Tổng số lượt xem trang

Thứ Bảy, 25 tháng 8, 2012

MIỀN..."CỤP" LẠC (KỲ 30)


                                     (tiếp theo)
Nàng thảng thốt kêu lên , muốn gọi ai đó mà trong nàng chẳng có ai , bởi vì từ lâu nàng không còn đi nhà thờ, không còn cầu kinh, nàng đã tự thị tự đắc vứt bỏ đứt tin ngày thơ ấu, cha mẹ đã truyền cho nàng, nàng đã quên béng mất trên đời này này còn có một thực thể siêu hình có tên là Chúa. Và rồi khi không còn gì bấu víu nữa, nàng bỗng nhớ tới một người từ lâu nàng vẫn tránh né sợ hận thù nổi lên không lợi cho sắc đẹp : gã bịt mặt.
“Không, ta  không cho phép nàng huỷ  diệt tấm thân tuyệt mỹ thế kia. Và ta cũng chẳng có ý định đánh đổi tính mạng ta lấy một đêm vui với nàng như cái gã ngu xuẩn kia.”
“Chỉ  duy nhất điều kiện ấy, ngươi mới được ta trao cho  hạnh phúc  một đêm ,ngoài ra bất kỳ sức mạnh nào cũng chẳng cưỡng ép được ta đâu, ngươi biết đấy, ngay cái chết ta đâu có sợ,…”
 “Đúng,nàng không sợ cái chết , nhưng nàng sẽ sợ một cái khác: sự cô độc…”.
 Nàng nhớ lại không sót một lời, ngay cả cái giọng trần trầm, sang sảng của gã. Rồi thì nàng thấy cả đôi mắt say đắm của gã mờ dại đi trước những đường cong uốn lượn trên thân thể nàng. Bản năng đàn bà ngay lúc đó đã cho nàng linh cảm gã đang chết mệt vì nàng nhưng nàng đâu có thèm để tâm. Bây giờ nhớ lại nàng thấy vui mừng vì toàn bộ trò chơi giam hãm gã đang bày đặt ra một cách công phu rốt cuộc rồi cũng chỉ nhằm chiếm đoạt thân thể nàng mà không cần phải đánh đổi tính mạng.
Chà, điều đó quá dễ, thậm chí lúc này nàng đang cảm thấy cần gã nữa kia, nàng sẵn sàng buông thả trong vòng tay của gã để giết chết cái nỗi đơn độc này đi. “Ta chấp nhận… ta chấp nhận không cần ngươi đổi mạng”. Nàng kêu to lên hy vọng lời đầu hàng ấy lọt được vào tai gã. Tuy nhiên vẫn như mọi khi, mọi tiếng động đều thoát ra ngoài chấn song, tan loãng vào bầu trời im lìm, nàng chẳng nghe thấy bất kỳ hồi âm nào ngay cả khi nàng gào lên từ trên giường, trong toilette, ngoài cửa sổ…
Thức giấc trong đêm, nàng lại gào lên lượt nữa để rồi ngủ thiếp đi với hy vọng sáng mai sẽ xảy ra điều gì khác , khác những ngày tròn đều, giống hệt như xâu chuỗi bao quanh cổ. Quả nhiên sáng hôm sau vừa thức giấc nàng đã cảm thấy một sự đổi thay nào đó, cái gì nhỉ? Vẫn món ăn quen thuộc đầu giường, vẫn chiếc gương hôm qua, a kia rồi … một cái bàn phấn lộng lẫy mới kê trong góc.
 Nàng nhảy vội xuống đất chạy tới, trời ơi, không thiếu một thứ gì cho  người phụ nữ phụ nữ, từ kem xoa mặt tới chì kẻ mắt từ bình xịt dầu thơm tới hộp phấn đủ màu. Đúng, gã đã nghe thấy lời kêu gào chấp thuận của nàng và mang tới những thứ đắt tiền này sửa soạn cho một đêm vui đây,. Cũng được, cũng được, miễn cứu lấy sắc đẹp làm gì mình cũng chịu hết.
Nàng bỏ cả ăn sáng, ngồi trước gương mải miết trang điểm với niềm say mê của kẻ sáng tạo, với đôi tay điêu luyện của nhà nghệ sĩ. Đặt cục son sau cùng xuống, ngắm mình lần nữa, nàng thầm reo lên thán phục, tuyệt sắc, thật tuyệt sắc, gã bịt mặt nhận xét về ta quả là rất đúng, đấy, chỉ một lớp phấn nhẹ mấy nếp nhăn đã lặn mất, còn những sợi tóc trắng khốn kiếp bôi đen và cuộn kín thế trong lọn tóc, ngay đến chính ta cũng chẳng nhận ra. Nàng sung sướng chọn một váy ngủ thật mỏng khoác nhẹ lên người, quay vài vòng trước gương rồi mới leo lên giường loay hoay chọn một thế nằm tuyệt diệu nhất. Được rồi, được rồi, ngay lúc  này gã xuất hiện chắc chắn gã quỳ xuống dưới chân nàng như một con chiên quỳ trước Thượng Đế. Ta sẽ giữ đúng lòi hứa tha mạng cho gã nhưng nhất định ta sẽ biến gã thành một tên nô lệ, phải, một tên nô lệ hèn mọn, dễ sai bảo nhất.
Nàng lim dim tưởng tượng tới phút gã bịt mặt xuất hiện, không biết gương mặt gã ra sao, nhưng bằng vào đôi mắt, thân hình và giọng nói, nàng đoán rằng gã không xấu trai, có khi ngược lại là khác.
Suốt ngày hôm đó nỗi bồn chồn chờ đợi hành hạ nàng còn kinh khủng hơn cả sự cô độc mọi ngày, một tiếng gió, một tiếng dép rơi chính mình tạo ra cũng đủ mạnh đập vào con tim nảy thon thót. Trừ những lúc ăn uống, trang điểm lại, nàng cứ nằm mãi trên giường trong tư thế đã chọn sẵn sàng chờ gã xuất hiện bất thình lình. Nàng cứ nhìn đăm đăm vào cái nắp mở xuống tầng dưới, mong mỏi nó sẽ được nhấc lên để từ đó xuất hiện gã đàn ông lần đầu tiên trong đời nàng chờ đợi đến cháy ruột gan.
Buổi chiều qua đi bóng tối tràn qua chấn song càng kéo căng thêm những sợi thần kinh, không, nhất định gã  phải tới , chỉ lát nữa, lát nữa thôi nàng sẽ bóp chết cái sự cô độc này bằng đôi vòng tay trần tuyệt mỹ ghì xiết lấy thân hình run rẩy của gã.
Bóng tối mỗi lúc thêm dày đặc, nàng với tay bật ngọn đèn ngủ toả mờ trên mặt giường. Tuyệt diệu, khi gã xuất hiện ở góc đằng kia, gã phải đứng tim vì cảnh thiên đường nơi hạ giới. Đêm càng sâu, niềm tin của nàng càng vơi hụt trong căn phòng lặng lẽ trôi vào im vắng. Tuyệt vọng, nàng thét lên : Ta chấp nhận … không cần ngươi đổi mạng…. Ta chấp nhận…”

