(tiếp theo)
3) Nhận xét thứ ba : là vấn đề quy tụ văn nghệ sĩ thành một
tổ chức độc lập, có uy tín vẫn là một vấn đề không giải quyết được trong năm
1966. Kiểm điểm lại thì vẫn chỉ quanh quẩn
có mấy hội hoạt động một cách lu mờ. Trung Tâm Văn Bút VN vẫn mang cái sắc thái
cố hữu của nó, nghĩa là hoạt động lững thững, đứng bên lề của sinh hoạt văn học
nghệ thuật, hội viên thì đông, thực lực thì có nhưng động viên được mọi người
tham gia vào công việc để làm nổi bật
lên cái thực lực đó thì lại là một vấn đề khác. Tuy vậy cũng chẳng nên lấy
làm lạ, bởi vì cụ Chủ tịch Văn Bút hiện nay
(thi sĩ Vũ Hoàng Chương) vẫn cương quyết với lập trường trung thành với
Hiến Chương của Văn Bút Thế Giới, nghĩa là Hội Văn Bút chỉ là nơi gặp gỡ của anh chị em văn nghệ sĩ
để trao đổi kinh nghiệm sáng tác, trước tác, còn mọi hoạt động tham gia khác
thì chỉ là công việc làm thêm. Mà Văn Bút VN
thì cũng đã làm thêm được quá nhiều
rồi như tổ chức Giải thưởng Văn chương, tổ chức Nói chuyện hằng tháng, ấn hành
Nguyệt san Tin Sách. Trong khi ấy, những Trung tâm Văn Bút trên thế giới, lớn
lao như Hoa Kỳ, Anh, Pháp ..v..v…nếu đem so thành tích thì còn thua xa Văn Bút
VN, bởi vì một năm họ cũng chỉ ấn hành một tập kỷ yếu ghi những hoạt động của hội
viên, và tập này được phát không. Như vậy,
với quan niệm hẹp hòi ấy, hiển nhiên Trung Tâm Văn Bút VN hiện nay không phải
là một cơ sở lý tưởng để có thể là một động
cơ phát triển mạnh mẽ Văn học Nghệ thuật trước nhu cầu thiết yếu của dân tộc hiện
nay, trừ phi đả thông được với cụ Chủ tịch Văn Bút cái vấn đề “hoàn cảnh sinh
hoạt Văn học Nghệ thuật ở xứ người ta khác, và ở xứ mình khác, không thể lấy
cái khuôn của người ta mà làm cái khuôn của mình được.”
Năm 1966 người ta cũng nghe nói đến một tổ chức Văn học Nghệ
thuật khác, đó là Hiệp Hội Văn Học Nghệ Thuật. Nhưng Chủ tịch là ai ? Chương
trình hoạt động thế nào ? Đã làm được những gì ? Thì xin thú thực, về phần tôi,
tôi chưa được biết rõ nên không dám lạm bàn.
Một cơ sở khác nữa quy tụ được danh tính của môt số rất đông
văn nghệ sĩ, học giả, ký giả cũng xuất hiện mạnh mẽ trong năm 66, đó là Hội Bảo
vệ Văn Hóa Dân Tộc.
Nhưng có lẽ vì bị trói buộc trong danh nghĩa “bảo vệ’ mà
không có danh nghĩa “phát huy” nên hoạt động của hội chỉ nhắm vào trọng điểm
đánh mạnh về phía văn chương đồi trụy, khiêu dâm, ý hẳn Hội quan niệm rằng sở
dĩ tinh thần con người hiện nay xuống dốc
thê thảm là đều do một nguyên nhân khiêu dâm, đồi trụy mà ra. Thiện chí của Hội
thật đáng quý, cho dù quan niệm như thế thì quá hẹp hòi, nhưng có một hiện tượng
sâu xa mà chúng ta nên lưu ý : Đó là vấn
đề sử dụng danh từ đao to búa lớn mà lúc thực hành thì không xứng bao nhiêu với
thực chất của danh từ. Về điều đó, nhìn
qua thấy chẳng chết ai (chính phủ không đánh thuế) nhưng thật ra đã hủy hoại
lòng tin tưởng và kỳ vọng của biết bao người có thiện chí muốn ủng hộ và đặt hy vọng vào việc làm của mình. Riết rồi cái
môi trường sinh hoạt Văn Hóa ở đây biến thành một cái thùng a-xit, bao
nhiêu lòng hăng hái, tin tưởng ném vào đều rã rời, tan biến cả.
Ngoài ra, trong năm 1966 danh từ Văn Hóa Dân Tộc cũng gây
sôi nổi không ít. Văn Hóa Dân Tộc là cái gì ?
