Tổng số lượt xem trang

Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2011

NHÀ VĂN VÀ…”HỒI ẤY” (kỳ 3)



“TỪ KHOÁ” CỦA NÓ LÀ…
                                                          
Hồi ấy, vào 1971-1972, Hà Nội khét lẹt bom Mỹ và những vụ truy bắt chữ nghĩa khiến nhà văn nhà thơ, anh nào anh nấy chỉ có một cảm hứng duy nhất  “đánh Mỹ là niềm vui bất tận”. Vậy nhưng hồi đó mới ở B ra, làm việc ở Viện thiết kế Bộ giao thông , tôi lại mơ…làm văn sĩ mới chết. Không còn sống trong khí thế hừng hực ngoài chiến trường mà cũng học đòi cầm bút viết văn . Sau 8 giờ vàng ngọc , về nhà rặt chỉ thấy những mảnh đời cần lao . Một chị “đổi thùng”, Công ty vệ sinh, đêm đêm vừa lén lút bán phân cho “con phe”, vừa bán thân lấy tiền mua sữa cho con, đám “lính me” trong ngõ, ngày ngày chầu chực cửa bệnh viện bán máu đong gạo giá cao…Tôi cứ hùng hục viết về những con người như thế, xong bài nào, tôi đạp xe tới 17 Trần Quốc Toản, trụ sở báo Văn Nghệ, lén  bỏ thùng thư.
Than ôi,  quan niệm “văn chương là trò chơi vô tăm tích” của Phạm thị Hoài rất hợp với tôi “hồi đó”. Cứ mỗi sáng thứ bẩy bỏ ra đồng rưỡi mua báo Văn Nghệ, lướt nhanh các trang để thấy những bài mình gửi đều “mất hút con mẹ hàng lươn” vào bồ rác các đồng chí biên tập, không một tiếng vọng .
May mắn thay, giữa lúc hoang mang, tôi gặp quý nhơn phù trợ. Hôm đó đang xếp hàng mua bia Cổ Tân, Hà Nội, một anh chàng áo bludông da, vẻ lãng tử tới vỗ vai :
Nhật Tuấn hả ?”. 
Tôi giật thót, há miệng :
“ Hở ?”
Anh ta kéo tôi lại bàn có sẵn 4 ly bia hơi, tự giới thiệu là nhà thơ kiêm hoạ sĩ Z, sống tự do bằng nghề vẽ, dọc ngang Hà Nội trên chiếc Solex “mù” ( xe đã gỡ máy, đạp chân) và quen biết rộng giới cầm bút. Cứu tinh đây rồi, tôi thầm reo lên, mời Z. về nhà khoe mớ bản thảo đầu tay. Z. đọc vài trang rồi tấm tắc :
“ Cậu viết có “chất” lắm, để tớ giới thiệu với một nhà văn, nhờ ông đọc, góp ý cho…”
Tôi mừng rơn :
“ Vậy tốt quá, cha nào vậy ?”
Z. rít một hơi thuốc lá Sông Cầu, nghĩ ngợi rồi cao giọng :
“ Tớ sẽ giới thiệu cho cậu nhà văn…Trần Dần…”
Tôi tròn mắt, ông này trùm Nhân Văn-Giai Phẩm, bị Nhà nước   “cấm bút” nhiều năm nay. Thấy tôi có vẻ phân vân , Z. trấn an:
“ Yên trí , ông này Nhà nước “tha” rồi, cuốn “ Những người chân đất “  do Trần Dần dịch đấy.”
Tôi không sợ “liên quan”, tôi chỉ muốn làm quen một người ở báo Văn Nghệ giúp in bài. Nhưng được gặp Trần Dần cũng tốt, ông là “tay tổ” trong làng văn chương, nhất định sẽ góp nhiều ý kiến hay. Tôi mừng rỡ :
“ Vậy hay quá, cậu giới thiệu  đi…”
“ Được rồi, để tớ sắp xếp…”
