(tiếp theo)
Trở lại sinh hoạt của Bút Việt, vào khoảng đầu
năm 1959 sau khi tôi đã cho in tác phẩm đầu tay Những Người Áo Trắng do nhà xuất
bản Huyền Trân ấn hành thì nhà văn Nhất Linh đã giới thiệu tôi gia nhập Hội.
Vào thời gian đó thì danh xưng không còn là Nhóm nữa mà trở thành Hội, Hội Bút
Việt, mà công việc tổ chức đã vào quy củ, như có trụ sở riêng, có con dấu
riêng, có nhân viên thường trực được trả lương để trông nom trụ sở, hồ sơ, giấy
tờ. Việc quản trị mọi thứ được giao cho ông Tổng thư ký Phạm Việt Tuyền khi ấy
đang là Chủ nhiệm nhật báo Tự Do.
Theo nhà báo Nguyễn
Hoạt trong bài “Hoài Niệm Nguyễn Tường Tam” in trên báo Văn số
156, ra ngày 15-6-1970 tại Sài Gòn thì trụ sở đầu tiên của Hội Bút Việt
là ở đường Phan đình Phùng, nhưng khi tôi gia nhập thì Hội đã dọn về số 39 đường
Cô Bắc Sài Gòn. Đây là một con phố hẹp, tọa lạc ở ngay khu Chợ Cầu Ông Lãnh, đi
khỏi Chợ, tới đường Đề Thám thì có lối rẽ vào.
Căn phố này có 2 tầng,
tầng dưới dành cho gia đình ông Nguyễn văn Hinh, là thư ký của Hội cư ngụ.
Vị thư ký này không thuộc giới nhà văn, chỉ là thư ký hành chánh, nhưng cũng đã
gắn bó với công việc của Hội bền bỉ cho tới tháng 4 -1975 (tôi đã có dịp nhắc tới
công lao của vị này trong một bài viết năm 2009 nói về Trung Tâm Văn Bút)
Tầng trên của trụ sở
Văn Bút chỉ kê vỏn vẹn có một cái bàn dài để hội họp, bên vách tường có một tủ
kính đựng sách báo và hồ sơ.
Vào thời gian này,
việc gia nhập Hội cũng rất giản dị. Tôi cứ y hẹn tới tham dự một kỳ họp của Ban
Thường Vụ và được các vị hiện diện hôm đó bắt tay chào mừng. Thế là xong! Tôi
đã trở thành một Hội viên của Văn Bút ! Dù vậy, sau buổi họp thì tôi cũng phải
điền vào một cái đơn xin nhập Hội, trong kê khai đầy đủ tên, họ, địa chỉ, năm
sinh, nơi sinh, bút hiệu, các báo đã từng cộng tác và tác phẩm đã xuất bản.
Theo đúng chủ trương
nhận mình là “Một cây cầu vòng nối hai chân trời”, Hội Bút Việt rất chú
trọng đến công việc dịch thuật, nhất là việc dịch một số truyện ngắn của các
nhà văn VN ra Anh và Pháp ngữ. Truyện dịch xong thì đăng trong tập Kỷ Yếu của Hội.
Cũng có vài truyện được gửi đi dự Giải Truyện Ngắn của các nhà văn trong khu vực
Á Châu và Thái Bình Dương (Pacific Rim).
Hai tác giả VN có tác phẩm được gửi đi dự giải mà tôi còn nhớ là nhà văn Bình
Nguyên Lộc ( Ba Con Cáo) và nhà văn Linh Bảo (dường như là Tầu Ngựa Cũ). Về dịch
giả thì phải kể tới hai người vẫn tham gia việc phiên dịch bền bỉ cho tới năm
1975. Đó là luật sư Nghiêm Xuân Việt, người chuyên dịch ra Pháp ngữ và dịch giả
Lê văn Hoàn chuyên dịch ra Anh ngữ.
Hội Bút Việt cũng tổ
chức nhiều buổi nói chuyện về Văn học-Nghệ thuật thí dụ trong năm 1958 có vài
buổi như Ông Vũ Huy Chấn, trong ban Chèo Cổ Đào Duy Từ thuyết trình về Chèo
Cổ, nhà báo Phạm Việt Tuyền nói về “Vấn đề nghiên cứu Văn Hóa Á
Châu với ý thức hệ Dân tộc”, nhà thơ Vũ Hoàng Chương nói về “Giấc
mộng giải thoát của Thi nhân” . Khi Hội chưa có trụ sở riêng khang trang
thì các buổi nói thường được tổ chức tại Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ
hay Hội trường của Đại Học Văn Khoa, còn những năm về sau thì các buổi nói chuyện
hàng tháng được tổ chức tại trụ sở của Hội ở số 107 Đoàn thị Điểm Sài
Gòn.