Nếu chỉ quan niệm Văn Hóa Dân Tộc là mấy điệu vũ nhạc mà người ta thường
mượn của ban vũ nhạc cổ điển ngoài Huế mỗi khi cần tổ chức cái gì hay là chỉ có
mấy điệu hò, điệu trống cùng với diễn viên ăn mặc có mầu sắc thôn quê như đeo yếm,
mặc váy, áo dài chít khăn ….như thế thì quả là mỉa mai cho danh từ Văn Hóa Dân
Tộc. Bởi vậy, trong năm qua còn nhiều thắc mắc của mọi người mà chưa được giải quyết thỏa đáng. Đó là những
vấn đề:
- Thế nào là Văn Hóa Dân Tộc ?
- Nó ở đâu ? Nó làm sao ? Nó bị cái gì xâm phạm nên phải bảo
vệ ?
- Và bảo vệ thì bảo vệ thế nào ?
Hy vọng qua năm 1967, Hội Bảo Vệ Văn Hóa Dân Tộc phát triển
mạnh mẽ để đánh tan mọi hiểu lầm, mọi dư luận xầm xì một cách oan uổng trước
thiện chí của quý hội viên của Hội và nhất là của quí vị sáng lập viên.
4) Nhận xét thứ tư
: là trong năm 1966, hàng ngũ văn nghệ
sĩ vẫn mang nặng tính chất rời rạc, riêng lẻ của những năm về trước. Anh chị em
văn nghệ sĩ không thấy vấn đề ngồi chung lại với nhau là cần thiết. Bởi vì họ
quan niệm sáng tác là mục tiêu tối hậu của văn nghệ sĩ. Miễn là có tác phẩm xuất
bản đều đặn là đủ rồi. Còn vấn đề bảo vệ quyền lợi tinh thần và vật chất của văn nghệ sĩ
thì hầu như không ai dám mơ ước tới.
Hình như tất cả đều đã tạo nên thói quen
chịu đựng thiệt thòi như thế từ lâu rồi. Còn vấn đề phát triển văn hóa theo kế hoạch, theo đường lối thì hầu như đa
số có cái tâm lý là khoán trắng cho
chính quyền, mặc chính quyền muốn quan niệm thế nào là văn hóa, muốn phát triển
văn hóa theo chiều hướng nào, không ai cần
thấy phải góp ý. Mà hình như chính quyền cũng chẳng thâu góp ý kiến của ai, hoặc
giả có nghe ngóng được một số dư luận
thì người có thẩm quyền quyết định nếu thấy không hợp ý thì vẫn thi hành
theo ý kiến riêng tư của mình. Chỉ đến lúc sự việc đã xẩy ra rồi, hậu quả mang
lại không mấy thuận lợi, người ta mới tìm cách chống đỡ, bao biện để rồi kế hoạch
chẳng ngã ngũ tới đâu, chỉ mang thêm nhiều xáo trộn vô ích (vụ trường Tây là thí dụ điển hình)
Trở về địa hạt sinh hoạt Văn học Nghệ
thuật, sự thờ ơ đóng góp ý kiến của văn nghệ sĩ vào vấn đề phát triển Văn học
Nghệ thuật càng rõ rệt. Đặc biệt nhất là sự im lặng của văn nghệ sĩ trong vụ
Chu Tử lên án Vũ Hạnh là cán bộ văn nghệ CS nằm vùng, phá hoại hàng ngũ quốc
gia bằng cách phổ biến những tác phẩm văn nghệ tuyên truyền cho CS. Thật là động trời, động trời cả về phương diện là
giả dụ lời tố giác đó có thật hay là những
lời tố giác đó chỉ là chuyện chụp mũ CS. Bởi vì nếu những tố giác ấy là
sự thật thì bằng cách nào Vũ Hạnh đã vận
động để xin ấn hành được những tác phẩm đó, và bằng cách nào cho đến nay, sau lời
tố giác của báo Sống, những tác phẩm đó vẫn được lưu hành ? Còn nếu lời tố giác
ấy chỉ là luận điệu chụp mũ thì bằng hậu thuẫn nào tờ báo Sống có thể làm chuyện
động trời như thế để đánh lừa mấy chục
ngàn độc giả và hạ uy tín của một cây
bút trong hàng ngũ của văn nghệ sĩ Quốc
gia ? Phải chăng điểm này vẫn còn là một nghi vấn trong năm sinh hoạt Văn học
Nghệ thuật 1966 ?
5) Nhận
xét thứ năm : Xin lấy làm nhận xét cuối cùng vì vấn đề thật miên man, còn biết
bao nhiêu cái cần đề cập tới, không làm sao nói cho hết.
