Tổng số lượt xem trang

Thứ Năm, 8 tháng 12, 2011

HÀNỘI ... "HỒI ẤY" (26)

           Hànội…”hồi ấy” (26)



             
                           (tiếp theo)

Sáng sớm hôm sau, tôi hé cửa phòng ngắm nàng thiêm thiếp ngủ, chào ông bà Đ. rồi phóng xe về nhà. Vừa tới đầu phố tôi đã thấy một đám người xúm xít trước cửa nhà, linh cảm tới muộn làm tôi nhói tim, tiếng còi xe cấp cứu chợt rú lên trong nỗi hoảng sợ làm tôi muốn quay xe chạy trốn.
-Kia rồi… chủ nhà về kia rồi…
Loáng thoáng bên tai có tiếng người la hét, tiếng mở cửa xe và bất chợt như có ai vồ lấy mình :
-Anh bị bắt…
- Tôi ấy ư ?
- Phải chính anh.
Thế này là thực rồi chứ chẳng phải nằm mơ nữa, tôi cứ để mặc đôi tay bị đút vào còng sắt, gào lên :
- Nhưng tôi có tội gì kia chứ ?
Không ai trả lời cả và nếu có, tôi cũng chẳng còn nghe thấy gì, tôi như đang bồng bềnh trong một thế giới toàn những ảo ảnh : một chiếc cáng được khiêng ra từ trong nhà trên bọc kín một xác người, nàng “ngựa vía” tóc sổ tung, quần áo xốc xếch, hai tay cũng còng như tôi, theo sau là người cảnh sát có khuôn mặt lạnh ngắt bên dưới vành mũ. Một chiếc xe đít vuông rú còi giãn đám đông chạy tới, tôi bị đẩy lên rồi tới lượt nàng “ ngựa vía” cũng lên ngồi sát bên tôi. Tôi còn đang nghĩ tới chiếc xe đạp không biết lúc này nó lưu lạc đi đâu, nàng “ ngựa vía” đã ghé sát tai rền rĩ :
- Hắn chết rồi…hắn uống cả một két bia hắn chết rồi…em đâu có giết hắn…
Có người nào đó nhe cặp răng trắng ởn vẫy vẫy tôi đầy thiện cảm. Tôi căng óc cố nghĩ xem ngừơi đó là ai, tiếng còi xe cảnh sát lại rú lên nhức óc, a… ta nhớ ra rồi, cái thằng đó chính là gã ăn trộm cứt…


11.

Chưa bao giờ con người tôi lại bị lục soát, đào bới, nạo vét ghê gớm đến thế. Tôi nghiệm ra rằng muốn lặn ngụp thật sâu xuống cái bến lú sông quên từ đời xửa đời xưa trong ta không gì tốt hơn là được rơi vào tay mấy ông cảnh sát. Kỳ diệu thật, nhờ mấy ông tôi mới nhớ ra được ông nội tôi làm nghề gì, bố tôi đẻ ở đâu, tại sao mẹ tôi lại chết khi tôi đang còn phải bú vân vân và vân vân… Cuộc hành trình vào quá khứ như vậy làm sống lại trong tôi dằng dặc những kỷ niệm mà suốt một tuần liền trong phòng tạm giam tôi chìm đắm trong chúng, chẳng đoái hoài gì tới xung quanh, trong họa có phúc là như thế này đây, nếu tôi không rơi vào tình cảnh bị giam giữ thế này làm sao có cơ hội được sống lại những năm tháng đã qua một cách rõ rệt đến vậy.
Hoá ra nàng Ánh Tuyết chẳng phải là người tôi yêu đầu tiên, sục sâu mãi vào ký ức tôi thấy một cô gái be bé có hai cái lọn tóc ngày xưa tôi vẫn xoắn trong tay, miệng lêu lêu cái “đuôi chuột”. Cô là con bà chủ, tôi là thằng bé mồ côi đi ở thuê ngày hai bữa cơm nuôi, đêm ngủ góc bếp, vài tháng được bộ quần áo do các cậu ấm thải ra. Công việc của tôi cũng chẳng có gì nặng nhọc, sáng xách giỏ theo bà chủ đi chợ, trưa về bổ củi, phụ bác bếp nấu cơm, quét dọn, rửa bát, chực sẵn cho các cậu chủ sai vặt như ra phố mua gói thuốc, ổ bánh mì, thậm chí tháo cả giày cho các cậu mỗi bận đi chơi về. Riêng cô chủ bé chẳng sai phái tôi bao giờ, ngược lại thỉnh thoảng còn giúp dọn dẹp trong nhà, vá áo, dúi cho gói ô mai, thanh kẹo lạc, có khi hẳn một quả táo Hồng Kông bọc giấy bóng mờ chắc phần của cô nhường cho tôi.
Thiện cảm của cô giành cho tôi cứ như thế xoá mờ dần cái ranh giới giữa cô chủ và thằng ở tới mức trong trí tưởng tựơng ngây thơ của tôi, cô trở thành nàng công chúa bị giam giữ giữa những tên con trai độc ác và tôi là một anh hùng mã thượng có trách nhiệm phải cứu thoát nàng để sau này được nhận phần thưởng cao nhất là cưới nàng làm vợ.
Thế là đêm đêm trong cái xó bếp hôi hám kia, tưởng tượng của tôi đã vẽ ra nào là gươm, nào là ngựa, áo giáp, súng lục giắt lưng và cả những kế hoạch táo bạo nhằm giải thoát nàng công chúa nữa. Và rồi một tối khuya mùa đông, mọi người trong nhà đã tắt đèn ngủ hết, tôi nai nịt gọn ghẽ( bằng những sợi dây gai và dây cao su), vũ khí giắt ngang lưng(con dao bầu bác bếp vẫn dùng chặt thịt), bịt kín mặt bằng chiếc sơmi rách, mở cửa bếp, rón rén bước qua sân và leo ống máng lên phòng nàng. Than ôi, nàng chẳng hiểu gì tôi cả, khi tôi nhảy qua cửa sổ vào phòng, nàng hét tướng lên đến cả phố đều nghe thấy và lập tức ông chủ , bà chủ, cùng các cậu công tử kéo ùa vào la lối om sòm và kết thúc mối tình đầu mộng tưởng của tôi bằng cái roi cá đuối và một thanh củi tạ.
Ngay sáng hôm sau tôi bị tống khỏi nhà, lòng đầy giận dữ cô tiểu thư đã phụ lòng tốt của tôi, vô tình đẩy tôi vào đám trẻ đầu đường xó chợ. Vai khoác khăn gói quần áo cũ, tay cầm chiếc que đánh chó, mình mẩy vẫn đau nhừ trận đòn hội chợ đêm qua, tôi nắm tay thề xoá sạch hình bóng nàng trong tâm trí, phải quên, quên hết, quên cả hai cái lọn tóc đuôi chuột của nàng.
Quả là bao năm qua xông pha trong đời gió bụi, tôi chẳng còn mảy may nhớ tới nàng, ấy thế mà chẳng ngờ trong bóng tối của góc phòng tạm giam, mọi hình ảnh tưởng như đã xoá từ lâu, đôi mắt đen lay láy của nàng từ trên gác nhìn xuống tôi quét sân, bàn tay nhỏ nhắn nắm lấy mớ tóc chổi xể của tôi giật giật… cứ hiện ra rõ ràng, chi li như thể tôi với tay ra là nắm được nàng.
Nhưng ông cảnh sát chẳng cần tôi sục vào ký ức quá sâu đến thế, ông chỉ cần tôi nhớ chi li cái ngày cô nàng ngựa vía dẫn chồng nàng Ánh Tuyết tới ngủ nhờ, tôi đi những đâu, gặp những ai, thậm chí cả ăn món gì nữa. Ông bảo vụ này rất nghiêm trọng đây, rất có thể do tôi thâm thù anh chàng kia đã giật nàng Ánh Tuyết của tôi nên tôi đã ngấm ngầm cùng với cô nàng ngựa vía bầy ra âm mưu đầu độc bằng két bia, nhất định là rồi qua phân chất ngừơi ta sẽ tìm thấy một loại thuốc giết người kiểu như bả chuột, thuốc ngủ hoặc axít cũng chưa biết chừng.
Tôi cứ mặc kệ cho ông ta đe dọa, muốn sao cũng được, cứ coi như “thiên mệnh” đã giáng xuống thế nào, ta sẽ chịu thế ấy, chỉ áy náy mỗi chuyện ông bà Đ. cũng bị gọi tới Sở cảnh sát để chứng thực tình trạng ngoại phạm của tôi tức là đêm đó tôi không ngủ nhà mà tới ông bà Đ.
Tuy nhiên dù anh có ngoại phạm đi chăng nữa cũng chưa chứng tỏ anh vô tội, ông cảnh sát bảo tôi thế, rất có thể anh bỏ thuốc độc vào bia rồi tránh mặt đi nơi khác lắm chứ. Tôi cứ im thin thít, không muốn cãi, vả lại có cãi cũng chả nổi, bụng chỉ mong ông nói mau mau cho tôi trở về xó phòng giam chúi đầu vào quá khứ. Đôi lúc, viễn ảnh đen ngòm của “vụ án” cũng làm tôi hoảng sợ, không thiếu gì các nhà khoa học tài ba sẽ minh họa lập luận của ông cảnh sát bằng những thí nghiệm có đầy đủ khí cụ hiện đại, rút ra cả dãy những con số trời cũng chẳng cãi nổi. Những ý nghĩ khủng khiếp đó cứ bấu riết trong đầu,xoá tan hết mọi hoài niệm quá khứ, mọi lo lắng cho bệnh tật của nàng khi vắng tôi và tất nhiên cả những viễn ảnh được chung sống với nàng mà trong đêm trăng mới đây thôi còn rào rạt như tiếng sóng trong tôi.
Nỗi sợ hành hạ mấy đêm liền làm tôi phát khùng nhổm phắt ngay dậy, thôi không trằn trọc nữa, “ quăng gánh lo đi mà vui sống”, mặc mẹ đời, dẫu có làm sao cũng là tại… “ thiên mệnh” cả. Tôi lập luận vậy và cười to lên rất vô duyên làm mấy anh chàng giam cùng phòng mất giấc ngủ doạ đánh tôi một trận nếu còn lộn xộn. Tôi im bặt, nằm xuống ngay, đúng như phương châm “kính nhi viễn chi” tôi đã xác định với các quý vị hảo hớn từ hôm mới đặt chân vào thế giới tội phạm. Tuy nhiên rồi họ cũng chẳng để tôi yên, một anh chàng trắng trẻo, đeo kính cân thị ra dáng thư sinh một hôm đập vào người tôi :
- Ngủ mãi cũng chẳng trốn tội được đâu ? Giết thằng cướp mất người yêu hả?
Tôi lắc đầu quầy quậy, hắn lại đập vào người tôi cái nữa:
- Sợ gì? Tớ không thuộc bọn “chân gỗ” đâu. Tớ phục cậu đấy, ân oán giang hồ xử thế mới đích đáng. Tớ cũng vậy, không bao giờ cho phép em út trấn lột của người nghèo, người lương thiện. Tớ chỉ nhắm vào bọn tham quan ô lại, rán dân lấy mỡ thôi, mà lại không bao giờ sờ tay vào dao búa, tớ chỉ dùng cái đầu, chất xám trong lĩnh vực này đắt giá nhất, bởi vậy hai bàn tay tớ luôn luôn sạch…
Hắn chìa ra đôi bàn tay trắng trẻo, thon nhỏ khiến người ta có thể lẫn với nghệ sĩ dương cầm.
                               (còn tiếp)

Thứ Tư, 7 tháng 12, 2011

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN (KỲ4)

                     
                                     

Hình : Nguyễn thị Ngọc Tú, Nguyễn thị Như Trang, Lâm thị Mỹ Dạ, Xuân Quỳnh
                          
 (tiếp theo)
            Càng đi sâu vào “chân dung” những nhà văn đã quá cố trong “Chân dung nhà văn” của Xuân Sách  tôi càng có cảm giác xót thương của anh chàng Paven Ivannôvits Tsitsikôp rong ruổi khắp nước Nga Sa hoàng trên chiếc xe Britska “mua tên ” những tá điền, những nô lệ đã chết nhưng chủ đất chưa khai báo, chưa xoá tên trong sổ để lừa vay tiền  trong tiểu thuyết “ những linh hồn chết” của đại văn hào Nga Nikolai Vasilievich Gogol.
Phải nói ngay, tuyệt nhiên tôi không coi các nhà văn quá cố của ta như “những linh hồn chết” của các tá điền thời nước Nga Sa hoàng. Ngược lại tôi cảm phục và cảm thương họ, cho dù đã chết nhưng linh hồn họ vẫn còn sống  trong các tác phẩm họ để lại, cả một đời vót nhọn đời sống vào ngòi bút , vào những ảo tưởng mà họ xác tín, hy sinh cả những lạc thú, cả nghĩa vụ với vợ con để làm cái công việc khổ ải là sáng tác văn học để rồi nhiều người “chẳng còn gì”.. Còn nhớ nữ văn sĩ Lê Minh Khuê đã có lần nói với tôi :’ cái bọn nhà văn  dù có thế nào xem ra vẫn rất đáng yêu, cứ hí ha hí hửng, tí ta tí tởn thật tội nghiệp…”.

Tôi muốn dành lòng cảm thương đó cho nhà văn Nguyễn Thế Phương. Ông chính gốc quê Thanh Hóa, xuất hiện và nổi tiếng ngay với “ Đào chèo” viết về một cô đào nương bị tên Chánh tổng hãm hại, sau con gái của cô vẫn nối nghiệp mẹ nhưng là nữ văn công quân đội”. Truyện viết với cảm hứng “phản phong” của thời đó.  Tiểu thuyết đầu tay “ Đi bước nữa” của ông cũng nổi tiếng với cái kết đại ý “ không phải chị gái góa này mà cả làng này phải …đi bước nữa…”, tất nhiên là đi lên hợp tác hóa nông nghiệp. Cho dù sống ở giữa Hànội, làm tới Trưởng phòng văn học Việt Nam  NXB Văn học nhưng ông sống rất nghèo trong một căn hộ chật chội. Hàng ngày ông uống thứ rượu trắng rẻ tiền người ta vẫn pha phân đạm để tăng độ nặng của rượu và sự nghèo túng cùng với bệnh tật đã làm ông ra đi ở tuổi 59. Nguyễn Thế Phương viết về công giáo trong tiểu thuyết “Nắng” với cái nhìn chân thực , thân thiện với đông bào Thiên chúa giáo hơn nhiều nhà văn cùng thời. Càng về cuối đời ông càng  rút ẩn vào chính ông, càng ít bè bạn . Xuân Sách buồn rầu dựng chân dung ông :
Đi bước nữa rồi đi bước nữa
Phấn son mưa nắng đã tàn phai
Cái kiếp đào chèo là vậy đó
Đêm tàn bạn cũ chẳng còn ai.

Có thể nói trong “chân dung nhà văn”, Xuân Sách đã dành lòng ưu ái và cảm phục hơn cả cho nhà văn Nguyễn Ngọc Tấn tức Nguyễn Thi. Ông là hình ảnh “ chiến sĩ – nhà văn “ xuyên suốt, bền vững, không  dao động, suốt hơn 6 năm ở miền Nam , ông đã có mặt hầu hết các chiến trường đồng bằng Nam Bộ vừa làm thơ vừa viết truyện. Ông nổi tiếng với Trăng sáng (truyện ngắn, 1960), Đôi bạn (truyện ngắn, 1962) và đặc biệt với truyện ngắn "Mẹ vắng nhà", truyện ký “ Người mẹ cầm súng” sau  chuyển thể thành kịch bản phim “Chị Út Tịch.”
“Trăng sáng soi riêng một mặt người
Chia ly đôi bạn cách phương trời
Ước mơ của đất anh về đất
Im lặng mà không cứu nổi đời.”

Ngược với Nguyễn Thi, Xuân Sách dành cho nhà văn Mai Ngữ mấy câu “chân dung” không lấy gì làm ưu ái lắm. Năm 1947 Mai Ngữ đi bộ đội, năm 1954, phóng viên Báo Quân đội nhân dân,sau cùng thành cán bộ Tạp chí Văn nghệ quân đội. Những tác phẩm tiêu biểu của Mai Ngữ: Sông phía trước (1972), Bầu trời và dòng sông (1966), Người lính mặc thường phục (1986), Gió nóng (1984), Thời gian (1992), Người đàn bà trên hạm tàu (1996), Trong tay bọn Angca (1980), Cành đào tàn trên xe rác (1997)… và đặc biệt là Chuyện như đùa (1988) và Lại chuyện như đùa (1990).
Tưởng chuyện như đùa hoá ra thật
Biết ông sòng phẳng tự bao giờ
Cái con thò lò quay sáu mặt
Vồ hụt mấy lần ông vẫn trơ

Một trong các nhà văn kháng chiến chống Pháp bị “tai nạn nghề nghiệp” nặng nhất phải kể đến nhà văn Phù Thăng, tên thật là Nguyễn Trọng Phu, từng là chiến sĩ trinh sát Trung đoàn 42, rồi làm phóng viên báo Quân Giải Phóng. Năm 1961, Phù Thăng viết tiểu thuyết Phá vây dầy 500 trang, kể chuyện một tiểu đoàn trinh sát mở trận đánh nghi binh, thu hút lực lượng địch về phía mình, giải vây cho đồng đội. Không may trong sách có đôi câu phát biểu bị coi là “hòa bình chủ nghĩa” khi ông cho rằng dù nhìn ở góc độ nào  chiến tranh cũng không phải là điều tốt đẹp, còn có chi tiết một chị cán bộ mỗi lần công tác qua bốt tề đều phải hiến thân cho thằng trưởng bốt khiến chị phải luôn uống thuốc ngừa thai..…Thế là cuốn sách bị đập tơi bời, tác giả của nó phải chuyển về xưởng phim, sau đó thì về quê đi cày. Mấy năm sau, nghe nói Phù Thăng viết truyện cực ngắn có tên “ Hạt thóc” kể về một gã tâm thần, từng là nhà văn, rồi chẳng biết do ngộ chữ sao đó, gã đâm ra lẩn thẩn, cứ nghĩ mình là hạt thóc hễ trông thấy gà qué ở đâu là co cẳng chạy.
Theo phongdiep.net, khi nghe tin “Chân dung nhà văn “ ra đời, Phù Thăng lo cho Xuân Sách,đã gửi thư cho ông :
”Mình chưa được đọc nó,nên không biết phải nghĩ thế nào trước dư luận khen chê hiện nay (có khi bản thân ông thì cũng cóc cần các thứ dư luận ấy),nhưng vì tôi là bạn từ thuở hàn vi,đã cùng ông trải bao điều cay đắng nên không thể “mũ ni che tai” được.Tôi thực sự lo ngại cho những ngày còn lại trên cuộc đời bão giông trong lúc lưng ông đã còng,chân ông đã mỏi,mà tôi không biết phải làm gì cho bạn trong hòan cảnh “ốc còn chưa mang nổi mình ốc”.
Và Xuân Sách trả lời :
“Từ khi cái “của quí” của tôi ra đời ,tôi đã nhận được nhiều thư từ ,nhiều bạn cũ bạn mới đến thăm ,nhiều cuộc gặp gỡ nhưng khi nhận thư ông tôi thực sự xúc động.Nói cho cùng đời vẫn đáng sống ông ạ.Dĩ nhiên so với ông tôi có khấm khá hơn, điều đó làm tôi càng thương ông
Và Xuân Sách thương Phù Thăng qua “chân dung” :
“Chuyện kể cho người mẹ nghe
Biển lửa bốc cháy bốn bề tan hoang
Đứa con nuôi của trung đoàn
Phá vây xong lại chết mòn trong vây.”

