Tổng số lượt xem trang

Chủ Nhật, 25 tháng 12, 2011

HÀNỘI ... "HỒI ẤY" (31)

              Hà nội…”hồi ấy “ (31)
  
  
                    (tiếp theo)

Hắn gật đầu ra vẻ bằng lòng, thế rồi khi chúng tôi cùng ngồi bệt xuống đất, đối mặt nhau, cùng giơ lên chén rượu, từ ngoài cửa sổ gió chợt đưa vào mùi pháo lậu mỗi lúc một nồng nặc. Hoạ sĩ Ngời giơ chén rượu trỏ lên không, đưa mắt nhìn tôi :
- Nó đấy phải không ?
- Nó đấy…
 Hắn nhăn mặt, chẳng nói gì, dốc chén rượu vào miệng. Tôi  cũng bắt chước hắn cứ ngồi im như con cóc cụ uống hết chén này tới chén khác. Uống rượu “vô ngôn” vậy lại hoá hay, thưởng thức được cái vị cay cay đằm thắm, tạo cho ta cảm giác thực sự ta đang uống rượu chứ chẳng phải nhậu nhẹt, trong đó dường như giác quan đã tê liệt, còn lại mỗi sự bốc đồng.
 Tối hôm sau, Tôi và Ngời lại ngễu ngện ngồi xích lô chở bức tranh tới nhà ông bà Đ. May quá, nhờ chàng hoạ sĩ quen biết trên Sở điện nên đường dây nhà ông được nối lại tức khắc. Ông bà Đ. được tôi cho biết trước đã chờ ngay ngoài cửa, nồng nhiệt đón chào chàng họa sĩ và khiêng ngay bức tranh vào phòng con gái. Tôi bật đèn giữa, kéo chàng họa sĩ đến bên giường, xúc động líu cả lưỡi :
- Giới thiệu với anh đây là vợ chưa cưới của tôi…
 Gương mặt nàng như rạng lên trong giấc ngủ, đôi mi hơi động đậy, miệng thoang  thoáng như mỉm cười. Hoạ sĩ Ngời không nói gì , lặng lẽ chiêm ngưỡng vẻ đẹp của người con gái trong trắng như nàng công chúa ngủ trong rừng, hắn cứ đứng mãi, đứng mãi như thể đầy sững sờ và trang nghiêm khiến tôi phải sờ vào ngừơi hắn:
- Thế nào, ta bắt đầu chứ ?
- Cô ấy cứ ngủ suốt ngày như thế này ư ?
- Như thế đấy và chỉ ánh trăng mới làm nàng tỉnh dậy được.
-  Nhưng phải là ánh trăng thực cơ, còn cái này chưa biết sao ?
      Tôi chỉ vào bức tranh lúc này đã được dựng sát giường để nàng có thể nhìn thấy ngay lúc mở mắt. Hoạ sĩ Ngời lẩm bẩm :
- Chắc là được, nghệ thuật còn cao hơn cả thiên nhiên ấy chứ. Lêvitan chẳng hạn…
 Tôi nhói lên hy vọng, phải chăng nghệ thuật sẽ chiến thắng ở nơi y học đã chào thua,tôi cung kính nhìn nhà họa sĩ như một nhà cứu tinh trời ban xuống giúp :
- Anh cho bắt đầu nhé, sắp tới giờ nàng hé mắt tìm ánh trăng.
 Nghiêm trang như một nhà pháp sư, chàng họa sĩ lặng lẽ gật đầu, lập tức tôi tắt đèn giữa và bật ngọn đèn sau lỗ khoét tròn trên bức tranh được che giấy bóng mờ. Tôi đã được xem Trịnh trình diễn ở phòng tôi, nhưng tối nay, sự chờ đợi thành kính pha chút thần bí lấp đầy phòng nàng càng làm bức tranh toả ra một thứ ánh sáng huyền ảo không khác gì trăng thật khiến tôi trầm trồ thán phục tính cách ma thuật của hội họa.
Tuy thế Ngời vẫn chưa hài lòng, con mắt họa sĩ của hắn chắc còn nhạy hơn máy đo ánh sáng, nên bắt tôi thay tới ba tờ giấy bóng mờ, xê đi xích lại bức tranh làm tôi mệt bở hơi tai hắn mới xoa tay tỏ ý tạm được. Sắp tới giờ mọi tối nàng vẫn hé mắt, bà Đ. đã sửa soạn cho con gái cốc sữa nóng , tôi lo ngay ngáy điện bị cúp, ông Đ. cũng chạy ra chạy vào, riêng có họa sĩ Ngời vẫn đứng lặng  cuối giường, đăm đăm nhìn nàng như chờ đợi phép màu sắp xảy tới do chính đôi bàn tay hắn. Sau cùng đôi mi nàng động đậy, mắt dần dần mở to, nàng ngồi nhỏm dậy. Tôi muốn reo to lên, lao tới gọi nàng  nhưng bị đôi tay của Ngời giữ chặt, cả bà Đ. nữa, cũng bị hắn ngăn lại. Cả bốn chúng tôi nín thở nhìn nàng đang dán chặt đôi mắt vào ông trăng mà lúc này chính tôi cũng quên khuấy mất nó là của giả. Thế rồi trớ trêu thay, chính nàng dường như nhắc tôi điều đó bằng cách từ từ nhắm mắt lại và ngả người nằm xuống giường, mặc cho tôi và ông bà Đ. tha hồ lay gọi, nàng vẫn thiếp đi trong giấc ngủ triền miên cứ như nàng đã đi xa lắm rồi chỉ để phần xác lại nơi trần thế.
- Tuyệt đẹp…
 Chàng họa sĩ trầm trồ, đôi mắt vẫn không rời gương mặt nàng khi tôi kéo hắn ra khỏi phòng. Thất bại rồi, tôi thầm kêu lên đau đớn, và lạ thay lúc này nhìn lại bức tranh ánh trăng kia tôi thấy đúng là …của giả, chẳng khác gì cảnh trí trên sân khấu cải lương. Không, ngay đến chiếc lá của ông Ó Henry chắc cũng vậy thôi, chẳng có thứ nghệ  thuật nào đánh lừa nổi con người một khi sắp sửa từ bỏ cỡi đời.
 Ông bà Đ. chờ ở phòng ngoài, bà than thở không kịp cho con gái uống cốc sữa nóng, ông thất vọng về thử nghiệm vừa qua, càng tin vào sự trừng phạt “ ác giả ác báo” ông đã gây ra ngày trước, cam chịu bất hạnh trong dáng ngồi thiểu não làm tôi nao lòng. Tôi khuyên giải ông chớ nên rầu rĩ nghĩ ngợi quá kẻo ốm, cố chờ tuần trăng tới, nhất định ánh trăng thiệt sẽ làm nàng tỉnh lại, khoẻ khắn như xưa.
- Nếu nó có mệnh hệ nào, ông nói nhỏ vào tai tôi, tôi sẽ chặt đi cái bàn tay tôi đã dùng tát nó…
 Tôi rùng mình trước quyết tâm ghê rợn của ông, ở địa vị ông chắc tôi sẽ chọn biện pháp ít máu me hơn, êm ái hơn, một liều thuốc ngủ, hoặc một sợi dây thừng chẳng hạn. Nỗi oán hờn số phận của ông lan sang cả tôi khiến trên đường ôm bức tranh ngất nghểu trên xích lô trở về tôi vọt miệng nói với chàng họa sĩ rằng rốt cuộc nghệ thuật cũng đéo là cái gì, đến làm một đêm trăng giả cũng không xong. Chàng họa sĩ mải nghĩ đâu đâu cũng phải bật cười :
- Trong trường hợp này đến ông Michel Ange tái thế cũng chẳng cứu nổi nàng.
- Vậy theo ông nàng mắc cái bệnh gì ?
- Chịu, tớ không phải thầy thuốc, nhưng càng nhìn nàng tớ càng cảm thấy một vẻ đẹp… phi trần thế, vẻ đẹp của thần tiên, của một… nhân loại khác bên ngoài hành tinh chúng ta.
 Tôi giật thót nhớ tới câu chuyện viễn tưởng với nàng đêm trăng nào, không lẽ con tàu vũ trụ ấy đã từ cõi khác đón nàng đi và để lại phần xác của nàng cho tôi rồi chăng ? Chàng họa sĩ lại còn tưởng tượng xa hơn cả tôi, chàng phân tích rằng nếu trong người tôi đang có một quá trình biến hoá thành con bọ hung thì nàng cũng vậy, cũng đang diễn ra một hiện tượng tương tự nhưng theo chiều ngược lại, tức là nàng cũng đã biến dạng, nhưng mà thành tiên thành phật, và thế là tôi và nàng mỗi ngày một xa nhau trên con đường tiến hoá.
- Cục cứt, tôi nổi cáu, lý luận của mày không ngửi được, con người ta chẳng phải cái đồng hồ cho mày tháo lắp ra từng cái bánh răng cái đinh ốc được. Tao không tin vào cái lý thuyết tiến hoá ngược ấy, nàng vẫn là người và tao cũng vẫn là người trăm phần trăm… Mai kia nàng khỏi bệnh tao sẽ cưới nàng, sẽ sinh con đẻ cái chẳng kém gì vợ chồng thằng ăn trộm cứt… Mày có biết không, cái thằng cha ấy nó đẻ những sáu đứa cơ đấy, đứa nào cũng đủ chân đủ tay, trăm phần trăm là người cả…
 Họa sĩ Ngời không thèm chấp những lời lẽ cáu kỉnh của tôi, cứ tỉnh bơ như không nghe thấy, vẫn tiếp tục ba hoa về những điều kỳ diệu hắn phát hiện được ở nàng .
- Tớ phải vẽ nàng, hắn kêu lên, vẽ nàng như một mẫu hình lý tưởng cho một nhân loại tương lai.
 Tôi tưởng hắn bốc lên nói vậy, không ngờ sáng hôm sau, ngay từ sớm hắn đã mang “ đồ nghề” tới nhà nàng, căng vải lên khung, bày ra đủ các thứ ống màu cây cọ và từ lúc đó hầu như suốt ngày hắn ở lì trong phòng ngắm ngắm vẽ vẽ trong lúc nàng vẫn chìm đắm trong giấc ngủ kỳ bí. Thất bại vừa qua làm tôi hết tin vào cả họa sĩ lẫn hội họa, tôi thây kệ hắn với những cảm xúc nghệ thuật, ngày ngày tôi ghé tới chẳng qua để ngắm nàng mà thôi và tôi chỉ còn trông chờ vào tuần trăng tới.