Nhận xét
này xin dành để lạm bàn qua cái chương trình tổng quát của Bộ Văn Hóa do BS
Nguyễn Lưu Viên tuyên bố trong buổi phát giải Văn chương do Trung Tâm Văn Bút
VN tổ chức tại Viện Quốc Gia Âm Nhạc, Sài Gòn. Theo lời BS Nguyễn Lưu Viên thì
Bộ sẽ phát triển mọi ngành sinh hoạt Văn Nghệ như : thúc đẩy ngành Vũ, thiết lập
sân khấu để phát triển ngành Kịch, tạo cơ hội cho văn nghệ sĩ sáng tác và trình
diễn, lập Bảo tàng viện để sưu tầm và lưu trữ các sản phẩm Văn Hóa..v..v…
Chương trình mang nhiều điều hấp dẫn và
nghe sướng tai, nhất là anh chị em văn nghệ sĩ. Bởi vì trọng tâm của Bộ sẽ hướng
về Văn nghệ hơn là Văn hóa. Thế cho nên, đề nghị với chánh quyền nên cho đổi
quách tên thành Bộ Văn Nghệ hơn là Bộ Văn Hóa. Danh nghĩa có vẻ phù hợp với
chương trình làm việc hơn mà lại không bị ràng buộc bởi những vấn đề quá to
tát, nếu sau này chỉ có thi hành được chút đỉnh thì cũng chẳng ai moi móc, nói
hơn nói kém gì được.
- Tôi không dám lạm bàn về vấn đề đưa ra kế hoạch và đường lối
phát triển Văn Hóa vốn là một công việc của tập thể hơn là của cá nhân. Ở đây
tôi chỉ xin nói đến một khía cạnh vốn là
một trong những nguyên nhân sâu xa làm ngăn cản công cuộc phát triển Văn hóa.
Đó là sự phối hợp chặt chẽ giữa “phương tiện đầy đủ của chính phủ” với “nguồn năng lực dồi dào của những con người
đứng ngoài chính quyền, với tư cách một công dân”
Đúng như lời BS Nguyễn Lưu Viên đã nói, chính quyền chỉ có
phương tiện và chỉ mang đến cho anh chị em văn nghệ sĩ phương tiện. Còn vấn đề dùng phương tiện ấy để phát huy mọi công tác
văn học, nghệ thuật thì phải cần có sự
đóng góp của anh chị em văn nghệ sĩ. Chẳng hiểu đó có phải là lời tuyên
bố xuông xẻ trong một buổi tiếp tân hay không, nhưng dù sao thì đó cũng là một
sự thật, một sự thật sẽ phải xẩy ra nếu chính quyền muốn phát triển văn hóa.
Ngược lại, dù có khuynh hướng không ưa thích dính dáng đến
chính quyền, nhưng muốn phát triển văn hóa, anh chị em văn nghệ sĩ không thể
không nghĩ tới sự kiện là chỉ chính quyền mới có đầy đủ phương tiện và muốn cho
cái phương tiện đó không bị sử dụng vô lý, phung phí một cách vô ích thì vấn đề tương quan giữa văn nghệ sĩ với
chính quyền phải được đặt ra, và nên đặt ra trên căn bản một sự thỏa hiệp biết
tôn trọng tính chất độc lập của văn nghệ sĩ. Nói rõ hơn, tôi vẫn nhận thấy cái
tinh thần khoán trắng cho chính phủ làm công việc phát triển văn hóa là cần phải
dẹp bỏ và văn nghệ sĩ phải tích cực hơn trong vấn đề tiếp tay với chính quyền
trong nhiệm vụ phát triển văn hóa. Tất nhiên tiếp tay với chính quyền không có
nghĩa là tình nguyện biến thành một thứ Công chức văn nghệ (xin đừng lầm với
Công chức làm văn nghệ vì có thiều gì văn nghệ sĩ làm công chức). Biến văn nghệ
sĩ thành “công chức văn nghệ” thì văn nghệ sĩ không còn giữ được cái danh hiệu
tốt đẹp là văn nghệ sĩ nữa. Bởi vậy sự tiếp tay với chính quyền phải đặt trên một
vài nguyên tắc căn bản. Đó là :
- Văn nghệ sĩ tiếp tay với chính quyền nhân danh nguyện vọng
chính đáng của dân tộc.
- Văn nghệ sĩ không chịu trách nhiệm với chính quyền nhưng
chịu trách nhiệm trước lịch sử.
Khi phương tiện đã có, nhân sự dồi dào, có thiện chí, tất cả
những vấn đề khác chỉ còn là chuyện sáng
kiến và kế hoạch mà thôi.
Kỳ sau ; Ý kiến của LM Viện Trưởng Viện Đại Học Đà Lạt, của
Kịch sĩ Hoàng Trọng Miên, và Giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch.
Tạp Chí Vấn Đề * Tháng 2- Năm 1966
(còn nữa)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét