Tổng số lượt xem trang

Thứ Tư, 5 tháng 10, 2011

HÀ NỘI ... HỒI ẤY (2)..

           Hà nội…hồi ấy (2)
                
                           (tiếp theo)                          

Không khí trong nhà im lìm và nặng nề như bãi chiến trường sau trận đánh.Qủa thực, cơn đấu khẩu sáng nay chắc nổ ra to lắm sau lúc tôi về nên mới lưu lại trên mặt ông Đ. vẻ hờn giận,buồn bã ủ ê đến thế. Mọi ngày ông vẫn ăn chung mâm với bà dẫu rằng chẳng bao giờ ông đụng đũa tới đĩa thịt, con cá rán hoặc bát canh rau ngót nấu giò sống, ông chỉ ăn rau luộc, quả cà, sang lắm là vài miếng đậu rán. Ông thường nói với cả nhà ông chỉ ăn uống đúng theo mức lương hưu của ông thôi, không cần ăn nhờ đứa nào hết, không gì quý hơn độc lập tự đo, ăn nhờ dù là của vợ con cũng nhục lắm. Bởi thế ông chia số lương hưu hàng tháng cho các khoản gạo, mắm, mỡ, cắt tóc và báo Nhân Dân hàng ngày thì thấy rằng số tiền còn lại vừa đúng mua được ba lạng thịt, y nguyên tiêu chuẩn thời bao cấp của ông. Tài thật, tiên sư anh tài chánh, tính toán mức lương hưu chi li đến thế là cùng. Ông vổ đùi đen đét và la lên với cả nhà. Bà vợ hỏi :
“Thế còn tiền giỗ chạp ?”.
Ông sầm mặt :
“Duy tâm, cách mạng là không có cúng vái ai cả.”
Cô con gái lại vặn :
 “Thế tiền quần áo bố lấy đâu ra ?”
Ông lắc đầu quày quạy :
 “Tao hưu rồi, đi đến đâu mà cần quần áo, vả lại cái cũ còn đầy tủ kia, mặc tới lúc chết cũng chả hết.”
Thế là sáng ông dậy sớm làm vài động tác thể dục rồi thong dong ra phố làm hàng xóm cứ tưởng ông đi ăn phở có biết đâu ông chỉ đi hít thở không khí và ghé quày báo mua tờ Nhân Dân cắp nách về, nom thật phong lưu, nhàn hạ.
     Chiều nay giận vợ, ông Đ. nấu niêu cơm, bát nước mắm vài củ lạc rang, ngồi ăn một mình nên vừa thấy tôi lấp ló cửa buồng, ông vội bưng ngay mâm cơm xuống bếp. Bà Đ. chắc giận chồng đã bỏ đi đâu. Tôi ấn Trịnh xuống chiếc ghế gỗ, cố ngăn mình không lẻn sang phòng nàng xem bệnh tình ra sao ? Ông Đ. đã trở lại, mặt lầm lầm nhưng khi tôi giới thiệu có đồng chí bác sĩ bệnh viện Việt Đức tới thăm bệnh cho cô gái thì lập tức ông vồn vã hẳn :
     -  May qúa, tôi đang lo sớm mai đưa em nó ra y tế phường. Lạ lắm kia, từ cha sinh mẹ đẻ tới giờ thật chưa hề thấy cái ca nào lạ lùng như thế này. Mẹ nó sờ đầu vẩn mát lạnh như không, thần sắc vẫn bình thường, mỗi tội câm như hến, bố mẹ hỏi chẳng nói năng gì, nấu bát cháo tim gan bưng vào không chịu nhấp lấy một thìa, chỉ ngủ liên miên . Trăm sự nhờ bác sĩ khám cho em nó xem sao, xin mời …”
     Ông ngăn tôi lại, chỉ cho mỗi Trịnh theo ông vào phòng nàng. Tôi đành ngồi xoay xoay chén nước trong tay, lo ngay ngáy không hiểu nàng mắc cái bệnh gì, liệu có qua khỏi để rồi lại đi chơi trăng với tôi được không ? Thú thực nàng cũng chả phải là người yêu duy nhất của tôi, còn vài ba cô nữa sẵn sàng đi cùng tôi ra ngoài cái vạch giới bè bạn, riêng nàng rất giữ gìn, thậm chí mới chỉ cho tôi hôn tay, cùng lắm là hôn lên má vậy thôi, ấy thế mà hình ảnh nàng lại choán nhiều chỗ nhất trong tôi. Làm việc ở cơ quan, đi ngoài đường phố, ngồi với bạn bè trong quán rượu, ngay cả ôm cô gái khác trong tay, lúc nào tôi cũng nhớ tới nàng.
     Tôi hút chưa hết điếu thuốc, Trịnh và ông Đ. đã trở ra. Bạn bè thế đấy, khám qua loa chiếu lệ, tôi hỏi giật giọng :
     - Sao, bệnh tình sao ?
     - Chẳng có làm sao cả.
     Trịnh uể oải ngã người xuống ghế như muốn ngủ gật, tôi xô tới túm ngực áo sẵng giọng :
     - Sao lại chẳng làm sao ? Cậu có khám kỹ không, nói rõ ra nào ?
     - Tim phổi bình thường, mạch đều, huyết áp tốt… cậu còn muốn tớ khám cái gì nữa nào.
     Tôi thở hắt ra :
     - Vậy sao cô ấy lại chẳng nói năng ăn uống gì cả ?
     Trịnh liếc ông Đ. rồi ghé tai tôi nói nhỏ :
     - Nó vờ để làm reo với cậu và với ông bà bô đấy thôi. Lần sau có đi cả đêm thì đừng hòng động tới nó nhé. Căn nguyên bệnh tình cô nàng là thế đấy, vài hôm là hết .
     Tôi không tin nàng đóng kịch giỏi thế . Nhưng biết làm sao, đây là lời chẩn đoán của một bác sĩ bệnh viện cấp trung ương, không tin sao được. Suốt dọc đường chở Trịnh về, tôi im như thóc, lòng buồn ruời rượi làm lúc chia tay hắn phải lên giọng an ủi :
     - Cậu đừng lo, vài hôm nữa tớ khám lại, hẹn trưa mai quán bà Dậu nhé.
     Tôi lặng lẽ quay xe và lẽ ra đạp thẳng về nhà, chả hiểu sao tôi lại vòng ra mãi bờ sông Hồng , đi qua cái chỗ tối hôm qua tôi ngồi với nàng. “Anh ước sao có một con tàu từ vũ trụ hạ xuống đón hai đứa mình bay tới một hành tinh khác, một nhân loại khác…”, mới tối qua tôi còn nói với nàng như thế ? Ông trăng tròn vành vạnh vẫn còn đó mà sao với tôi nàng đã trở nên xa vời…
  
2.
     
 Tôi không tin vào số má, nhưng quả thực tai nạn vừa tới với nàng làm tôi bắt đầu tin rằng cái “cung thê nhi” của tôi như thế là vứt đi rồi.
Tôi không mảy may hi vọng có được cái may mắn “yêu một người cho một đời”, nhưng tát cạn biển Đông tới lần thứ ba để rồi vẫn nhận lãnh một… giọt nước mắt thì đúng là mẹ kiếp, ông tơ bà nguyệt có mắt như mù, có tai như điếc, có tay như  què.
Xin lượng thứ cho nỗi phẫn chí của tôi nếu như bạn biết được suốt những năm tuổi trẻ tôi đã phải trả giá cho cái bệnh si tình như thế nào. Nàng đầu tiên có cái tên mỹ miều là Ánh Tuyết con gái cưng đại tá Viện trưởng quân y và một bà y vụ mà uy danh của đức ông chồng đã cất nhắc bà lên từ chân tạp dịch chót bét.
Không hiểu chính cơn gia biến của nàng hay sự hấp dẫn của tôi đã đưa nàng tới. Đúng vào lúc kết thúc phiên tòa kêu án năm năm tù giam ông đại tá quân y về tội đánh bạc làm thụt công quỹ, nàng trở về khóc như mưa như gió và đâm sầm vào xe đạp tôi vào một buổi chiều thu vàng mê hoặc lòng người.
Vậy là tôi đã đưa nàng về căn gác nhỏ nhà nàng và ngay lập tức chia xẻ nổi bất hạnh của một bà già đã mất hết bổng lộc kể từ khi ông chồng bị mất chức và một cô con gái có đôi mắt lúc nào cũng chớp chớp một vẻ tội tội. Nàng đẹp vừa phải nhưng chính giọng nói mê hồn đã làm tôi không thể từ khước nàng bất cứ điều gì.
Đưa đón nàng đi làm ở tổ đan len, xếp hàng đong gạo theo sổ, mua dầu theo phiếu, leo lên mái dọi lại ngói vào mùa mưa… tóm lại mọi công việc  đàn ông trong nhà tôi đều gánh vác thay cho ông đại tá.
Ba tháng một lần tôi đưa nàng đi thăm nuôi bố tít trên vùng núi phía bắc và đương nhiên tôi hăng hái góp phần vào cái balô thực phẩm khoác vai cho tiện trèo rừng bằng phiếu đường, phiếu thực phẩm và sự dè xẻn tối đa trong số lương còm cõi của chàng kỹ sư mới ra trường.
Cái bức tranh tuyệt vời hai mẹ con nàng vẽ ra cho tôi một mai ông đại tá mãn hạn tù trở về đã cho tôi sức mạnh có thể lên rừng bắt voi. Vả chăng những giờ phút hạnh phúc được ở bên nàng dẫu rằng chưa được vượt qua những cái hôn phớt trên trán, đã làm tôi quên hết mọi thiếu thốn vất vả và luôn tự nhủ phải dâng hiến cho nàng hơn thế nữa.
Năm năm với ông đại tá là quá dài nhưng với tôi và nàng lại quá nhanh, thấm thoắt hai đứa đã đi thăm nuôi lần cuối và từ vùng núi trở về sân ga hàng Cỏ,bỗng nhiên nàng xé nát hai cái cuống vé, tung cho bay theo gió và nàng cười vẻ mặt ngớ ngẩn của tôi : “Cho nó biệt tăm tích luôn…”
Lúc đó tôi không hiểu nàng nói vậy có nghĩa gì, mãi tới bữa tiệc mừng ông đại tá trở về không có mặt tôi như bao lần nàng đã bàn soạn, và ngồi vào cái ghế suốt năm năm qua tôi vẫn ngồi lại là một anh chàng cứ như mới đứt giây trên trời rơi xuống trong cái vỏ cao sang du học nước ngoài về tôi mới trắng mắt ra. Mọi chuyện diễn ra trong tuần lễ giận nhau không đặt chân tới nhà nàng, bởi thế tôi không hề biết và vẫn dẫn xác tới như một thằng ngố. Ông đại tá mới đi tù về chừng đã uống hết nữa chai vốtca, mặt đỏ bừng bừng, nhìn tôi như thể muốn thanh minh trong chuyện này, ông không có lỗi. Bà mẹ bỏ xuống bếp, còn nàng luống cuống chặn tôi ngay ở bàn nước :
     “Mời… mời anh ngồi chơi… ba em mới về… bận quá không báo được anh…”
     Tôi đứng chết sững giữa nhà, cổ tắc nghẹn không nói nổi lấy một lời, không biết nên làm gì , đành cúi xuống con chó Mực quen thuộc, đang rối rít quẩn dưới chân tôi. Tôi ôm lấy cổ nó vuốt ve và thì thầm bên tai nó : “Mực ơi, hoá ra trong nhà này chỉ có mày còn biết thương tao. Nhưng mà từ nay tao không tới đây nữa, vĩnh biệt, vĩnh biệt mày…”
Tôi bước ra khỏi phòng, không nói một lời nhưng vẫn nhận ra cây đàn ghita của tôi vốn treo cạnh tủ đã biến mất, hẳn nàng đã sơ tán nó cùng với các thứ khác của tôi mang tới.
Tội nghiệp Ấnh Tuyết, tôi không hề có ý định đòi nàng bất cứ thứ gì i, chẳng cần phải cẩn thận thế. Tôi trở về, bỏ ăn bỏ ngủ, cứ đau đi, đau cho chán đi, rồi thôi, ta sẽ xoá nàng không để lại bất kỳ dấu vết nào. Quả nhiên chỉ đúng sau năm ngày tôi đã ngồi phắt được dậy, nhẹ nhõm người như thể cuộc tình năm năm qua chưa hề có, ra phố ăn một bữa thật ngon và trở về gom mọi thư từ, kỷ vật nàng tặng tôi thành một đống và trả lại tất cả cho ông thần lửa. Thế đấy, chỉ bằng một que diêm thôi, tôi đã hoá kiếp cho mối tình đầu sâu nặng sang thế giới bên kia.

                      (còn tiếp)

Thứ Ba, 4 tháng 10, 2011

HÀ NỘI...HỒI ẤY (1)

                        Hà nội…hồi ấy (1)

1.
      Không hiểu chấn động thần kinh cỡ nào có thể làm điên một người, riêng người yêu của tôi, chỉ sau đúng một đêm đã biến thành người khác,vâng, hoàn toàn khác, đến độ gặp lại, nàng chỉ giương mắt như thể tôi là người ngoại quốc.
Lúc đó, thay vì lo lắng, thương xót, tôi lại cũng trố mắt ngắm nhìn vẻ đẹp bất ngờ của nàng; mặt bừng lên thứ ánh sáng thần thoại, toàn thân trong vắt và thanh khiết trong bộ quần áo bạc phếch, vá víu như cô Lọ Lem sau đêm vũ hội trở về với cái cán chổi thường ngày, và còn đôi mắt, trời ơi, tôi chẳng còn đầu óc đâu diễn tả được, cứ mặc hồn vía bị hút sâu vào đó.
Thế rồi chừng đã sốt ruột vì thái độ ngớ ngẩn của tôi, bà Đ., mẹ của nàng chép miệng:
  - Cũng tại anh cả thôi, ai lại đưa em đi chơi nửa đêm nửa hôm mới về làm ông ấy nổi điên đánh cho một trận ầm ĩ cả nhà.
   Tôi điếng người, hoá ra là thế, nếu tối qua tan chiếu bóng tôi đưa thẳng nàng về, đừng có dùng dằng rủ rê đi chơi bờ sông thì đâu đến nỗi. Cũng tại ông trăng tròn quá lừng lững mãi trên cao, rót xuống biết bao bụi vàng khiến tôi cứ tưởng thế gian này có mỗi hai đứa tôi bên sông vắng vẻ, còn nàng cứ rúc mãi đầu vào ngực tôi ríu rít:
-                     Ôi, em sung sướng quá, sung sướng quá, ước gì mình cứ được ngồi mãi thế này…
Tưởng tượng của tôi còn đi xa hơn, tôi ước có một con tàu vũ trụ từ mãi bên kia thế giới hạ xuống đón hai đứa tôi bay lên, bay mãi tới một hành tinh khác, một nhân loại khác, văn minh khác, ở đó con người chẳng lo lắng gì  còn mỗi việc hưởng sao cho hết mọi thú vui của đời người .
Có tiếng cú rúc trong lùm cây, nàng đẩy tôi ra, thở dài:
-                     Liệu có xã hội nào như thế không ?
-                     Có chớ, nhất định phải có chớ…
Tôi hoắng lên, cố vẽ ra  một thiên đường ở tít mãi trên cao, chỉ tới được bằng con tàu vũ trụ cũng không sao xoá được cho nàng nỗi lo bị mắng mỏ về tội đi khuya. Hoá ra linh cảm của nàng khá nhạy, dường như nàng đã nhìn thấy thanh củi tạ lăm lăm trong tay ông bố lúc này hẳn bắc ghế ngồi cổng chờ “ cái con đĩ rạc” kia về, tuốt xác nó ra.
 Tôi rúm cả người như chính mình bị đòn, quay sang bà Đ hỏi xem ông nhà đã đánh con gái bằng cái gì, đánh như thế nào, vào những đâu, liệu phải đưa đi cấp cứu ? Bà lắc đầu, xua tay rối rít :
-                     Khỏi, khỏi, ông ấy đánh có hai cái bạt tai thôi, chắc nó phẫn quá, giả điếc, giả câm, cứ để ngủ một giấc đến chiều là lại đâu vào đấy. Anh ra phòng ngoài uống nước, tôi buông màn cho em nó nằm.
Tôi ngoái lại, cố tìm ánh mắt nàng, nhưng không, nàng đã lẳng lặng nằm xuống, gương mặt thanh thản như nàng công chúa ngủ trong rừng. Ngoài phòng khách. ông Đ. đi đâu về, co cả hai chân lên ghế, chúi đầu vào tờ báo Nhân Dân nên không thấy tôi rón rén từ phòng con gái ông bước ra, sẽ sàng ngồi nhón xuống ghế đặt xa ông. Tôi lo đắng cả miệng, thế nào ông cũng trút bão lửa xuống đầu vì tôi rủ rê con gái ông đi chơi đêm. Danh phận tôi trong gia đình ông chưa có gì rõ ràng, con rể chả phải, người yêu đã thưa gửi cũng chưa, khó nói quá, tôi đành ghé mắt nhìn ra cửa, định bụng sẽ phóng ngay ra nếu ông giở võ tay chân. Thế rồi ông hất tờ báo, đập tay xuống bàn, trừng mắt :
-                     Tôi nói cho các anh biết, tôi vào Đảng từ cái thời các anh còn mặc quần thủng đít kia,các anh đừng có mà láo.
Ông Đ. nổi cáu như thể tôi là phần tử phản động đe doạ những tín điều đã thành máu thành thịt của ông. Cũng may, ông say sưa chuyện đó quá, dường như quên béng cái tội tày đình của tôi, bởi thế tôi càng phụ hoạ, khích cho ông nói nữa. Bất chợt từ dưới bếp có tiếng bà Đ. tru tréo:
-                     Ối giời ơi, nước mắm ở đâu đổ lênh láng cả ra thế kia, có phải sáng nay ông lấy rang cơm rồi quên không đậy nút không, vén tay áo xô đốt nhà táng thế này thì mai kia có bốc đất mà ăn, giời ạ…
Ông Đ. dừng phắt như cái máy cátxét bị cúp điện, mặt ông tái sầm, thoắt lại đỏ ửng, ông quát xuống bếp :
-                     Bà đừng có mà chụp mũ nhá, hỏi rằng tôi quên không đậy nút thì chai nước mắm vẫn cứ đứng đấy, cớ gì nó phải đổ ?
-                     Thì chỉ có ông lọ mọ trong bếp chứ còn ai ?
  Ôi chao, ngồi lại cũng dở, về cũng chẳng xong, tôi chỉ muốn lẻn vào phòng, ngắm nhìn dung nhan kỳ diệu của nàng do cơn bệnh bí hiểm mang tới. Rất có thể hai cái bạt tai của ông bố đã làm xáo trộn trí nhớ và chỉ sau một giấc ngủ dài nàng lại hồi phục, lại nhận ra tôi, lại nói năng những lời âu yếm như tối hôm qua. Tôi yên tâm hẳn và nhân lúc ông bà Đ. mải đấu nhau bằng cơn lốc ngôn từ, tôi bước giật lùi và phóng ra ngoài phố.
Vừa ló đầu vào phòng làm việc, chiếc đồng hồ treo tường to tướng đã chỉ đúng 10 giờ, tôi nhón chân đi qua dãy bàn làm việc thưa thớt người. Không may, đúng lúc tôi diễu qua bàn ông trưởng phòng, ông ngẩng lên khỏi chồng sách dày, hách dịch:
-                     Cậu đi đâu giờ mới tới ?
-                     Báo cáo anh, tôi ra thư viện.
Tôi lẻn nhanh về bàn kê mãi trong góc, xung quanh ngổn ngang những chồng phiếu sách dày cộp, hàng ngày phải viết tóm tắt nội dung từng cuốn vào từng tờ nhằm phục vụ các kỹ sư, phó tiến sĩ trong viện tới tra cứu. Nhưng hỡi ôi, chồng phiếu của tôi đã dầy cả thước mà cấm thấy ai hỏi tới , dường như các quý vị đó chẳng cần tới sách mà vẫn cứ nghiên cứu khoa học được. Ngay ông trưởng phòng tôi cũng vậy, ông đang nghiên cứu về đề tài cấp quốc gia về “tự động hoá tìm tin” mà nếu ông chịu khó ghé mắt qua chồng phiếu của tôi hẳn ông đã biết rằng đề tài đó thế giới người ta đã giải quyết từ tám đời, vậy nhưng thường ngày ông vẫn chỉ đặt cho tôi những câu hỏi muôn thủa: “dưới căn tin đã có bia chưa?”hoặc “cậu đi đâu giờ mới tới?” … Ông hỏi cho có lệ vậy thôi, ông thừa biết tôi có tới sớm từ đầu giờ cũng chẳng làm lợi thêm cho nhà nước tý gì, ngay cả ông nữa, cả các quý vị kỹ sư, phó tiến sĩ, Viện trưởng, dẫu tất cả có nghỉ hết ở nhà đỡ đần cơm nước cho vợ thì xã hội cũng chẳng thiệt gì, bởi vì trong ngót hai chục năm kể từ khi thành lập, Viện nghiên cứu khoa học của tôi cho ra lò rặt những đề tài chỉ có tác dụng làm chật thêm kho lưu trữ. Tuy nhiên khỏi nói ai cũng biết, lương các quý vị vẫn lên vù vù, năm nào cũng hoàn thành toàn diện và vượt mức kế hoạch, ông Viện trưởng còn được thưởng huân chương nữa kia. Trong cái guồng máy quanh năm chạy “không tải” như vậy, tôi chỉ là con ốc nhỏ quay đều theo các bánh răng, tháng tháng đều hai kỳ lương vừa đủ cầm trịch một mức sống không chết đói. Ấy thế mà không ai dám xin thôi việc để tìm tới những chỗ béo bở hơn, cách mạng phân công mà, ông Bí thư Đảng uỷ vẫn nói như thế.
      Riêng sáng nay tôi không thể yên dạ ngồi chờ cho trôi hết giờ làm việc, ông trưởng phòng vừa ra ngoài là tôi vồ ngay máy điện thoại gọi gấp cho thằng bạn làm ở bệnh viện Việt Đức. Hắn trả lời rằng cô bạn của tôi dù có  là tiên đi nữa vẫn cứ phải tới y tế phường, phường chuyển lên quận, quận chuyển lên thành phố, cuối cùng mới tới được chỗ hắn, bệnh viện trung ương và hắn gọi như thế  là “đúng tuyến”…
     -  Vứt mẹ cái tuyến của cậu đi, tôi quát lên trong máy, chiều nay tớ tới chở cậu đến tận nhà thăm bệnh cho nàng.
     Tôi cúp máy ngay không cho hắn kịp từ chối. Tôi thoáng thấy đôi mắt đờ đẫn của hắn ngớ ra sau cặp kính, chiếc máy điện thoại pip pip trong tay. Thây kệ, thể nào hắn cũng dẹp được mọi thứ họp hành, trực ca, vợ sai việc… để đi cùng tôi tới nhà nàng vì hắn biết rằng nhất định tôi sẽ đãi hắn một chầu rượu quốc lủi quán bà Dậu, ở đó hắn đã ghi sổ nợ ít nhất bằng ba tháng lương. Ôi ông bạn bác sĩ của tôi quả thực là người có tài, ông có thể biến mọi thứ thành rượu hết, từ những vỉ thuốc trụ sinh quý hiếm đến những tờ giấy nghỉ ốm cấp cho cán bộ công nhân viên dùng giờ nhà nước chạy ngoài. Quả nhiên khi tôi ghé xe đạp trước cửa nhà hắn vào lúc chiều, vợ hắn đã từ trong nhà chạy ra te tái :
    -  Anh Trịnh chờ anh cả tiếng, anh ấy hẹn anh ra quán bà Dậu.
    Quán bà Dậu hay còn gọi là “quán nghệ sĩ”, vốn là cái phòng xép đục cửa hậu ra phố, lúc nào cũng mù mịt khói thuốc, người ngồi san sát trên các ghế gỗ thấp tè. Khách thường là dăm cô cậu sinh viên cúp cua, vài ba dịch giả, hoạ sĩ, nhà thơ chân đất mang nặng mặc cảm thiên tài trong bóng tối, tóm lại, một hình ảnh thu nhỏ của giới trí thức Hà Nội tiêu sầu và tiêu thời gian bên chén rượu, đĩa lạc rang trong không khí im lìm đến quánh đặc của buổi chiều thu. Trịnh, anh bạn bác sĩ của tôi ngồi mãi trong góc, cặp kính trễ xuống mũi :
     -  Mới có ba chén thôi, cậu mang đủ tiền chứ ?
     Tôi vỗ vỗ túi :
     -  Yên trí, nhưng uống vừa vừa thôi còn khám bệnh cho nàng của tớ chứ.
     Trịnh cười ha hả :
-                     Vậy tốt rồi, con mẹ Dậu nhất định không cho “cắm” thêm một chén nào nữa, đã thế cả mấy tháng nay cấm thấy mẹ sổ mũi, hắt xì hơi, đến cả răng cũng không đau. Thế mới chết, chẳng bù cho năm ngoái, cứ một viên ampi là được một chén đầy…
  Vừa lúc ấy một nhà thơ trẻ râu tóc bù xù ngồi bàn bên chợt quát lên:
-                     Thiếu lửa, tất cả chúng ta đều thiếu lửa các quý vị ạ…
  Trịnh đặt đốp cái ly xuống bàn, quay sang góp chuyện :
-                     Có củi đếch đâu mà cần tới lửa, đđ…úng thế không?
Tôi vội nhảy bổ vào giữa can cả đôi và chật vật lắm mới lôi được Trịnh ra khỏi quán, đẩy lên ngồi sau xe đạp. Rõ khổ cái thân tôi, chở ông thầy thuốc say bí tỉ này tới thăm bệnh cho con gái chẳng hiểu ông bà Đ. có tống cổ hai đứa tôi ra đường không. Rất may, vừa phanh xe trước cửa nhà, Trinh đã choàng dậy sau giấc ngủ tựa vào lưng tôi:
-                     Tới rồi hả? Bệnh nhân đâu?
Tôi phì cười:
-                     Có cần làm cốc nước chanh  dã rượu không?
Trịnh trợn mắt :
-                     Cậu điên hả? Dã rượu chả hoá ra mất toi tiền cho con mẹ Dậu? Cứ vào đi, càng say, chẩn bệnh càng chính xác.