                (còn tiếp)

Thứ Bảy, 24 tháng 12, 2011

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN (KỲ 9)

   

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG  NHÀ VĂN :
                            
                        (Kỳ 9)
                          

                                      Nhà văn Đỗ Chu                                   

Mở đầu thập kỷ 1960, thập kỷ của “sóng Duyên Hải, gió Đại Phong, trống Bắc Lý , cờ Ba Nhất” , thập kỷ “hồ hởi”,”phấn khởi”, sắn tay xây dựng chủ nghĩa xã hội trên toàn miền Bắc, ông trùm thơ cách mạng Tố Hữu khoái trá hạ bút :
Chào 61! Đỉnh cao muôn trượng
Ta đứng đây, mắt nhìn bốn hướng
……
Đời trẻ lại. Tất cả đều cách mạng!
Rũ sạch cô đơn, riêng lẻ, bần cùng”

Thi sĩ Chế Lan Viên cũng cao giọng hùa theo :

Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm!
Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?
….
Mặt trời đến mỗi ngày như khách lạ,
Gặp mỗi mặt người đều muốn ghé môi hôn…

“ Lạc quan cách mạng” đến thế là hết cỡ . Các văn sĩ tất nhiên không chịu kém cũng múa bút , căng ngực, hít hơi thổi cho những con chữ bay bổng chín tầng mây.
Trong dàn kèn đồng khí thế “nuốt Ngưu đẩu” đó, bỗng xuất hiện một tiếng sáo véo von góp vào dàn tụng  ca. Đó là nhà văn Đỗ Chu , xuất hiện  năm 1962 với những  truyện ngắn “Ao làng”, “Thung lũng cò”, “Hương cỏ mật”, “Mùa cá bột” … khác lối viết của các bậc đàn anh Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu…bằng sự tươi tắn, mới lạ  trong những chi tiết gần gũi đời sống như “mùi bùn”, “mùi đất”,”mùi cỏ” quê anh và lập tức được báo chí tôn vinh là một tiếng nói tươi tắn, mới lạ kể lại những ước ao, khát vọng, cách sống của thế hệ mình!
Thử đọc lại trích đoạn “Hương cỏ mật” mở đầu sự nghiệp Đỗ Chu :

“Sau làng em có trái núi Voi, núi Voi đối với tụi nhỏ chúng em như người bạn lớn tuổi hiền từ. Voi cho chúng em bao nhiêu thứ: những cụm cỏ mật khô thơm ngào ngạt, những viên đá cuội trắng nõn, tối tối mang đập vào nhau, lửa toé ra, một thứ lửa có mùi thơm như mùi mật ong cháy. “Vòi Voi” là một bãi cỏ tươi tốt quanh năm, đất ở đây mềm như đất ruộng màu, ngày xưa có chỗ chân trâu ngập móng. Chúng em thường lên đó chăn trâu. Trong các bạn cùng xóm, em thân nhất với Phương. Chính cái Phương đã bảo em cách làm cho cỏ mật còn xanh hết mùi hắc. Chỉ cần buộc túm những cụm cỏ xanh ấy lại, đem phơi nắng rồi hong gió, cỏ héo vàng đi, toả hương thơm dìu dịu (...) “
“Hương cỏ mật” được tôn vinh là áng văn chương đẹp, mê hoặc người đọc nhiều thế hệ. Tuy nhiên, các 8x,9x ngày nay mà viết lách dễ dãi thế thì khó lòng lọt được vào mắt bạn đọc, nói gì tới chuyện trở thành mẫu mực văn chương. Mới đây nhà thơ Trần Mạnh Hảo viết trên Dân Luận ngày 8-9-2011 :
“Đỗ Chu mê “Bông hồng vàng”, “Lẵng quả thông” của Pautopxki (do Vũ Thư Hiên dịch đầu những năm sáu mươi của thế kỷ trước). Giọng văn đầy chất thơ, lãng mạn và tươi mát như suối nguồn, như ánh trăng của nhà văn Nga này mê hoặc Đỗ Chu và các nhà văn trẻ thời đó. Đỗ Chu đã viết các truyện đầu tay như “Phù sa”, “Hương cỏ mật”, “Thung lũng cò” …khá hấp dẫn như một ông Pautopxki con con…Nay cái thời ấy xa rồi, thưở ban đầu ấy xa rồi, lối viết lãng mạn kiểu Pautopxki qua rồi, nhường hiện thực dữ dội cho những cây bút dữ dội. …”
Mặc dầu vậy tác phẩm của Đỗ Chu vẫn xuất hiện và vẫn được ca ngợi , khen thưởng đều đều. Năm 1963 giải thưởng cuộc thi truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ quân đội ,2001 giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật , 2002 giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam,2004 Giải thưởng ASEAN , 2011được đề cử Giải thưởng Hồ Chí Minh . Chẳng những “ cha thiên hạ “ về giải thưởng, Đỗ Chu còn là một thứ…” già làng ” ở Hội nhà văn.
Nguyên ở Hội nhà văn có một nơi gọi là “vạn đại dung thân” cho các cán bộ viết văn ( từ của Nguyễn Khải) – đó chính là…”Tổ sáng tác”. Một nhà văn khi được chọn về đây thì coi như được Đảng nuôi cả đời, bao cấp cả đời, kể cả bao cấp tư tưởng, khỏi lo bon chen, đấu đá , khỏi lo giành giật tem phiếu, con cá lá rau như người ngoài đời. Từ rất sớm Đỗ Chu được chọn về “tổ sáng tác”, 35 năm liền cho tới khi hưu như một nhà báo đã viết :” Thế là ông về Hội Nhà văn, không làm gì khác, ngoài ăn rồi cứ ngồi viết văn.
Và thế rồi đã 35 năm qua người ta quen có một Đỗ Chu ở Hội, quen đến mức thật khó hình dung ở cơ quan Hội lại không có Đỗ Chu ra ra vào vào, không nắm một chức vụ cụ thể, nhưng thật quan trọng. Quan trọng đến mức, có người đã nói, không có Đỗ Chu thì cơ quan Hội Nhà văn sẽ giông giống một Bộ, một Tổng cục nào đó.”
Tuy không giữ chức vụ gì nhưng quan chức trong các cơ quan cấp 1, cấp 2 cũng đều nể sợ “già làng”, có chân giò, xỏ lợn, mâm xôi gì chia chác bất kỳ lớn nhỏ cũng không được quên . Thời mồ ma nhà văn Trần Hoài Dương, có lần anh kể với tôi :”Danh sách BCH Hội nhà văn Khoá 6 lẽ ra không có tên nhà thơ Y Phương . Thế rồi Ban trù bị đại hội đang họp thì Đỗ Chu ở đâu bổ tới lớn tiếng :” Các anh đã nghe ý kiến đồng chí Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh vừa gọi tới chưa ? Đồng chí hỏi Ban chấp hành Hội nhà văn khoá này có đại biểu dân tộc không ?” Mọi người xanh mắt, Hữu Thỉnh lập tức bổ sung ngay Y Phương vào Ban chấp hành”.
 Chuyện thực hư chẳng biết sao nhưng qua đó thấy cái uy “già làng” của Đỗ Chu đối với quan chức Hội Nhà văn là có thực.
Được Đảng nuôi suốt đời , trách gì Đỗ Chu chẳng hết lòng với Đảng, có lần ông nửa đùa nửa thật với bạn bè :
“ Tớ là một nhà văn nên tớ rất thích câu thơ Việt Phương: “Cuộc đời yêu như vợ của ta ơi”. Cuộc đời thì rộng lớn lắm. Cuộc đời thì trong đó có đảng. Nên tớ yêu đảng như yêu vợ. …Tớ coi đảng là vợ. Đảng bẩn thì tớ mua xà phòng cho đảng tắm. Mua nước hoa cho đảng thơm.  Đảng nói thì không được cãi. Đảng bảo ăn là ăn. Đảng bảo uống là uống. Đảng bảo nằm là nằm. Đảng bảo lên giường là lên giường. Đảng bảo ra đường là ra đường. Đừng có mà léng phéng. ….Cho nên tớ cũng không thể rời hội nhà Văn được. Tớ thề sẽ sống mãi với hội nhà Văn để tận tâm tận lực viết văn ca ngợi vợ. “Cuộc đời yêu như vợ của ta ơi”. Việt Phương vẫn làm thơ chung chung quá. Cứ như tớ, tớ sẽ viết thế này: “Đảng thương yêu ấy vợ của ta ơi”.
Tuy nhiên chứng kiến các đàn anh như Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải…trước khi nhắm mắt cũng có đôi lời “phản tỉnh”, Đỗ Chu khi về hưu cũng có “tâm sự” với Văn Chinh :
“ Không biết nên phải hiểu từ lúc nào mà chúng ta đã bước từ chủ nghĩa dân tộc vào CNXH, rồi từ lúc nào từ Dân chủ Cộng hoà thành XHCN? Vì đâu mà có rất nhiều khái niệm hết sức hệ trọng bỗng nhiên bị đánh tráo. Bên dưới lòng yêu nước liệu còn có những gì đang nhân danh nó và đang được nó nguỵ trang?
Nhìn lại, không biết tại làm sao khi chúng ta học những cái tồi tệ của thiên hạ thì dễ thế, mà đến khi cần học những cái tốt đẹp thì khó quá. Rồi lại không biết bởi đâu mà khi người ta không ra gì, khi người ta mù mịt đảo điên thì người ta sẵn sàng kết anh em với mình, còn tới khi người ta tỉnh táo ra một chút là y như rằng người ta có ý khinh rẻ mình thì phải…”
Tất nhiên lời tâm sự của Đỗ Chu cũng chỉ là xa xôi , bóng gió, nhưng liệu có phải sau khi về hưu ông đã bắt đầu nghĩ…khác như “thời thượng” hiện nay.
Nhà thơ Xuân Sách dường như cũng không mấy “ngưỡng mộ” Đỗ Chu nên làm thơ chân dung có ý mỉa mai  :
Đám cháy ở sau lưng
 Đám cháy ở trước mặt
 Than ôi mày chạy đâu
 Dưới vòm trời quen thuộc
 Đốt bao nhiêu cỏ mật
 Không bay mùi thơm tho
 Càng hun càng đỏ mắt
 Quay về thung lũng cò