Z. khoe mình là đệ tử ruột của Trần Dần, bao nhiêu thơ “bí mật” của ông, Z. được đọc hết. Từ hôm đó, Z. với tôi trở thành bạn thân, suốt ngày chàng phóng “Solex mù” đi đâu chẳng rõ, tối về ngủ phòng tôi bàn chuyện văn chương. Tất nhiên là “đệ tử ruột” của Trần Dần, Z. phải thở ra giọng bất mãn . Anh chửi Hội nhà văn, chửi báo Văn Nghệ, chửi cả chế độ. Một tối trời rét, tôi và Z. lên giường đắp chăn, hút thuốc , nói chuyện “ Tôn Đản là chợ vua quan, Nhà Thờ là chợ trung gian nịnh thần” rồi bất ngờ anh kêu lên :
“ Ước gì ngủ một giấc dậy, sáng mai…Hà Nội…”
Tôi sợ toát mồ hôi hột, câu này mà tới tai công an, đi “ấp” là cái chắc. Thấy tôi không mặn mà chuyện “bất mãn ", Z. quay sang đọc thơ anh và cả thơ của Trần Dần . Thơ Z. nghe cũng lạ lạ, chẳng giống thơ vẫn đăng dài dài trên báo Văn Nghệ, còn thơ của Trần Dần, tôi nhớ lõm bõm :
        “Tôi cô đơn trời xanh cô đơn trời tía
           Cô đơn nắng đào cô đơn mưa tái nhợt đầu ô
            Cô đơn lang thang trong các đám đông
           Trên quảng trường nham nhở gió
           Cô đơn lòng ngõ rỗng trăng chênh…”
Hoặc :
          “Bị gậy bơ vơ trời không che đất không chở
            Dù đêm nghe gió quét gầm cầu
            Chỉ vài ánh sao lu làm củi lửa
            Ta vẫn khăng khăng yêu tổ quốc thật lòng”
Z. hỏi :
“ Cậu thấy thơ Trần Dần thế nào ?”
Tôi ngẫm nghĩ rồi đáp thực lòng :
“ Thơ hay đấy, nhưng con người ta trong lòng vẫn còn có tổ quốc thì sao gọi là cô đơn…”
Z. bật cười :
“ Thằng này thế mà tinh. Thì cũng phải có tý ty yêu nước Trần Dần mới được yên chớ “.
Rồi Z. đọc cho tôi nghe gần hết cả bài thơ dài “Cổng tỉnh” ( sau này,Hội nhà văn VN trao giải thưởng thơ 1997) và lại hỏi :
“ Mày thấy sao ?”
Tôi cười cười :
“ Cha này bị “nó” hành thế mà cấm thấy oán trách “chế độ” câu nào, thơ toàn than thân trách phận…”
Z. gật gù :
“ Mày thế mà tinh. Nhưng cũng phải thông cảm cho ông, chỉ “oán chế độ” một câu thôi là tem phiếu phăng teo.”
Thế đấy, Đảng và Nhà nước cứ nắm cái dạ dầy thì …thiên tài cũng chết. Phải chăng do né hiện thực, không dám oán cái cùm, chỉ  đi tìm “âm điệu cho chữ” sau này ông đã đẻ ra “công nghệ Trần Dần” chăng ? Sáng hôm sau, trước khi dắt “Solex mù” ra khỏi nhà tôi, Z. báo tin mừng :
“ Tao đã hẹn Trần Dần, trưa thứ bảy tao sẽ đưa mày tới …”
Tôi mừng rỡ :
“ Vậy phải kiếm cái  gì làm lễ ra mắt chớ ?”
Z. nghĩ một tý rồi gật đầu :
“ Ông ấy đang cần một cái loa kim nghe tin tức. “
Ngày đó ở Hà Nội, phương tiện truyền thông đại chúng chủ yếu là cái “loa kim” nối với đài truyền thanh Hà Nội vừa nghe tin tức chiến thắng hai miền Nam Bắc, vừa nghe báo động máy bay. Radio còn là của quý hiếm và muốn dùng phải có giấy phép của Sở văn hoá Hà Nội sau khi đã viết giấy cam đoan không nghe đài địch. 