                                       *
                                   *     *
Thằng khốn kiếp, hành hạ đàn bà đến thế là cùng gã bực dọc đứng dậy, đẩy mạnh ghế vào gầm bàn, tuy nhiên cái cớ chính để gã tạm rời chồng bản thảo dịch lại là đã tới giờ đi gặp công an theo “thư mời”. Khỏi kiêng cữ, gã chọn bộ đồ màu sáng nhất, thầm nghĩ nếu ra đường gặp gái càng tốt, cho xui luôn thể. Thế nhưng lão gácdan đã đứng đón gã ngay cửa với nụ cười kính nể.
“Cậu lên đồn gặp công an ? “
“Chính thế, bác có cần tôi nhắn gì không?”
“ Không không, tôi nhắc cậu nhớ … nhớ một điều tôi dặn bữa trước. “
Gã nhìn lão chăm chú.
“ Bác dặn gì vậy? “
“A … chuyện vặt cậu cư nói từ trước nay cậu chẳng có bạn bè , khách khứa nào lui tới hết. Như thế có lợi cho cậu hơn. “
“Cho cả bác nữa chớ?”
 Lão xanh mặt :
.” Tôi thì… dính dáng gì chuyện đó.’
 Gã cười nhạt :
“ Có chớ, dính dáng thế nào thì bác phải biết chớ? “
“  Hắn … hắn kể với cậu phải không. “
Lão lắp bắp, hoảng sợ làm gã hiểu ra, ghê gớm thật, hóa ra tên giả hành khất đã mua được cả lão vào băng rồi. Thôi kệ các người, muốn âm mưu gì cũng mặc, tớ cũng chẳng còn được bao lăm trên cõi thế gian này phải vui chơi, cười cợt, phải  yêu thương đã đời rồi thì bái bai các vị. Gã cười toét :
“Mai lên tôi uống rượu nữa nhé, lần này tôi phải mua cả ký thịt chó đãi bác ăn ói ra thì thôi.”
“ Sao lại thế, sao lại thế, lần này tôi phải mời cậu chớ. Cậu cứ đi đi … cứ thế, cứ thế nhé. “
Gã hăm hở đi trên phố, sung sướng nhớ lại tiếng còi xe công an rú  inh ỏi ba tháng trước đây khi đưa gã về Sở. Lúc đó lão gácdan nhìn gã đầy khinh rẻ, loang loáng những con mắt tò mò hai bên phố, gã co rúm người giữa hai ông công an  trong cảm giác phạm tội bị bắt giữ.
Lạ thực, rõ ràng chẳng biết đầu cua tai nheo ra sao, ấy thế mà mình cảm thấy mình có tội thật mới kỳ chớ. A ha, lần này thì không nhé, cũng lên đồn đây nhưng mà để “làm việc” theo “thư mời” chứ không phải bắt bớ đâu nhé. Gã chợt đưa mắt nhìn quanh xem có ai theo dõi không, nhưng mẹ kiếp, mình có tội gì đâu mà theo dõi, hoá ra bệnh thần hồn nhát thần tính đã nhiễm thành thói quen rồi có chết không? Từ nay phải bỏ cái đó đi mà ngắm phố chứ, đấy, như cô nàng kia, vắt véo sau chiếc CUB phô phang nguyên bộ giò ra ngoài váy ngắn , kia nữa mấy tà áo nữ sinh gợi nhớ ngày tựu trường. Thôi nhé, cho qua luôn với đủ các thứ lá thu, gió thu, mưa thu, sương thu ở trên đời.
                            (còn tiếp)


Thứ Sáu, 24 tháng 8, 2012

NHẬN DIỆN..."TÀU CỘNG" (2)



Hồ Phong và những uẩn khúc lịch sử

                                                Nhà văn Vũ Huy Quang 
                                                       (Hoa Kỳ)


                           (tiếp theo) 


Báo cáo của Hồ Phong lên Ban Chấp hành Trung Ương.

Cho đến 1953, tình hình chưa đến nỗi nào, Đảng còn muốn nương nhẹ mọi chuyện, các cảm tình viên của Hồ Phong được bổ nhiệm vào những chức vụ quan trọng là khác. Lữ Lịnh, được xuất hiện trong Văn Nghệ báo, Bành Bạch Sơn làm trưởng ban tuyên truyền Thượng Hải, Lưu Học Văn, trưởng ban Tân Văn nghệ và phát hành Thượng Hải. Lư Chiến là bí thư hội nhà văn Thiên Tân. Hồ được cắt cử vào ban điều hành Nhân Dân văn học báo.
Cho nên Hồ đã tưởng càng làm tới, càng có ảnh hưởng mạnh. Hồ viết báo cáo lên Trung Ương, đưa ý kiến chỉ trích Hà Kì Phương và Lâm Mộc Hàn, hai đại diện chính của nhóm Chu Dương. Hồ viết,”Giờ thì chúng ta phải theo đường lối đúng…” và trình lên Đảng, tháng Bảy, 1954, để chống giới hữu trách cùng chính sách của họ. Hồ lý luận, chính sách văn hóa từ 1949 chưa làm đúng như ý Đảng và ý Mao, mà thi hành một cách giáo điều do các quan chức văn nghệ đề ra theo ý riêng. Về văn nghệ, Hồ lo rằng,”Nếu chúng ta cứ dùng lý thuyết Mácxít thay thế cho lý thuyết thực tế, chúng ta đã ngăn trở nghệ thuật.” Ông dẫn lời Mao, “Mácxít chỉ là một phần của thực tế, không thể thay hòan tòan cho thực tế.” Hồ chỉ rằng sức mạnh văn chương hiện thực của Balzac đã vượt lên trên mọi giới hạn trong giai cấp của Balzac, tiến tới sự thật, còn Tolstoy tuy là đại điền chủ với tư tưởng phản động, vẫn có thể, ”diễn tả mạnh mẽ giai cấp bị áp bức, cùng phẫn nộ với giai cấp buốc gioa.”
Cuốn Ả Q. của Lỗ Tấn, và cuốn Eugene Onegin của Pushkin chứng tỏ nhà văn có khả năng thấu hiểu nỗi đau khổ của quần chúng nghèo khổ. Rồi đưa ra kết luận,”Hình thái cải tổ sáng tác hiện nay trên tòan quốc là công thức cứng ngắc, nay nên thay bằng những nội dung mới theo đòi hỏi lịch sử.” Hồ Phong dẫn thêm lời Chu Dương để chỉ trích,”Dù người ta có đúng 99%, còn 1% sai…thì người ta cũng vẫn sai…hòan tòan.” Để chứng tỏ sự can thiệp nào cũng đều quá quắt.