(còn tiếp)

Thứ Sáu, 23 tháng 12, 2011

HÀ NỘI...HỒI ẤY (30)


          Hà nội…”hồi ấy “ (30)



                    (tiếp theo)
 Trịnh lên giọng an ủi:
- Yên chí đi, ngày xưa ông Ó Henry viết một chuyện đại khái là có một con bệnh suốt ngày nằm trên giường ngắm chiếc lá ngoài vườn cứ đinh ninh rằng mình sẽ chết khi chiếc lá kia rụng xuống. Ngày này qua tháng khác con bệnh kia chờ chiếc lá mãi vẫn chưa rụng đâm ra khỏi bệnh. Hoá ra có một tay họa sĩ vẽ một chiếc lá rởm thay chiếc kia và làm nó thành bất tử.  Cái ánh trăng rởm của thằng Ngời này rồi cũng cứu được người yêu của cậu giống như chiếc lá rởm của Ó Henry kia thôi.
 Ý kiến hắn làm tôi chứa chan hy vọng, khăng khăng đòi tiến hành thí nghiệm ngay làm Trịnh đành phải bỏ dở chai rượu chạy đi gọi xích lô cho tôi chở tranh đến nhà nàng. Thế là trong đêm vắng, Trịnh và Ngời đạp xe đi trước dọn đường, tôi ngồi xe ôm bức tranh khổng lồ đi sau nom chẳng khác gì đám rước cô hồn, lặng lẽ. Càng gần nhà nàng tôi càng hồi hộp, biết đâu cái “ ánh trăng rởm” này lại chẳng làm nàng thức dậy và giống như đêm trăng tháng trước nàng lại âu yếm nhìn tôi với đôi mắt hồi sinh tuyệt vời, tôi sẽ lại ôm nàng trong tay, để nàng ngả đầu vào vai và hai đứa lại đứng mãi như vậy trong một giao cảm thần thánh. Nhưng mọi tưởng tượng chợt tắt ngấm khi chiếc xích lô ghé cửa nhà nàng, cả phố bất chợt mất điện chẳng hiểu do chập dây hay thằng thợ chết tiệt nào đó cắt cầu dao ?
 Trịnh ghé xe, ngồi bệt xuống vỉa hè ngao ngán :
- Tối như hũ nút thế này diễn trò ánh trăng sao được ?
- Chờ tí đi, có điện ngay ấy mà.
 Tôi an ủi hắn nhưng trong bụng vẫn hoang mang chẳng biết đến thủa nào thằng “điên nặng”mới đoái hoài tới thí nghiệm có một không hai của chúng tôi. Trịnh vẫn cằn nhằn:
- Biết thế này cứ ngồi nhà làm nốt chai rượu lại chả hơn. Mẹ kiếp, sao thằng Ngời không mang sơn bút đi vẽ ngay một cái máy phát điện…
 May quá, như có phép thần, khi Trịnh vừa nói, cả dãy phố đèn đóm bỗng sáng bừng cả lên chỉ riêng có mỗi nhà ông bà Đ. vẫn tối om om, im phăng phắc. Thôi chết rồi, tôi bỗng nhớ ra cả ba tháng nay ông Đ. không trả tiền điện nên thợ đến cúp từ cả tuần nay. Tôi đành giải thích cho hai thằng kia biết và lếch thếch kéo nhau trở về, không dám gọi cửa phiền ông bà Đ. vô ích. Vừa gần tới nhà, tôi đã thấy một người đứng đợi ngoài hè và bác sĩ Trịnh bỗng đạp vống lên. Chao ơi, cứ nhìn cái cách hắn lăng xe đổ kềnh trên đường, ôm ghì lấy nàng “ ngựa vía” miệng lắp bắp “ ối trời ơi, em đấy ư” cứ như đã xa nhau cả tháng trời mới biết những lời hắn ba hoa về hạnh phúc gia đình quả là có thực.
Tôi nghe hắn trình bày với vợ về việc dùng thời gian từ chặp tối tức là từ lúc nàng cho phép hắn ra khỏi nhà đến giờ, đi những đâu, gặp những ai, đã uống mấy chén chẳng khác gì ông cảnh sát hỏi cung tôi hồi nào thì mới biết cái giá hắn phải trả cho hạnh phúc hắn vẫn hãnh diện thật lớn biết chừng nào. Sau cùng hắn cũng làm nàng hiểu được sứ mạng cao cả trong việc chở bức tranh ánh trăng đi giúp tôi chữa trị người yêu đang lâm bệnh, bấy giờ nàng mới chịu vui vẻ bước vào nhà để nghe hắn trịnh trọng giới thiệu họa sĩ Ngời, xem tác phẩm mới nhất và theo tôi hiểu chính là để hắn “ giải quyết” nốt chai rượu dở dang. Nhưng tới chén thứ hai, hắn đã bị nàng “ ngựa vía” ngăn lại với vẻ quyền uy đầy ngọt ngào khiến hắn đóng vội nắp chai cất gậm giường, cười hì hì :
- Nhất vợ nhì… cấp trên ông ạ. Các ông cứ thử lấy vợ mà coi, đó là chân lý lớn nhất của mọi thời đại.
 Nàng “ ngựa vía” sung sướng đỏ cả mặt, nhu mì như người vợ hiền chính hiệu, đảm đang như một bà chủ gia đình, cái còn sót lại ở nàng sau khi lấy chồng là vẻ rừng rực khiến tôi không thể nào không nhớ tới những bài học nhập tâm nàng dạy tôi trong chính căn phòng này. Tôi cứ xoá đi ám ảnh tội lỗi ấy bằng cách bảo nàng rằng phúc nhà thằng Trịnh còn lớn lắm nên trời mới run rủi cho hắn gặp nàng, rằng tôi rất bái phục nàng đã cảm hoá được hắn trở thành người chồng , người đàn ông tuyệt vời và nếu nàng còn giúp được hắn thực hiện được ước mơ một đời là mở một cái bệnh viện tư thì công lao  nàng đáng đúc tượng. Vẻ sung sướng ngời ngời trên mặt, nàng “ ngựa vía” kêu to:
- Một cái bệnh viện tư ? Sao lại không , ấy thế mà anh Trịnh em chả hé răng nói với em lấy nửa câu.
 Nàng quay sang Trịnh đang co rúm người ;
- Anh tệ thực, vợ chồng liền da liền thịt mà vẫn còn giấu em chuyện lớn thế, thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn huống hồ… một cái bệnh vịên. Sáng mai anh lo chạy thủ tục đi…
 Trịnh nhìn tôi như muốn nuốt sống, chao ôi, tôi không thể nào mà không phá lên cười, may quá vừa lúc ấy nàng “ ngựa vía” đã đứng dậy lôi tay chồng xin phép ra về để còn “ pha cho anh ấy cốc nước cam uống rã rượu”. Khi còn lại có tôi với hoạ sĩ Ngời, tôi hỏi hắn, liệu nàng “ ngựa vía” có giúp được thằng Trịnh thực hiện được mơ ước mở bệnh viện tư không, hắn cười khảy :
- Hắn đánh mất cái đó rồi.
 Tôi trố mắt :
- Mất ở đâu ?
- Ở khe đùi nàng “ ngựa vía” chứ đâu.
 Tôi không sao cười theo hắn được, thằng cha họa sĩ này có con mắt cứ như hai cái mũi khoan xoáy vào ruột gan con người ta, tôi không thích tí nào, nhưng nghề nghiệp của hắn chắc phải vậy. Hắn nói đêm nay hắn ngủ lại phòng tôi để sem cái nguy cơ “ biến dạng thành bọ hung” ấy có thực không, dẫu rằng theo hắn, tính vật chất của môi trường đóng vai trò không đáng kể trong quá trình tập nhiễm và tha hoá.
- Nguy cơ là chỗ khác chứ không ở mùi cứt, mùi pháo lậu…
 Hắn lên giọng triết lý với những ngôn từ tôi chỉ hiểu được cái vỏ âm thanh ù đặc cả hai bên tai. Không may, giữa lúc hắn đang mải mê với cơn cảm hứng nói năng, ngoài cửa sổ gã ăn trộm cứt lạch xạch đẩy xe qua mà vào giờ này tôi chắc hai cái xọt khổng lồ của gã chắc đã lưng lưng, dội thốc vào phòng tôi một mùi uế khí đậm đặc làm chàng họa sĩ đang há miệng phải ngậm chặt ngay lại, mặt mũi nhăn nhúm như vừa nhá phải trái ớt.
 Tôi phá ra cười :
- Mọi lý thuyết đều màu xám, chỉ cây đời mãi mãi xanh tươi.
 Hắn hắt xì hơi liền ba cái, ràn cả nước mắt, mãi mới ấp úng mấy câu tiếng tây chẳng hiểu gì, sau cùng buông tiếng thở dài :
- Mẹ kiếp, cái tổ dế của ông khủng khiếp thật.
- Chưa đâu, lát nữa còn được thưởng thức mùi pháo lậu nữa kia.
 Hắn trố mắt :
- Lại còn thế nữa. Ông lo đúng đấy, ăn ở thế này chưa biến thành bọ hung thì là một sự lạ.
 Suýt nữa tôi cởi áo cho hắn xem cái sơi lông quái ác lâu lâu tôi cắt đi, nó lại mọc dài ra biểu trưng cho đặc tính bọ hung mà tôi chắc đã có ở trong tôi, nhưng gã trộm cứt đã thập thò ngoài cửa sổ ra ý muốn hỏi han, nhờ cậy. Tôi mở cửa cho gã vào, khi nhận ra có khách lạ, gã hoảng sợ, luống cuống định quay ra. Tôi bảo gã đây là họa sĩ chứ không phải cảnh sát, khỏi lo, cứ ngồi yên chí uống nước. Gã lúng túng :
-Em nghe anh… bị bắt, nóng ruột quá không hiểu có làm sao không ? Mỗi khi đi làm qua cứ thấy cửa đóng im ỉm, mãi bữa nay mới nhìn thấy anh… em mừng quá…
 Tôi đưa gã chén nước, nói lời cám ơn và giảng giải cho họa sĩ Ngời cái sự “ đi làm” của gã là như thế nào. Chàng họa sĩ quan sát gã quá chăm chú khiến lúc gã đi rồi tôi hỏi phải chăng định chọn gã làm người mẫu cho bức tranh sắp tới, Ngời bật cười :
- Không, tớ cần gì người mẫu. Tớ chỉ xem có dấu hiệu bọ hung nào trên người gã không, gã có nhiều nguy cơ hơn cậu chứ, tiếp xúc trực tiếp mà.
 Tôi nhói lên hồi hộp :
- Ông có thấy gì không?
Không, chẳng thấy gì hết. Cậu có thấy không ?
- Ít nhất gã hơn tớ ở chỗ ngửi cứt vẫn còn thấy thối, còn tớ thì không và còn cái này nữa…
 Tôi quyết định cởi áo chìa cho hắn xem sợi lông oan nghiệt, hắn xem xét, vuốt ve rất lâu rồi hạ một câu xanh rờn ;
- Một nửa con người cậu đã là bọ hung…
 Tôi choáng người, nổi cáu :
- Nói láo, mấy thằng nghệ sĩ chúng mày bao giờ cũng thích phóng đại.
 Hắn cười ghê rợn :
- Ấy thế mà không có bọn tao chắc nhân loại đã biến hết thành thú rồi.
- Điên, chúng mày là một lũ điên.
 Tôi kêu lên và không muốn cãi nhau với một trong những thằng điên ấy, tôi lôi chai rượu gậm giường ra gạ hắn uống tiếp. Hắn tính nói gì nữa, nhưng tôi gạt phắt đi bảo hắn rằng từ nay không được đả động tới chuyện đó nữa.
- Kệ mẹ sự đời, tôi nói, tao có thành dơi thành chuột gì tao vẫn là tao, trước sau cũng về với đất.

                                     (còn tiếp)

Thứ Ba, 20 tháng 12, 2011

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN (KỲ 8)




           
             Nhà văn NGUYỄN HUY THIỆP


Một thời trong giới nghệ sĩ , người ta coi Văn Cao là cụ tiên chỉ trong làng nhạc. Vậy trong làng văn , cụ tiên chỉ ấy là ai vậy ? Tất nhiên không phải ông Hữu Thỉnh tuy đã được Đảng chọn làm Chủ tịch Hội nhà văn suốt đời và thực ra cái ghế đó so với phẩm trật triều đình thì cũng chỉ ngang chức Bật Mã Ôn mà Ngọc Hoàng Thượng Đế ban cho Tôn Ngộ Không ? 
Vậy thì cụ tiên chỉ trong làng văn một thời là ai ?
Là ai thì chắc mọi người đều biết  - đó là nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, người gây “”động đất” làng văn vào thời Đảng tuyên bố cởi trói cho nhà văn. 
Thời đó, Nguyễn Huy Thiệp là một “hiện tượng đặc biệt”.
Trước hết, xưa nay, một nhà văn trở thành nổi tiếng thường do giới phê bình “cung đình” tôn vinh theo gợi ý của Ban tuyên huấn vì nó đáp ứng một nhu cầu chính trị nào đó đang diễn ra kiểu như “Sống như anh” của Trần Đình Vân, “Người mẹ cầm súng” của Nguyễn Thi,”Hòn đất” của Anh Đức…Những nhà văn “trật khỏi đường rầy” khỏi chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, không những khó được nêu danh trên báo, mà còn bị đập tơi bời, bị “cấm bút”.
 Nguyễn Huy Thiệp chẳng những được các nhà phê bình “quốc doanh” tung hô hết lời, gọi ông là “cây bút vàng” ( Vương Trí Nhàn) mà ngay cả các nhà nghiên cứu văn học hải ngoại cũng đưa ông  lên  cao chót vót, gọi ông là “nhà thạch học” ( Thụy Khuê).
Hầu hết các nhà phê bình”có số má” đều góp phần vào cơn bão ngôn từ ca ngợi Nguyễn Huy Thiệp : Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn,Phạm Xuân Nguyên, Hoàng Ngọc Hiến, Đỗ Đức Hiểu, … các nhà văn Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, nhà thơ Trần Đăng Khoa, Nguyễn Khoa Điềm, Hữu Thỉnh… và cả bạn đọc cũng hân hoan chào đón những  sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp. Danh tiếng của ông lan ra cả nước ngoài khiến ông được  nhận giải thưởng văn chương Nonino tại Ý và  huy chương Chevalier des arts et des lettres của Pháp .
Tuy nhiên, “lộc” văn chương Nguyễn Huy Thiệp được hưởng dường như  đã vượt quá cái phần giá trị thực của ông.
Vì sao vậy ?
Trước hết ông không thuộc các nhà văn Việt Nam lớn lên từ nền văn hóa Pháp, ông chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc thì đúng hơn.
Trong truyện “Giọt máu”, đoạn tên Phạm Ngọc Chiểu muốn chiếm đoạt nicô Huệ Liên chùa Thiên Trù bèn nhờ tên “macô” Hàn Soạn,bày mưu :
 "Việc này có năm bước. Em quen hòa thượng trụ trì ở chùa Thiên Trù là nơi ni cô Huệ Liên ở đó. Ðến đấy, quan bác giả đò đau bụng rồi bảo bà chị cứ đi vào chùa Trong trước, quan bác đưa biếu hòa thượng một lạng vàng, nếu hòa thượng không nhận thì thôi, coi như hỏng việc. Nếu hòa thượng nhận, thế là được một bước. Ðêm đó hòa thượng cho quan bác nghỉ ngơi trong trai phòng, quan bác đưa cho em một lạng vàng để em lo gác bên ngoài, hòa thượng mời cơm chay, có ni cô hầu rượu. Quan bác ép ni cô uống một cốc rượu có pha thuốc mê, nếu ni cô không uống thì thôi, coi như hỏng việc. Nếu ni cô uống, thế là được hai bước. Dọn mâm xong, ni cô say thuốc, hòa thượng quay đi, quan bác bế ni cô lên giường, thế là được ba bước. Quan bác cởi y phục nhà chùa của ni cô ra, muốn làm gì thì làm, thế là bốn bước. Sáng hôm sau, ni cô tỉnh lại, hòa thượng với em vào, chửi mắng quan bác với ni cô làm nhục cửa thiền, bắt quan bác phải ký văn tự nhận ni cô về, quan bác nộp vào hòm công đức một lạng vàng xá tội, thế là năm bước"
Thử so đoạn văn của Nguyễn Huy Thiệp với đoạn văn của Thi Nại Am trong Thủy Hử chương Tây Môn Khánh nhờ Vương bà dụ dỗ Kim Liên , vợ Võ Đại Lang :
“Đến lúc mua được thức nhắm về, tôi lại nhờ nàng xếp đồ khâu lại, để cùng ngồi uống rượu cho vui, thế mà nàng không chịu ngồi là việc hư hỏng. Nếu nàng bằng lòng ngồi cho, thì việc ấy có tới tám phần bợm rồi đó. Uống dăm ba chén rượu, tôi giả vờ là hết rượu,bảo cậu phải mua thêm. Bấy giờ cậu sẽ nhờ tôi đi mua hộ, đoạn rồi tôi đi khép cửa, để mặc hai người ở đó, thế mà nàng hoảng hốt đòi về là hỏng việc. Bằng nàng cứ ngồi yên không nói chi, là việc có chín phần bợm rồi đó. Đến đó chỉ còn thiếu có một phần nữa là xong…trước hết phải giơ tay áo lên bàn, giả cách đánh rơi chiếc đũa, rồi lại vội vàng cúi xuống nhặt, và rờ tay vào chân nàng mà nắm một cái, nếu nàng gắt giận cự mắng, thì tôi sẽ chạy vào cứu, song như thế cũng là hỏng việc, không còn làm thế nào được nữa! Nhược bằng nàng lẳng lặng không nói gì, thì bấy giờ có đủ mười phần bợm rồi đó.”
Tất nhiên, không ai kết luận Nguyễn Huy Thiệp “cóp văn” của Thi Nại Am, nhưng “mượn thủ pháp diễn nghĩa ” trong văn chương Tàu là khá rõ. Mà văn chương Trung Quốc phần lớn xoay quanh “thủ đoạn sống”, “mẹo làm người”, “người ăn thịt người ” … đó cũng là những đề tài và những câu triết lý sặc mùi “tàu” thường thấy trong văn chương Thiệp , . 
Trở lại câu hỏi vì sao văn chương Thiệp lại “semer à tout vent” , gieo được vào các ngọn gió – nôm na là “Đảng khen, dân thích và cả hải ngoại cũng …OK” ?
Trước hết NHT không đi vào vết xe của các nhà văn bị “cấm bút”, bị “thu hồi sách”, bị đập tơi bời trên báo chí. Tác phẩm NHT dẫu có mổ xẻ cái xấu của con người thì cũng không phải là con người xã hội chủ nghĩa, mà con người chung chung, không đòi hỏi dân chủ, không tố cáo chế độ, không “phản biện” trật tự xã hội xã hội chủ nghĩa…Tóm lại văn chương Thiệp không phạm những chuyện “nhạy cảm”, Vậy yên tâm nhé, các nhà phê bình “quốc doanh” cứ thả sức ca ngợi mà không bị tuyên huấn thổi còi . Tất nhiên ở đâu đó, NHT cũng có đôi lời “phàn nàn”, “động chạm”. Trong bài “viết cho Hội nghị lý luận phê bình văn học tháng 11/1989, ông nói trắng phớ :
“Chúng ta cần phải tỉnh táo nhận ra rằng tình trạng hiện nay của dân tộc ta là thê thảm. Tôi không muốn nói đến tình trạng thiếu thốn vật chất mà muốn nói đến thế giới tinh thần của họ. Những ràng buộc nặng nề của các tư tưởng lạc hậu cũ kỹ khiến cho hàng triệu số phận con người đau khổ. Họ mê man trong các công sở và trong các tổ quỷ gia đình, trong các luỹ tre xanh và các khu tập thể đông hộ.”
‘Trên văn đàn, số nghiệp dư và tỉnh lẻ thời nào cũng có và đông như kiến(!). Thói to mồm, tính chất bảo hoàng hơn cả nhà vua và đủ kiểu văn hay khác có thể giết phăng, giết tươi những người có ý định tử tế muốn làm việc này. Việc tranh đấu với những con ngợm văn chương (chữ của người Pháp dùng để chỉ đám quần cộc trong văn học) là bất khả.  “
Trong ““Trò chuyện với hoa thủy tiên và những nhầm lẫn của nhà văn” , Nguyễn Huy Thiệp  gọi Hội nhà văn là “đám giặc già” và gây nên một làn sóng la ó và phản đối. Tuy nhiên tất cả những ý kiến kiểu đó chỉ là trên bài phát biểu, chứ không bộc lộ thành cảm hứng, thành chủ đề trong sáng tác. Và cũng chỉ ít lâu sau, Nguyễn Huy Thiếp lại viết theo kiểu “bé ngoan” để chuộc lỗi  :
“Tôi cứ nghĩ rằng thời của tiểu thuyết sẽ là thời của dân chủ, thời của những tư tưởng tự do, thời của sự ổn định chính trị và kinh tế: đấy cũng là thời mà chúng ta đang sống bây giờ. “
Dẫu sao, Nguyễn Huy Thiệp vẫn xuất sắc trong một số truyện ngắn khiến  một thời ông đáng mặt là “tiên chỉ trong làng văn” . Nhưng lộc trời chỉ có vậy, sang lĩnh vực tiểu thuyết, cái phần chính yếu làm nên cốt cách một nhà văn lớn thì ông lại…không có. Tuổi hai mươi yêu dấu,  Tiểu long nữ, Gạ tình lấy điểm …tiếc thay lại là những truyện dài tồi, bộc lộ một lỗ hổng chết người trong văn chương Nguyễn Huy Thiệp : câu chữ dễ dãi, sơ sài và nhất là …không có tư tưởng. Và như lời kịch tác gia Shakekspeares :” lời mà không có tư tưởng sao bay được lên thiên đàng ?”. Mai sau, trải qua sàng lọc sinh tử  của thời gian, văn chương Nguyễn Huy Thiệp liệu bay cao tới đâu ?
Khi được nhà báo hỏi nhắn nhủ gì cho lớp trẻ, Nguyễn Huy Thiệp trả lời
” Trước hết các bạn phải nổi tiếng”
Đó là khác biệt rất lớn của Nguyễn Huy Thiệp với những nhà văn lớp trước , khác nào Thiệp xúi các nhà văn trẻ chăm chăm vào PR hơn là khổ luyện văn chương chữ nghĩa. Thế còn  “trách nhiệm thời đại”, “lương tâm thời đại”, “lương tri dân tộc”…xưa nay xã hội thường trông cậy các nhà văn ? Không dám động chạm tới “cường quyền”, Nguyễn Huy Thiệp khôn ngoan né xa những “nhạy cảm” chết người đó.
 Xuân Sách hiểu khá rõ Nguyễn HuyThiệp , bởi vậy đã hạ bút :
“Không có vua thì làm sao có tướng
Nên về hưu vẫn phải chết tại chiến trường
Kiếm sắc chém bao nhiêu đầu giặc
Để vàng tôi trong lửa chịu đau thương.”

              (còn tiếp)

Chủ Nhật, 18 tháng 12, 2011

HÀ NỘI ....HỒI ẤY (29)


                       Hà nội …hồi ấy (29)



                       (tiếp theo)