Trưa thứ bảy, y hẹn, tôi ra chợ Giời bỏ ra 20 đồng mua cả loa lẫn dây rồi cùng đi với Z. tới nhà Trần Dần. Đó là một căn nhà hẹp, trong ngõ, gần hồ Halais. Nhà văn bị “cấm bút” không khác lắm so với tôi hình dung, một ông già hom hem, ngoài 60,  áo bông bạc phếch, mặt bơ phờ , lạnh lạnh và có vẻ “cảnh giác” gã thanh niên là tôi leo trèo lên cột mắc giây kéo xuống loa.  
“Đây là đài truyền thanh Hà Nội…Đây là đài truyền thanh Hà Nội…”, khi tiếng loa vang lên, mặt Trần Dần dịu xuống rồi bất ngờ ông run bắn lên, mặt giật giật liên hồi làm bà vợ trong buồng phải chạy ra đặt tay lên vai ông , van vỉ :
“ Thôi ông ơi, tôi đã bảo mà, bình tĩnh lại…bình tĩnh lại…”
Z. nhìn tôi ra hiệu rút lui, tôi đánh liều để lại trên bàn hai cái truyện ngắn đầu tay ưng ý nhất “Trong thung sâu “ và “Trang 17”. 
Cả một tuần dài dằng dặc, hồi hộp, lo lắng rồi cũng qua, tôi lại tới Trần Dần để nghe nhận xét hai đứa con đầu lòng . Hôm nay nom ông khoẻ khoắn hơn trước, trò chuyện bâng quơ, thỉnh thoảng nhìn ra cửa. Sau cùng, giây phút chờ đợi nhất cũng đến, Trần Dần mở ngăn kéo đưa lại tôi hai  truyện nói dõng dạc :
“ Từ khoá cái này là…”sâu”. Từ khoá cái này là….”17”…”
Có vậy thôi, rồi ông im lặng. Tôi về nhà nghĩ nát óc không hiểu ông nhà văn ngụ ý gì ? Thì tất nhiên “sâu” và “17” là hai từ trong tên truyện ngắn của tôi rồi. Nhưng nó hay dở ra sao, nên sửa thế nào ? Tôi hỏi Z. hắn phì cười :
“ Mày viết thế bố ông ấy cũng không dám có ý kiến. Với cả ông ấy mới vớ được cuốn “Ký hiệu học” bằng tiếng Pháp ở Thư viện Quốc gia, đang nghiền kỹ lắm…”
Thì ra là vậy, thì ra nhà văn đã ứng dụng “ký hiệu học” để tìm trong hai “văn bản” của tôi được hai cái từ khoá ấy. Tôi bật cười :
“ Cũng may ông ấy không biết tao đang làm gì ?’
Z. trố mắt :
“ Mày làm gì ?”
Tôi cười :
“ Tao đang làm thông tin khoa học (informatic) Giao thông vận tải nên ba cái  thứ “keyword” với “thesaurus”  là việc hàng ngày của chàng ..hì hì…”
Z. im lặng, trừng mắt nhìn tôi. Tôi lảng chuyện, rủ Z đi uống "sen dừa "đang là món giải khát “thời thượng” của Hà Nội “hồi ấy”.
Sang năm 1987, chuyển vào Sàigòn , một hôm tôi mời cơm thân mật 3 nhà thơ thời danh : Trần Dần, Dương Tường và Hoàng Hưng. Tất nhiên trong bữa ăn mọi người chỉ bàn  văn chương. Cuối bữa Dương Tường gật gù :
“Thơ Hoàng Hưng cũng…được đấy, nhưng cậu để…mất bóng nhiều quá…”
Ôi thôi, tôi nghĩ bụng, thơ chứ đâu phải đá banh mà lo mất bóng. Cơm xong, tiễn Trần Dần ra cửa, tôi rụt rè :
“ Cuốn tiểu thuyết “ Lửa lạnh “ của em bữa trước tặng anh , đại ca đã đọc  chương nào chưa ?’
Trần Dần như chợt nhớ :
“ Đọc rồi, đọc hết rồi, cũng là một thứ…văn chương ”phải đạo” ấy mà…”
Than ôi, mấy hôm sau , trên tờ Nhân Dân Chủ nhật, phê bình gia mới ra lò Lê Quang Trang “uýnh “tôi một bài dài nửa trang báo :” Nhật Tuấn mang tới cho thanh niên một ngọn lửa lạnh…”
Ôi thôi, lúc ấy, ước gì bài báo đó tới được tay bác Trần Dần…hì hì…