Một nhà văn quân đội khác, cũng "ăn đòn" phải bỏ Hà Nội chạy về Hà Nam . Đó là nhà văn Vũ Bão , năm 1947 làm quân báo, năm 1950 làm cán bộ Khu đoàn thanh niên Liên khu III. Ông chủ trương :” Thở bằng lá phổi của mình, nhìn đời bằng đôi mắt của mình, suy nghĩ về lẽ đời bằng cái đầu của mình, đi bằng đôi chân của mình và không bao giờ viết bằng ngòi bút đã bị bẻ cong.”
Do vậy, ông viết khá nhiều, năm 1957 tiểu thuyết “Sắp cưới” của ông dính dáng tới cải cách  ruộng đất nên bị đánh tơi bời, sau ông chuyển sang viết phim,.
Sắp cưới bỗng có thằng phá đám
Nên ông chửi bố chúng mày lên
Đàu chày đít thớt đâu còn ngán
Không viết văn thì ông viết phim.

Nhà văn nữ Nguyễn thị Ngọc Tú xuất hiện  sau hòa bình với tiểu thuyết đầu tay “Huệ” (1964) gây tiếng vang lớn, sau đó là các tiểu thuyết: Đất làng (1974); Buổi sáng (1976); Hạt mùa sau (1989); tập truyện  Người hậu phương (1966); Những dấu chấm phía chân trời (1983)…Tiểu thuyết “Đất làng” tuy được khen nhưng cũng bị chê là “nền đỏ lấm tấm đen” vì đưa cả cảnh xã viên “làm reo” với Ban chủ nhiệm HTX... Nhiều năm chị là biên tập viên báo Văn Nghệ, quan chức Hội nhà văn như Ủy viên chấp hành, TBT Tác phẩm mới…
Đất làng vừa một tấc
Bao nhiêu người đến cày
Thóc giống còn mấy hạt
Đợi mùa sau sẽ hay

Nhà văn quân đội nữ Nguyễn Thị Như Trang, hàm đại tá, biên tập viên báo Văn Nghệ quân đội , viết nhiều nhưng chẳng đọng lại được bao nhiêu :  Màu tím hoa mua ,  Ở thành phố bờ biển,  Câu chuyện ở cửa rừng ,  Hoa cỏ đắng …đều là truyện ngắn. Nổi bật là tiểu thuyết “ Khoảng sáng trong rừng (1979):

Nhá nhem khoảng sáng trong rừng
Để cho cuộc thế xoay vần hơn thua
Xác xơ mầu tím hoa mua
Lửa chân sóng báo mây mưa suốt ngày.

Nữ thi sĩ Xuân Quỳnh, ngày xưa, chẳng hiểu vì sao , giới cầm bút lại gỉ tai nhau :“….Ngọc Tú,….Xuân Quỳnh. “. Bà nguyên là diễn viên múa, sau chuyển sang làm thơ, hay nhất là thơ tình với những bài nổi tiếng : Thuyền và biển, Sóng, Hoa cỏ may, Tự hát, Nói cùng anh…ngoài ra  còn có :”Tơ tằm - chồi biếc”,”Hoa dọc chiến hào”, “Gió Lào, cát trắng “,”Lời ru trên mặt đất”,”Sân ga chiều em đi “…Bà là vợ nhà văn Lưu Quang Vũ, cả hai tử nạn trong một tai nạn xe hơi gây nghi vấn trong dư luận. Không hiểu sao Xuân Sách nói bà “trồng cây táo” ra “ cây bạch đàn”, chắc là chuyện riêng tư không dính đến tên tác phẩm.
“Mải hái hoa dọc chiến hào
Bỏ quên chồi biếc lúc nào không hay
Thói quen cũng lạ lùng thay
Trồng cây táo lại mọc cây bạch đàn”

                      (còn tiếp)

Thứ Ba, 6 tháng 12, 2011

HÀ NỘI...HỒI ẤY (25)



           Hànội…”hồi ấy” (25)

    
                           (tiếp theo)