Chiến dịch

Một chuỗi những buổi họp từ 31 tháng Mười , tới 8 Tháng Chạp 1954 bắt đầu, Hồ Phong được mời phát biểu, ông phê bình Nguyên Thụy Phát và Phùng Tuyết Phong. Hồ Phong yên trí, là Đảng trong dịp này sẽ qua những phê bình của ông để thay đổi đường lối với Văn Nghệ.
Ông nhấn mạnh vào Chu Dương, đã ”không nhận thức đúng về thực tế…lúc nào cũng dùng Mácxít và chính sách văn nghệ-chính trị làm dập tắt sáng tạo.” và dẫn chứng lời Thu Ngô viết cho ông rằng, “các lãnh đạo quan chức văn nghệ đã chỉ đạo trong mục đích tỏ ra giữ quyền lực.” Và, nếu như thế, “người ta đã ‘kinh viện’ hóa Mác”.
(Tình hình trong nước lúc ấy, người nghiên cứu phải nhớ là chính sách nội bộ Đảng vào năm 1955 đang đề ra chính sách nông nghiệp và thương mại cùng công nghiệp hóa cùng tiến hành rộng trên kế họach lâu dài, kế họach ấy phải thi hành không dễ chút nào, mà là, theo Lục Định Nhất, ”Một  kế họach 5 năm đầy sóng gió, phức tạp….” Lúc đó, Hồ mới trở thành mục tiêu đấu tranh không khoan nhượng. Ông ta trở thành tiêu biểu cho sự chống lại sự hi sinh cá nhân và chống lại sự đề cao quyền lợi tập thể trong  phục vụ đất nước. Một chiến dịch được phát động do đối thủ cũ của Hồ Phong như  Chu Dương, Hà Kỳ Phương, Nguyên Thụy Phát, Lâm Mộ Hàn, Triệu Tuấn Lâm .
Sau khi Hồ Phong phát biểu , Nguyên Thụy Phát mở chiến dịch. Hồ Phong không được coi là “đồng chí” nữa, hắn nói :” chính sách văn nghệ mà Hồ chỉ trích, không do cá nhân nào tự đề xuất, mà do Đảng quyết định, như vậy Hồ Phong chống Đảng. Và như vậy, về Mác, có “lối giải thích của Hồ Phong” và “lối giải thích của Đảng” hay sao?”. Cuối phiên họp, Chu Dương kết luận quan điểm Hồ Phong và của Đảng đối lập nhau. Hồ bị coi là cá nhân tấn công Đảng.
Sau này, các nhà văn danh tiếng nhất trong nước, như Ba Kim, Lão Xá, Ngãi Thanh, Mao Thuẫn, Quách Mạt Nhược cũng tấn công Hồ. Chỉ có Đinh Linh còn dè dặt. Trên báo Nhân Dân, Quách Mạt Nhược nhận định, “Hồ không chỉ muốn chiếm vai trò lãnh đạo văn nghệ, mà còn muốn cải tổ cả nước theo ý mình”.
Với khuynh hướng đẩy mạnh phát triển kinh tế giữa 1955, chiến dịch mở rộng thêm. Ngày 26 tháng Năm Hiệp Hội Nhà Văn khai trừ Hồ Phong khỏi hội. Trên báo Nhân Dân, Hồ bị chỉ đích danh là lãnh tụ của phe họat động bí mật cho Đế quốc và Quốc Dân Đảng, chống Cộng, chống Đảng, chống Nhân Dân. Ngày 18, tháng Bảy, sau khi lấy “ý kiến quần chúng”, Hồ bị bắt.
Tội Bè phái
Dù Hồ Phong đoan chắc ông theo đúng hướng Hòang Thạch Vệ và Tiêu Quân, Hồ cũng vẫn bị coi là nguy hiểm hơn cả họ, vì “tội ” đã vượt qua cả lãnh vực thuần ý tưởng. Hồ bị lên án là phá hoại sự lãnh đạo văn nghệ của Đảng và Mao.
Tuy đúng là Hồ đấu tranh cả với các nhóm văn nghệ bất mãn khác , nhưng cũng phải nhìn nhận ông muốn phá bỏ không khí tù đọng cho sự sáng tác. Hồ coi đó là trách nhiệm của ông với Đảng và với văn nghệ, ông  không chống sự lãnh đạo của Đảng, nhưng câu của Trương Chấn Điều (“Đường lối Diên An không thể áp đụng bây giờ được nữa”) đã gắn vào miệng ông cho những tố cáo về sau. Họ cáo giác ông đã muốn thoát khỏi kiểm sóat kỷ luật của Đảng.

Tội Phản Cách mạng

Những cáo buộc về tội phản cách mạng và thông đồng với Quốc Dân Đảng dựa trên những chứng cớ mơ hồ. Những người như Hồ, và cả Hồ đều không thành lập nhóm chính thức nào, họ chỉ theo Hồ vì có những tư tưởng rõ ràng muốn có sự cởi trói văn nghệ.
Nhưng Hồ bị Đảng mang những thư từ riêng của Hồ làm chứng cớ, như câu viết trong thư của Hồ,”Chiến thắng của chúng ta có thể đạt được, nhưng thành công tòan diện chưa đến ngay…có thể chỉ đến 5 năm sau.” Tuy nội dung Hồ chỉ nói về thành qủa của văn nghệ, không phải chính trị. Câu khác, như,”Chiến thuật bây giờ là như khỉ gãi bụng” bị cáo buộc là nằm vùng trong Đảng, “và chúng ta nên chiến đấu bằng lụu đạn”, là ví von chứ không hẳn là dùng vũ khí thật.
Người ta cũng lôi ra được có người thuộc “bè lũ” thừa nhận đang nghe đài của Đài Loan…và bị buộc là muốn thông đồng với Tưởng Giới Thạch, đón chờ Hạm đội 7 của Mỹ vào biển Đài Loan.

Kết Qủa

Khác với vụ chiến dịch chống Hồ Thích, không ai bênh vực, Hồ Phong được vài bạn đứng lên bào chữa, như Vương Dương, phát biểu,”Hồ Phong đã chỉ theo chỉ thị của Đảng làm cách mạng đã 20 năm nay.”. Cũng như có người (Chấn Dũng) phát biểu,”Đây không phải chuyện chính sách văn nghệ, chỉ là chuyện cá nhân giữa Hồ Phong và Chu Dương.”. Trong bản tự kiểm của ông này, có câu,”Nếu Lỗ Tấn còn sống cho đến bây giờ, nhất định cũng sẽ bị y như Hồ Phong.”
Việc cưỡng lại ý Đảng khiến sự đàn áp mạnh hơn. Đối với bạn, như Trịnh Chương Điểu, Hồ víet,” Xin bạn đừng viết bình luận hay thảo luận gì nữa. Chưa phải lúc lên tiếng.” Và, “Trong các cuộc hội luận sắp tới, mong bạn chớ tỏ ta bướng bỉnh, chỉ nên nói tội trạng của tôi thôi.”
Tháng Sáu 1955, Đảng quyết định kết tội Hồ Phong phản cách mạng, quần chúng ngấm ngầm không tán thành, cho rằng ông chỉ có ý kiến về văn nghệ, không dính gì đến vũ khí sao có thể phản cách mạng được. Ngày 16 tháng Bảy, trên Trung Quốc Thanh Niên, còn có bài viết,”Với công lao văn học của Hồ Phong, không nên tuyệt tình với ông như thế. Dù chứng cớ khép tội yếu, nhưng rồi Đảng cũng làm Hồ Phong im tiếng và dần chìm vào quên lãng.
Nhưng chiến dịch bài Hồ Phong 1955 cũng gây nên một không khí rùng rợn. Người cộng tác với Robert Guillain , tác gỉa “Six hundred Million Chinese” đã nhận xét : ”Áp lực kinh khủng…nhiều người mất hết thần hồn; nhiều vụ tự tử xảy ra quanh các cơ quan văn hóa.” Người khác thuật lại :”Thật là kinh khủng, các trí thức và các giáo sư trong tình trạng cực kỳ căng thẳng. Tôi thấy họ run như tàu lá.” Đó là chuyện ở Thượng Hải, nơi cư ngụ của Hồ Phong. Mỉa mai thay, Hồ lãnh hết hậu qủa, chỉ vì muốn xóa đi tình trạng ghẻ lạnh giữa Đảng và các nhà văn.