Thứ Ba, 16 tháng 8, 2011

NHÀ VĂN VÀ ..."HỒI ẤY" ( KỲ 2)

               In làm gì chuyện …”con đĩ”  ?

  Hồi ấy , thời bao cấp, ở một cơ quan văn hoá cấp tỉnh, có một ông thủ trưởng rất ham phát động thi đua viết…báo tường. Chẳng thế mà ông đưa thành chỉ tiêu mỗi đầu người mỗi tuần phải viết ít nhất một bài . Báo hại chàng lái xe, chữ nghĩa chẳng có bao nhiêu làm sao mà viết báo ?  Cái khó thò ra cái khôn, chàng bèn mượn một đoạn thơ của cụ Nguyễn Du , trong đó có câu “ Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi…” chép ra giấy, ký tên mình  rồi dán lên tuờng coi như đã hoàn thành chỉ tiêu được một tuần.
Báo tường được treo ngay trong nhà ăn tập thể, cứ mỗi lần xuống ăn trưa, thủ trưởng lại ghé vưà đọc vừa khen “tốt tốt”. Bữa đó, thủ trưởng đọc đoạn thơ ký tên chàng lái xe bèn nổi cơn lôi đình, đập bàn quát :
” Mày chửi tao là “đầu trâu mặt ngựa hả ?”.
Chàng lái xe xanh mặt :” Dạ không ạ, thơ này là của cụ Nguyễn Du đấy ạ ?”.
Thủ trưởng lại càng giận :
” Nguyễn Du là cái … thằng chó nào để tao báo công an  gô cổ nó lại…”.
Chuyện tưởng đùa , ấy thế mà hồi đó, khi ông Giám đốc NXB Văn Học xin phép in tiểu thuyết Anna Karênina của cụ Tolstôi thì bị “cấp trên’ là đồng chí Lê Xuân Đồng, Phó Ban tuyên huấn trung ương , tức là chỉ dưới có đồng chí Tố Hữu, phán một câu xanh rờn :
” In làm gì cái chuyện ...con đĩ đó…”.
Nhưng như vậy vốn liếng chữ nghĩa còn là…khá, đồng chí Lê Xuân Đồng còn biết được Anna Karênina là một bà có chồng lại còn đi ngoại tình.
Lại cũng “hồi ấy” , khi đã sang thời kinh tế thị trường “định hướng xã hội chủ nghĩa, vốn liếng học hành của mấy “quan xuất bản” xem ra còn thua thời bao cấp nhiều lắm. Chẳng nói đâu xa, cứ hỏi ngay đồng chí nguyên Giám đốc Nhà xuất bản Văn Học Nguyễn Văn Lưu  thời đó . Giờ đố đồng chí Lưu viết được đúng tên nhà văn Victor Hugo hoặc Albert Camus thì thăng ngay cho đồng chí lên chức …Bộ trưởng văn hoá thông tin  đồng chí Lưu cũng đành…chịu.
Là vì đồng chí Nguyễn văn Lưu vốn là thương binh, văn hoá lớp 10, được nhận về sửa morrasse tại Nhà xuất bản, rồi cất nhắc đi học hàm thụ văn ( “ dốt như chuyên tu, ngu như hàm thụ”), học xong đồng chí lập thân bằng viết bài đánh…Dương Thu Hương và nhiều người khác. Từ đó đồng chí Lưu, lên vù vù, nào biên tập viên, nào Trưởng phòng văn học VN và nhảy tót lên Giám đốc NXB Văn Học quốc gia. Khốn nạn cho đồng chí, ngồi cái ghế sang trọng đó , đầu lại mù tịt chẳng biết ông Cam (Camus), ông Sác ( Sartre) …là những ma mọi nào, công sức đấu đá thì nhiều, bổng lộc lại ít nên đồng chí GĐ Lưu đành tháng tháng cắp cặp bay vào Sàigòn mang theo cả giấy phép khống chỉ lẫn con dấu để bán cho các “đầu nậu” sách, trình độ  văn hoá thường thường bậc trung…học.
“Làm ăn” theo cái lối “bán giấy phép” – chẳng đọc, cũng chẳng biên tập, cũng chẳng biết cuốn sách viết cái chi chi- cứ đóng mộc đút tiền vào túi như vậy,  đồng chí  Lưu trở nên nổi tiếng là người nói câu “xin lỗi, xin rút kinh nghiệm” nhiều nhất nước. Nào là sorry vụ xào xáo sách của nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn , nào là sorry nhà văn Nguyễn thị Thu Huệ in tập truyện ngắn không xin phép tác giả, nào là sorry nhà thơ Thế Phong, đại diện dịch giả cuốn “ Những bức thư tình hay nhất thế giới” , xuất bản cũng…không xin phép , nào là sorry Cục xuất bản  vì đã in cuốn “ Chủ nghĩa hiện sinh và chủ nghĩa cấu trúc” trong đó có cả những đoạn chửi…cộng sản vân vân và vân vân…
Tuy nhiên quy tội cho đồng chí GĐ Lưu thì kể cũng “oan” cho đồng chí ấy, bởi bận bịu trăm công ngàn việc , thời giờ đâu mà đọc, mà dù có đọc thì cũng đâu có biết ông Nguyễn Ngọc Ngạn là cái ông “ma” nào, ông chỉ biết có mỗi việc…bán giấy phép thôi chớ. Tôi là tội mấy cha “đầu nậu”, chẳng biết mô tê gì cả, cứ sách nào bán chạy là tới ông Lưu mua giấy phép mới khổ ông chứ. Mà đã mua là phải…bán thôi, không bán thì lấy gì mà…ăn. Bởi vậy cả một nền xuất bản sách đều được in ra do chọn lựa của mấy ông “đầu nậu” kiểu “tứ đại gia Sàigòn” cả thôi , ba ông Giáo sư, nhà văn , nhà lý luận thì xin cứ …đứng vòng ngoài, muốn coi thì bỏ tiền ra mà…mua.
Mấy ông Giám đốc xuất bản “hồi ấy” là như thế, còn ngày nay thì sao ? Chịu, chả biết được.

Thứ Sáu, 12 tháng 8, 2011

NHÀ VĂN VÀ ..."HỒI ẤY" ( KỲ 1)

                  “ tớ có chính nghĩa, tớ đ... sợ.”