Vào một tối đã khuya , tôi và Trịnh đang hăng hái đóng nút những chai bia cuối cùng, chợt có tiếng đập cửa và tiếng đàn bà khe khẽ gọi Trịnh. Theo đúng quy trình, lập tức chúng tôi biến mọi thứ thành đồ dùng gia dụng, riêng có cái máy dập nút chai tống ngay xuống cống sau nhà, đậy nắp lên cẩn thận. Tiếng gọi mỗi lúc một tha thiết, tôi đành phải ra hiệu cho Trịnh mở cửa. Nhìn thấy mặt nàng “ ngựa vía” một linh cảm lo âu chạy dọc xương sống khiến tôi vã mồ hôi, thêm nữa nàng không chỉ có một mình, trên chiếc xích lô đậu bên kia đường nằm sõng sượt một người mà thoáng trông tôi đã nhận ra gã chồng nàng Ánh Tuyết.
- Các anh giúp em với, dìu hắn vào trong nhà, hắn say khướt rồi cứ nằng nặc đòi phải đưa hắn về nhà em.
Tôi chối phắt :
- Không đựơc, vợ hắn lại tới phá nhà tôi như lần trước.
-Anh đừng ngại, vợ hắn đi Sài Gòn cả tuần nay rồi.
- Vậy sao không đưa về nhà cô ?
Nàng “ ngựa vía” mắt long lên:
- Cho hắn về một lần, quen mùi hắn tới mãi, vợ hắn về dám thuê lưu manh tạt atxít lắm. Mẹ cái thằng này bám dai hơn cả đỉa đói.
Tuy nhiên gã chồng nàng Ánh Tuyết chưa hoàn toàn say khướt như tôi tưởng, gã vẫn nhận ra tôi, nhận ra căn phòng ngày trước suýt bị vợ tóm cổ và tai hại nhất là hắn khăng khăng đòi qua đêm với người hắn “ yêu quí nhất trên đời” và cứ bằng vào thái độ lì lợm của gã tôi hiểu rằng giờ có mang cần cẩu tới cũng chẳng trục nổi cái thằng cha trâng tráo kia. Nàng “ Ngựa vía”, người gây ra tình thế oái oăm này đã giở ra đủ lời ngon ngọt, hăm dọa cho xích lô trở về nhà gã nhưng chẳng làm sao lay chuyển nổi đành cầu cứu Trịnh :
- Hai anh giúp em, tạm sơ tán đêm nay, sáng mai tỉnh rượu em cho hắn một bài học.
Trịnh kéo tay tôi :
- Tình thế này đành phải giúp nó vậy, tao sẽ vào bệnh viện ngủ phòng làm việc, còn mày chịu khó tới ông bà Đ.
Sau này tôi sẽ phải hối tiếc về quyết định của mình nhưng lúc đó nhìn ra ngoài trời trăng sáng nhễ nhại, chợt nghĩ có thể được ngồi bên nàng như tối hôm nào bên bờ sông khi nàng còn tỉnh trí, tôi bằng lòng giao căn buồng cho nàng “ ngựa vía” một đêm để “ săn sóc” thằng chồng nàng Ánh Tuyết. Lúc này gã đang hau háu nhìn nàng như chỉ còn đợi chúng tôi ra khỏi phòng là gã ngấu nghiến.
- Bái bai, sáng mai quay lại nhé, tớ sẽ bồi dưỡng… bồi dưỡng các cậu…
Gã lắp bắp, giơ tay chào tôi, cố rặn ra trên gương mặt tái xanh của gã một nụ cười buồn thảm. Trịnh kéo tay tôi ra phố, thì thào :
- Thằng cha này xuống sắc quá rồi, không khéo em Ánh Tuyết của mày goá chồng  sớm vì cái con ngựa vía kia mất.
- Nói bậy, tại hắn quá chén đấy thôi. Mày nom nó to cao như thằng đánh bốc thế kia, chết sao được…
Tôi nói cứng để xoá đi một lo âu mơ hồ vừa thoáng qua nhưng rồi khi đạp xe dọc phố lúc này đang chìm ngợp trong ánh trăng huyền ảo, tôi quên đi hết mọi chuyện và chỉ còn nhớ tới nàng. Bà Đ. lật đật ra mở cửa và nhận ra tôi bà lo sợ:
- Có chuyện gì anh tới khuya quá vậy.
Tôi đành nói dối :
- Cháu có vợ chồng anh bạn ở xa về chơi, mới xuống tàu đêm đành nhường phòng cho bạn vậy.
Bà Đ. vui vẻ :
- Thế mà chưa chi tôi đã hết hồn tưởng có chuyện gì. Anh vào phòng ngủ với ông nhà tôi, ông ấy còn thức đấy.
Oâng Đ. vẫn còn thức, đang ngồi ủ rũ bên ấm nước trà ngay trước cửa phòng con gái. Thấy tôi, ông tỉnh ngủ hẳn, pha ấm trà mới, vồn vã hỏi chuyện. Ông khoe mới xin nghỉ hết mọi việc ở phường để trông nom con gái, ngày này qua ngày khác ông chờ đợi hai tiếng “ bố ơi” mà ông tin nhất định ông còn sống tới lúc nó bật ra tiếng nói. Tôi nhận ra rằng suốt từ hồi nàng bị tai nạn, ông dần dần không đả động tới những chuyện chính trị, thời sự như trước nữa, gặp tôi hầu như ông chỉ xoay quanh chuyện bệnh tật chuyện ăn uống, ngủ nghê hàng ngày của con gái và đôi khi vào lúc bà đi chùa, ông thở dài sườn sượt than vãn số kiếp vất vả của bà lấy phải một người như ông. “ Chúng tôi là vợ chồng mà thực ra đâu có sống đời sống vợ chồng ? Chung giường, chung mâm, chung một mối quan tâm mà vẫn lẻ loi, người nào phận nấy, thiếu hẳn một cái gì đó mà tôi không sao hiểu nổi. Nó là cái gì hả anh ?”. Tôi cũng chịu chẳng biết được nó là cái thứ gì, tôi chưa qua kinh nghiệm vợ chồng, còn tình yêu lứa đôi thì  nàng Ánh Tuyết lại tạo cho tôi một ấn tượng xấu, dẫu rằng tôi đã cố tự an ủi rằng nàng chỉ là cá biệt.
- Hay tôi vốn gốc nhà quê, còn bà ấy người Hànội? Có phải mọi thứ mâu thuẩn  giai cấp đều qua đi, chỉ còn lại sự khác biệt về văn hóa không ? Thảo nào giữa tôi với bà ấy luôn luôn có cái gì đó xa cách mà tôi không vượt sang được.
Ông kêu lên thảng thốt như vừa vớ được cơ may cuối cùng để giải thích mối quan hệ vợ chồng giữa hai ông bà. Tôi tin chắc trong trường hợp này bác sĩ Trịnh hoặc hoạ sĩ Ngời sẽ trả lời hay hơn tôi, tôi chỉ nghĩ đơn giản là cả ông lẫn tôi đều đã vớ phải người đàn bà ích kỷ, và cái ông thấy thiếu chính là cái bất kỳ người đàn bà ích kỷ nào đều không mang tới đựơc, cái đó chỉ nảy nở trên lòng vị tha, cái đó là : tình yêu.
Đương nhiên tôi không thể nói ra điều đó, tôi chỉ an ủi ông rằng nước ta là nước nông nghiệp, chín chục phần trăm là ngừơi nhà quê, mười phần trăm còn lại dẫu sinh đẻ ở thành phố nhưng cũng đều có gốc gác đồng ruộng nên phân biệt như ông là không đúng.
Anh nói vậy là nói theo kiểu nghị quyết rồi, ông Đ. lắc quày quạy, chẳng nói đâu xa, cô em út bà nhà tôi đây, thủa hàn vi lấy một anh thuế vụ, đi đâu cũng hãnh diện khoe chồng. Cơm ngon, canh ngọt được dăm, bảy năm, tiền của trong nhà xếp như củi, mới bắt đầu ca cẩm số phận hẩm hiu vớ phải thằng chồng nhà quê, suốt ngày mải lo làm ăn không quan tâm đưa vợ đi nhà hàng, đi nghỉ mát, rồi lại nhìn xung quanh thấy rằng người ta vừa có thể làm giàu vừa ăn chơi thanh lịch được, thế là đúng như các cụ ta nói, “ phú quý sinh lễ nghĩa” khăng khăng bỏ thằng thuế vụ lấy thằng xuất nhập khẩu vừa nhiều tiền lại vừa biết cách ăn chơi theo kiểu thành phố. Ấy cái số tôi nghèo lại hoá may, đâm đầu đổ đuôi làm giàu như thằng thuế vụ chắc vợ bỏ từ lâu.
  Tôi chưa kịp cười ý nghĩ lẩn thẩn của ông Đ. bà Đ đã bước vào, hớt hải :
- Ông …ông có thấy con nó ra đây không ?
- Không thấy, nó vẫn nằm trong phòng mà, nó đi đâu tôi phải biết chớ…
Tôi nhói lên lo sợ, chẳng cần nghe hai ông bà cãi nhau, tôi phóng vào trong , hé cửa nhìn vào buồng nàng. Chăn màn vẫn xếp gọn ghẽ trên giường, ngọn đèn ngủ vẫn toả sáng lặng lẽ trên chiếc bàn nhỏ… Nàng đâu rồi ? Tôi chạy cuống xuống bếp, ra phòng khách, mở cửa nhà kho và rồi khi chạy ra ngoài sân tôi kinh hoàng nhận ra cái bóng trắng toát của nàng đang ngồi … trên mái nhà, chìm ngợp trong ánh trăng rực rỡ. Tôi không tin vào mắt mình nữa, làm sao nàng qua mặt nổi bố nàng lúc nào cũng bắc chõng ngang cửa buồng, làm sao nàng tự trèo được lên đó ? Bà Đ. cũng đã theo tôi ra sân và khi nhận ra, bà la hoảng :
- Ối con ơi là con ơi, sao lại ra cái nông nỗi kia…
Tôi vội ngăn bà lại, dọa bà nếu không bình tĩnh rất có thể làm con gái bà sợ hãi ngã tan xương. Bà im bặt, túm chặt lấy tôi hổn hển :
- Tôi lạy anh, anh tìm cách nào cứu nó đi, cứu đi, nó mà ngã xuống tôi cũng đập đầu tôi chết thôi, ối ông ơi là ông ơi, trông nom thế nào mà để con gái trèo mãi lên kia mà cứ ung dung ngồi uống trà…
Tôi chạy tới góc sân, lễ mễ vác chiếc thang, dựng sát mái, thoăn thoắt trèo lên. Khi tới nơi, tôi thót người nhìn xuống, không hiểu một ma thụât nào đã đưa nàng leo được tới đây. Nàng vẫn mải mê nhìn ngắm ông trăng tròn không hề để ý tới tôi đang bò trên những viên ngói trơn như láng mỡ ngay dưới chân nàng. Thế rồi khi tôi đứng ngừơi dậy tới bên nàng, bất chợt nàng quay sang nhìn tôi, trời ơi, tim tôi muốn nảy bật vì sung sướng, đôi mắt… đôi mắt nàng đã mất đi cái vẻ u tối, đờ đẫn hàng ngày, và trở lại lấp lánh, sáng ngời như cái đêm trăng nào nàng mơ được bay lên trời. Tôi nắm chặt lấy tay nàng, cuống quýt gọi tên, quên phắt ngay bệnh trạng của nàng, rối rít hỏi vì sao trèo lên được tới đây, trăng có đẹp không và có nhận ra tôi không. Tuy nhiên nàng vẫn chưa nhận ra tôi, chưa nghe thấy gì và cũng không nói gì hết, lại mải mê nhìn lên trời. Lúc này cả hai chúng tôi đều đứng rất chênh vênh, chỉ cần cựa mạnh là ngã nhào bởi vậy tôi đánh liều ôm lấy thân thể mảnh mai, thơm ngát của nàng, thủ thỉ bên tai những lời âu yếm cốt nàng khỏi nổi cơn điên cho tôi có thời gian tìm cách đưa nàng xuống đất. Tuy nhiên nỗi lo của tôi là thừa, nàng cứ để mặc cho tôi ôm ấp, thậm chi nàng còn ngả đầu lên vai tôi đưa mắt đắm đuối nhìn ông trăng lúc này đã xế ngang ngọn cây. Tôi và nàng cứ đứng trong tư thế như thế mãi cho tới khi trăng tàn hẳn, trời tối sầm và đôi mắt nàng cũng nhắm nghiền, ngủ gục trên vai tôi. Ôi, tôi  chẳng muốn rời nàng ra chút nào, cứ đứng mãi, đứng mãi thế này, hoá luôn thành đá cũng tốt, nhưng ông Đ. đã leo thang lên, bò tới và cả hai chúng tôi vất vả lắm mới đưa đựơc nàng xuống đất, đặt nằm trên giường, buông màn mà nàng chẳng hề hay biết, vẫn chìm đắm trong giấc ngủ.
Đêm đó tôi cứ trằn trọc mãi bên ông Đ. ngáy khò khò, cố nhớ lại những giây phút tuyệt diệu lần đầu tiên được ôm nàng ngay dưới ánh trăng kỳ ảo. Tôi sung sướng khám phá ra một điều rất bất ngờ : ánh trăng quả là liều thuốc bổ vô song đối với nàng, thậm chí rất có thể còn chữa cho nàng khỏi bệnh nữa kia, đấy, mới có một đêm mà mắt nàng đã long lanh lấp lánh thế kia mai mốt cứ để nàng ngắm nghía suốt cả tuần trăng biết đâu nàng chẳng bật ra tiếng nói và lành bệnh, lúc đó hẳn ông Đ. không còn đặt ra cái điều kiện tiên quyết về nhà ở trong việc gả con gái cho tôi nữa, và nàng chắc chắn sẽ là người vợ tuyệt vời, có một không hai trên cõi đời này. Viễn ảnh ngày mai tươi sáng khiến tôi chìm vào giấc ngủ đầy mộng mơ đẹp đẽ, quên biến cái quy luật hình sin của hạnh phúc đang đẩy tôi xuống đáy sóng nơi bất hạnh đang chờ sẵn.