                                                                   (còn tiếp)

XIN ĐỪNG DOPING...TÌNH YÊU

            Xin đừng doping tình yêu...
                                                             

                 
Thật  sung sướng khi nguời ta trẻ.
Cô Nguyệt ở thôn Nấm Nư  vừa trẻ, vừa đẹp, lại vừa giàu , nên sự sung sướng nhân gấp bội. Sáng sáng, cô mặc quần ngáp, áo thun hiệu Hollister, túi  xách Louis Vuitton, kính Rayban, dắt chiếc Dylan mới cáu cạnh ra khỏi biệt thự mái ngói đỏ au , phóng lên tỉnh  làm việc tại văn phòng Công ty nước ngòai làm dọc đường khối anh ngẩn ngơ, suýt đâm nhau.
Sáng chiều hai lượt cô đi về, thanh niên trong xã lại tụ tập đông người (ngang biểu tình) “trồng xe máy” (còn trì hơn cả cây si) truớc nhà khiến nhiều nguời tưởng sắp đua xe .
Bác Bảy nhà kế bên vốn nhạy bén kinh tế thị truờng mở ngay quán càphê lấy tên “cây si”, kê bàn ngoài cổng biệt thự, khách ngồi đây có thể mọc rễ  ngắm ...nhà Nguyệt. Bác lại sắm cái máy hát suốt ngày mở bài “từ khi trăng là Nguyệt” của Trịnh Công Sơn làm “khách si “ thêm mê mẩn.
Quán “cây si” ngày càng đông ,chàng nào cũng ra sức bày tỏ mình hoặc bằng  kính “cơn” Olympius hoặc bộ đồ Eagle-pass ,hoặc một cái “cổ dề” vàng 18 to tổ trảng đeo tòong teng truớc ngực ...đó là chưa kể xế nổ giá chót cũng phải hàng Nhật chứ nhất định không chơi hàng Thái.
Cô Nguyệt hiểu được cái giá của mình,hàng ngày tiếp xúc toàn doanh nghiệp trẻ tuổi,tài cao, nên cái mẫu “nguời tình trong mộng “ của cô tuy không bằng sao ca nhạc, nguời mẫu nhưng cô tự nhủ nhất định không tìm trong đám ...Việt kiều.
             ”Ấy chết,sao loại bỏ đối tuợng “trong mơ” như thế ?”
         Một hôm, có  nguời hỏi vậy, cô  tỉnh bơ :
             ” Í trời, hồi hộp lắm,về Việt Nam chàng khoe là tiến sĩ biết đâu sang đó chàng lại rửa chén hay đi làm “neo” * thì ...thua đậm.Mới cả Việt kiều những năm 90,91 còn có giá ...chứ bây giờ ...thua doanh nghiệp trong nước là cái chắc...”
             “ Thế còn Đài Loan ?”
             “ Đài Loan loại bỏ,Mã Lai cho qua,Đại Hàn tạm được.”
             “ Thế Nhật Bổn ?”    
             “ Mết đờ in Giơ pân thì còn nói gì ? Number one rồi...”
         “Mẫu tìm” của cô vào lọai hàng cao cấp thế nên các “cây si” tụ tập ở quán nhà bác Bảy cứ tha hồ mơ tuởng hão huyền.Tuy nhiên,trong khi “chàng Nhật Bổn, Đại Hàn “  chưa “tới thăm em một chiều mưa” thì Nguyệt tạm thời để mắt tới hai chàng trong đám đó.Chàng thứ nhất, tên Dũng, đi SH Nhật chính hiệu, con bà Giám đốc hãng xàbông trên tỉnh,nhà mặt tiền Quận1 Sàigòn.Dũng học tới năm thứ ba ngoại ngữ thì ở nhà...xài tiền đỡ cho mẹ.Được mẹ khuyến khích cứ ở nhà,khỏi đi làm,xài tiền thoải mái chục năm nữa cũng chưa hết,Dũng tha hồ la cà các quán karaoke , các vũ truờng và nói chung, nơi nào có em đẹp là  Dũng tới liền.
.Vừa gặp mặt Nguyệt là Dũng...”chết” liền.Chẳng chiều nào Dũng vắng mặt ở quán “cây si”,lại ngấm ngầm nhờ bác Bảy khi thì lọ nước hoa,cục son khi thì cái ví đầm xinh xinh gửi tặng nàng. Phượng chẳng từ chối  gì, thỉnh thoảng còn “khuyến mãi ” một nụ cười nhoẻn khiến chàng càng hăng hái gửi thêm quà kèm theo nhũng lá thư tỏ tình với lời lẽ cóp nhặt trong những bài hát kiểu như “Every thing I do,I do it for you”.
Chàng thứ hai được Nguyệt tạm để mắt tới là Thơ.Cái tên thật hợp với dáng nguời nho nhã,mảnh khảnh nhưng sẽ lầm chết nếu đánh giá con nguời qua cái tên và cái vóc ,bởi lẽ gia sản chàng được  thừa kế của ông bố đã ngòai 70 lại chẳng ...”yếu “ tí nào.Nó gồm 8 xe khách chạy suốt Bắc Nam,3 cơ sở dịch vụ rửa xe máy và hai tòa nhà 3 lầu cho thuê ngay trung tâm tỉnh lỵ . Con nhà giàu nhưng Thơ ngày ngày tới Văn phòng Công ty của bố, mở máy vi tính và việc đầu tiên là viết những lá thư mùi mẫn gửi Nguyệt, nào là vì em anh có thể nhảy lầu cao ốc,vì em anh có thể …một mình chiến đấu với...mafia,toàn  là nhũng lời xưng tụng mà nếu như Nguyệt muốn, ắt hẳn chàng sẵn sàng đi lên rừng Tánh Linh,tay không...bắt voi về dâng nàng.
Cả quán nóng lòng chờ  nàng trao gửi con tim cho ai ? Cho Dũng ? Cho Thơ ? Hay  cho một nguời chưa tới ? Trong khi đó, chiều chiều,cả hai chàng đều trồng cây si  ngong ngóng nàng về.
           Cho đến một buổi chiều , một việc làm đảo lộn hết mọi chuyện .Nguyên hồi đó đang vào mùa bóng đá SEAGAME , đội Việt Nam  hạ đội  Lào làm bà con tưng bừng  phấn khởi,tối nào cũng quây quần quanh tivi la hét .
Bố của Phượng cũng là đệ tử “túc cầu giáo” , chẳng trận nào ông bỏ.Rủi thay, một buổi chiều  đúng vào lúc Phượng phóng xe về nhà, một cơn gió xoáy đùng đùng .Tất nhiên nhà cô vào loại kiên cố đâu có hề hấn gì,chỉ riêng cột ăngten cao chót vót gục làm đôi và hại thay, lại rơi đúng lên đường dây điện .Ông bố chạy ra  nhìn lên mái nhà, giơ hai tay kêu trời.Ông nguyền rủa cơn gió xoáy quái ác,nhè đúng vào trận Việt Nam – Malayxia chốc nữa dĩễn ra thì chơi ngay dàn ăng ten ,coi bằng giết ông còn gì .Cô Phượng cất xe,ngó lên trời rồi bước tới quán “cây si”. Lập tức cả chàng Dũng lẫn chàng Thơ  nhảy bổ ra :
            “ Mời em...”
            “ Mời em vào uống nước...”
       Cô Phượng nhăn nhó :
            “ Nuớc non gì ...hai anh có cách nào trèo lên mái ...thay giùm em cái ăngten được không ?”
    Ông Bảy chạy ra hốt hoảng :
         “ Ấy ấy...không được đâu ...điện nó giật chết...phải gọi cho tổ sửa chữa trên tỉnh về cúp cầu dao thì mới trèo lên đó được...”
         Cô Oanh thở đánh sượt :
         “ Í trời...gọi tổ sửa chữa thì có đến mai nó mới tới mà ba em lại cần  coi trận Việt Nam - Malayxia tối nay mới chết chớ...”
         Nói rồi cô quay sang chăm chú nhìn chàng Dũng như muốn nhắc lại nhũng lời hay ý đẹp chàng đã viết cho nàng.”Nào,trèo lên mái đi,mọi thứ anh làm đều là làm cho em kia mà...”,chàng Dũng hiểu cái ý đó nhưng mà ...”trèo lên mái, điện nó giật cho thì...ôi thôi...anh chả dám....” Nghĩ vậy Dũng quay mặt đi,tránh cái nhìn của Phượng .Cô cuời khảy,quay sang nắm lấy tay chàng Thơ ,thỏ thẻ :
        “ Anh Thơ giúp em được chớ...vì em anh dám nhảy lầu kia mà..đúng không ?”
       Ối trời ơi,chàng Thơ thấy bừng bừng cả nguời ,giọng nói ngọt lịm cùng với điện từ bàn tay mềm mại của nàng chạy ào ào sang nguời làm chàng dũng mãnh hẳn lên,chẳng khác gì vận động viên được doping  bằng thuốc kích thích .Thế là gạt phăng mọi can ngăn của bác Bảy và mọi nguời,chàng thoăn thoắt trèo lên mái nhà và bò tới chỗ cây ăngten gẫy.Một chút...một chút nữa...mọi nguời đang nín thở chờ đợi thì bỗng thấy nguời chàng giật nảy,rú lên , rồi oằn oại như đang bị đốt cháy trong một ngọn lửa vô hình.Mãi gần một tiếng sau,tổ sửa chữa tới cúp điện ,nguời ta mới kéo được cái xác đã cháy đen của  chàng trai xấu số xuống đất.
Cô Phượng sợ quá bỏ chạy vào phòng riêng ,đóng chặt cửa khóc rưng rức. Cô có chịu trách nhiệm về cái chết của anh Thơ không ? Chắc là không. Có tiền chuyện gì cũng “chạy” được . Chỉ có điều cô nhớ đời :”Xin đừng doping tình yêu…””


           
           

Thứ Hai, 3 tháng 10, 2011

ĐƯỜNG LÊN ĐỈNH..."TIẾN SĨ"

ĐƯỜNG LÊN ĐỈNH ...”TIẾN SĨ”

Tối thứ bảy, trên đường dặt dẹo , tôi ghé siêu thị Metro một tỉnh lỵ phía Nam.Tuy chẳng bằng Diamond Plaza Sàigòn với  hàng hiệu chính hãng Gucci,Versace, Louis Vuitton… nhưng cũng bày bán  hàng cao cấp sờ vào cứ gọi bỏng tay. Còn đang ngơ ngác như quạ vào chuồng lợn, một cái đập vai giật mình, hoá ra K., dân Bắc nhập cư mãi dưới huyện vùng sâu vùng xa.
“ Ối trời ơi..lâu lắm mới gặp. Đi đâu xuống xứ khỉ ho cò gáy này ?”
Ôm một cái mừng quớ. Mấy năm gặp lại, anh đẫy và trắng ra, đúng  cán bộ tỉnh lẻ. Tôi cười cười :
“ Vợ con đâu, thứ bảy dám lẻn đi siêu thị một mình ?”
K. lắc đầu :
“ Một mình đâu,tôi đưa …cô giáo đi siêu thị đấy chớ !”
Tối tròn mắt :
“ Cô giáo dậy con cậu à ? Mà hôm nay đâu phải 20 tháng 11 ?”
K. thở hắt ra :
“ Không phải dậy con tôi mà dậy…tôi…”
Tôi há hốc cả miệng :
“ Dây cậu ?”
“ Chớ sao ? Thôi tôi phải đến chỗ bà ấy đây. Hẹn anh xong việc đi nhậu nhé !”
K. ghi số điện thoại rồi bước nhanh đến chỗ một phụ nữ đứng tuổi đang chọn hàng ở quầy mỹ phẩm. Một tiếng sau K. gọi tôi lên nhà hàng trên lầu. Rót bia ra ly, mặt mày anh bí xị :
“ Cháy mẹ nó 5 triệu rồi. Mẹ kiếp ngoài 5 sọi rồi còn đòi mua son môi, son mắt, lăn nách , sữa rửa mặt, dầu gội đầu…toàn hàng xịn …”
Tôi kinh ngạc :
“ Cậu nói ai vậy ?”
“ Cô giáo chứ còn ai ?”
“ Sao không để vợ dẫn đi ?”
K. trợn mắt :
“ Để vợ tôi nó xót tiền không chịu mua thì có mà hư bột hư đường …”
 Không hiểu chuyện gì, mặt tôi cứ nghệt ra làm K. cười cười :
“ Tôi về cái huyện chó ăn đá gà ăn sỏi này được 3 năm mới mò tới cái ghế Phó Phòng. Khổ nỗi Đảng ta lại “tiêu chuẩn hoá cán bộ”, muốn lên Trưởng phòng  phải có bằng đại học. Mà tôi chỉ mới trung cấp . Đành nhắm mắt đi học hàm thụ, cố kiếm cái đại học mới mong lên Trưởng phòng . Ngày xưa có câu “dốt như chuyên tu, ngu như hàm thụ”. Dốt cũng được, ngu  chẳng sao, cứ có bằng đại học là cầm chắc cái ghế Trưởng phòng. 4 năm  kiên trì bám trụ, cứ 3 tháng tập trung lên tỉnh học một tháng. Toàn thày cô Hà Nội vào hoặc Sàigòn về. Học ngày hai buổi 6 tiết, học chớp nhoáng , nháo nhào…”
Tôi thông cảm :
“ Học vậy chắc vất vả lắm…”
K. lắc quày quạy :
“ Học không vất vả bằng chiều thày cô ?”
Tôi trợn mắt :
“ Cậu nói sao ? Chiều thày cô là sao ?”
K. toét miệng ra cười :
“ Ông này ngớ ngẩn như người ngoài hành tinh ! Ông quên mất ông đang sống ở cái nước nào hả ? Chẳng hạn cô giáo của tôi, hôm qua hết giờ cô gặp tôi ngoài sân trường :” Nghe nói tỉnh ta mới mở cái siêu thị Metro lớn lắm…”. Tôi ngớ người, tới số rồi, đành mau miệng :” Dạ vâng, Metro ở đây chẳng thiếu thứ gì, ngang Sàigòn …”. Cô giáo cười tươi như hoa nở :” Vậy chiều mai nhờ anh dẫn tôi đi mua sắm nha…”. Tôi đành vâng chứ biết làm sao ? “
Tôi suýt văng tục :
“ Mua gì hết những 5 triệu ? Ăn dầy thế ?”
K. ghé tai tôi, nhỏ giọng :
“ Thế còn ít đấy. Thằng bạn tôi còn phải mới ba thày đi nhậu , hát karaoke, tắm hơi rồi còn “tăng 2” nữa kìa. Bỏ rẻ cũng phải hai chục triệu…”
Tôi phì cười :
“ Kỳ tập trung nào cũng vậy à ?”
K. thở hắt ra :
“ Kỳ nào cũng vậy, mà đâu chỉ khoản đó, còn tiền ăn, tiền khách sạn, tiền tiêu vặt , tuốt tuột cả lớp anh nào cũng phải góp hết…”
Tôi hỏi một câu ngớ ngẩn :
“ Nếu không thì sao ?”
K. trợn mắt :
“ Thì xách giấy bút về địa phương chứ sao. Nào học lực yếu, nào bài vở kém, nào thi lại môn này môn kia…Nó hành cho …lòi tiền ra thì thôi”
Tôi phẫn nộ :
“ Sao các anh không tố cáo lên Bộ giáo dục ?”
K. cười mếu :
“ Ông này ngu bỏ mẹ. Làm thế thì đến đời sang tiểu tôi mới có được cái bằng đại học để leo lên ghế Trưởng phòng.
Tôi thở dài :
“ Mới kiếm bằng đại học đã gian nan thế ? Mai mốt còn bằng “tiến sĩ” thì  sao ?”
K. cười héo hắt  :
“ Còn khó  gấp 10 lần “đường lên đỉnh Olympia” kìa . Mà lại còn phải chịu nhục nữa chớ. Vậy nhưng muốn nhòm cái ghế Giám đốc Sở, Phó Chủ tịch tỉnh thì vẫn cứ phải nhắm mắt trèo chứ biết sao giờ ? Đời nó đều thế ?  Thôi làm cái cho hạ nhiệt, trăm phần trăm nha…”







Chủ Nhật, 2 tháng 10, 2011

NHÀ VĂN BÂY GIỜ QUÁ…NHÁT

            NHÀ VĂN VÀ SỰ THẬT (5)

                 “Vâng, nhà văn bây giờ quá…nhát” , chẳng phải anh Mít ngố hay nhà văn phản động nào nói câu này trong lúc say xỉn mà chính ông nguyên Chủ tịch Hội nhà văn TP Hồ Chí Minh, nhà văn Lê văn Thảo  trả lời phóng viên báo Lao Động 8 năm  trươc  “đã nói như thế” và ông còn nói thêm :” cả tôi cũng nhát…”.
   Và dường như để chữa ngượng , “cả làng toét mắt, riêng mình em đâu ?”,ông bầy tỏ :
“Thế hệ nhà văn như tôi có thể khó mà khắc phục những nhược điểm của mình, khó mà nói thực được nên chỉ hy vọng vào lớp trẻ.  Bởi  viết nhát tay đã thành thói quen.”
Vậy là  theo  ông Chủ tịch Hội nhà văn TP HCM, thế hệ già chết  nhát đã thành máu thịt , coi như  …bỏ, chỉ chờ đợi sự “dũng cảm và nói thực “ ở …thế hệ trẻ mà thôi . Vậy là ông đã đá trái banh sứ mệnh “ lương tri dân tộc”, “ thư ký thời đại ” sang  mấy em A còng.
Trong thế hệ này, không phải em nào cũng chơi được “công nghệ Trần Dần” như Phan Huyền Thư, Vi Thuỳ Linh… Đáng tiếc là tác phẩm các cây bút avant-garde này (còn xa mới nối  gót được các bậc đàn anh như Hoàng Hưng, Phan Đan, Lê Huy Quang, Chu Hoạch …)  chỉ tạo được một happy-few ở một số cây bút trẻ, các em “gái Công ty”, một số nhà phê bình ăn theo, một vài bác hải ngoại vốn lớn tiếng ca ngợi “công nghệ Trần Dần” và tất nhiên, chẳng tới được mấy anh Mít  nội địa bởi  “món ăn tinh thần “ của mấy em “nặng mùi” quá khó mà chui vô dạ dầy vốn quen khoái khẩu “ canh chua cá lóc”, “canh cua rau đay” của tuyệt đại đa số “phó thường dân “. Bởi thế sự nổi tiếng của mấy em  trước hết chẳng phải do “hữu xạ tự nhiên hương” mà là do lobby, marketing…tạo tiếng ồn do scandale và “khẩu khí nặc nô” của mấy em gây nên chứ thơ văn chẳng mấy người đọc nhớ tới. Buồn thay , trong khi đó những câu thơ “ngô , khoai sắn” kiểu như :
“ Đưa người ta không đưa qua sông
   Sao có tiếng sóng ở trong lòng …”
                                                       ( Thâm Tâm)
“ Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm…”
                                                       ( Quang Dũng)
 
  “ Đó là một cuộc chia ly mầu đỏ
      tươi như cánh nhạn lai hồng…”
                                                        ( Nguyễn Mỹ)

còn rất nhiều, rất nhiều những câu thơ của “phiên gác trước"  như vậy, vẫn cứ được khắc ghi vào trong tâm tưởng của hàng triệu người đọc cho dù các nhà “tiên phong chủ nghĩa” có dè bỉu là “nôm na”, “cổ lỗ sĩ”, và khổ thay, tới tận bây giờ, độc giả dường như vẫn chưa nhớ nổi một câu thơ nào của các quý vị.
Tại sao vậy ?
Đã có hàng tấn giấy mực đổ ra tranh cãi nhưng “thơ hay” vẫn cứ đi vào lòng người đọc và ngược lại, “thơ ép người ta coi là hay” vẫn cứ “trôi theo dòng đời” hoặc còn lại trong  ký ức “các quý vị đọc lẫn nhau và khen lẫn nhau”. Lẽ tất nhiên, thời đại internet toàn cầu thì thơ cũng phải nhảy dù vào kỹ thuật số, khổ nỗi cái đặc trưng bản thể, cái yếu tính  của thơ lại là cái “âm điệu” của nó. Những câu thơ hay, ngân nga mãi trong lòng người đọc, trước hết chẳng phải do âm điệu đó chăng ? Các nhà thơ theo trường phái “ công nghệ Trần Dần”, đặc biệt là thế hệ A còng cho dù hao tâm tổn sức “ mổ xẻ chữ”,”lật chữ”,”ngó chữ”, “đập nát chữ”…buồn thay, vẫn chưa quý vị nào tìm ra được “một âm điệu mới cho thơ” để đưa thơ ra khỏi những “phòng thí nghiệm của chữ” đến với hàng triệu độc giả đang …khát thơ hay. Còn như bây giờ, “thơ A còng” cũng giống như nhạc trẻ, hội hoạ trẻ, kịch trẻ… đang mọc ra như các quán karaoke trên đường Cao Thắng (Sàigòn), còn lâu mới tiếp gót được các bậc cha anh về mặt nghệ thuật , nói gì đến chuyện “ đi theo các chú là chết ngóm” như Phan Huyền Thư từng lớn lối.
Vậy rồi liệu sẽ xuất hiện “âm điệu thơ” kỹ thuật số đi được vào lòng người chăng ? Chuyện đó chỉ có “Dieu qui sait”, trời mới biết và khi đó mới thực sự bắt đầu “phiên đổi gác” trong thơ như thi sĩ Hoàng Hưng từng hô hoán.
Thế còn những cây bút thế hệ trẻ khác ngoài mấy em A còng, những người mà nhà văn Lê văn Thảo  hy vọng sẽ “can đảm viết thực “ liệu có đáp ứng lòng mong mỏi của ông Tổng thư ký Hội nhà văn TP Hồ Chí Minh ? Kỳ vọng vậy nhưng cũng chính ông Thảo mới đây lại phàn nàn rằng :”   “Mấy năm gần đây, không thấy xuất hiện một tác phẩm tiểu thuyết nào của các cây bút trẻ, chỉ thơ và truyện ngắn thôi”.
Thôi thì hãy để “chúng tôi nói về thế hệ mình”, trong “Hội nghị những người viết trẻ “ tháng 11-2003 tại Sàigòn, các nhà văn trẻ tham luận phần lớn “đề tài mưu sinh” tức những chuyện xoay quanh cái dạ dầy chẳng hơn gì “ kêu đói, kêu nghèo” như cụ Nam Cao ngày xưa.
Khi phóng viên VietnamNet hỏi rằng :” Những tác phẩm văn học hôm nay không dài hơi, có nhiều tác giả viết một hai cuốn rồi lặn mất tăm. Là những người tương lai sẽ đại diện cho bộ mặt văn học của thành phố, chị có suy nghĩ như thế nào?”, nữ thi sĩ Thu Phương, rất nổi tiếng tại…Hội nhà văn TP HCM than  rằng :”Đời sống kinh tế bấp bênh, người ta tạm gác niềm đam mê sáng tác qua một bên để mưu sinh.Tuy nhiên, đến khi thoải mái thong thả rồi, muốn viết lách trở lại chưa chắc còn đủ tâm huyết, chưa chắc tài năng không mai một. Cũng như nhiều người trẻ đang còn lập thân, tôi thấy cần phải ổn định đời sống kinh tế trước, rồi mới yên tâm sáng tác. Thật khó làm tốt cả hai cùng lúc.”
Còn cây bút trẻ Nguyễn Ngọc Thuần, tác giả của “Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ”, “Giăng giăng tơ nhện” - người có duyên với nhiều giải thưởng văn học  cũng phụ hoạ :”Nếu tôi có 24 giờ nguyên vẹn, thì e rằng 3/4 tôi đã dành cho kiếm sống, 1/4 cho những hoài bão. Nhưng hoài bão không phải lúc nào cũng thực hiện đúng khoảng thời gian ấy, có lúc mệt phờ vì mưu sinh, vì giận hờn ai đó, vì muốn uống cà phê một cách thư thả,… và thế là xén mất cái phần hoài bão ấy đi. Còn văn chương giống như một cái gì le lói sau một ngày….”
Than ôi, nếu ngày xưa bác Tố Hữu “dành cho thơ cho Đảng phần nhiều” mà thơ bác tới nay cũng chỉ còn sống trong…sách giáo khoa, thì văn chương chỉ là cái gì đó “le lói sau một ngày” liệu có nên cơm cháo gì chăng ?
Vậy thì những ai sẽ đáp ứng lòng mong mỏi của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường “ Thời đại nào cũng cần sự thật, nhà văn lại càng phải nói lên sự thực …”.
Các ông nhà văn ăn lương, ăn bổng lộc Nhà nước vẫn tụ tập quanh các cơ quan Hội nhà văn, báo chí, xuất bản …chăng ?
Khi “vết trói đã lằn trong tâm hồn”, khi đã “tự cung” thành các công công quẩn quanh triều đình thì việc “nói lên sự thực” là việc  “bất khả ”, xin hãy cứ để yên cho họ tiếp tục sản xuất ra thứ “văn chương tào lao” như ông Nguyễn Hũu Liêm đã viết trên trang nhà TALAWAS, xin hãy cứ để yên cho họ phản ánh một thứ “giả hiện thực” mà bây giờ đến con nít cũng chẳng tin.
Thôi thì trông cậy vào các ông ngày trước đã có đôi chút “nói  thật” như Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Ma văn Kháng, Nguyễn Khắc Trường…Tiếc thay ngoài Nguyễn Huy Thiệp ra, phần lớn các ông đó đã tự ràng buộc vào “cái ghế” trong các cơ quan Hội nhà văn Việt Nam khiến những tác phẩm thời ‘cởi trói” chỉ còn là…những kỷ niệm một thời .
Thế còn Nguyễn Huy Thiệp, ngọn cờ đầu, cụ tiên chỉ trong làng văn Việt Nam liệu có dám đón “những con chó ngao” vào ngôi nhà văn chương của mình ?
Trên Tạp chí Ngày Nay số ra tháng 10-2003,nhà văn số 1 này đã viện dẫn cả bác Hồ ra trong bài viết của mình :” Bác Hồ khi đặt ra câu hỏi "Viết để làm gì?" là muốn lái cái dục vọng thấp hèn ở nhiều người viết sang một động cơ cao cả thiêng liêng tức là làm cách mạng, thay đổi chế độ xã hội thực dân phong kiến.” , rồi ông còn lớn tiếng :” Tôi cứ nghĩ rằng thời của tiểu thuyết sẽ là thời của dân chủ, thời của những tư tưởng tự do, thời của sự ổn định chính trị và kinh tế: đấy cũng là thời mà chúng ta đang sống bây giờ. “
Ối trời ôi, thời của chúng ta đang sống bây giờ mà lại là “thời của dân chủ, của tư tưởng tự do” thì “cụ tiên chỉ” còn đợi gì nữa mà không viết ngay một cuốn tiểu thuyết ca ngợi công ơn của Đảng và chính phủ.
“Nhà văn bây giờ quá…nhát”- Câu nói của nhà văn Lê Văn Thảo cách nay cả 7,8 năm xem ra  vẫn còn mới tới bây giờ.












TƯỢNG ĐÀI THAM NHŨNG (2)

LANG THANG ĐIỆN BIÊN  (2)
                
                       (tiếp theo )
                 
                 Anh nằm đâu ?


Hầm Đờ Cát – so với phim ảnh chẳng có gì khác. Chật hẹp và sơ sài so với tưởng tưởng.Quay về khach sạn thôi.
Bà chủ ngồi ở phòng khách , dáng dấp bà phán, chít khăn nhung, áo lụa mỡ gã, quần nhiễu.
“ Thưa bà…ngày xưa …bà hẳn là con gái hàng Bạc ? ”
“ Không …tôi hàng Buồm , gần restaurant Siêu Nhiên …”
Ngay sau ngày “Đảng,chính phủ về tiếp quản Hà Nội” bà đã lặn lội lên tận đây.   Thật không hiểu sao “cành vàng lá ngọc “ Hà Thành lại lưu lạc lên tận nơi sơn cùng thuỷ tận này.
“ Hồi đó đi từ Hà Nội lên Hoà Bình đã là một chặng đường khổ ải. Phải nằm chờ nhà trọ suốt một ngày mới xin nhờ xe lên Suối Rút…”
 Đường số 6 ngày xưa phải qua hai con phà Suối Rút , Chợ Bờ, nay đã nằm dưới đáy sông. Để xây dựng  thuỷ điện Hoà Bình, con đường đã phải vòng lên đèo Thông Khe tránh cắt hai lần con sông Đà hung dữ.
“ Thưa bà, năm 54, cách mạng về Hà Nội , có phải tất cả tiểu thư khuê các đều phải  đi lao động Tây Bắc  ?”
Bà chủ khách sạn lắc đầu. Đôi mắt đã rất nhiều chân chim thoáng một vẻ âu sầu.
“ Từ Suối Rút lên Mộc Châu đường sạt lở sau những trận mưa rừng , ô tô phải nằm lại, tôi đành đi bộ từng chặng ..từng chăng : cây số 24, cây số 37, cây số 46, Sầm Lồm, Mộc Châu. Hồi đó hai bên đường chẳng có nhà cửa gì đâu. Một bên là núi cao, một bên là vực sâu.Tôi khoác tay nải đi theo đám con buôn chở đồ tạp hoá lên Tây Bắc…”
“ Nếu không bị bó buộc, vì sao bà phải lặn lội lên nơi sơn lam chướng khí vậy ?”
Bà chủ khách sạn đưa mắt nhìn lên rặng núi mờ xa. Hình như bà đang nhớ lại cái thời trèo đèo lội suối gian khổ đó.
Từ Sơn La, Thuận Châu bắt đầu trèo dốc đèo Pha Đin. Bà nói hồi đó hổ còn nấp trong các đồi tranh dọc đường, khách bộ hành muốn phòng thân thường kéo theo một cây nứa lệt xệt đi trên đường. Cái giống hổ không hiểu sao rất kỵ nứa. Đường dốc đứng suốt mấy chục kilomét. Lên tới đỉnh đèo nhìn xuống vẫn thấy con đường uốn lượn như con trăn nằm vắt ngang sườn núi.
“ Đêm đó tôi ngủ lại cái lán độc nhất của cung giao thông trên đỉnh đèo. Nửa đêm nghe tiếng lao xao í ới gọi nhau . Hoá ra lúc ban ngày đàn bò của nông trường quân đội đi ngang qua có con chết bệnh phải chôn. Bộ đội đánh đàn bò đi rồi, anh em hạt giao thông mới hò nhau đào mộ bò lên … đánh chén. Thèm thịt quá mà…”
“Vậy bà có dám ăn món xác bò đó không ?”
“ Không không…gớm chết đi ai dám ăn…với cả sợ đổ bệnh dọc đường…”
Đổ đèo Pha Đin xuống hết dốc tới Tuần Giáo. Ngày đó công trường 136 còn đang mở đường đi Tây Bắc. Nằm ở Tuần Giáo ba ngày, không xin được xe, bà đành cuốc bộ vào Điện Biên. Thật không hiểu nổi vì sao một tiểu thư Hà Nội dám một thân một mình lặn lội lên tận Điện Biên vượt cả con đường thiên lý đày gian truân khổ ải mà ngay thanh niên cũng ngại không dám đi.
“ Thưa bà, vậy chắc bà đi trốn cải tạo tư sản vào năm mới hoà bình lập lại  ?”.
“ Không…Hồi đó tôi đang học trường Sainte Marie, nữ trung học Pháp ở phố Hai Bà Trưng Hà Nội. Gia đình tôi không phải tư sản, không phải địa chủ, cũng không có nợ máu với cách mạng, tóm lại tôi không thuộc thành phần phải rời Hà Nội đi lao động cải tạo…”.
Trí tò mò của tôi mỗi lúc một căng lên như giây đàn. Tôi sốt ruột :
“ vậy thưa bà…vì sao bà phải bỏ đất Thánh lặn lội lên tận đây…”
Người  đàn bà thoáng một nét con gái Hà Nội 54 trên gương mặt đã có nhiều bếp nhăn.
“ Tôi đi tìm…tôi đi tìm một người …”
“ Tìm một người – tôi kêu lên . Sao người đó không về Hà Nội  tìm bà…”
“ Không không…người đó không còn nữa. Tôi đi tìm xác người đó thì đúng hơn…”
Tôi buột miệng :
“ Xác người đó ? Chắc một anh bộ đội trung đoàn thủ đô tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ?”
Người đàn bà đỏ bừng mặt, thảng thốt lắc đầu :
“ Không …không phải bộ đội trung đoàn thủ đô…anh Francoís là thiếu uý quân nhảy dù  Pháp…”
Tôi kêu lên :
“ Chính vì xác người  đó mà bà phải lặn lội lên tận đây…”
            Người đàn bà không trả lời chỉ giương cặp mắt mờ đục lên nhìn tôi như ngỡ ngàng . Tôi vội lắp bắp :
“ Tôi xin lỗi…tôi xin lỗi đã hỏi như vậy ….Thế rồi, thưa bà..bà có tìm ra anh ấy không ?”
Người đàn bà lắc đầu. Có tiếng chuông điện thoại trong quầy tiếp tân. Cô gái  nhắc điện thoại và ra dấu cho bà chủ vào nghe.
Tôi bước ra khỏi khách sạn và độp vào mắt là bức phù điêu rất lớn khắc hoạ hình anh bộ đội đang phất cờ trên nóc hầm De Castrie.
Chẳng hiểu sao tôi nghe như có tiếng gọi của một người  con gái :
“ Anh Francois…anh nằm ở đâu ?”






Thứ Bảy, 1 tháng 10, 2011

TƯỢNG ĐÀI THAM NHŨNG (1)

LANG THANG ĐIỆN BIÊN (1)

                             Tượng đài tham nhũng


Trên chuyến bay Hà Nội - Điện Biên ngày 20 tháng 9, hàng ghế phía trước hạng nhất có mấy cụ cựu sĩ quan Pháp ngực đeo cuống huy chương, phía hàng ghế sau - loại vé phổ thông cũng có mấy cụ người Việt đeo huy hiệu " Chiến sĩ Điện Biên". Tất cả các cụ đều đã ngoại bát tuần. Cụ Tây ôm khư khư bó hoa có dòng chữ “ Pour nos morts” chắc để mang vào nghĩa địa tây. Mấy cụ ta không mang gì vì không quan tâm hoặc vì mọi thứ bán sẵn ở nghĩa trang liệt sĩ. 
Cô tiếp viên trẻ trung, xinh đẹp vô tình đã thành gạch nối giữa hai nhóm lính già cách nay hơn nửa thế kỳ đã từng bắn nhau trối chết. Cô mời mỗi cụ cựu chiến binh ta một chai nước khoáng La Vie, một chiếc khăn giấy và một câu buông thõng : ” mời bác”.
Riêng với mấy cụ Tây ngồi hàng ghế hạng nhất tất nhiên nụ cười của cô có tươi hơn, thay vì nước khoáng, mấy cụ có thể nhấm nháp ly cognac hay vang Bordeaux tuỳ thích.
Hai nhóm lính già bầy ra hai đời sống, hai nhân loại, hai nền văn minh khác nhau. Nhưng biết làm sao ? C’est la vie…vì đời là thế !
 Sân bay Điện Biên sương mù nhiều hơn ánh đèn. Chàng taxi ra giá 300 ngàn đồng một cuốc xe đi thăm tất cả các điểm di tích ở thành phố trừ hầm chỉ huy của Đại tường Võ Nguyễn Giáp cách 40 km phải thêm 200 ngàn nữa. Trước tượng đài chiến sĩ Điện Biên trên đồi cao bị trùm mền,chàng taxi cười hì hì :
" vụ này mấy bác trên tỉnh phải đi T16 đấy chú ạ...".
Chẳng biết T16 là cái chi chi. Hình như là vụ rút ruột công trình làm bệ lún, tượng nứt.
Đến tượng đài các bác còn "ăn" nữa thì thử hỏi có cái gì là không ?
Từ xa nhìn tượng đài bị trùm mền kín mít nom như cái cọc vuông không lồ chọc lên trời.
Không còn là tượng “chiến thắng Điện Biên” nữa mà nom như “tượng đài tham nhũng”.
Ừ nhỉ, có tượng đài anh hùng sao không có tượng đài “tội phạm” nhỉ ? Nếu Bộ văn hoá mở một cuộc thi sáng tác đề tài “biểu trưng của tham nhũng thì tượng đài trên đồi A1 Điện Biên lúc này chắc giật giải nhất. Chỉ tiếc cái máy hình đã hư không ghi lại được nó.
Chui vào hầm Đờ Cát . Hoá ra quá đơn sơ và rỗng tuếch so với hình dung. Nhưng xem ra, nhìn đi nhìn lại, nó vẫn là cái chủ chốt làm tăng thu nhập cho thành phố Điện Biên Phủ.
Ngày trước, sau tháng 5 năm 1954 trong tự điển tiếng Pháp có thêm một từ mới : “DIENBIENFUSER” nghĩa là đánh cho một quả trời giáng. Ngày nay có lẽ ít người Pháp còn nhớ tới nó trừ mấy bác lính già..
Ghé lại quán nước trước cửa Bảo tàng lịch sử Điện Biên Phủ.
Cô bán quán áo trễ nửa ngực thỗn thện, quần ngáp lòi cả “chíp” xanh. Cả người cô căng ra như sắp nổ tung.
- Em dưới  Tuần Giáo lên đây bán quán. Người Dao đấy. Nhưng bây giờ ít ai mặc quần áo dân tộc. Vướng víu lắm. Chỉ trừ ngày hội thôi. Mà sao nom anh béo thế ? Anh uống nước dừa cho em đi. Nhiều vitamin lắm vớ !
- Ừ thì uống. Đừng làm cốc vại . Cho anh cốc nhỏ thôi. Mà đừng bỏ đường nhé. Này..ngày xưa anh cũng ở Tuần Giáo đấy . Lâu rồi…chắc từ ngày em chưa đẻ kìa.
- Biết em đẻ năm nào mà dám nói. Em 8x đấy. Đừng nói là anh ở Tuần Giáo từ năm đó nhé. Này uống đi, phải cho tí đường không thì chết nhạt. Nhìn vào cốc đây này. Đừng nhìn vào em . Không thì nước dừa sặc lên cả mũi. Mà sao anh béo thế ?
Bất chợt vang lên một tràng cười “hé hé..hé hé…hé hé…” nghe rợn tóc gáy.
À thì ra là nhạc chuông.
Cô bán quán móc trong lưng quần ra dế yêu nhỏ xíu.
Ái chà…Nokia N100 … hàng  hiệu cơ đấy…giá chót cũng 7 triệu.
Cô xì xà xì xồ một tràng chắc là tiếng Dao. Rồi sau chuyển sang tiếng kinh :
” Nhớ rồi…đúng giờ nhé……đồ đểu…hí hí hí…”
- Bồ gọi à ?
- Mới quen thôi…chưa phải bồ…hẹn tối nay đi hát karaoke…ừ à thế thôi..ai mà dễ thế ?
- Quen nhau bên bờ suối Nậm Rốm à ?
- Hí hí…anh vui nhỉ ? Suối nào đâu ? Quen nhau trên in-te-lét . Chít chát vài bữa rồi “ọp lai” đi càphê. Mà sao anh béo thế ?
- Ngày xưa anh cũng ở Tuần Giáo đấy…anh dậy trường Quài Tở..
- A…trường Quài Tở…vậy đúng rồi…anh dậy trường Quái Gở thật à ?
- Oi chết…sao em lại “nhái” bậy thế ?
- Cho vui ấy mà…vậy anh đúng dậy học thật rồi…
- Sao biết anh dậy học.
- Thì nghiêm trang đạo mạo không biết đùa chứ sao ? Chỉ phải cái béo quá. Mà trong thực đơn của em không có món mỡ…
Em lại cười hí hí…hí hí…
Trả tiền em xong chưa kịp đứng dậy đã có anh thợ ảnh tới kéo tay. Ừ thì chụp vài kiểu kỷ niệm.
- 20 ngàn một “bô”.
- Sao đắt thế ?
- Í trời ơi , kỷ niệm Điện Biên Phủ có nhiêu đó thôi còn chê đắt. Anh đứng gần chỗ xe tăng em chụp nhé. Thế còn có làm môt bô với tượng đài chiến thắng không ?
- Ô hay…tượng nó trùm mền rồi còn đâu mà chụp ?
- Chụp được chứ ? Ghép hình anh vào hình của tượng lúc mới khánh thành chưa trùm mền mà..
- Vậy là ảnh rởm à ?
- Rởm đâu…ghép chớ…mà rởm đâu có sao…xã hội bây giờ có cái gì là không rởm hả ông anh ?
Rốt cuộc cũng phải để anh thợ chụp cả 10 kiểu anh mới để yên tha cho đi , không quên hẹn tối nay sẽ mang ảnh tới tận khách sạn.
Rời bảo tàng lịch sử đi vào con đường đất đỏ uốn lượn quanh sườn đồi. Phía trước trải ra lớp lớp những chóp núi , ở đó, ngày xưa Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã từng ra lệnh kéo pháo vào, kéo pháo ra.
Bất chợt xuất hiện một con bò.
Chiếc giây mũi bò vòng ra phía sau nối với ghi đông một chiếc xe máy. Chàng mục đồng nghễu nghện ngồi trên xe và thay vì thổi sáo vi vu chàng ta nói liến thoắng vào chiếc điện thoại di động Motorolla đời mới.
Lậy trời chắc không phải nói với cô hàng nước trước cửa bảo tàng lịch sử.
“Ai bảo chăn trâu là khổ…
Chăn trâu sướng lắm chứ…”
Hoá ra câu hát ngày xưa vẫn còn đúng tới tận bây giờ. Hu hu…

                                                                  (còn tiếp)