        Ai mà ăn nói “dân gian” thế ?
  Xin thưa đó là nhà thơ Bùi Minh Quốc “hồi ấy” đang thụ án “quản thúc tại nhà” ở Đà Lạt.  
Vào một buổi trưa “mưa lưa thưa phố”, chiếc xe ôm nhãn hiệu Minskơ ( người HàNội gọi là Min-khờ sản xuất từ thời mồ ma nước anh em Liên xôø) thả tôi xuống đầu phố nhà BMQ. Thôi đi bộ một quãng vừa giãn gân cốt vừa đỡ gây phiền bác xe ôm. Trước  cánh cổng quen thuộc nhà Quốc, lâu nay người ta đã kéo tới một chiếc xe lam hư cũ dùng làm nơi che mưa nắng cho hai đồng chí “chìm”  dùng làm trạm tiền tiêu quan sát kẻ ra vào . Tôi đi qua, nhột nhột sau gáy. Nút chuông dấu sau tường, nếu không biết chắc đành quay lui trước hai cánh cổng luôn đóng kín. Quốc mở hé cửa cho tôi lách vào. Nom anh gày guộc, mặt hơi đỏ vì rượu, vẻ hơi bần thần khác hẳn cái nhà anh “mẹ vẫn đào hầm từ lúc tóc còn xanh” , “nay ...Quốc  đã phơ phơ đầu bạc...”. Chỉ khác, anh không đào hầm như mẹ, anh đang cuốc vào “niềm tin” của chính anh.
        “ Ối giời, sao ra cái nông nỗi này ?”
       “Thì thế, tớ là dân “chạy”, nay cứ quẩn quanh trong nhà , mụ mẫm cả người...”
        “ Nghe nói ông vừa được đi SG dự đám tang Thu Bồn ? chuyến đi có vui ..ấy chết, có buồn không ?”
       “ Lẽ ra là không được đi đâu đấy. Nghe tin Thu Bồn đi cấp cứu ,tớ nghĩ chắc kỳ này hắn “bay” rồi, mới làm đơn ra đồn công an xin phép khi nào TB chết thì cho tôi đi SG dự đám tang. Chờ mãi chẳng thấy trả lời, mới nhờ mấy cụ lão thành cách mạng lên  tỉnh uỷ gặp  Bí thư xin can thiệp, vậy nhưng cha cứ đi vắng hoài, chỉ có thư ký ra tiếp...”
        “ Vậy rồi cha “ý kiến” ra sao ?”
        “ Không biết nữa, chỉ thấy mấy hôm sau được gọi ra đồn nghe thông báo : trong thời gian quản thúc, chỉ khi có bố chết, mẹ chết, hoặc vợ con chết mới được đi dự đám tang, ông Thu Bồn chỉ là bạn thôi nên không giải quyết. Họ quy định vậy, mình còn biết nói sao ? Không ngờ sát ngày đưa tang TB , công an gọi lên đồn gấp , có việc cần. Hoá ra trên đã “nghĩ lại” cho tớ đi 3 ngày với điều kiện chỉ tới đám tang Thu Bồn và về nhà cô em gái, ngoài ra không được đi đâu...”
       “ Về SG ông có gặp đám nhà thơ, nhà văn không ?”
        “ Có chớ, trước hôm đưa tang, buổi tối tớ có đến viếng, rồi cả dám ngồi lại đọc thơ với nhau ngay tại nhà tang lễ tới tận khuya. Tớ có đọc một bài , đọc cậu nghe nhé :
         “Người thơ xa quê hương mang theo dòng sông...
         Vời vợi quê hương đau thương quằn quại ...”

      “ Úi giời, ông khóc Thu Bồn mà cứ như khóc đất nước VN ấy...”
        “ Giỏi, thằng này giỏi, nghe thơ như thế mới gọi là ...nghe chớ.Uống chén rượu đã...”
       BMQ lôi ra chai rượu thuốc nháy mắt :
” chớ coi thường nhé. Rượu này...ông uống bà khen đấy...”.
“ Ông “bị” thế này, bà ấy có ca cẩm gì không ?”
 “ Không, không... vợ tớ thông cảm với tớ lắm. Hồi tháng 9 năm 2001, tớ bỏ đi lang thang dài ngày lên biên giới bà ấy cũng có nói gì đâu. Cả nhà có cái xe cà tàng CUB 81, tớ lôi đi cũng không sao. Cứ thế là một người một ngựa , dắt lưng 1000 đôla tiền nhuận bút in bản dịch cuốn “ Một lúc, một đời” Nhà xuất bản Picquiet trả, rồi phóng từ  Đà Lạt ra Hà Nội rồi lên Lạng Sơn, Cao Bằng...Sướng ghê lắm, tới tỉnh nào là ghé Hội văn học nghệ thuật tỉnh ấy chơi với anh em. Lên Lạng Sơn tớ còn ngủ nhà khách của Hội kia đấy. Mấy tháng trước đó, cứ nghe ồn lên chuyện biên giới, tớ mới quyết mò tận nơi thử coi thực hư ra sao ?”
      “Rồi nó thế nào ?”
     “ Ải Nam Quan tức Hữu nghị quan lùi mẹ nó vào đất Trung Quốc mấy kilômếch rồi...”
      “Nhưng chính mắt ông có nhìn thấy không ?”
       “ Thấy sao được , nó nằm trên đất TQ kiàø...Tớ lên cả Tân Trào – Bản Giốc nữa. Ở đây tớ làm được một bài ”sướng” lắm. Tớ đọc cậu nghe nhé...”
       “ Lại thơ nữa à ? ừ thì đọc đi..”
      Gương mặt BMQ thoắt sang một trạng thái khác, có cái gì đó không phải rượu làm sáng bừng  và anh đọc :
                    