Ngay lúc này tôi chưa thể ngờ được chuyên đề nghiên cứu sản xuất VLDK1 và VLDK2 toàn phòng tôi đang lao vào cũng là một thứ làm hàng giả. Tôi trở về trình diện ông Trưởng phòng sau nửa tháng ở tù đúng vào lúc ông đang nhai bỏm bẻm một thứ gì đó kiểu như nhai trầu, có điều không đỏ mà lại xanh, vây quanh là các ông công đoàn, ông phó phòng, ông Bí thư Chi bộ, nghĩa là đầy đủ bộ tứ lãnh đạo, tất cả đều dồn mắt vào miệng ông như chờ đợi ở đó sắp xảy ra một phép màu.
Bất thình lình ông Trưởng phòng đập tay xuống bàn bẻ gãy đôi chiếc thước kẻ gỗ, nhả trong miệng ra miếng bã “ trầu xanh”, bôi vào chỗ thước gãy. Ông phó phòng lôi trong túi ra cuộn dây, bó chặt mối nối, giơ lên cho cử tọa xem kỹ rồi long trọng tuyên bố :
- Một tiếng đồng hồ nữa chỗ nối này khô lại sẽ cứng còn hơn cả lúc nó chưa gãy nữa kia.
Ông trưởng phòng giơ lên miếng bã “ trầu xanh” :
- Đây là rễ một loại cây chỉ mọc trong các khu rừng rậm Tây Bắc nước ta, do phải giữ bí mật tên khoa học của nó nên tạm gọi là cây validike, thành phần chủ yếu trong vật liệu dính kết mà ta đang nghiên cứu. Cây validike này có đặc tính tiết ra một thứ keo mà nếu ta pha trộn thêm một số chất phụ gia vào nữa, nó có thể gắn hai chiếc ô tô dính đít lại nhau, cho mở máy tha hồ cũng không rời ra được…
Tôi sướng quá , vỗ tay đôm đốp :
- Hoan hô… hoan hô validike… thật là kỳ diệu… thật là vĩ đại… validike…
Ông Trưởng phòng quay phắt ra cửa, hoá ra mọi người đang mải họp Hội đồng khoa học kỹ thuật phòng nên giờ mới nhận ra tôi, ai nấy đều tròn xoe cả mắt như thể tôi mới từ nước Mỹ vượt biên ngược trở về.
Ông Trưởng phòng lườm tôi :
- Anh được về hay trốn ra đấy ?
Tôi ưỡn ngực :
- Báo cáo, tôi được tha có giấy má hẳn hoi.
Ông Bí thư chi bộ đỡ lời :
- Hôm qua phòng bảo vệ nội bộ có báo với tôi, đồng chí này chỉ bị tình nghi thôi, sau khi xác minh đã được kết luận tha bổng vì vô tội. Bên cảnh sát có cử người sang đề nghị giữ nguyên các quyền lợi chính trị và kinh tế cho đồng chí đó…
Lập tức ông Công đoàn bước tới nắm chặt tay tôi vồn vã :
-Tôi đã nói ngay mà, cái thằng này lành như đất ấy, suốt ngày củ mỉ củ mì làm gì ra gan cóc tía mà gây chuyện tày đình thế. Tôi phải làm công tác tư tưởng cho anh em trong phòng đấy, khối cậu cứ lo ngay ngáy chẳng hiểu thằng đó có khai bậy khai bạ, đổ vấy điều gì cho anh em không. Bữa trước có hai anh cảnh sát cứu hoả tới cơ quan kiểm tra phong trào phòng cháy chữa cháy thế là cứ đồn ầm lên là họ tới bắt thêm người dính dáng tới cậu. Này, trong đó ăn uống thế nào lại béo trắng ra thế kia. Tôi đã bảo mà, nhà tù của ta khác hẳn thời Mỹ Ngụy, mấy cậu trong phòng cứ lo cậu đói, giục tôi đi thăm nuôi, tôi bảo cứ thong thả coi tình hình ra sao…
Ông Trưởng phòng sốt ruột cắt ngang :
- Thôi thôi, cậu ấy được về, phòng mình không mất điểm thi đua là tốt rồi. Các ông về triển khai như đã bàn, trước mắt thành lập ngay tổ tìm kiếm cây validike khẩn trương lên đường trước mùa mưa…
Chờ mấy ông kia giải tán, ông Trưởng phòng vẫy tôi lại :
-Cậu được về sớm thế này hay quá, vẫn còn kịp tham gia đợt nghiên cứu VLDK2 không thì thiệt thòi lắm. Sức khoẻ ra sao ? Nhận công tác ngay được chưa ?
Tôi hoảng hồn, chỉ lo ông phái lên Tây Bắc theo tổ tìm kiếm cây validike thì tôi chết, nên vội vàng :
- Báo cáo thủ trưởng tôi còn yếu lắm ạ, cứ ngồi một tí, là khắp bốn xung quanh cứ quay như chong chóng.
Ông Trưởng phòng cụt hứng :
- Hừm… nom cậu đỏ đắn, béo tốt thế kia…
- Báo cáo bên ngoài nom thế thôi, còn ở trong, lục phủ ngũ tạng nhão hết rồi ạ.
Ông Trưởng phòng nhìn tôi dò hỏi :
- Trong tù người ta có đánh anh không ?
- Tuyệt đối không ạ.
Chẳng hiểu sao ông lại buông một tiếng thở dài :
- Thôi được rồi, anh cứ nghỉ hẳn một tuần cho thật khoẻ. Tôi sẽ nói công đoàn trích quỹ bồi dưỡng…
Tôi sung sường quá, bởi thế tôi lại bốc lên hứa hẹn rằng sau khi hồi phục sức khoẻ tôi sẽ mang hết con tim khối óc phục vụ ông trong công cuộc nghiên cứu sản xuất vật liệu dính kết VLDK1 và VLDK2 mà nếu thành công thì đó là một phát minh có tầm cỡ thế giới bởi vì nó sẽ mang lại một cuộc cách mạng loại bỏ mọi thứ bù loong, đinh ốc ở trên đời, mai kia, bằng phát minh mới của ông người ta sẽ dán hết mọi thứ từ bàn ghế tủ giường cho đến máy móc xe cộ, và rồi ngay cả con tàu vũ trụ nữa người ta cũng sẽ phải dùng tới cái thứ keo thần kỳ của ông …