               (còn tiếp)

Thứ Năm, 23 tháng 8, 2012

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN ( KỲ 73 )


                       (tiếp theo)

Tháng 4 năm 2003, vài tháng sau khi Nguyễn Đình Thi mất, tập truyện ngắn  “Tuyết” được xuất bản như là di cảo,kể về anh cán bộ Nam đi công tác nước bạn .Người ta chờ Nguyễn Đình Thi viết gì đó na ná như “Bánh vẽ”  của Chế Lan Viên, hoặc trật đường rầy“nhìn từ xa tổ quốc” theo kiểu Nguyễn Duy.
Vậy mà không, trong chuyến tàu đi trong đêm tuyết  Nguyễn Đình Thi  cho Nam gặp lại chị cán bộ miền Nam Tư Bình. Chị này có cô con gái duy nhất bị máy bay Mỹ bắn chết. Mặc dầu vậy chị vẫn không gục ngã trước số phận, trở thành bác sĩ giỏi được cử sang nước bạn học tiếp và được  Nguyễn Đình Thi ca ngợi :
“ Hai bên con đường sắt là cánh đồng phủ tuyết trắng bông, đây đó nhô lên những quả đồi thấp tròn thoai thoải. Có một bóng người đàn bà mang ủng cao bước đi trên một con đường giữa hai hàng cây đã rụng hết lá, chỉ còn những cành cây đen sẫm viền tuyết trắng…”
Truyện ngắn dù có đẽo gọt tới đâu vẫn chỉ nằm trong “tủ sách người tốt việc tốt”. .
Trong  “Nước chảy” Nguyễn Đình Thi cũng kể gặp lại bạn cũ, nhưng  không phải “người đằng miềng” mà là ông già …Việt kiều tên Hoàng :
Nửa thế kỷ trước, Hoàng và NĐT – hai cán bộ kháng chiến gặp nhau và chia tay nhau bằng một bán bún riêu ở Ba La Bông đỏ gần Hà Đông. NĐT lên Việt Bắc theo kháng chiến còn Hoàng “dinh tê” về Hà Nội, năm sau đi du học Pháp. Đáng buồn cho Hoàng, anh có cô vợ chưa cưới tên Lệ còn kẹt lại Phú Thọ. Trở về Hà Nôi, Hoàng viết thư  cho Lệ van xin nàng về thành với anh. Vậy nhưng thật lạ, cô tiểu thư Hà Nội này mê nhạc đến độ tản cư cũng phải chở theo nguyên một cái đàn dương cầm, ấy thế mà lại khăng khăng không chịu bỏ kháng chiến theo chồng về Hà Nội tiếp tục học đàn, hơn thế , cô còn viết thư khuyên chồng chưa cưới nên quay trở về với kháng chiến. Con gái Hà Nội không lẽ dở hơi đến thế sao ? Thế là Hoàng đành đi Pháp một mình, rồi sang Thuỵ Sĩ sau trở thành một bác sĩ giỏi .
Đó là gặp gỡ đầy ý nghĩa của hai người bạn : một theo kháng chiến, một định cư nước ngoài  và sẽ vô cùng lý thú khi diễn tả chân thực thân phận con người. Tuy nhiên ông không đủ dũng cảm làm chuyện đó, ông lờ cái cốt lõi đó đi , đành “quẹo cua” không dám đi vào “vùng cấm bay” – so sánh hai con đường “ ai thắng ai” giữa hai người bạn, ông chỉ dám hướng câu chuyện  vào cuộc tình không thành giữa Hoàng và Lệ và…hết.
Một cuộc gặp gỡ và chia tay trong nhạt nhẽo.
Nhạt nhẽo như truyện ngắn của Nguyễn Đình Thi vậy.
    Một thời mấy ông trong Hội nhà Văn Việt Nam riễu mấy bác lãnh đạo  :          “ Đảng đoàn là Đảng đoàn Hoài
                              Hễ đi nước ngoài là có ông ngay…”
Nguyễn Đình Thi nhiều năm có chân trong Đảng đoàn, dẫu không đi nước ngoài nhiều như Tô Hoài thì cũng ngang…đi chợ. Bởi thế những khung cảnh nước ngoài thường được ông đưa vào truyện ngắn vào những năm cuối đời. Tuy nhiên ông chỉ mượn khung cảnh thôi, còn nhân vật vẫn là những người quen cũ .
“Trong rừng  thông” ông gặp một cán bộ nghiên cứu tên Đan đi họp hội nghị quốc tế châu Au. Ông Đan cũng tái ngộ với cô Mai quen biết từ hồi mới nổ ra toàn quốc kháng chiến. Ngày xưa, Đan còn là anh bộ đội, trên đường hành quân gặp Mai “ cô gái độ mười lăm mười sáu tuổi ấy đi đâu cũng đội mũ nan gài lá như bộ đội ”. Lẽ ra Đan và Mai đã có một tình yêu đẹp, chỉ tiếc Đan đã có vợ bởi vậy hai người coi nhau như anh em.Tuy nhiên hai người  đôi khi  vẫn gặp nhau, đi chơi bên hồ Hoàn Kiếm, tặng hoa và “ở nơi sâu thẳm trong tâm hồn , một cách tự nhiên không hề suy nghĩ, hai người  đã giữ cái đốm sáng ấy để mà sống.” . Thế rồi ngay cả khi vợ Đan chết, quan hệ giữa anh với Mai cũng vẫn bảng lảng ở mức tình “anh em” như  hồi mới gặp.  Phải chờ tới khi Mai đã lớn tuổi, được đi thực tập tại một thành phố châu Au nơi Đan cũng đang họp ở gần đó, hai người mới gặp nhau . Và khi đi ngang qua một phố đông ,”dòng người đổ đến, chen chúc , làm Mai lúng túng , Đan bỗng :