         (còn tiếp)

Chủ Nhật, 4 tháng 12, 2011

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN (KỲ 3)

                      



                                        (tiếp theo)

Trong 100 chân dung của Xuân Sách, có một trường hợp đặc biệt, đó là nhà thơ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu,  đã mất từ 1939, quá xa trước cách mạng. Trong "Thi nhân Việt Nam" Hoài Thanh và Hoài Chân đã cung kính đặt Tản Đà lên ngồi ghế "chủ suý" của hội tao đàn, một người mở lối cho thi ca Việt Nam bước vào giai đoạn mới.Nhà văn Nguyễn Tuân cũng ca ngợi :” Trong chốn Tao Đàn, Tản Đà xứng đáng ngôi chủ suý, trong Hội tài tình, Tản Đà xứng đáng ngôi hội chủ mà làng văn làng báo xứ này, ai dám ngồi chung một chiếu với Tản Đà? ”
Và Xuân Sách cung kính viết về cụ :
“Văn chương thuở ấy như bèo
Thương cụ gồng gánh trèo leo tận trời
Giấc mộng lớn đã bốc hơi
Giấc mộng con suốt một đời bơ vơ
Ước chi cụ sống tới giờ
Chợ trời nhan nhản tha hồ bán văn…” 

Nhà văn Bùi Huy Phồn tức Đồ Phồn thuộc lớp tiền chiến, năm 1941 đã viết tiểu thuyết trào phúng “Một chuỗi cười”, năm 1946 cũng tiểu thuyết trào phúng “Khao”, năm 1961 ông viết tiểu thuyết “phất” hưởng ứng phong trào cải tạo tư doanh ở Hànội . Ông thuộc  hàng quan chức văn hóa văn nghệ , từng làm Giám đốc nhà xuất bản Văn học (1958-1962), ủy viên Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam khóa II (1962-1972), đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội các khóa 4, 5 và 6, ủy viên thường trực Hội văn học nghệ thuật Hà Nội. Trong vụ Nhân Văn Giai phẩm ông viết bài “đánh” Trương Tửu rất nặng . Xuân Sách viết chân dung ông không lấy gì làm ưu ái khi gọi trệch “đồ phồn” thành “đồ phấn”, “đồ vôi” :
“ Phất rồi ông mới ăn khao
Thơ ngang chạy dọc bán rao một thời
Ông đồ phấn, ông đồ vôi
Bao giờ xé xác cho tôi ăn mừng …:

 Trong thế hệ kháng chiến chống Pháp , nhà văn Nguyễn Khải là người có khối lượng tác phẩm đồ sộ nhất. Suốt thời trai tráng, hầu như  không năm nào Nguyễn Khải không ra tiểu thuyết , tập truyện ngắn mới. Ở Sàigòn, có lần nhà thơ Hoài Vũ bảo tôi :” văn viết có duyên tớ thấy có Nguyễn Khải và cậu…”. Tôi thì không nói, nhưng quả thực Nguyễn Khải viết gì thì viết , người đọc vẫn luôn luôn  bị cuốn hút, hấp dẫn. Chính vì vậy tác động tuyên truyền, động viên của tác phẩm Nguyễn Khải rất mạnh , chỉ tiếc,vì chú trọng  bám sát chủ trương đường lối của Đảng nên khi chủ trương thay đổi, tác phẩm của ông trở nên xa với hiện thực. Năm 1978-79, NXB Văn Học thực hiện biên soạn Bộ tuyển văn học cách mạng 3 thời kỳ : chống Pháp, xây dựng chủ nghĩa xã hội và chống Mỹ. Tôi được giao gặp từng nhà văn để hỏi tác giả muốn chọn những tác phẩm nào. Một buổi sáng tôi tới nhà Nguyễn Khải ở bãi Phúc Xá. Lúc đó ông đang ngồi ở bàn viết, trước mặt là tranh vẽ bìa cuốn “Cha và con và…” sắp ra lò. Nguyễn Khải chọn đi chọn lại trong kho chữ của mình rồi bất chợt ông kêu lên :’ Tung tóe mẹ nó hết rồi Tuấn ơi…”. Ông nhìn tôi thất thần rồi cười khảy :” Nhưng không sao, tao sẽ vót nhọn gươm đâm một cú cuối cùng”. Cái cú đó chắc là tập “ Đi tìm cái tôi đã mất” trước khi ông mất . Xuân Sách chắc cũng hiểu được tâm sự Nguyễn Khải nên ông hạ bút :
“ Cha và con và…họ hàng và…
Hết bay mùa thóc lẫn mùa lạc
Cho nên chiến sĩ thiếu lương ăn
Họ sống chiến đấu càng khó khăn
Tháng Ba ở Tây nguyên đỏ lửa
Tháng Tư lại đi xa hơn nữa
Đường đi ra đảo đường trong mây
Những người trở về mấy ai hay
Xung đột mỗi ngày thêm gay gắt
Muốn làm cách mạng nhưng lại dát”
Về cái “dát” của Nguyễn Khải thì Xuân Sách nói đúng. Chính Nguyễn Khải từng tâm sự :” Tớ theo “triết lý con lươn” cứ ngửi thấy mùi hiểm nguy là tớ tiết chất nhờn lủi mất…”
Nhà văn Nguyễn Thành Long chuyên viết truyện ngắn và ký. Ông rất kỹ lưỡng và thận trọng trong viết lách như ông từng tâm sự :” “Nhưng có lẽ là giời đầy tôi, tôi cứ phải lo nhận xét, ghi chép, và đắn đo ở từng chữ như vậy”. Kỹ lưỡng , đắn đó vậy nhưng rồi cũng không tránh được  “vạ bút” hồi năm 1957 với “ Trò chơi nguy hiểm” vào sau này với “Cái gốc” in trên báo Văn Nghệ. Tác phẩm của ông còn lại có “Lặng lẽ Sapa” và “Giữa trong xanh” . Xuân Sách đã khắc họa chân dung ông :
“ Thao thức năm canh nghĩ chẳng ra
Trò chơi nguy hiểm đấy thôi mà
Lửng lơ giữa khoảng trong xanh ấy
Để mối đùn lên cái gốc già…”

Nhà văn Đào Vũ cũng thuộc thế hệ chống Pháp. Vào thời kỳ hợp tác hóa nông nghiệp ở miền Bắc, ông hưởng ứng phong trào bằng cả loạt tác phẩm “ Vụ lúa chiêm”, “Cái sân gạch” rất được báo chí hồi đó tung hô.Xuân Sách đã chỉ ra cái cốt cách văn chương của Đào Vũ :
“ Trời thí cho ông vụ lúa chiêm
Ông xây sân gạch với xây thềm
Con đường mòn ấy ông đi mãi
Lưu lạc lâu rồi mất cả tên…”

Khi viết chân dung nhà văn Nguyên Ngọc, Xuân Sách chưa được thấy vai trò của ông trong đòi hỏi dân chủ khi ông tham gia biểu tình ở Hà Nội, viết bài trên trang mạng bauxite…Bởi vậy Xuân Sách chỉ nhắc tới “Đất nước đứng lên” tác phẩm nổi tiếng của Nguyên Ngọc và “Mạch nước ngầm” , truyện dài bị nhắc nhở khi Nguyên Ngọc viết ở Quảng Ninh mất cả điểm hai cuốn rất cách mạng “Đất Quảng” và “Rừng Xà nu” :
“ Mấy lần đất nước đứng lên
Đứng lâu cũng mỏi cho nên phải nằm
Hại thay một mạch nước ngầm
Cuốn trôi đất Quảng lẫn rừng Xà nu…”

Nhà văn thuộc thế hệ chống Pháp bị “tai nạn nghề nghiệp” nặng nhất có lẽ là Hà Minh Tuân. Ông tham gia hoạt động bí mật ở Hànội từ năm 1943 , chính ủy trung đoàn năm 1950, Giám đốc NXB Văn Học năm 1958. Không may ông viết tiểu thuyết “vào đời” nêu nỗi khổ của những thanh niên “vào đời” phải đi lao động trên công trường, “cái đòn gánh như con rắn quẫy nặng trên vai “ và thế là ông ăn đòn hội chợ của đồng nghiệp , ngay cả báo chí cũng phát động quần chúng nhảy vào đánh đấm . Rốt cuộc ông mất chức Giám đốc NXB Văn học về công tác ở “Vụ cá nước lợ” thuộc Tổng cục hải sản, vài năm sau về làm trợ lý cho ông Như Phong GĐ NXB Văn học .
Xuân Sách khắc họa chân dung ông :
“Bốn mươi tuổi mới vào đời
Ăn đòn hội chợ tơi bời xác xơ
Giữa hai trận tuyến ngu ngơ
Trong lòng Hà nội bây giờ ở đâu?”

Trong những nhà thơ kháng chiến chống Pháp, có những người chỉ có một bài mà được lưu truyền mãi. Đó là nhà thơ Minh Huệ , sinh năm  1927, từng là chủ tịch Hội văn nghệ Nghệ - Tĩnh. Ông làm thơ từ hồi kháng chiến chống Pháp.Đề tài sáng tác chủ yếu của ông là Bác Hồ và cách mạng. Ông làm bài thơ "Đêm nay Bác không ngủ" sau khi được nghe kể lại câu chuyện gặp gỡ giữa Bác và một anh đội viên trong rừng giữa đêm mùa đông năm 1950.
Xuân Sách viết về  ông :
“Vỡ lòng câu thơ viết
Mời bác ngủ bác ơi
Đêm nay bác không ngủ
Nhà thơ ngủ lâu rồi”

Nhà thơ Hữu Loan là trường hợp khá đặc biệt trong những nhà thơ chống Pháp. Ông tham gia cách mạng từ rất sớm,năm 1936 trong phong trào Mặt trận Bình dân , năm 1943 giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa huyện Nga Sơn, sau đó phụ trách các ty: Giáo dục, Thông tin, Thương chính và Công chính trong kháng chiến chống Pháp. Năm 1957 tham gia nhóm Nhân Văn Giai phẩm qua các bài viết lên những tiêu cực của các cán bộ  tham nhũng, triệt hạ nhau để leo ghế. Sau khi hết thời gian cải tạo, Hữu Loan nhất quyết bỏ Đảng, bỏ cơ quan về quê kiếm sống không muốn dính dáng gì tới Hội nhà văn. Xuân Sách rất mến phục nhân cách của Hữu Loan :
“ Ôi màu tím hoa sim
Nhuộm tím cuộc đời dài đến thế
Cho đến khi tóc bạc da mồi
Chưa làm được nhà
        Còn bận làm người
    Ngoảnh lại ba mươi năm
      Tím mấy nghìn
            Chiều hoang
                    Biền biệt”

(còn nữa)

HÀNỘI ... "HỒI ẤY" (24)


                     Hànội…”hồi ấy” (24)



                  

                           (tiếp theo)

10.