Cảm hứng mỗi lúc một bốc cao, tôi đấm hét lên :
- Cách mạng… đó thực sự là một cuộc cách mạng kỹ thuật trên toàn thế giới.
Ông Trửơng phòng đang từ đỏ mặt hân hoan thoắt trở sang tối sầm khi cái sự qua đà của tôi làm ông tưởng tôi xỏ xiên :
- Anh lại vừa mới nốc rượu vào phải không ?
Tôi chối bay chối biến ba chén uống với Trịnh lúc đầu giờ, tôi thề với ông rằng vì đau dạ dày nên đến một giọt rượu tôi cũng chẳng dám uống, tuy nhiên tới khi hoàn thành thắng lợi VLDK1 và VLDK2, tôi sẵn sàng cùng ông đánh ngã cả chai ăn mừng phát minh vĩ đại làm rạng rỡ nền khoa học kỹ thuật Việt Nam trên toàn thế giới.
- Báo cáo thủ trưởng đó chính là bước mở đầu để ta trèo lên đỉnh cao của trí tuệ nhân loại.
- Thôi được rồi, được rồi, anh về nghỉ đi cho tôi nhờ.
Cái cách ông đùn đẩy tôi ra khỏi phòng làm tôi buồn phát khóc lên được, tôi có làm gì hại ông đâu, tôi ca ngợi thành tích vĩ đại của ông thôi mà. Tôi kêu to lên rằng từ nay không bao giờ tôi nói năng hỗn láo với cấp trên nữa, với các đồng chí đó tôi sẽ một mực chỉ ca ngợi thôi, nếu ai còn nghi ngờ điều đó tôi sẵn sàng mổ bụng tôi ra cho mọi người xem. Ông Công đoàn, ông Bí thư chi bộ bỗng dưng ở đâu chạy tới giúp ông Trưởng phòng cùng nắm lấy tôi kéo ra ngoài hành lang. Cánh cửa đóng sập, tôi khom người cúi chào mấy ông trong đó và rồi hân hoan bước đi…


12.


Một buổi tối sau khi đã lang thang chán chê trong cái thành phố tối om vì cúp điện, người và xe ngược xuôi như ngái ngủ, tôi chở về phòng và thấy bác sĩ Trịnh và họa sĩ Ngời chờ sẵn. Chuyện gì nữa đây ? Lại nấu bia lậu hẳn thôi ? Cơ may không bị bại lộ trong cái đêm chồng nàng Ánh Tuyết chết trong phòng tôi chắc chẳng lặp lại nữa đâu, phúc bất trùng lai mà, nhưng nếu không “nối lại sự nghiệp”… tôi rùng mình nhớ tới cái nỗi thèm khát khi đi qua một quán phở người ta mở nồi nước dùng bốc lên làn khói xộc thẳng vào cái bụng đang réo ùng ục, trong lúc vét nhẵn túi cũng chỉ đủ mua một thanh kẹo lạc. Mặc kệ, muốn ra sao thì ra, sống cái đã, tôi hăng hái reo lên :
- Nồi, chai đâu cả rồi, ta lại tiếp tục chứ ?
Vẻ dửng dưng, đầy bí mật của Trịnh làm tôi cụt hứng, hắn hất đầu vào trong nhà ra hiệu :
- Có cái cho mày đấy.
Nhà họa sĩ ngồi xếp bằng dưới đất, xung quanh ngổn ngang các thứ màu vẽ, cây cọ và trước mặt dựng một bức tranh cỡ lớn vẽ bầu trời toàn những mây là mây, ở giữa khoét một lỗ tròn to tướng. Tôi reo lên mừng rỡ :
-Giống y như đêm trăng thực rồi.
Trịnh xua tay :
- Khoan đã, bây giờ màn trình diễn mới chính thức bắt đầu.
Hắn lấy tấm kính mờ che lỗ khoét, tất ngọn đèn treo giữa phòng và bật ngọn đèn gắn phía sau tranh, lập tức ảo giác về một ông trăng cao vợi trên bầu trời đầy mây trắng choán ngợp tôi. Tôi kêu lên trầm trồ :
- Giỏi thật, giỏi thật, đến thằng sáng như tao còn bị lừa, huống hồ nàng đang bị bệnh.
Tôi rối rít cảm ơn họa sĩ Ngời, bốc hắn lên bậc pháp sư của màu sắc và nếu tôi có tài như hắn, tôi sẽ vẽ một cô gái đêm đêm để cạnh giường khỏi cần lấy vợ. Trịnh rút ra chai rượu nói của nàng “ngựa vía” gửi tặng ăn mừng bức tranh và vì căn phòng này đã để lại cho nàng một ấn tượng ghê sợ chứ không thì chắc chắn nàng sẽ tới chia vui với hoạ sĩ. Sự biến đổi của Trịnh làm tôi chóng mặt, từ một thằng coi gia đình như cái địa ngục, tới suốt bữa rượu tối nay, hắn chỉ xoay quanh mỗi chuyện nàng “ ngựa vía” đã làm hắn sung sướng đến thế nào, cái tổ ấm mới của hắn tuyệt vời ra làm sao. Tôi rất mừng cho hắn tuy bụng thầm lo nếu đúng như cung cách chi tiêu gia đình mà hắn mô tả chắc hẳn không bao lâu nữa nàng “ ngựa vía” lại phải giở ra cái nghề cũ. Quả thực xây dựng thiên đường dưới hạ giới trong khuôn viên gia đình xem ra mới ảo tưởng làm sao, ngay cả nàng của tôi nữa, một mai lành bệnh, liêu chúng tôi trốn vào đâu xây tổ ấm khỏi lặp lại cái cảnh vợ chồng ông bà Đ. ?
 Tôi chợt buồn hẳn và không kìm được tiếng thở dài :
Chẳng hiểu cái ánh trăng giả này rồi có chữa được bệnh cho nàng của tớ không ?

     (còn nữa)

Thứ Sáu, 16 tháng 12, 2011

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN (KỲ 7)

         

    KỶ NIỆM 100 NĂM NGÀY SINH NHÀ THƠ               
                                                    THANH TỊNH
                     (12-12-1911/12-12- 2011)


 Trong văn học Việt Nam có hiện tượng rất lạ, ngay các nhà phê bình cũng ít để ý : có đoạn văn xuôi tồn tại trong ký ức người đọc dai dẳng và bền vững chẳng kém gì một bài thơ “lưu danh thiên cổ”.

“Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường.
Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.
…..
Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học.”

Thử hỏi những người độ tuổi “quốc văn giáo khoa thư”, có ai vào những sáng cuối thu khai trường không bồi hồi nhớ lại đoạn văn trong “Tôi đi học” của nhà thơ Thanh Tịnh, thấm đẫm chất nhân văn như đá tạc vào thời gian .
Không hiểu sao, cứ mỗi lần nhớ đến đoạn văn Thanh Tịnh,tôi cũng nhớ tới một đoạn văn thuộc lòng từ thủa học trò của nhà văn Pháp Anatole France trong cuốn “ Le livre de mon ami”, :
La rentrée des classes
“Je vais vous dire ce que me rappellent, tous les ans, le ciel agité de l’automne, les premiers dîners à la lampe et les feuilles qui jaunissent dans les arbres qui frissonnent ; je vais vous dire ce que je vois quand je traverse le Luxembourg dans les premiers jours d’octobre, alors qu’il est un peu triste et plus beau que jamais ; car c’est le temps où les feuilles tombent une à une sur les blanches épaules des statues. Ce que je vois alors dans ce jardin, c’est un petit bonhomme qui, les mains dans les poches et sa gibecière au dos, s’en va au collège en sautillant comme un moineau. Ma pensée seule le voit ; car ce petit bonhomme est une ombre ; c’est l’ombre du moi que j’étais il y a vingt-cinq ans.”
Ngày khai trường
Tôi sắp nói với bạn những gì gợi tôi nhớ lại, hàng năm, trời thu xao động, những bữa ăn chiều đầu tiên dưới ánh đèn,và những chiếc lá vàng đi trong những hàng cây run rẩy ; tôi sắp nói với bạn những gì tôi trông thấy khi đi qua vườn hoa Luxembourg vào những ngày đầu tháng Mười, hơi buồn một chút nhưng đẹp hơn bao giờ hết vì đó là thời gian từng chiếc lá  rơi trên vai trắng của những pho tượng . Tôi cũng nhìn thấy trong vườn một chú bé hai tay đút túi ,cặp sách quàng vai tung tẩy tới trường như một con chim nhỏ.Tôi chỉ thấy trong tâm tưởng, bởi chú bé ấy chỉ là một cái bóng, cái bóng của chính tôi hai mươi lăm năm trước…”   
Và câu này mới thật xúc động :
“C’est le même ciel et la même terre; les choses ont leur âme d’autre fois, leur âme qui m’egaye et m’attriste, et me trouble, lui seul ‘n’est plus…”
“ Vẫn trời ấy, vẫn  đất ấy, vẫn những thứ mang linh hồn ngày xưa, linh  hồn làm tôi vui, buồn và bối rối, chỉ riêng chú bé ấy là không còn nữa…”

Hai nhà văn ở hai phương trời, cùng đục đẽo vào lòng người những dòng văn bất hủ về một thời trong sáng nhất của đời người :” thời  cắp sách đến trường “
Đầu xuân năm 1947, ông về công tác ở một vùng gần chùa Trầm, Hà Đông. Tại đây ông được nghe bà con kể câu chuyện một anh du kích xã lập mẹo đến gần tên lính Pháp gác kho súng đạn, rồi bất thần xông vào vật hắn xuống đất. Hai người cứ thế ôm ghì nhau . Anh du kích thứ hai chạy vội đến, tay súng lăm lăm nhưng  không dám nổ súng sợ bắn phải bạn. Anh du kích đang vật nhau với địch liền thét to : “Bắn! Bắn cả hai!” Thế là đoàng! đoàng! - tên giặc  ăn đạn, nhưng anh du kích cũng bị thương nặng. Câu chuyện giản dị ấy đã làm nhà thơ xúc động, muốn kể lại cho nhiều người nghe. Ông mày mò sáng tác thành một chuyện kể bằng văn vần và gọi là độc tấu. Năm  1954, ông phụ trách đoàn xẩm, gồm 23 anh chị em, phần lớn là mắt kém, đi về Bùi Chu Phát Diệm, lấy lời ca tiếng hát phục công tác chống cưỡng ép di cư. Còn nhớ năm 1958, nhà thơ Thanh Tịnh ghé trường Phổ thông công nghiệp Hà nội, nơi tôi đang học lớp 9 diễn bài tấu của ông làm cả trường cười ngả nghiêng, tôi còn nhớ một câu hài hước:” nghe tiếng cười…sụt sịt”. Nhưng “đứa con tinh thần” này đã bị một số người không mấy thiện cảm để mắt tới . Đoàn Phú Tứ, một trong những người phụ trách  ngành sân khấu đã phê phán: “Không thể ngờ một nhà thơ trữ tình như Thanh Tịnh lại đi làm trò hề, trò xẩm!”. Vài năm sau Thanh Tịnh chuyển sang viết ca dao. Nhiều người  cho rằng hai câu :”Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong.”, không phải của bác Hồ như xưa nay sách báo vẫn nói mà chính là của nhà thơ Thanh Tịnh.
Mới đây, không hiểu sao vào lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh Thanh Tịnh (12-12-1911/12-12- 2011) nhiều người viết về ông, kể cả những bậc tiến sĩ văn học, kể cả ông Chủ tịch Hội nhà văn Hữu Thỉnh đọc diễn văn khai mạc cũng không ai nhắc tới đoạn văn bất hủ “ Tôi đi học” của ông.  Họ chỉ nhắc tới hơn chục năm kháng chiến, làm người lính từ địa phương đến chủ lực, khi ở Việt Bắc, khi vào Khu Bốn.Ông là một sáng lập viên  Hội Nhà văn Việt Nam, đã là Ủy viên Ban chấp hành (khóa I, II), Ủy viên Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, Đại tá quân đội trước khi nghỉ hưu.
Ngay trong thơ “chân dung”, Xuấn Sách cũng không điểm “Tôi đi học” vốn là tác phẩm nhớ đời của Thanh Tịnh , ông chỉ cảm thương nhà văn tâm huyết  nhưng cuối đời cô đơn, nghèo nàn và nhận ra đã "lạc đường"  :
Bao năm ngậm ngải tìm trầm
Giã từ quê mẹ xa dòng Hương giang
Bạc đầu mới biết lạc đường
Tay không nay lại vẫn hoàn tay không
Mộng làm giọt nước ôm sông
Ôm sông chẳng được, tơ lòng gió bay.

(còn tiếp)









HÀNỘI ... "HỒI ẤY" (28)

 Hànội…”hồi ấy” (28)


              
                           (tiếp theo)