“ Oi dào, phải thế này…”
Và anh gấp cánh tay, cầm lấy bàn tay nhỏ nhắn của Mai đặt lên đấy. “ Thế”.
Truyện ngắn “ Trong rừng  thông”  mang khá nhiều dấu vết  riêng tư của Nguyễn Đinh Thi, bộc lộ cái nỗi niềm sâu kín trong ông  “ Oi dào, phải thế…” – phải sống thực với mình, phải yêu đúng với những rung động  con tim mình. Mọi cấm kỵ, mọi rào cản  tới một lúc nào đó sẽ chẳng còn là cái gì. Chỉ tiếc ông không đi xa hơn truyện trai gái để vượt  tới chuyện đời văn, chuyện đời người , ngoái nhìn những bước  đường tư tưởng đã qua để có một hành động phản tỉnh nào đó ứng với câu Đan thốt ra :”Oi dào, phải thế…”
Trong truyện ngắn “Người bạn cũ”, Nguyễn Đình Thi lặp lại môtip truyện “ tái ngộ cố nhân”, nhưng lần này chuyện xảy ở Sàigòn và người xưa vốn là một cô gái  sống phóng túng , tên Thoa “luôn luôn sống tự do theo ý muốn, luôn luôn sống ngoài dư luận và khinh miệt những kẻ đạo đức giả…” . Thế rồi “ Cách mạng bỗng làm thay đổi tất cả”. Cái cô Thoa này từ bỏ hết cả sự lôi kéo của mấy ông luật sư, tri huyện tới chốn phồn hoa mà lại “ rời Hà Nội về quê, chỉ lo làm nghề thầy thuốc ở một vùng quê hiền lành êm ả bên con sông Đáy…”. Thế rồi chiến tranh nổ ra, sau bao nhiêu năm phiêu dạt, ông Nam, người bạn cũ vào Saigòn tìm tới tận nơi Thoa ở thì bà đã ra người thiên cổ chỉ để lại một lá thư  thanh minh dù có bỏ kháng chiến vào Nam thì vẫn “phân biệt được  phải trái , thật giả và nhìn được đâu là chính nghĩa, em u mê sao được trong lúc hằng ngày dân ta chết như thế, khổ như thế…”. Một truyện ngắn nằm trong cả một dòng truyện ngắn miền Bắc sau năm 1975 về “nỗi ăn ăn , hối hận của những người bỏ quê hương miền Bắc di cư vào Nam” .
Truyện “Ông lão vẽ tranh”, truyện sau cùng trong tập truyện  viết khá rõ về quan niệm sáng tác của ông.
 Lão Dần làm nghề vẽ tranh tá túc nhà ông Chiểu, goá vợ, có con gái nhỏ tên Hồng, bị câm từ nhỏ. Từ lúc đó, cô bé câm quấn quýt bên ông gìa vẽ tranh để đun nước , thay trà, phục dịch cho ông vẽ tranh. Ông vẽ thuê tranh  thờ lấy đấu gạo, con gà, nải chuối…Một lần  hai cha con ông già Tàu , vốn làm quan bên Phúc Kiến bị án oan trốn sang ta. Ông lão Dần vẽ tranh phong cảnh y như quê cha đất tổ của ông già Tàu khiến ông này rất cảm kích , cho rất nhiều vàng lá. Từ đó ông lão vẽ tranh không vẽ chân  dung cho  khách nữa. Suốt ngày ông vẽ “nhiều cảnh,  nhiều người, nhiều nơi chốn rất khác nhau. Có núi có biển…có đồng ruộng, làng xóm đình chùa…”. Ông vẽ đủ thứ trên đời, hoa cúc, chim rỉa cánh , đoàn ngựa thồ, trẻ con nhảy dây …nghĩa là ông vẽ tất cả những thứ ông bắt gặp . Ong cứ vẽ miệt mài ngày này qua ngày khác đến gần kiệt sức mà vẫn chưa thoả mãn. Thế rồi một hôm ông lão gượng dậy kiếm  một khung lụa to đặt kín một chiếc bàn rồi bắt đầu vẽ . Ong vẽ gì vậy ? Hoá ra ông vẽ ” một cô gái bên gốc cây mai. Cô mặc áo cánh bông , trên đầu đội cái thúng, cô bước đi trên vệt đường từ mỏm đồi xuống…”. Ông vẽ cô gái nào vậy ? Hoá ra là ông vẽ ngay con bé câm . “ Ông lấy bút chỉ vào cô bé câm rồi lại chỉ vào cô gái trong tranh…”  Ông nói với nó :” Cháu có thích bức tranh này không ? Ông cho cháu đó. Cháu rồi như cô gái trong tranh này đừng sợ gì cả…”. Ít ngày sau ông lão chết. Truyện ngắn gửi gắm thông điệp :” Hãy vẽ hoặc viết về những gì gần gũi với ta nhiều nhất…”. Quan niệm này thực ra chẳng có gì mới, nó nằm đầy rẫy trong những lời răn dậy của các ông nhà văn già gửi tới đám cây bút trẻ đang tập toạng cầm bút theo ‘dấu cha anh”.