Đợt công tác phục vụ chiến dịch “ đưa nhà lên đồi” của phòng tôi kết thúc đột ngột. Ông Trưởng phòng đổ lỗi cho những người nông dân có cái nhìn thiển cận, chỉ thấy mất đi cái trước mắt nhỏ nhoi như cây đa, giếng nước, mái đình… mà không trông tới cai tương lại rực rỡ của một huyện trọng điểm lúa, nhất định không rời nhà thậm chí còn kiện lên cả tỉnh, cả trung ương làm mấy ông này phải ra lệnh tạm thời đình chỉ thực hiện chủ trương của cấp huyện. Ông càu nhàu :
- Mất công sức cả tháng trời chẳng ăn cái gì.
- Thủ trưởng cứ làm cho xong dứt chuyên đề đi, nay mai thế nào cũng có một ông huyện nổi hứng lên thực hiện lại chủ trương “ đưa nhà lên đồi” nhất định phải tới xin chuyên đề của thủ trưởng.
Ông trưởng phòng không chịu nghe tôi “ xúi dại”, kiên quyết dẹp hết mọi tài liệu, đồ án thiết kế dính dáng đến “ nhà trên đồi”, ba ngày liền ngồi lì ở bàn, cắm cúi đọc một cuốn gì đó dày cộm không hé răng nói nửa lời.
Suốt mấy ngày đó, phòng tôi lặng ngắt như tờ, đi lại, kéo ghế cũng phải khe khẽ, anh nào anh nấy có mặt từ đầu giờ, ngồi chốt trước bàn cho tới kẻng hết giờ mới chịu thôi. Phàm ai đã làm việc ở phòng tôi vài năm nay đều hiểu rõ cứ mỗi khi thủ trưởng ngồi lì nghiên cứu tài liệu là y như rằng sắp xảy ra một sự kiện trọng đại : dự kiến tăng lương tăng bậc, xét người đưa vào diện dôi ra đề nghị lên trên cắt giảm biên chế, lập danh sách những ai sẽ phải xuống tăng cường cho cở sở phục vụ sản xuất…
Thế là mấy chục con tim cứ nảy thon thót, rà soát lại xem thời gian qua có điều gì thất thố với thủ trưởng kiểu như nói năng phạm thượng, tết nhất tới thăm tay không hoặc trong năm quên mất ngày giỗ bố thủ trưởng… Có anh lo phát ốm vì nhớ ra ngày ấy tháng ấy đang ngồi gác chân lên bàn, thủ trưởng vào bất ngờ cứ ngồi tỉnh bơ để ông phải nhắc nhở, có anh quá sốt sắng về giục vợ ra ngay mậu dịch mua nửa cân len Mộc Châu mang đến tận nhà biếu thủ trưởng phu nhân.
Thế là dưới căng tin cơ quan, câu chuyện cửa miệng của anh em phòng tôi chỉ xoay quanh mỗi việc đoán coi ông trưởng phòng đang nghiên cứu chuyên đề gì ? Tăng lương tăng bậc chưa đến kỳ hạn, xét đi nghiên cứu sinh cũng chẳng phải vì các phòng khác vẫn im re, chiến tranh biên giới đã lụi đi, không lẽ trên còn bắt tăng cường lên đó ?
Chịu, các chuyên gia “ đoán mò” giỏi nhất phòng chạy như đèn cù giữa phòng Giám đốc, Đảng uỷ, Công đoàn, phòng tổ chức, lao động tiền lương… cũng chịu không sao biết được đằng sau cái vầng trán hói, cau lại suốt ngày của ông Trưởng phòng kia đang nghĩ ngợi chuyện gì.
Mãi tới sáng ngày thứ tư, toàn phòng mới được lệnh tham dự cuộc họp mà “ bất kỳ ai và bất kỳ lý do gì đều không được vắng mặt”. Buổi sáng  hôm đó khi ông Trưởng phòng vừa bước vào mọi người đều đã có mặt. Lo lắng cho số phân của mình, có anh bỏ mặc vợ đang đau đẻ trong bệnh viện, có anh đang cơn sốt rét tái phát khoác áo bông sù sụ… tất cả đều dẹp bỏ hết mọi sự đời riêng tây nín thở nhìn ông Trưởng phòng kéo ghế ngồi, đưa mắt kiểm diện khắp bốn xung quanh, rút kính, mở sổ ra và cất giọng e hèm :
- Các đồng chí… đủ cả chưa ? Hôm nay ta họp toàn phòng vừa sơ kết đợt phục vụ chiến dịch vừa qua, vừa bàn phương hướng công tác mới mà trọng tâm là “ dũng cảm, ngoan cường,thông minh, sáng tạo” hăng hái tiến quân vào khoa học kỹ thuật thiết thực hưởng ứng phong trào thi đua mà Đảng uỷ, Ban Giám đốc, Công đoàn và đoàn thanh niên vừa phát động…
Ông nói như  bắn súng liên thanh, tôi giỏng tai nghe, cố chắt lọc lấy những lời lẽ nôm na để hiểu cho được sự thực ông muốn nói cái gì. Cuối cùng tôi cũng vỡ nhẽ ra rằng cho dù bài nói của ông vòng vo những hơn một tiếng đồng hồ, tóm lại một điều là công trình nghiên cứu “ nhà trên đồi” xếp xó rồi và phòng ta muốn có cớ để mà lĩnh lương thì phải lao vào một đề tài mới. Nhấp chén nước cho ngọt giọng, mở ngăn kéo lấy ra cuốn sách dày nghiên cứu suốt ba ngày qua, ông Trưởng phòng cất giọng trịnh trọng :
- Thưa các đồng chí, chính vì vậy tôi đã bỏ thời gian ra nghiên cứu và đề xuất một chuyên đề mới đặt tên theo bí số là VLDK1 và VLDK2.
Cả phòng ồ lên khoan khoái, rõ thần hồn nhát thần tính, cắt giảm biên chế, tăng cường biên giới… đâu ra những chuyện đó, đấy, cứ hay lo hão lo huyền thế rồi có ngày chết vì đau tim. Tôi đưa mắt nhìn quanh, ai cũng hớn hở, mừng rỡ, có phần đầy tự tin nữa. Ông Trưởng phòng phải la hét mãi mới lập lại được trật tự để giảng giải về chuyên đề của ông :
- Trong đời sống hàng ngày, trong sản xuất công nghiệp, trong xây dựng vận tải, trong bất kỳ ngành kinh tế quốc dân nào, ở đâu người ta cũng gặp một bài toán nan giải là liên kết vật thể A với vật thể B…
Tôi nghe ù cả tai mới hiểu được rằng bằng ngần ấy ngôn từ, ông Trưởng phòng chỉ nhằm đạt tới trình bày một khái niệm nói một cách nôm na là: dán, chẳng hạn như dán nhãn hiệu lên chai rượu, dán tem lên phong bì, mở rộng ra, dán kim loại lên kim loại, kim loại lên gỗ, chất dẻo… tóm lại người ta có thể dán các thanh sắt với nhau thành cả một chiếc cầu không cần tán đinh rivê cổ lỗ. Thế còn các bí số VLDK1,VLDK2 ghê gớm kia, sau cùng tôi cũng hiểu ra rằng cái khái niệm “ vật liệu dính kết” ông Trưởng phòng đang trình bày bằng một cơn lốc từ ngữ kia, chính là … keo dán, loại I dùng trong dân dụng và loại II trong công nghiệp.
Và rồi cũng tới lúc ông kết luận :
- Để góp phần đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình trọng điểm, để tiết kiệm ngoại tệ khi phải nhập vật liệu dính kết của nước ngoài, để thiết thực hưởng ứng phong trào thi đua mới phát động, được sự chấp thuận của Đảng uỷ, Ban Giám đốc Viện, từ nay phòng ta chính thức bước vào đợt nghiên cứu sản xuất VLDKI và VLDKII, toàn thể các đồng chí phải toàn tâm toàn ý, tập trung vào nhiệm vụ mới, hoàn thành bất kỳ công việc nào được phòng giao cho…
Ông chống hai tay xuống bàn, ngước lên nhìn trần, chờ đợi tiếng vỗ tay nổ ra, quên biến mất rằng ông đang họp phòng chứ không phải diễn đàn. Ong Công đoàn nhận ra sự khiếm khuyết đó trước tiên và bổ túc bằng một tràng pháo tay mà chỉ được lộp bộp hưởng ứng bằng các ông trong bộ tứ. Ong Trưởng phòng giơ giơ hai  cánh tay kiểu như ngăn lại cả một cơn bão vỗ tay ngoài hội trường lớn rồi khi đã trở lại im phăng phắc, ông cao giọng đọc mục phân công cụ thể, trong đó phần của tôi vẫn là sục vào đủ các thứ thư viện, kho lưu trữ tìm cho thật nhiều tài liệu dính dáng đến mọi thứ “ keo dán” có ở trên trái đất.
Công việc này quả thực rất thuận tiện với tôi, bởi lẽ nó cho phép tôi chở các thùng bia lậu đi bỏ mối ở những nơi Trịnh và họa sĩ Ngời đã móc nối. Hoá ra làm cái việc bữa trước tôi hô hào “ xuống đường kiếm sống” này cũng chẳng lấy gì làm ghê gớm. Kể ra thoạt đầu cũng có hơi “ mặc cảm” khi một con mẹ mập ú ở quán bia “ Thuý Nga” mắng xơi xơi tội tới chậm để khách phải chờ bia, dọa sẽ cắt mối nếu còn tái phạm, hoặc đang lọc cọc chiếc xe đạp được gõ nhịp bởi những chai bia va nhau, vút qua mặt chiếc CUB bóng loáng, chở đôi cô cậu ôm eo ếch và quẳng lại những lời lẽ rất… văn hoa, đ.m. thằng nhà quê, mù mắt hay sao suýt va vào người ta…
Tôi cố nuốt đi mọi thứ, tự an ủi rằng phàm những thằng không có tiền thường hay bị chửi là đúng rồi, cả làng đều thế đâu có riêng tôi. Ấy thế rồi chẳng mấy chốc tôi đã thạo nghề, nắm vũng quán nào sắp hết, quán nào đang còn để kịp thời chở bia tới, thông thuộc giờ giấc của các chốt gác cảnh sát và phòng thuế lúc nào chở, đi lối nào khỏi bị tóm cổ.
Cơ sở bia lậu của bọn tôi mỗi ngày một phát đạt, nhưng với kinh nghiệm của tay tổ, họa sĩ Ngời kiên quyết không cho chúng tôi tăng “sản phẩm” theo đúng quy luật mở rộng sản xuất. Chàng nói rằng làm ăn ở xứ ta cần phải nhớ chẳng có cái quy luật nào hết, nay cởi mai thắt, nên cứ phải cơ động, gọn nhẹ, đánh quả nào chắc quả ấy.
Quả thực trong những lúc làm  ăn, chàng hoạ sĩ đã biến dạng thành một ông chủ sòng phẳng, quyết đoán, liều lĩnh, năng nổ ngược hẳn với con người trầm tư, “ đại trí, đại giác” trong phòng tranh gác xép của chàng. Nếu hiện tượng “ song trùng nhân cách” là có thực, hẳn chàng họa sĩ phải là một dẫn chứng tiêu biểu. Chàng có đến cả chục lò bia lậu mà ở phòng tôi chỉ là một chiếc nhỏ nhất. Tuy thế nó cũng giúp tôi tháng được thêm gấp ba lần lương kỹ sư, tôi đã có tiền để đong đầy thạp gạo nhà ông bà Đ., thỉnh thoảng tới với nàng trong tay đã có hộp sữa, chục cam, nải chuối, hứng lên có thể ghé quán “ nghệ sĩ” khỏi cần năn nỉ bà Dậu cho ghi sổ.
Riêng Trịnh đổi đời trông thấy, hắn thôi không báo cơm tập thể nữa, hàng ngày chễm chệ ngồi quán cơm bình dân, ăn xong còn gói về khi thì mớ lòng lợn, khi thì cái đùi gà “ bồi dưỡng ca đêm” lúc cho bia vào chai, đóng nút. Cuộc đời rất có thể cứ thế tà tà lên hương nếu “ thiên mệnh” không giáng xuống đầu tôi một vố sa sẩm mặt mày khiến tôi càng tin rằng họa phúc ở đời chẳng khác gì biểu đồ hình sin hồi còn học phổ thông ta vẫn nắn nót vẽ trong vở học trò.

