Đêm giữa ban ngày"  sách chữ to lại có cả ảnh nữa, thế là bà nổi máu tò mò, cứ mỗi buổi nghỉ trưa bà lại đóng chặt cửa phòng, coi kỹ xung quanh rồi mới lôi ra đọc. Càng đọc bà càng tá hoả tam tinh . Ối trời ôi, tại sao lại có những chuyện tày đình, ghê gớm vậy xảy ra mà trước nay sách báo trong nước chưa hề nói tới, ngay trong những cuộc trà dư tửu hậu của đám cán bộ huyện cũng tuyệt nhiên không anh nào hé miệng đến nửa câu. Hoá ra toàn những chuyện bị bưng bít, che giấu, bảo mật tới mức độ chẳng ai biết cả.
Đọc hết cuốn này bà lại nổi máu tò mò đọc tới cuốn khác cũng của anh cháu Việt kiều mang về. Thoạt đầu bà còn hồ nghi, coi như sách của bọn phản động nói xấu bác Hồ để chống phá cách mạng. Nhưng rồi càng về sau bà càng ngẫm nghĩ và càng thấy hồ nghi. Tục ngữ đã có câu “không có lửa sao có khói”. Bà cứ giữ mãi cái nghi hoặc đó ở trong lòng cho tới một hôm đồng chí Bí thư huyện uỷ ghé thăm bà để trao đổi riêng về một việc gì đó ở trong huyện. Nhân bàn về chuyện thực hiện chỉ thị phát động toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ra sức học tập gương sáng đạo đức của Hồ Chủ tịch, vui miệng bà mới buột miệng hỏi :
“ Sao bảo bác Hồ cũng có vợ rồi ?’
Hỏi xong bà mới thấy hối, chết thật ai lại đi hỏi Bí thư huyện uỷ một câu phạm thượng đến thế bao giờ ? Kiểu này chắc đồng chí ấy sẽ quát tháo, cạo cho bà một trận nên thân ? Thật chẳng ngờ, ông Bí thư huyện nghe xong chẳng những không nổi giận mà còn cười  cười :
“ Chuyện đó ngày trước báo Tuổi Trẻ chẳng đưa ra làm bà Tổng biên tập mất chức đấy thôi...”
Bà Chánh văn phòng  ngạc nhiên đến tròn cả mắt, hoá ra ông Bí thư huyện uỷ cũng biết chuyện đó. Ôi trời ôi, chẳng lẽ đó là chuyện thật à ? Ông Bí thư huyện uỷ còn nói rõ hơn :
“ Hồi đó báo Tuổi Trẻ đăng tin trong thời gian bác Hồ hoạt động cách mạng ở Trung Quốc có lấy vợ tên là Tăng Tuyết Minh, nghe nói có cả một đứa con nữa, sau này Hội phụ nữ trung ương có cử người đi tìm...”
Câu chuyện của ông Bí thư huyện uỷ làm bà Chánh văn phòng chợt nhận ra một điều là có rất nhiều người biết chuyện bác Hồ có vợ nhưng ai cũng sợ, chẳng ai dám nói ra. Nhân đà câu chuyện, bà Chánh văn phòng giả lả :
“ Tôi  nghe nói bác còn có cô Nông thị Trưng với Nông thị Xuân, người dân tộc  Nùng hay Thổ gì đó mãi trên Cao Bằng nữa kìa...”
Ông Bí thư huyện uỷ gật đầu xác nhận và ông lại còn điềm nhiên kể chuyện về thân phận thảm thương của hai chị em cô Xuân y như những gì bà Chánh văn phòng  đọc được trong những cuốn sách anh cháu Việt kiều mang từ nước ngoài về.
Thế là từ hôm đó bà chẳng còn hồ nghi gì nữa, chỉ có điều bà giữ kín trong lòng những bí mật cung đình về bác Hồ mà bà được  nghe ông Bí thư huyện kể lại cũng như đọc trong sách in ở nước ngoài.
Gặp gã thư ký của ông Sáu Thượng có máu háo sắc, bà mang những chuyện thâm cung bí sử đó hỏi gã, tưởng gã thân cận với ông lớn như ông Sáu Thượng tất nhiên sẽ có thêm những tình tiết giật gân khác, nào ngờ gã mù tịt, chẳng biết gì thậm chí còn giãy lên không tin những chuyện đó. Hoá ra thằng này tưởng vậy mà hèn , người như con sứa, nhát như thỏ, động chuyện “ ngài luồng” là sợ rúm cả người lại.


                                                                                          (còn tiếp)


Thứ Tư, 18 tháng 3, 2015

NHẬT TIẾN : Chuyện bé Phượng - Tiểu thuyết - KỲ 16


                              (tiếp theo)   

Già ấy bế Phượng vào bồn nước. Trong đời Phượng chưa lần nào Phượng được ai tắm cho mình. Khi trở lên, Phượng được mặc một cái quần lụa trắng và cái áo ngủ màu xanh. Toàn thân Phượng có một cảm giác mát rười rượi. Má Chi chải đầu cho Phượng ở tủ gương. Bà ấy bảo Phượng gọi mình là má. Nhưng nó ngượng vì chưa bao giờ biết gọi “má” như thế. Má Chi trang điểm cho Phượng rất lâu. Phượng tò mò nhìn những cái kẹp tóc, cái nơ xếp ngổn ngang bên cạnh hộp phấn và nước hoa. Bàn tay mềm mại của bà lướt trên mái tóc nó.
          Có tiếng u già ngoài cửa phòng:
          - Trời ơi! Tôi cứ tưởng là cô Chi, thưa bà.
          Bà ấy bế Phượng lên hôn như mưa vào mặt nó. Tiếng nói của bà đầy vẻ sung sướng:
          - Con gái của má, con gái của má….
          Nhưng Phượng thấy buồn buồn, Phượng nghĩ đến cái không khí ồn ào trong viện mồ côi. Bây giờ chắc cả bọn đang xếp hàng ở sân đàng trước. Chị Giang chắc đang mỏi mồm hét bọn con Dung rất hay đầu têu nói chuyện trong hàng ngũ. Buổi chiều hôm nay chắc không phải nghe giảng đạo ngoài giảng đường. Cả bọn sẽ phải đi dự lễ Chầu ở Nhà Thờ lớn. Phượng buồn buồn nhớ đến bầu không khí quen thuộc trong Viện, mặc dầu những ngày ở trong đó, ai cũng ước ao được đi một mình dưới lùm cây trong thành phố, được dí mũi vào tủ kính của những cửa hiệu sang trọng. Phượng không biết với một cái tủ to lớn như thế người ta bầy những gì cho hết được.
          Nhưng Phượng không được đi chơi như thế vì má bé Chi chỉ muốn Phượng ngồi ở trong căn phòng bây giờ đã thắp đèn sáng. U già đã mang bầy lên bàn những hộp bánh và kẹo. Cây Noel sáng rực lên vì những ngọn nến và đèn. Nhưng Phượng không thích, Phượng nghĩ rằng giá có bé Chi thì vui hơn. Nhưng nếu Chi còn sống thì chưa chắc bà ta mời đến mình. Ý nghĩ ấy làm Phượng thấy tủi thân. Phượng muốn về với bọn con Bích, con Hương. Chúng nó gần Phượng hơn. Chúng nó lại thích chơi búp bê của Phượng. Lúc chiều Phượng ôm búp bê đi theo chị Giang ra cổng, chúng nó cứ sờ mãi lên tóc và gạ Phượng cho mượn một hôm. Phượng cho rằng chúng nó đòi hỏi một điều quá đáng. Phượng  giấu búp bê ra sau lưng, mặt vênh váo. Bây giờ nghĩ lại, Phượng thấy mình thật là ích kỷ, đáng ghét. Phượng lại nghĩ đến những buổi tối mùa đông có gió lùa qua khe cửa, bốn đứa nằm ôm nhau trong cái băng giá của sàn đá hoa tẩm vào khung giường sắt. Người Phượng run lẩy bẩy. Con Bích choàng bàn tay bé nhỏ của nó vào lưng Phượng rủ rỉ:
          - Phượng có rét không?
          Phượng đánh hai hàm răng vào nhau kêu lập cập:
          - Rét…
          Bích nhích người lại để nhường thêm cho Phượng một ít chăn. Cử chỉ của nó thật đáng yêu. Nó biết nghĩ đến Phượng.
          Phượng lại nhớ cả những buổi chiều mưa bong bóng nổi trên mặt cỏ, Phượng và Hương lẻn ra hiên sau thả thuyền trong lòng cống. Hai đứa đi men theo tường gạch để xem con thuyền chấp chới giữa dòng nước đục. Một lần Phượng trượt chân ngã ở trên mặt rêu. Cái áo sợi của Phượng ướt hết cả một mảng sau. Hương không ngần ngại đội mưa xuống bếp nhờ chị Thu hơ hộ. Nếu không có Hương thì Phượng cũng không biết làm thế nào cho khô được. Chúng nó đối với Phượng thật là tốt. Thế mà Phượng lại ích kỷ bỏ đi một mình. Đáng lẽ Phượng phải ở nhà để nắm tay chúng nó đi xuống giảng đường nghe cha xứ nói chuyện về lễ Giáng Sinh, rồi tất cả sẽ hát với nhau những bài bà Hạnh đã dạy. Đến tối, tất cả cùng ngồi quanh búp bê đọc kinh kính mừng Maria.
          Nhưng thật ra thì Phượng đã ngồi đây rồi, trong căn nhà vắng lặng, có má bé Chi đau khổ như mất trí, có u già lặng lẽ ra vào như một cái bóng và linh hồn bé Chi lẩn quất ở tất cả mọi đồ đạc trong các gian phòng.
          Nhưng Phượng không còn nghĩ gì nữa và bây giờ có tiếng dương cầm thánh thót ở góc phòng. Má bé Chi mắt sáng long lanh nhìn về phía nó. Bà ấy đánh đàn bài “Au clair de la lune”. Miệng bà vừa cười vừa nói:
          - Chi hát đi con.
          Phượng lắc đầu:
          - Tên cháu là Phượng.
          Bà ta nhìn Phượng chằm chằm. Phượng sợ hãi cúi xuống tránh tia mắt long lanh sáng quắc của bà. Còn u già thì khóc thút thít ở bàn bánh. Có tiếng già ấy nói mếu máo:
          - Cháu làm bánh kem cho cô ăn mà cô không còn nữa.
          Má Chi bỏ cây đàn đi chầm chậm vào phòng bên trái, một lát có tiếng bà ta nức nở ở sau cánh cửa. Phượng ngơ ngác nhìn vào trong ấy, còn u già thì khóc to hơn. Già đánh rơi bình nước từ trên tay xuống sàn đá hoa trắng. Tiếng vỡ tan tành làm chói óc Phượng. Giòng nước trà đỏ thắm chảy loang lổ từ phía bàn lại chỗ Phượng ngồi. Phượng bật ra tiếng khóc. Phượng cảm thấy nỗi bơ vơ của mình. Bây giờ thì nó biết chỗ của nó không phải là ở đây. Lòng ham muốn của nó thật điên rồ. Hình ảnh cuộc vui mà Phượng mơ ước lúc đi với chị Giang thoáng qua óc Phượng rất mơ hồ. Những thứ ấy không phải để dành cho những đứa mồ côi như Phượng. Phượng thấy cần phải về với bọn con Hương, con Bích để được bá cổ chúng nó, cười với chúng nó, vì chúng nó mới là của Phượng.
          Phượng bỏ cụ già đứng ôm mặt một mình trước đĩa bánh có mầu kem xanh, đỏ. Nó đi qua cái sân nhỏ và đến giường u già để thay lại bộ quần áo hồi chiều. Tiếng khóc của má bé Chi vẫn vọng qua cửa sổ. Điều ấy càng làm cho Phượng tăng thêm ý muốn trở về một mình.
          Có tiếng chó sủa ngoài hàng rào. Phượng chạy ra ngoài ngõ. Người đi lễ ở ngoại ô đang đổ về phía nhà thờ. Không khí trong và mát lạnh. Nền trời tím đen và lưa thưa sao. Phượng nghĩ đến những màn ca nhạc sẽ cử hành sau buổi lễ mi sa ở trong viện. Phượng muốn được bá cổ bọn con Hương, ngồi nghe các chị lớp trên đồng ca các bản nhạc ở giáo đường.
          Ý nghĩ ấy khiến Phượng mở cổng ra đường. Căn nhà rộng rãi của bé Chi nằm trong bóng cây. Phượng thấy sợ hãi không thể ngờ rằng mình đã ở được một buổi chiều và tối trong đó. Phượng bước mau hơn. Bóng tối không làm Phượng sợ bằng đôi mắt của má bé Chi. Hình ảnh căn buồng có cái không khí rờn rợn như còn hơi hướng của người chết làm Phượng rùng mình. Phượng thốt nhớ đến con búp bê của nó. Con búp bê mà gia đình bé Chi đã tặng Phượng làm món quà giáng sinh. Chắc bây giờ nó vẫn đứng cười một mình ở mặt bàn trong buồng khách.
          Nhưng Phượng không quay trở lại, không tiếc. Phượng nghĩ đến những trò chơi nhỏ mọn hàng ngày với bọn con Hà và thấy quen thuộc hơn.
          Có tiếng u già gọi tên Phượng ở sau lùm cây và cái bóng trắng của má bé Chi chạy trên nền đá trắng.
          Nhưng Phượng đã theo đoàn người đi lễ để hỏi thăm đường về Cô nhi viện.


                                    21     

          Phượng dừng lại trước một đám rước kiệu. Nó ngây người đứng ngắm đoàn thiếu nữ xếp hàng đôi đi chậm chậm. Tất cả đều mặc quần áo trắng, choàng khăn trắng và cầm đèn thắp nến sáng. Phượng quên ngay những việc xảy ra hồi chiều, và nó chỉ nghĩ đến Hương, đến Bích và các bạn vào giờ ấy chắc đang nô đùa ở trong Viện.
          Trời dần tối hẳn. Trên đỉnh nhà thờ những ngọn đèn ngôi sao sáng le lói giữa nền trời xanh đen êm ả. Từng hồi chuông rộn rã đổ hồi như thúc đẩy làn sóng người tiến về phía thềm đá ở phía sân trước cửa nhà thờ. Chung quanh Phượng người đi như nước chẩy. Trong ngày lễ trọng tất cả mọi người đều ăn bận  chỉnh tề và diêm dúa. Những tà áo đủ màu của các thiếu nữ bay phất phơ trong gió mát buổi chiều. Mùi nước hoa, mùi hơi người phảng phất ở mọi nơi, mọi chỗ.
          Bỗng Phượng chú ý đến một con bé đang len lỏi giữa đám đông người. Phượng thấy nó đi theo một cặp vợ chồng sang trọng. Nhìn mái tóc bờm xờm và dáng đi láu lỉnh khôn ngoan của nó Phượng bật lên tiếng kêu mừng rỡ.
          - Cúc!
          Con Cúc quay lại. Nó nhận ra ngay người bạn nhỏ bé trong Cô nhi viện, nơi nó đã trốn khỏi. Nhưng nó không tỏ dấu hiệu vui mừng. Bàn tay bẩn thỉu của nó ngoắc ra đằng sau ra ý bảo Phượng đi theo mình. Mắt nó vẫn không rời đôi vợ chồng đi đằng trước. Tới chỗ đông người, nó chen vào thật mạnh. Làn sóng người xô đi, đẩy lại nhiều lần. Có tiếng la hét và chửi rủa om sòm. Trong một chớp, con Cúc đã biến mất và hiện ra ở đằng sau lưng Phượng. Lần này nó kéo tay Phượng giục đi mau. Chân nó nhảy cỡn lên như một con dê cuồng cẳng:
          - Chuồn ngay với tao đi Phượng. Tao vẫn nhớ đến mày luôn luôn.
          Vừa nói nó vừa lôi Phượng đi len lỏi thật nhanh. Phượng hớt hải:
          - Hãy chậm chậm. Đá dăm nó nghiến vào chân tao.
          Tới một chỗ vắng, Cúc mới buông Phượng ra mỉm cười. Nó tốc ngay vạt áo lên cho Phượng nom thấy cái ví nằm cộm ở trong cạp quần rồi toe toét:
          -Tao với mày sẽ tiêu pha thật hoang để ăn mừng ngày lễ Giáng Sinh của mày.
          Phượng kêu lên hoảng hốt:
          - Mày ăn cắp!
          Cúc cấu ngay cho nó một cái rồi liến thoắng:
          - Ừ, tao ăn cắp thì đã làm sao? Tao không lấy của mày. Tao lấy của chúng nó. Chúng nó thiếu gì !
          Phượng buồn bã:
          - Nhưng ăn cắp có tội. Chúa sẽ trừng phạt những kẻ nào chiếm đoạt của cải của người khác.
          Cúc xua tay:
          - Thôi, thôi, mày hãy cất Chúa của mày đi một nơi. Chúa! Lúc nào cũng Chúa, không đủ thấy chán phèo đến mang tai hay sao?
          Đoạn nó móc cái bóp lôi ra một xấp giấy bạc. Nó xẻ ngay lấy một nửa và nhét vào cạp quần bé Phượng. Phượng dẫy lên:
          - Không ! Tao không lấy đâu !
          Cúc cười hì hì:
          - Ai người ta cho mà lấy. Mày giữ hộ tao. Trong mười lăm phút thôi.


                               (còn tiếp)