                                        (còn tiếp)



Thứ Tư, 22 tháng 8, 2012

HẺM..."BUÔN" CHUYỆN (KỲ 13 )


         Tàu chưa chìm…chuột đã chạy…

Từ sáng sớm thằng Bảy xe ôm đã chở cô Ba, vợ nhí ông đại tá hưu đi đâu chẳng rõ. Đến chiều lại thấy chở đi cuốc nữa. Mãi gần tối mới thấy nó về, mặt mày lơ láo, miệng rền rĩ :
“ Bầu Kiên là cái thằng chó nào mà vừa xộ khám bà con đã chạy nháo nhào…”
Cô Phượng cave kêu lên :
“ Mày bảo ai chạy nháo nhào ?”
Thằng Bảy xe ôm :
“ Cô Ba…vơ ông đại tá hưu chứ ai ? Sáng này bả dục cuống chở bả lên Sở giao dịch chứng khoán bán cố phiếu ACB, chiều lại đòi chở đến ngân hàng ACB rút tiền…”
Ông Tư gà nướng lên tiếng :
“ Bả quá lo xa…sáng nay tivi trực tiếp phiên họp đại biểu quốc hội chất vấn Bộ trưởng. Ông Thống đôc ngân hàng Nguyễn văn Bình trấn an rồi, bầu Kiên chỉ có cổ phần nhỏ ở ngân hàng ACB thôi , bà con đừng có lo…”…
Cô Phượng cave ngắt lời :
“ Cái ông Thống đốc ngân hàng này kể cũng lạ. Chẳng hiểu có dính dáng gì tới bầu Kiên không mà lên tivi mặt mũi hớn ha hớn hở như trúng số…”
Gã Ký Quèn lên tiếng :
“ Dính nặng chứ sao không ?  Không ăn chia với Nguyễn Văn Bình, bầu Kiên làm sao thâu tóm được ngân hàng Sacombank ? Chính vì có tật giật mình nên đăng đàn quốc hội phải lên gân lên cốt,phải cười cười nói nói  tỏ vẻ ta đây trong sạch không dính dáng gì tới nhóm thâu tóm ngân hàng…”
Ông Tư Gà nướng càm ràm :
“ Sáng này tao cố nghe cha này giải đáp thắc mắc mà cứ ù cả tai chẳng hiểu chả nói cái gì. Nghe toàn “nợ xấu” ,“cơ cấu”, “giải pháp “ “”biện pháp” cứ luanh quanh con kiến mà leo cành đa…leo phải cành cụt leo ra leo vào…”
Cô Phượng cave cười ngỏn nghẻn :
“ Thì cha Bộ trưởng nào chẳng thế. Bộ tài chánh, bộ công an…cứ cà kê dê ngỗng cho mau hết giờ khỏi  trả lời cụ thể nhỡ lỡ miệng thì tai vạ..”
Gã Ký Quèn xua tay :
“ Nói làm gì mấy cha Nguyễn văn Bình, Phạm Quý Ngọ…toàn trong đường dây của nhóm lợi ích Bầu Kiên – Thanh Phượng – Trầm Bê cả thôi…”
Ông đại trá hư đập bàn :
“ Thằng Ký Quèn kia…Mày căn cứ vào đâu  dám nói láo vậy ? Đống chí  Phạm Quý Ngọ là cấp tướng, thứ trưởng công an , làm sao có chuyện nằm trong đường dây bầu Kiên được ?”
Gã Ký Quèn vênh mặt :
“ Tôi đọc trên mạng chứ đâu. Thứ trưởng công an đã nhằm nhò gì. Kỳ này đich thân Bộ trưởng Trần Đại Quang làm Trưởng ban chuyên án dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang , Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, toàn “ông lớn “ vậy thì  còn sợ gì quan nào.. Cứ tham nhũng là bắt, bất kể người đó là ai, kể  cả Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng …”
Ông đại tá hưu lại đập bàn :
“ Tầm bậy. Mày nói vậy chẳng hóa ra Thủ tướng cũng nằm trong băng nhóm lũng đoạn tài chánh ngân hàng à ? Mày không thấy tối này tivi chiếu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng họp Ban phòng chống tham ô tham nhũng à ? Thủ tướng yêu cầu Bộ Công an khẩn trương điều tra làm rõ và xử lý nghiêm minh bất cứ ai có hành vi vi phạm pháp luật nhằm thâu tóm ngân hàng, gây mất ổn định hoạt động ngân hàng. “
Cô Phượng ca ve cười rinh rích :
“ Cái này các cụ ta gọi là gà đẻ gà cục tác đây.”
Gã Ký Quèn gật gật :
“ Cô Phượng nói đúng đó. Nếu Thủ tướng không dính dáng gì tới nhóm lợi ích lũng đoan tài chính ngân hàng thì sao mới đánh hơi thấy bầu Kiên bị bắt cô con gái rượu Thanh Phượng đã chuồn ra nước ngoài rồi…”….
Ông đại tá hưu quát :
“ Chúng mày cứ đồn đoán tầm bậy. Nhỡ người ta ra nước ngoài du lịch , sắm sửa thì sao ?”
Thằng Bảy xe ôm lên tiếng :
“ Cô con gái rượu của Thủ Tướng thiếu gì đồ khủng, đồ sành điệu mà phải ra nước ngoài  sắm..Cái này gọi là tàu chưa chìm chuột đã chạy đây. Cứ chờ coi, mai mốt còn khối con chuột nhảy khỏi tàu nữa.”
Cả quán cười ầm  ĩ..Riêng ông đại tá hưu mặt đỏ tía tai , im thít.


NT


Thứ Ba, 21 tháng 8, 2012

MIỀN..."CỤP" LẠC ( KỲ 29)