                        TĂM MẮU BIÊN CƯƠNG
             
                 Tổ quốc còn đau món nợ Tân Trào
          Con nghe buốt dọc biên cương tiếng máu
                 Tiếng người xưa truyền muôn đời con cháu
         Một tấc giang sơn không được để hao mòn...
                                                          Bản Giốc 11-2001

        “ Món nợ Tân Trào là món nợ gì ?”
        “ Công an cũng hỏi tớ câu đó đó. “ Chú viết vậy là ý gì”. Tớ bảo nợ “tự do, hạnh phúc” cho dân chứ còn nợ gì ? “
         “ Vậy chuyến đi này ông chỉ có làm thơ ?”
         “ Đúng thế ? Làm thơ là chính ...”
          “ Chỉ có làm thơ mà bị “cá đớp”?”
         “  Biết nói sao ? Hôm tớ quay xe về  Đà Lạt , mới ra khỏi Hà Nội đã bị mời lên vào đồn công an “làm việc”. Lục trong bị ra có mấy tập bài viết của các cụ về hưu ấy mà. Sau đó tớ được đưa lên xe rông tuốt về nhà...trả tớ lại cho vợ...”
           “ Thế rồi có bị ra xử ở Toà không ?”
           “ Tội tình gì mà xử ? Tớ chỉ bị qủan thúc tại địa phương , tức là chỉ đi lại trong phường thôi, hàng tháng làm tường trình cho công an...”
           “ Quản thúc nằm trong điều mấy, khoản mấy, luật gì ấy nhỉ ?”
           “ Làm đ...gì có luật, mới chỉ có Nghị định cuả Thủ tướng thôi, số mấy thì bố ai mà nhớ được. Thời hạn quản thúc của tớ là từ tháng 1-2002 đến hết tháng 1-2004...”
           “ Vậy sắp hết rồi, còn nửa năm nữa thôi , lại tha hồ đi thực tế, thả sức làm thơ.”
            “ Đúng đấy, 6 tháng nữa thôi, có điều từ nay đến đó không...”gây” ra chuyện gì. Bởi thế mấy hôm ở SG, tụi nó kéo đi nhậu mà đành từ chối hết...”
            “ Thôi cố lấy cái “bé ngoan” để sang năm còn được đi đây đi đó. Nằm nhà vậy có vào coi internet không ?”
             “ Điện thoại bị cắt mẹ nó từ lâu rồi lấy đâu ra nét với chả nẹt...Với cả tớ không thạo ba cái thứ kỹ thuật  cao ấy lắm...”
             “ Có gì đâu, con nít nó cũng còn vào chít chát ì xèo kìa...”
              “ Để tớ tặng cậu cuốn truyện của tớ nhé...”
               “ In ở hải ngoại à ?”
               “ Không không, Nhà xuất bản Phụ Nữ  thuộc Hội liên hiệp phụ nữ VN đoàng hoàng...”
                “ Chắc lại chuyện “mẹ đào hầm từ lúc tóc còn xanh...”
                 “ Không không, cậu cứ cầm về đọc rồi khắc biết, cũng có...ý của nó đấy...”
                  “ Ông “bị” thế này, Hội nhà văn có hỏi han, thăm nom gì không ?”
                  “ Cậu còn lạ gì cái Hội của thằng Thỉnh, có khi Đảng bảo “tha”, nó còn xúi “ giam nữa” ấy chớ.Vụ Nhân văn Giai phẩm đấy thôi..”
                  “ Vậy kỳ này nó đã khai trừ ông ra khỏi Hội chưa ?”
                  “ Khai trừ thế đ. nào được, tớ đã mất quyền công dân đâu ...”
                   
            Lấy bút ký tặng sách, tiễn tôi ra cửa, BMQ cười toét :
                 “ Tớ có chính nghĩa, tớ đ...sợ...”
          Hai hôm sau, nằm ở Hà Nội tôi mang tiểu thuyết “ Chuyện của người khách lạ” của Bùi Minh Quốc ra đọc. Ðúng là viết thế này đ…sợ gì thằng nào là phải lắm.


      

              

Thứ Tư, 3 tháng 8, 2011

NHÀ VĂN VÀ GIẢI THƯỞNG (2)


                 

              ĐÃ ĂN TRỨNG KHỎI GẶP GÀ MÁI

 Thiên hạ đang ồn ào quanh danh sách đề cử giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng Nhà nước Việt Nam.  Thực ra, việc này xưa nay vẫn làm vậy – cứ ông nhà văn nào có nhiều “phiếu bé ngoan bác Hồ”, chịu khó “bám trụ” xung quanh các cơ quan của Hội nhà văn thì tới “niên hạn” ắt là được tặng giải thưởng  chứ có cần “tác phẩm” “tác phẻo” gì đâu. Lớp nhà văn “tiền chiến” đi theo cách mạng có Chế Lan Viên, Huy Cận, Xuân Diệu, Nguyên Hồng,Tô Hoài…ông nào ông ấy đều đã “ẵm” gỉai  thưởng quốc gia cả rồi dẫu rằng chẳng có tác phẩm nào vượt được những cái đã viết thời mấy  ông chưa có ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin soi đường. Ông Tô Hoài chẳng viết được gì hay ho hơn chú “ Dế mèn phiêu lưu ký” mà ông đã “cưỡi” nó bay khắp thế giới. Ông Nguyên Hồng cũng chẳng vượt  “Bỉ vỏ” ông viết năm ông mới 17 tuổi,. Rồi thì những “Người  đi tìm hình của nước”, “Ánh sáng và phù sa”….của thi sĩ họ Chế cũng chẳng vượt được “Điêu tàn”; rồi  “Hội non sông” làm sao hay được bằng “Thơ thơ” của Xuân Diệu vân vân và vân vân.
Lớp nhà văn “chống Pháp” với các ông  Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải,Nguyên Ngọc, Ma văn Kháng, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng…tạo thành dòng chủ lưu trong nền văn học cách mạng, nhưng tác phẩm của mấy ông xem ra chọn mãi cũng khó kiếm ra cái nào để đưa vào bảng vàng , bia đá.
Lớp nhà văn “chống Mỹ” như  Đỗ Chu, Chu Lai, Nguyễn thị Ngọc Tú, Vũ thị Thường, Nguyễn thị Như Trang… thì xem ra kiếm cho được một tác phẩm tiêu biểu để “còn lại mãi với non sông” thì e rằng lại càng …khó hơn .
 Tuy nhiên, tất cả những nhà văn  “có phiếu bé ngoan” trên đây đều đã được nhận giải thưởng từ cấp quốc gia lên tới cấp Hồ Chí Minh cả rồi, chẳng  có còn sót một ai. Vậy là cứ đánh trống gọi tên mà trao giải đã thành  chuyện thường ngày ở Hội nhà văn Việt Nam, chỉ có điều phải làm kheo khéo, bốc cho thơm tác phẩm của mấy anh đã có tên trong danh sách nhận thưởng cấp trên đã duyệt là OK. Còn cái chuyện chọn tác giả chứ không chọn tác phẩm thì ta hiểu ngầm với nhau thôi, chớ có công khai nói ra, nhạy cảm chính trị mà .
Còn nhớ thời ông Chủ tịch Hội nhà văn VN Hữu Thỉnh còn được ngồi họp quốc hội, mấy ông nghị tỏ vẻ ta đây am hiểu, ‘dạy đĩ vén váy”, huỵch toẹt ra rằng cần phải chọn “tác phẩm” mà trao giải chứ không cần chọn “tên nhà văn “ thì có … bẽ mặt mấy anh lãnh đạo Hội nhà văn không kia chứ ?
Thế là lập tức nhà thơ Hữu Thỉnh, Tổng thư ký Hội, Tổng biên tập báo Văn Nghệ, đại biểu quốc hội tỉnh Bến Tre vội xông lên diễn đàn chối lia lịa :” Không không, xưa nay chúng tôi vẫn trao giải thưởng theo…tác phẩm đấy chớ…”. Rồi sợ rằng đa số các quý vị đại biểu quốc hội xuất thân tầng lớp công nông, văn hoá có hạn, không hiểu rõ ý mình , đồng chí Hữu Thỉnh lại nôm na giải thích :”  đã ăn trứng thì khỏi cần gặp gà mái…”.
 Thực ra cái ý này cũng không phải của đồng chí Hữu Thỉnh mà là của nhà văn Trung Quốc Tiền Trung Thư. Ông này nổi tiếng đến mức rất đông học giả ở Bắc Kinh  xếp hàng  xin được gặp mặt ông. Nhưng cái nhà ông Tiền này không muốn mình bị biến thành một điểm tham quan du lịch nên đã từ chối bằng một câu nổi tiếng :” Xin lỗi quý vị, các quý vị đã ăn trứng thì không cần đi tìm gặp gà mái…”.