Hội Bút Việt về sau
đổi danh xưng thành Trung Tâm Văn Bút Việt Nam kể từ nhiệm kỳ Chủ tịch là thi sĩ Vũ
Hoàng Chương kế nhiệm nhà văn Đỗ Đức Thu, và Chủ tịch sau cùng là LM Thanh
Lãng. Trong những nhiệm kỳ sau này, ban Thường Vụ tăng cường thêm nhân sự, bao
gồm Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch, Tổng thư ký và một số Ủy viên như Dịch thuật
(Anh, Pháp ngữ), Xuất bản (nguyệt san Tin Sách). Riêng các chức vụ Chủ tịch,
Phó Chủ Tịch và Tổng Thư ký thì đều phải thông qua một cuộc bầu phiếu tại Đại Hội
Văn Bút được tổ chức cứ 2 năm một lần. Những văn hữu ở xa có thể gửi giấy ủy
quyền để tham dự bầu cử. Chương trình hoạt động của Văn Bút do đó ngày càng
phong phú với sự tham gia đông đảo của nhiều văn nghệ sĩ trong các hoạt động.
Có thể kể như Hội mở
Câu Lạc Bộ Văn Nghệ Sĩ để các nhà văn, nhà thơ, nhà báo lui tới gặp gỡ nhau bàn
chuyện văn nghệ riêng tư; rồi tổ chức các buổi nói chuyện hàng tháng, ra tờ
nguyệt san Tin Sách chỉ chuyên loan những tin tức về sách hay các bài phê bình
sách, các bài nói chuyện trong tháng. Văn Bút còn lập Giải Văn Chương hằng năm,
như năm đầu (1970) dành cho thể Thi Ca (hai nhà thơ Tường Linh với Sầu Tuổi
Đá và Hoàng Lộc với Trái Tim Còn Lại chiếm giải đồng hạng), qua năm sau, thể loại
Biên Khảo, tác giả Lê Hương với cuốn Lịch Sử Người Việt tại Kampuchea từ năm
1853 đến 1970 đoạt giải, rồi những năm kế tiếp có thể loại Truyện Ngắn (nhà văn
Minh Quân đoạt giải với truyện ngắn Những Ngày Cạn Sữa), thể Truyện Dài (nhà
văn Nguyễn Mộng Giác đoạt giải với truyện dài Bóng Thuyền Say). Cho đến năm
1975 dự tính trao giải cho thể loại Kịch thì biến cố 30-4 xẩy đến, Hội đã phải
hoàn toàn ngưng hoạt động.
Ngoài ra, Văn
Bút còn đề cử Hội viên ứng cử vào Hội đồng Văn Hóa Giáo Dục, một tổ chức cấp Quốc
Gia, theo quy chế Hiến Định. Nhiệm kỳ nào của Hội Đồng cũng có thành viên Văn
Bút. Như nhiệm kỳ I (1972-1974) có LM Thanh Lãng, nhiệm kỳ II (1974-1976) có Nhật
Tiến, cả hai đều đắc cử nhân danh đại diện cho Trung Tâm Văn Bút VN.
Trong khuôn khổ bài
viết chỉ nói về Nhất Linh nhân dịp triển lãm và hội thoại về hai tờ báo Phong
Hóa và Ngày Nay, tôi xin tạm chấm dứt phần nhắc tới Hội Bút Việt và xin bước
qua phần Giai Phẩm Văn Hóa Ngày Nay do Nhất Linh chủ trương.
(còn tiếp)
*******


Nhà văn Nhất Linh viết văn làm báo thì xuất sắc vì có tài năng nhưng chính trị không phải sở trường của ông vì văn nghệ sĩ nói chung thường hành động theo cảm xúc hơn là lý trí.
Trả lờiXóaThế nhưng,ông vẫn muốn làm chính trị nên rốt cuộc thất bại trong chính trị.Đó cũng là điều dễ hiểu.
Có 2 nhà văn trở thành nhà báo thành công đáng
phục là Nhất Linh và Chu Tử.