                                 (còn tiếp)

Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2011

"CON CHIM TRỐN TUYẾT'- NHÂN GIÕ PHẠM TIẾN DUẬT

              “Con chim trốn Tuyết”
–     nhân giỗ Phạm Tiến Duật


Có những bài thơ như nhạc cổ điển vậy, lâu lâu nghe lại vẫn thấy bồi hồi. Thơ Phạm Tiến Duật là thế - “Lửa đèn”,” Vầng trăng quầng lửa”…với nhiều bài trong đó đã trở thành “tiếng đàn muôn thủa” mà không phải ai cũng “tri âm”. Có trải qua những năm tháng Trường Sơn mới “thấm “ hết thế nào là “ Muỗi bay rừng già cho dài tay áo”,”Nước khe cạn bướm bay lèn đá”,” Hết rau rồi em có lấy măng không?”…
Cứ mỗi lần đọc lại thơ Duật, tôi thấy nghèn nghẹn trong lòng, dội lại cả một thời đã qua. Khoảng tháng 3 năm 1975, tôi gặp nhà thơ – nhạc sĩ Nguyễn Thuỵ Kha ở sông A Vương (Quảng Đà) trên đường anh vào B. Tay bắt mặt mừng. Kha hỏi tôi có gặp Duật không ? Tôi bảo tuy cùng lính “ Năm năm chán” (559) nhưng Duật ở Cục chính trị mãi ngoài Vĩnh Mốc, còn tôi ở tiểu đoàn trinh sát tít trong này sao mà gặp ?
Mãi tháng 9 -1975 tôi mới ngồi xe commăngca , mặc đồ lính chạy vào Sàigon ở chơi ít ngày nhà ông anh là nhà văn Nhật Tiến tại Tòa soạn báo Thiếu Nhi phố Thiệu Trị.
Một buổi sáng có một cô gái xinh đẹp tới xin gặp . Áo dài trắng, người mình rây, tóc ngang vai…thoạt nom biết ngay là nữ sinh Sàigon.
Cô hỏi tôi có quay ra Hà Nội không ? Tôi bảo chắc chắn sẽ quay ra. Cô rụt rè :
“ Vậy thì anh chuyển giúp em cuốn sách này cho…nhà thơ Phạm Tiến Duật…”.
Tôi giật mình, hóa ra ông bạn vàng đã lẻn vào Sàigon trước tôi  và sau này nghe nói Duật phải kiểm điểm về tội bỏ đơn vị quá lâu .
Cô gái có vẻ buồn và ngơ ngác. Hóa ra cô nhờ tôi chuyển cho Duật cuốn “Con chim trốn Tuyết…” , truyện của Gallico viết về  Rhayader, một hoạ sĩ tật nguyền, phải tìm nơi ẩn dật ở một hải đăng hoang phế ven biển và chết bên dưới vòng cánh lượn đầy tình nghĩa của "con chim trốn tuyết". 
Nội dung cuốn truyện chẳng dính dáng gì tới Duật mà sao cô gái cứ khẩn khoản tôi chuyển cho anh. Bất ngờ, bằng những kinh nghiệm tình trường, tôi chợt nghĩ ra :
“ Phải tên cô là Tuyết không ?”
Cô gái gật đầu e thẹn :
“ Dạ vâng, em tên Tuyết…”
Tôi bật cười :
“ Con chim của Gallico thì trốn tuyết, còn Duật thì trốn…cô à ?”
Cô gái đỏ bừng mặt nhưng sự im lặng đã là câu trả lời. Ít lâu sau ra Hànội tôi nhắn Duật tới “nhận quà Sàigon”. Hồi đó dân gian có câu “ miền Bắc nhận hàng, miền Nam nhận họ”. Tất nhiên Duật không rơi vào trường hợp đó nên cứ thắc mắc không biết ai gửi quà cho anh ? Tôi đưa ra cuốn “con chim trốn Tuyết “ :
“ Sao ? Đã nhận ra ai gửi chưa ?”
Nhìn cái tựa sách, dường như Duật đã hiểu ra,  mặt đỏ bừng, buồn buồn. Tôi nhắc :
“ Thế nào…định  trốn …Tuyết à ?’
Duật khó khăn :
“ Cái gì đã qua thì thôi cho qua luôn…”
Hồi đó Duật vẫn đang ở với chị Vân, tôi giằng cuốn sách lại :
“ Thôi đừng cầm về…bà Vân biết thì rắc rối…”
Duật lắc đầu :
“ Không sao…không sao đâu…”
Anh vẫn cầm cuốn sách về , thẫn thờ như người mất hồn và không nói gì thêm. Nhiều năm sau gặp lại Duật ở phòng làm việc của Tùng Điển, Phó chủ tịch Hội liên hiệp VHNT. Thì ra Duật đã về tạp chí của Hội. Chẳng hiểu sao Duật cứ buồn buồn, tất nhiên không phải vì chuyện “con chim trốn Tuyết” – nghe nói cô gái đã định cư ở Mỹ. Thời gian này Duật đang làm MC trong tiết mục “Cây cao bóng cả” trên tivi. Nhìn vẻ mặt buồn và khắc khổ, tôi nhói lên thương anh. Bằng vào sự nghiệp thơ, lẽ ra Phạm Tiến Duật phải được cấp villa ven hồ Tây, phải được dựng tượng ở nghĩa trang Trường Sơn và đặt tên cho một phố lớn Hànoi.. Nhưng mà nghĩ lại , những cái đó để làm gì ?
“Anh cùng em sang bên kia cầu
        Nơi có những miền quê yên ả
        Nơi có những ngọn đèn thắp trong kẽ lá
        Quả cây chín đỏ hoe
        Trái nhót như ngọn đèn tín hiệu
        Trỏ lối sang mùa hè…”
Đọc lại dưng dưng muốn khóc. “Lửa đèn”, “ Gửi em cô thanh niên xung phong…” đó mới là “tượng đài” Phạm Tiến Duật.

3-12-2011

Thứ Năm, 1 tháng 12, 2011

CHÂN DUNG HAY "CHÂN TƯỚNG" NHÀ VĂN (2) ?