                            
                                       (tiếp theo)
“Hồi này cậu chịu chơi gớm , mua hẳn con gà đãi lão gácdan. Em Tố Oanh mới cho tiền hà? “
Gã lắc đầu :
“ Việc gì cô ấy phải cho? Cô ấy cũng đâu có giàu.”
“ Ai bảo cậu thế? Nó bói một ngày thì bằng cậu kiếm cả tháng. Tất nhiên không nhận tiền, nhưng quà cũng là tiền chứ gì , trung thu vừa rồi  con mẹ ba Tàu biếu cái bánh nướng, bên trong có gì cậu biết không, một cái nhẫn nửa chỉ. Tớ gặp cô ta ở đây về, mắt em cứ sáng trưng,tớ đoàn chắc mới vừa được cậu “mộng du” cho một buổi, đúng không?”
Gã đỏ mặt:
“ Ông chỉ đoán mò…”
Gã lảng chuyện hỏi hắn tới lâu chưa và có phải hắn đã dọn mâm rượu lúc gã ngủ không, gã cười to.
“\Ô hay. Tố Oanh tới cậu không biết hả? Say rượu ngủ như chết sao mà biết được. Siêu thật, say gần chết mà vẫn “mộng du” em được.”
“ Làm gì có chuyện đó.”
Tên hành khất trợn mắt:
“Tớ khai ra cậu đừng giận tớ nhé. Tớ tới nhằm đúng lúc đó đấy, cửa phòng thì đóng, bên trong có tiếng thở hồng hộc, tớ mới … ghé mắt nhòm qua lỗ khoá. ..”
Gã sốt ruột :
“ Vậy ông thấy cái gì?”
“ Ha ha, lại còn thấy cái gì, trời ơi, mắt cậu vẫn nhắm, nhưng người cứ cong lên như đạp xích lô lên dốc, mẹ kiếp còn kinh hơn là coi video sex, chịu không nổi tớ phải chuồn xuống phố uống càphê cả tiếng đồng hồ mới dám quay lại.”
 Gã cau có cố nhớ trong giấc ngủ có mơ gì không, chịu chẳng nhớ được, chỉ thấy đầu nhức như có tay ai bóp trong đầu.
“Tôi không tin, tôi không tin.”
Tên hành khất nắm lấy cánh tay gã lôi mạnh:
“Thế cái gì đây? Cậu nhìn kỹ coi? Phải vết răng em cắn không.”
 Gã bàng hoàng nhìn những vết bầm đỏ trên cánh tay và khi gã giật tung khuy áo, gã thấy chúng cả ở trên ngực.
“ Tin chưa? Cậu tin chưa, không phải răng em Tố Oanh thì còn ai vào đây nữa? Tài nghệ thế giúp tớ làm dịu lửa bà đại tá đi.”
 Gã cau mặt :
“ Lại còn bà nào nữa? “
“ Trời đất, cậu chóng quên vậy, cái bà suỵt chó lật tẩy trò ăn mày giả của tớ ấy. Tuy gọi là bà nhưng hãy còn ngon lắm. “
“ Sao ông nói chỉ nhằm làm hắn mất lon, mất chức thôi,”
“ Chứ sao nhưng phải chơi luật rừng mới được, theo đường cửa quan chẳng ăn thua, phe nhóm chúng nó bao che nhau hết.
“Lại thế nữa kia ư?”
Gã thở dài não ruột như thể chính gã là nạn nhân vậy. Chuyện này rồi  dẫn tới đâu, lừa gạt, hận thù, luật rừng, cái nọ sinh ra từ cái kia và tất cả cùng dẫn nhau tới ngày…. tận thế?
Gã chợt cất giọng đọc khe khẽ.
Quân bất kiến Hoàng hà chi thuỷ
Thiên thượng lai.
Bôn lưu đáo hải bất phục hồi.
Tên giả hành khất trợn mắt :
“ Ông lại làm thơ dở hơi hả?
“ Không, thơ Lý Bạch đấy,..Anh thấy chăng? Con sông Hoàng Hà từ trên trời đổ xuống, trôi ra biển chẳng quay về …”
Tên giả hành khất cười cợt :
“Chẳng quay về thì  đã làm sao ?”
“.Không sao cả, không sao cả….”
Gã ứa nước mắt, quay đi thật nhanh, không,con sông Hoàng Hà chẳng bao giờ quay về được nữa.
“ Tối nay cậu đi với tớ được không?”
 Gã ngoắt người,trừng mắt.:
“ Đi đâu ?”
Tên giả hành khất toét miệng cười.:
“ Tới an ủi bà đại tá cho vơi bớt hận thù.”
“  Không, tôi không đến đó đâu. Nhưng khi cần tôi sẵn sàng giúp ông trị tội tên trung tá. Trong đêm cuối năm, hắn đã ăn cắp của vợ hắn rồi dựng chuyện báo cảnh sát là trộm vào nhà.”
Tên giả hành khất cười khinh khỉnh.
“ Hắn ăn cắp lại chiếc vòng ngọc thạch đã tặng vợ rồi chứ gì? Của bà đại tá dâng cho hắn đó.”
“ Lại lão gácdan rượu vào lời ra kể cho cậu phải không? Cậu có biết hắn đã tặng chiếc vòng đó cho ai không?”
Hắn mở toang cửa sổ, trỏ sang bancông bên kia:
“Cho người tình trong mộng của cậu ở bên đó.”
 Gã giật thót người, không lẽ nàng tòng phạm với tên trung tá, không, không đúng đâu, một khi nàng biết nguồn gốc chiếc vòng ngọc thạch, hẳn là nàng sẽ quẳng trả vào mặt hán. Gã lắc đầu:
“ Không đúng đâu, tôi chưa thấy nàng đeo bao giờ cả.”
Tên giả hành khất bật cười :
“ Của đắt tiền vậy sao dám đeo? Một là nàng cất kỹ trong tủ, hai là đã cho ra ở riêng  rồi, tớ chắc nàng chưa bán đâu, nhưng chỉ đeo khi đi với lão trung tá thôi. Cậu giúp tớ theo dõi nàng nhé.”
“Tôi không … tôi không quen chuỵên đó.”
“ Có khó gì đâu cậu vẫn rình nàng qua cửa sổ mà, hôm nào thấy nàng trở về, cổ tay có đeo vòng ngọc thạch thì gọi điện báo ngay cho tớ. “
Mặc gã phản đối, hắn vẫn nhét vào tay gã mẫu giấy ghi số điện thoại. Gã chợt thấy cái tên giả hành khất này chẳng phải chỉ làm nghề ăn mày “rởm” , hắn phải trong băng nhóm nào đó, giấu diếm mọi hoạt động khỏi con mắt công an. Vậy ngoài cái ghế ông trung tá liệu hắn có nhắm tới cái gì khác nhằm trả thù cho bà đại tá tình nhân của hắn chăng?”
“Nhớ nhé, cậu phải theo dõi giúp tớ nhé, “lượng làm thời đại” như cậu phải đứng về phía những người lương thiện chớ.”
 Gã vẫn đứng bên cửa sổ buồn bã nhìn hắn lủi thủi ra khỏi phòng “dù có thế nào , không bao giờ anh hại em…” gã lẩm bẩm ngước nhìn cái rèm cửa trống vắng bên nhà nàng và buông rơi tờ giấy ghi số điện cho bay theo gió. Cố dứt khỏi mọi suy nghĩ nặng nề, gã quay vào bàn làm tiếp cái công việc  lần theo số phận của nàng Emily trong cuộn truyện trinh thám đang dịch dở.
                                                 *
                                               *   *

Chỉ một chút nữa Emily đã đập nát chiếc chiếc gương trong tay, kể từ  hơn một tháng qua, lần đầu tiên gã bịt mặt đặt trên đầu giường nàng.
May thay, cơn tuyệt vọng làm nàng khóc rú lên đã làm nàng quên đi việc đó, buông tay cho chiếc gương rơi trẹn nệm giường, nàng cũng đổ vật mình xuống đó. Trời ơi, tên độc ác cố tình huỷ hoại sắc đẹp của ta thực sao. ? Ta đã cố nhịn mọi món ăn cám dỗ mà gã đưa đến, ăn chỉ vừa đủ cho khỏi chết đói, ta đã tập thể dục thẩm mỹ hàng ngày, cố tránh mọi buồn giận,tiếc nuối… Ta đã làm hết sức mình, vậy mà trời ơi, những sợi tóc trắng ghê sợ kia vẫn không tránh khỏi ư? Bảy sợi tóc bạc và sáu nếp nhăn ở hai đuôi mắt, chưa kể một vết lờ mờ bên khoé miệng báo hiệu nếp nhăn mới.
Nàng kinh hoàng nhận ra dù có kiêng khem kỹ lưỡng, tập tành đều đặn đến mấy cũng không ngăn được sắc đẹp bị tàn phá bởi nguyên nhân mà gã bịt mặt đã báo trước: sự cô độc.
Một nữ tu kín còn được giao tiếp với Đức Mẹ, một tù nhân trong trại giam còn được đối thoại với cai ngục, còn nàng…. Khi tất cả mọi đồ vật trong căn phòng không còn mang lại một thông báo nào. Khi những xao động ngoài trời cũng chẳng giúp được nàng dự đoán thời gian, nàng lục lọi trong tưởng tượng những kỷ niệm và chán ngán nhận ra chúng như những chiếc là chết, chẳng gây cho nàng đôi chút thích thú.
“Cô độc là tuyệt đỉnh của đau đớn”. Một nhà văn đã viết từa tựa vậy trong sách đọc từ thủa nào, bây giờ chợt nhớ, nàng mới thấm thía hết ý nghĩa của nó. Đó là một trạng thái ngưng đọng của một thế giới chết, một môi trường không có thông tin, một tù ngục bên trong một ngục tù ….
                              (còn tiếp)

Thứ Hai, 20 tháng 8, 2012

NHẬN DIỆN...TÀU CỘNG (1)



          Hồ Phong và những uẩn khúc lịch sử
                                                             Nhà văn  VŨ HUY QUANG
                                                                      (Hoa Kỳ)

          Sau chiến dịch Biên giới 1951, VN mở cửa thông thương với TQ, “đề cương văn hóa Diên An “ được rước vào VN và trở thành cái mũ kim cô úp lên đầu bao nhiêu thế hệ nhà văn cho tới tận ngày nay.Nhà văn Vũ Huy Quang  vừa gửi tới loạt bài về đề tài này.