Trịnh cười hô hố :
- Tao chỉ mong có thế thôi, được chết trong vòng tay em còn gì hạnh phúc hơn ?
 Tôi quay sang cầu cứu nàng “ ngựa vía” :
- Cô không định dẫn hắn vào chỗ chết chứ ?
 Nàng nở một nụ cười hiếm thấy :
- Xưa nay có ai muốn giết ngừơi mình yêu đâu.
 Tôi há miệng :
- Vậy ra cô yêu hắn ?
- Còn hơn là yêu nữa kìa…
 Cái vẻ cong cớn một cách ngây thơ của nàng “ ngựa vía” làm tôi phải nghiêng mình thán phục, sức biến cải của tình yêu là cái vốn hiếm hoi trong một đời sống nồng nặc mùi thực dụng và ích kỷ. Thế còn tôi, đã yêu con gái ông Đ. đủ mạnh để chữa khỏi bệnh cho nàng chưa ? Quả thực nếu ai mách tôi ở đâu đó có thuốc trị , tôi sẵn sàng trèo đèo lội suối tới tận nơi mang về cho nàng. Nhưng tôi không có cơ may để được hiến mình cho tình yêu như thế, bệnh nàng chỉ có thuốc trời, người trần mắt thịt như tôi đành bó tay ngồi chờ số phận.
Chia tay với đám bạn, tôi không thiết về nhà, gọi xích lô chạy thẳng tới nhà nàng. Bà Đ. đón tôi từ ngoài cửa, mừng rỡ :
- Anh đã được về đấy ư ? Trời ơi, tối nào tôi cũng cầu trời khấn phật cho anh tai qua nạn khỏi. Sau hôm người ta gọi ông ấy lên đồn chứng thực anh có ngủ đây đêm đó, dăm lần bảy lượt ông ấy đi hỏi xem anh bị giam giữ ở đâu mà chẳng ai chịu nói. Rõ khổ, thương người thiệt tới thân là thế này đây.
 Ông Đ. lật đật chạy từ trong nhà ra, tíu tít hỏi han cứ như tôi mới đi biệt xứ trở về. Tôi chợt nhận ra vẻ tiều tuỵ, phờ phạc ở cả hai ông bà, mới hơn nửa tháng tôi không tới, căn nhà đã trống đi nhiều đồ đạc và cái nguy cơ hết gạo, cạn tiền đã bày ra khắp nơi. Tôi không ngăn được mình nữa, hấp tấp hỏi về nàng. Bà Đ. rơm rớm nước mắt:
- Suốt từ hôm tắt trăng, anh lại bị bắt, em nó cứ nằm liệt một chỗ, chẳng ăn uống gì, van lạy, nài ép mãi mới húp vài thìa cháo. Tôi đã tính với ông ấy đưa nó vào viện, khổ nỗi không chẩn đoán ra cái bệnh gì thì ai người ta nhận.
 Tôi nhẹ chân bước vào buồng nàng, ngồi ghé bên giường. Nàng vẫn thiêm thiếp ngủ và thật lạ, dù ăn uống rất ít, mặt nàng vẫn hồng hào trên mái tóc đen nhánh xoã tung mặt gối. Trong đêm trăng tháng trước, gương mặt tuyệt diệu này đã ngả lên vai tôi đắm đuối trong mối giao cảm với bầu trời kỳ ảo, bất chấp thế đứng chênh vênh trên mái nhà luôn đe dọa một cái chết tan xương. Tôi nhớ ra rằng tâm thần nàng lúc đó rất khá, nàng chỉ không nói thôi, nhưng rất ngoan ngoãn và đằm thắm với tôi y như hồi chưa lâm bệnh. Không biết có phải do tôi mất mặt lâu ngày làm nàng bệnh trở lại không ? Ông Đ. nói nhỏ :
- Em nó có nhiều biểu hiện rất lạ anh ạ, đang ngồi quay ra cửa sổ nghe tiếng chân quay phắt lại nhưng khi nhận ra tôi nó lại quay mặt đi. Hình như nó có ý như chờ ai thì phải ? Không biết có phải anh không ?
 Tôi cũng không dám chắc là nàng chờ tôi, vả lại tôi cũng không tin nàng có thể nghe thấy tiếng chân như ông Đ. nói, tuy nhiên điều đó làm tôi chứa chan hy vọng, chỉ mong nàng tỉnh dậy ngay lập tức để thử hỏi chuyện xem sao. Ông Đ. đã trở ra phòng ngoài để mặc tôi ngồi bên nàng lặng lẽ chờ đợi. Tôi khẽ nắm bàn tay nhỏ nhắn của nàng thầm mong truyền được cho nàng đôi chút sức sống của tôi. Tôi cứ chờ, chờ mãi, nhói tim với mỗi hơi thở mạnh của nàng và rồi sau cùng dường như mong muốn của tôi đã thức tỉnh được nàng, nàng mở mắt ra nhìn làm tôi mừng cuống quýt :
- Anh đây… anh đây… em nhận ra anh không ?
 Mắt nàng lóe lên một tia rất lạ, hàng mi chớp chớp làm tim tôi muốn nảy ra ngoài:
- Em dậy đi…sao ngủ nhiều thế… anh đỡ em dậy nhé…
 Nàng vẫn đăm đăm nhìn tôi như thể nàng nhìn về… vô cực, chẳng chút dấu hiệu nhận ra tôi. Hy vọng của tôi tắt ngóm khi mắt nàng nhắm lại và chìm đắm trong cuộc phiêu diêu mãi đâu đâu mà tôi không hiểu nổi. Tôi cứ ngồi im lìm trong bóng tối mỗi lúc dày đặc căn phòng, làm mờ dần gương mặt nàng, buồn muốn phát khóc vì sự bất lực của mình.
 Bà Đ. bứơc nhẹ vào, lay vai tôi :
- Thôi anh ạ, thường thường phải gần nửa đêm em nó mới trở dậy. Tôi tranh thủ lúc đó ép nó uống vài thìa cháo rồi nó lại ngủ tiếp.
 Tôi nhói lên một nghi hoặc mơ hồ :
- Thưa bác mấy đêm còn trăng cô ấy ra sao ạ ?
- Nó cứ thức suốt, đi đi lại lại cho đến hết trăng mới ngủ. Vắng anh, ông lão sợ nó lại trèo lên mái nhà nên cứ tối đến phải khoá chặt cửa phòng, mãi hết tuần trăng mới thôi đấy.
 Tôi thở ra , hiểu được rằng vừa nãy nàng mở mắt không phải vì tôi mà chính là nhìn coi có ánh trăng không. Vậy là cứ tối tối nàng thức dậy chờ trăng, nếu không có, nàng lại chìm vào giấc ngủ triền miên. Vậy thì… có thể đánh thức nàng bằng ánh trăng nhân tạo được không ? Ý tưởng mới đó nảy ra làm tôi vui hẳn, trong bữa cơm với ông bà Đ. tôi nói rằng từ tối mai tôi và bác sĩ Trịnh sẽ thử chữa cho nàng bằng một phương pháp mới chưa hề thấy trong y khoa hiện đại. Bà Đ. tràn trề hy vọng, riêng ông chồng vẫn hoài nghi, lắc đầu:
- Tôi không tin khoa học có thể chữa được căn bệnh bí hiểm này. Tôi không tin các anh làm nổi trò trống gì…
 Bà vợ bực mình, cắt ngang :
- Vậy ông tin vào cái gì ?
- Chẳng tin được vào cái gì, cứ phó mặc cho trời định đoạt, ông ấy có mắt đấy…trời ơi, đời cha ăn mặn đời con khát nứơc là thế này đây…
 Tôi ngăn bà Đ. không vặn vẹo chồng nữa, cứ để mặc ông ấy thổn thức cho vơi bớt những cắn rứt tâm tư mà tôi sợ rằng nếu kéo dài chắc ông cũng rơi vào một thứ bệnh tâm thần như con gái ông thôi.
 Hôm sau tôi chẳng thiết ghé cơ quan trình diện ông Trưởng phòng sau vụ bắt giam theo thông lệ mà đạp thẳng tới quán “ nghệ sĩ” tìm Trịnh. Quả nhiên vừa vào tôi đã thấy hắn vẫy rối rít từ trong góc bọn tôi vẫn ngồi, mặt đỏ không dưới ba chén đầy. Hắn cười hề hề :
- Rõ đúng nhà tù là trường học, mới qua có nửa tháng đã biến đổi trông thấy.
 Tôi kéo ghế ngồi cạnh, ngạc nhiên:
- Tớ có biến đổi gì đâu ?
- Lần đầu tiên tớ thấy cậu bỏ cơ quan đến đây trong giờ vàng ngọc này.
 Thần sắc hắn làm tôi ngạc nhiên, sau nửa tháng “trăng mật” vừa qua với nàng “ ngựa vía”, tôi tưởng xương cốt hắn phải như ninh trong nồi áp lực, ngược lại béo tốt, tươi tỉnh hẳn lên, khác hẳn “cái con gà rù” thời còn ăn theo vợ cũ.
- Nàng nuôi tốt lắm phải không ? Tớ cứ tưởng cậu phải gẫy xương sống rồi chớ?
 Trịnh cười toét, lên giọng triết lý :
- Nếu trên đời còn có một khái niệm gọi là “hạnh phúc” thì tớ đang được hưởng cái đó đây. Cậu biết không, nàng không cho tớ mó vào việc gì hết, đi làm về cứ nằm khểnh đọc báo, chờ nàng nấu nướng bưng lên mời anh xơi thôi. Sáng ra bánh mì ốplết, trưa về cơm canh rau ngót nấu thịt nạc, chiều thịt kho tàu, chân giò hầm đu đủ không khéo… “trung ương” cũng chỉ ăn đến thế thôi.
 Tôi rũ ra cười :
- Đầu vào đã vậy, còn đầu ra ?
- Tuyệt vời, không đầy một tuần nàng đã huấn luyện tớ thành thạo mọi bí ẩncủa nghệ thuật yêu đương và hoàn thành cuộc cách mạng tình dục trong khuôn khổ… gia đình.
 Tôi nhiệt liệt chúc mừng hắn và căn dặn chớ bao giờ uống rượu buổi tối kẻo lại nối gót anh chồng nàng Ánh Tuyết bất hạnh. Mặc hắn ba hoa về sự khác nhau giữa hắn và cái gã xấu số kia, về những khía cạnh tuyệt vời trong người nàng “ngựa vía” mà hắn mới phát lộ, về sao đào hoa đang chiếu vào cung mệnh… tôi cứ ngồi nhấm nháp chén rượu, đợi hắn thở cả hơi ra hai lỗ tai, mới lựa lời :
- Cậu giúp tớ việc này…
 Hắn trợn mắt thay câu hỏi.
- Cậu giúp tớ làm… ánh trăng nhân tạo.
- Cái gì ?
- Ánh trăng nhân tạo.
 Tôi lại đành phải chờ hắn qua cái cơn cười tôi điên, mới trình bày rành rẽ những biểu hiện mới trong căn bệnh con gái ông bà Đ., dự kiến dùng ánh trăng giả kích thích hưng phấn thần kinh chữa bệnh cho nàng. Hắn nghe tôi rất chăm chú, mặt căng thẳng, sau cùng thở hắt ra :
- Cái kiểu chữa bệnh của mày cũng điên chẳng khác gì mấy thằng thầy mo, thầy cúng.
 Tôi nổi cáu :
- Vậy mày bảo tao làm gì bây giờ ? Không lẽ bó tay mặc nàng chờ chết ?
 Hắn nhăn mặt lại rồi nhìn vẻ dữ tợn của tôi, hắn rối rít :
- Thôi được, thôi được, để tao bàn với thằng họa sĩ Ngời tìm cách giúp mày. Mẹ kiếp, hết làm bia rởm giờ lại đến… ánh trăng rởm, mai kia không biết làm giả cái gì nữa đây ?


                             ( còn nữa)