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG                        
                                                NHÀ VĂN  ? 
                       (kỳ 2)



                             (tiếp theo)

Nhà thơ Nguyễn Bính, tham gia cách mạng từ 1947, về Hà nội năm 1954, làm báo tư nhân Trăm hoa từ năm 1956. Thời đó, báo của Nguyễn Bính là cái gai đối với các nhà lãnh đạo văn nghệ. Ông “cả gan” chê thơ Tố Hữu và Xuân Diệu :”Vì những sai lầm nghiêm trọng, cần phải xét lại toàn bộ giải thưởng văn học 1954-1955; đề nghị đưa tập thơ Việt Bắc xuống giải nhì. Loại tập thơ Ngôi sao và một số quyển không xứng đáng.”. Táo tợn  hơn nữa, Trăm Hoa còn “đề nghị bỏ lệ khai báo trong chính sách quản lý hộ khẩu”. Tất nhiên chỉ ra được vài số Trăm Hoa “chết yểu” .Tuy không xơi đòn nặng như Nhân Văn Giai phẩm nhưng Nguyễn Bính cũng phải rời Hà Nội về Nam định làm anh nhân viên ngoài biên chế dưới sự “quản lý chặt chẽ ” của Trưởng ty văn hóa, nhà văn Chu Văn. Trong thơ chân dung về nhà thơ tình số 1 VN này , Xuân Sách điểm có hai tác phẩm tiêu biểu Lỡ Bước Sang Ngang (1940), Giếng Thơi (1957) nhưng vẫn không quên “sự kiện báo Trăm Hoa” với tình cảm xót xa  :
  “Hai lần “lỡ bước sang ngang “
 Thương con bướm đậu trên dàn mồng tơi
 Trăm hoa thân rã cánh rời
 Thôi đành lấy đáy “giếng thơi” làm mồ.

Nhà thơ Tú Mỡ trước cách mạng đã từng “ngang ngạnh” trong “dòng nước ngược” :

      “Trong đình quan khách cỗ bàn.
 Vòng ngoài dân đói hàng ngàn xúm đông
 Há mồm lố mắt đứng trông
 Chúc thầm các cụ các ông muôn đời”
Vậy nhưng từ ngày theo kháng chiến thì “Tú mỡ” đã thành “Tú tóp” :
“ Một nắm xương khô cũng gọi mỡ
 Quanh năm múa bút để mua vui
 Tưởng cụ vẫn bơi dòng nước ngược
 Nào ngờ trở gió lại trôi xuôi.”

Nhà thơ Quang Dũng tác giả “Tây tiến”- một trong số ít bài thơ hay nhất thế kỷ, năm 1957 phải đi chỉnh huấn trong vụ Nhân Văn Giai phẩm , từ đó ông sống rất nghèo ,lặng lẽ trong cương vị biên tập báo Văn Nghệ và sau là NXB Văn Học. Năm 1978, tôi cùng ăn cơm với ông tại nhà ăn tập thể  NXB Văn học, Quang Dũng cao to nên ăn rất khỏe lâu lâu lại thấy ông đứng lên đi xin thêm cơm. Bà Gái cấp dưỡng lúc đầu còn cho thêm cơm, sau chỉ cho … miếng cháy. Xuân Sách viết chân dung ông với lời lẽ xót thương và mến phục :
““Sông Mã xa rồi tây tiến ơi...”
 Về làm xiếc khỉ với đời thôi
 Nhà đồi một nóc chênh vênh lắm
 Sống tạm cho qua một kiếp người.
 “Áo sờn thay chiếu anh về đất”
 Mây đầu ô trắng, Ba Vì xanh
 Gửi hồn theo mộng về tây tiến
 Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Nữ thi sĩ Anh Thơ (1921), được giải thưởng của Tự Lực Văn đoàn năm 1939 khi mới 18 tuổi, tác giả tập “ Bức tranh quê” (1941) . Đi cách mạng năm 1945 trở thành cán bộ phụ nữ và làm thơ cách mạng, đại loại như :         
CON ĐÃ VỀ NƠI BÁC Ở NGÀY XƯA
 Bác về, mời cụ “Các Mác’’ về, trên núi đá
 Trong cả lòng hang, Bác tạc tượng người.
 Như tạc niềm tin cho con cháu đời đời
 Từ thẳm rừng sâu ngời lên chủ nghĩa.

Bởi thế, Xuân Sách có vẻ tiếc cho bà :
“Ấy bức tranh quê đẹp một thời
 Má hồng đến quá nửa pha phôi
 Bên sông vải chín mùa tu hú
 Khắc khoải kêu chi suốt một đời.

 Nhà văn Vũ Trọng Phụng, tiểu thuyết gia vào loại hàng đầu ở Việt Nam nhưng số phận tác phẩm của ông thật bi thảm. Năm 1957, ông Trương Tửu và Trần Thiếu Bảo (nhà in Minh Đức) tổ chức giỗ Vũ Trọng Phụng và tái bản “Số đỏ”. Có kẻ ỏn thót với Ủy viên Bộ chính trị Hoàng Văn Hoan là Vũ Trọng Phụng viết bài nói xấu ông ký ga , không may bố ông  “lãnh đạo cao cấp” này lại cũng làm nghề đó. Thế là một chiến dịch  triệt hạ Vũ Trọng Phụng được phát động. Ông bị quy là đệ tử của Freud, rồi ai đó moi trong thư viện ra bài báo của ông “Nhân sự chia rẽ giữa đệ tứ và đệ tam quốc tế, ta thử ngó lại cuộc cách mệnh cộng sản ở Nga từ lúc khỏi thủy cho đến ngày nay" in trên Đông Dương tạp chí số ra ngày 25/9/ 1937, ông bị quy là phần tử Trotskít. Từ đó Vũ Trọng Phụng coi như bị “khai trừ” khỏi văn đàn. Sau này khi tôi về NXB Văn Học, nhà phê bình văn học , Giám đốc Như Phong rỉ tai tôi :” Trong cuộc họp phê phán Vũ Trọng Phụng ở Thái Hà ấp toàn những nhà văn hàng đầu mà không một thằng nào dám mở mồm bênh Vũ Trọng Phụng lấy một câu…”. Mãi tới thời kỳ đổi mới, ông Lý Hải Châu, GĐ NXB Văn Học mới lần lượt tái bản tác phẩm của Vú Trọng Phụng. Khắc họa chân dung ông, Xuân Sách đầy lòng cảm phục :
“Đã đi qua một thời Giông tố,
Qua một thời “cơm thầy cơm cô”
Còn để lại những thằng “Xuân tóc đỏ”
Vẫn nghênh ngang cho đến tận bây giờ”
Nhà văn Nam Cao , cha đẻ của Thị Nở, Chí Phèo, cán bộ cách mạng, từng phụ trách báo Cứu Quốc, hy sinh năm 1951 trên đường công tác thuế nông nghiệp ở khu III.Giả dụ ông còn sống như các nhà văn cùng thời khác , không hiểu có còn đứng vững trên lập trường cách mạng trong cơn “tai biến” “ Nhân Văn Giai Phẩm” như Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài…không ? Xuân Sách viết về ông đầy ưu ái :
“Em còn đôi mắt ngây thơ
 Sống mòn mà vẫn đợi chờ tương lai
 Thương cho thị Nở ngày nay
 Kiếm không đủ rượu làm say Chí Phèo!”

Nhà thơ, kịch tác gia Thế Lữ , tác giả của “Mấy vần thơ” (1935) trong có những bài nổi tiếng : Nhớ rừng, Tiếng trúc tuyệt vời, Tiếng sáo Thiên Thai, Vẻ đẹp thoáng qua, Bên sông đưa khách, Cây đàn muôn điệu và Giây phút chạnh lòng. Năm 1936, hoạt động kịch với Ban kịch Tinh Hoa, ban kịch Thế Lữ . Sau năm 1947, ông tham gia kháng chiến, năm 1957 được bầu làm Chủ tịch Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam, hầu như không viết gì .
Xuân Sách tiếc cho ông đã quá sớm “về vườn bách thú”:
“ Với tiếng sáo Thiên Thai dìu dặt
Mở ra dòng thơ mới cho đời
Bỏ rừng già về vườn bách thú
Con hổ buồn lặng lẽ trút tàn hơi “

Nhà văn Bùi Hiển, nổi tiếng với truyện ngắn “Nằm vạ “ (1940), nhưng sau đó tham gia cách mạng quá sớm, không viết được gì nhiều, nổi bật là tập “Trong gió cát”. Năm 1958, ông viết truyện ngắn “Ngày công đầu tiên của cu Tí” để cổ vũ cho phong trào hợp tác xã. Truyện ngắn này được sử dụng trong giáo trình văn học phổ thông tại miền Bắc và cả nước Việt Nam trong nhiều năm. Những năm 1945-1960 ông là Chủ tịch Hội văn nghệ Nghệ An, sau đó suốt trong nhiều năm , ông công tác trong Hội nhà văn VN.Xuân Sách giễu cợt :
“ Sinh ra “ trong gió cát”
Đất Nghệ An khô cằn
Bao nhiêu năm “nằm vạ”
Trước cửa hội Nhà văn”

Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng tham gia cách mạng từ năm 1930, đại biểu quốc hội khóa 1, người sống mãi với…Hội nhà văn, sau cách mạng viết tiểu thuyết “Truyện anh Lục”,“Bốn năm sau”, “Sống mãi với Thủ đô” , vở kịch “ Lũy Hoa”…Xuân Sách khắc họa chân dung ông :
“ Anh chẳng còn “sống mãi
 Với Thủ đô” Lũy hoa
Để Những người ở lại
Bốn năm sau khóc òa…”

Trong các nhà văn “tiền chiến” đi theo cách mạng, người bị Xuân Sách “giễu cợt sâu cay" nhất có lẽ là nhà văn Kim Lân. Trước cách mạng, từ năm 1941, Kim Lân đã nổi tiếng về truyện ngắn “vợ nhặt”. Ông viết không nhiều, sau cách mạng ông viết “Làng” về nông thôn Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp, tuy nhiên, hai truyện “Ông lão hàng xóm” (1955) và “Con chó xấu xí” (1962) bị phê phán phi hiện thực xã hội chủ nghĩa .
“Nên danh nên giá ở làng
 Chết vì ông lão bên hàng xóm kia
 Làm thân con chó xá gì
 Phận đành xấu xí cũng vì miếng ăn.”

     (còn nữa)