Mượn câu chuyện này, ông nghị kiêm nhà thơ Hữu Thỉnh muốn nói rằng cứ chọn tác phẩm mà trao giải là được rồi, khỏi phải xét hỏi đến tác giả làm gì . Nhưng than ôi, nếu đồng chí Tổng thư ký Hội nhà văn tiến hành trao giải theo kiểu “chọn trứng” chứ không chọn “gà mái” thì lấy đâu ra tác phẩm mà trao nhiều giải đến thế. Là vì cứ căn cứ vào tình hình văn học nước ta ngần ấy năm qua, thì trứng chẳng có mấy mà “gà mái” cũng chẳng đào đâu ra , nhìn đi nhìn lại toàn thấy mấy bác… gà sống thiến . Bởi thế thì xin lại cứ trao giải theo lối chọn “bé ngoan” vậy chứ còn biết làm sao. Nhưng chọn theo kiểu này là ta…hiểu ngầm với nhau thôi, đừng có nói toẹt ra như thế. Hoá nên đồng chí Hữu Thỉnh phải mượn lời ông Tiền Trung Thư  để mà rửa mặt cho các nhà văn Việt Nam :”Chúng tôi, những nhà văn, chỉ cần mang danh hiệu đó là đủ tự thấy cao quý rồi, chúng tôi  – những con gà mái, chúng tôi chỉ cần đẻ trứng cho thiên hạ, ngoài ra không cần  bất cứ danh hiệu nào hết .”.
   Chết nỗi chẳng hiểu có rõ thâm ý của “thủ trưởng tổng biên tập “ Hữu Thỉnh không mà Toà soạn  báo Văn Nghệ nhân cơ hội đồng chí đi vắng, cho đăng ngay một bài đòi…danh hiệu cho nhà văn của Ngôn Thanh có cái tựa nảy lửa rằng “ Nhà văn có được nhận danh hiệu nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú không ?”. Ông Ngôn Thanh khẳng định rằng :”CÓ CHỨ, tại sao lại KHÔNG ?”. Ông đặt câu hỏi vì sao trong số hơn 700 Hội viên Hội nhà văn, từ trước tới nay chưa ai được nhận “danh hiệu cao quý” đó, trong khi bên các Hội khác như điện ảnh, sân khấu, hội hoạ…thì đầy rẫy. Mà Hội nhà văn cũng nhiều hội viên xứng đáng danh hiệu đó lắm chứ ? Ông lại dẫn Điều 58 dự thảo “Luật thi đua khen thưởng” quốc hội đang thảo luận :
    Điều 56 : “ Danh hiệu “nghệ sĩ nhân dân”, “nghệ sĩ ưu tú” để tặng cho cá nhân là diễn viên, đạo diễn , chỉ đạo nghệ thuật, chỉ huy dàn nhạc, quay phim, sáng tác kịch bản, nhạc sĩ, hoạ sĩ, phát thanh viên, hoạt động trong các lĩnh vực văn hoá nghệ thuật…”
    Ông Ngôn Thanh lập luận rằng mặc dầu không có hai chữ “nhà văn” nhưng trong điều 56 có bốn chữ “ sáng tác kịch bản”. Ông viết :” Thử hỏi “nhà sáng tác kịch bản” với “nhà sáng tác văn” có gì khác nhau mà một bên thì được ưu ái còn một bên khoanh tay ngồi chờ mấy chục năm nay ….”.
    Sợ chưa thuyết phục, ông Ngôn Thanh còn tra Đại  tự điển Hán Việt  :” Nghệ sĩ  là người chuyên sáng tác hoặc biểu diễn trong ngành nghệ thuật” còn “ Nhà văn là người chuyên sáng tác văn xuôi…” và kết luận :”  Thế là rõ rồi. Cả trong luật , cả trong tự điển, anh nhà văn đều được thừa nhận là nhà chuyên sáng tác. Thế thì còn băn khoăn gì nữa không ghi rõ ngay vào Điều khoản 56 Luật thi đua khen thưởng hai chứ “Nhà văn” bên cạnh các nghệ sĩ khác để được xem xét danh hiệu cao quý ấy…”
    Ối  cụ Nguyễn Du ôi, tam bách dư niên hậu…ba trăm năm sau, cụ có biết rằng con cháu cụ đã viện dẫn cả đại tự điển, cả điều luật ra để tranh cho được cái danh hiệu “nhà thơ – nghệ sĩ nhân dân…”. Khẩu khí con cháu như vậy trách gì mà chẳng tìm ra “trứng đâu” mà chỉ toàn thấy…”gà sống thiến…”. Tuy nhiên, biết đâu, nhờ có “Luật thi đua,khen thưởng” quy định rõ “nhà văn cũng được xếp cùng “con hát” và cũng được xét tặng “danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú” và “ nghệ sĩ Nhân dân”, phong trào “thi đua sáng tác” của 1000 hội viên Hội nhà văn VN do vậy mà trở nên sôi nổi, phát triển mạnh mẽ và rộng khắp tạo nên những thành quả rực rỡ trong nền văn học cách mạng cũng nên ? Biết đâu đấy. Vậy mong rằng Quốc hội sớm ban hành “Luật thi đua- khen thưởng”, trong đó có bổ sung chức danh “nhà văn” để họ còn hăng say ngồi vào bàn sáng tác nên những tác phẩm đồ sộ , xứng đáng với thời đại…kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.