Hồ Phong (1903-85) là bút hiệu của Trương Quảng Nhân, thuộc nhóm thân cận của Lỗ Tấn. Ông  là nhà thơ, nhà viết văn nghị luận nổi tiếng. Gốc người Hồ Bắc, gia thế thanh bạch. Đã học ở Nam Kinh, rồi Đại Học Bắc Kinh. Gia nhập Hội Thanh Niên Cộng Sản, tham gia Phong Trào Ngũ Tứ 1925. Sau khủng bố QDĐ năm 1927, sang Nhật học, rồi bị tù ở đó vì họat động thiên tả. Về Trung Quốc năm 1933, tham gia nhóm nhà văn Tả phái ở Thượng Hải. Cuối thập niên 1930 cho tới những năm ‘40, ông ngao du khắp miền Nam Trung Quốc, ra báo, viết báo phản đối chính sách “chính trị chỉ đạo văn nghệ”, cùng với một số trí thức, sau bị gọi là “bè lũ Hồ Phong”. Bị thanh trừng bởi Mao 1955. Văn tài ông có ảnh hưởng rất rộng - đặc biệt tại Thượng Hải và các tỉnh miền Nam Trung Quốc – ngay cả sau khi ĐCSTQ chiếm Hoa Lục. Sau khi bị quy kết là “phản cách mạng” vào tháng 6-1955, không ai rõ tung tích Hồ Phong ở đâu. Thời kỳ đổi mới tại Trung quốc, được minh oan năm 1979 – và phóng thích một lượt với những người nhà văn như Đinh Linh, nhà cách mạng Trịnh Siêu Lân .v.v. Hồ Phong sống được 6 năm cuối đời tại Bắc Kinh.
Trước Hồ Phong, cũng đã có những nhà văn bị hại như Hòang Thạch Vệ; sau Hồ Phong ,như Phùng Tuyết Phong, Đinh Linh…là những người cầm bút không chiu chỉ đạo trong lãnh vực  sáng tác của Đảng, thường hiểu là các nhà văn ly khai (với quyền lực). Chúng tôi viết chiến dịch Hồ Phong 1955 vì sự trùng hợp thời điểm với biến cố Văn Nghệ cũng bị lên án ở Việt Nam…như ở Trung Quốc.

I. Hồ Phong, chiến dịch 1955

Sau khi ĐCSTQ nắm quyền tại TQ năm 1949, chính sách văn hóa của Mao lan ra tòan quốc. Người đầu tiên lên tiếng chống lại, là Hồ Phong, lúc ấy rất nổi tiếng là lý thuyết gia tả phái về văn chương nghệ thuật. Ông  cùng các bạn hữu coi ”Mao Thọai” rất là máy móc, do đó tuyên bố, “máy móc đã kiểm sóat phạm vi văn chương nghệ thuật cả mười năm nay rồi…Đường lối về văn học này đã làm văn học thành triệt sinh…Khi ai muốn nói gì, người ấy phải kiếm cách đem tư tưởng Mao để diễn tả, làm cho mọi chuyện trở nên càng khó khăn hơn.” (Câu trích lại của Diêu Văn Nguyên trong bài phê bình “Chu Dương con người hai mặt” đăng trên Hồng Kỳ, #1, 1967)
Hồ Phong chủ trương rằng sự thật là nguyên tắc tối hậu của nghệ thuật. Ông ta phản đối chính sách tóm gọn văn học vào mục đích chính trị, cùng chống sự giới hạn đề tài sáng tác theo bắt buộc của Mao. Ông ta nhấn mạnh, là các nhà văn phải được có quyền tự chọn đề tài sáng tác.
Mao bèn phát động chiến dịch chống Hồ Phong năm 1955. Chiến dịch này kéo dài vài tháng liên tiếp được phát động trên tòan quốc. Chiến dịch này không chỉ nhắm vào cá nhân Hồ Phong cùng những bạn hữu của ông, mà còn nhắm vào tòan thể Đại học, Trung học, các cơ sở văn hóa…đến bất cứ ai có vẻ hưởng ứng ý kiến Hồ Phong đều bị thanh trừng. Theo báo cáo thời ấy (Trần Bạch Lan, “phỏng vấn’, Chinese Communist Party in power, tr.420-21), thì trên 130 người theo Hồ Phong bị bắt bỏ tù hoặc cho vào trại lao cải.
Ngay sau chiến dịch Hồ Phong, là chiến dịch “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng” phát động từ tháng Tư đến tháng Sáu 1957. Đó là thời kỳ các nhà văn cánh Tả “đua tiếng” phê bình chính sách của Mao đối với văn chương nghệ thuật như Đinh Linh, Ngãi Thanh và Phùng Tuyết Phong, người sau, là lý thuyết gia đương thời rất nổi tiếng về văn chương nghệ thuật, đặc biệt, Đinh Linh và Phùng Tuyết Phong lại đang nắm chức Chủ tịch và phó Chủ tịch Hội liên hiệp  Văn học Nghệ thuật tòan quốc.
Tháng Sáu, Mao dẹp “Trăm Hoa” và tấn công những người trên rất tàn nhẫn. Như tháng Chín có buổi họp ở Bắc Kinh để thanh tóan Đinh Linh, khỏang trăm người hàng quan chức cao cấp trong giới văn nghệ, như Bộ trưởng và phó Bộ trưởng bộ Văn Hóa, Thẩm Nhạn Băng và Chu Dương. Buổi họp, như ở Diên An trước, kéo dài 16 ngày, hết người này đến người kia thay phiên nhau lên án, làm một mình Đinh Linh chống đỡ đến mệt lả, với tội hữu khuynh và phản động, rồi tường thuật lại những tố cáo trên báo Nhân Dân, là Đinh Linh đã liên hệ với Hòang Thạch Vệ (tác gỉa “Bạch huệ hoang dã”), rằng Đinh Linh sẽ như thế. (Hòang Thạch Vệ, đã bị cho vào tù, sau khi đến kết luận là Trốtkít. Trước khi rút khỏi Diên An, quân Cộng Sản đã bắn chết trong tù.) Sau phiên họp, Đinh Linh, Phùng Tuyết Phong, Ngãi Thanh bị bắt giữ, rồi cho vào trại lao cải.
Chiến dịch chống bè lũ Hồ Phong phát động lớn như chưa bao giờ có trên đất Trung quốc. Hồ bị chọn vì vài lí do. Ông ta có lí luận sắc bén để trả lời Chu Dương. Hơn nữa, khác với Dư Bình Pha và Phùng Tuyết Phong, ông ta không lí luận nước đôi khi chống chính sách của Mao trên chính sách văn hóa.
Hồ Phong, 1949-52
Hồ và các bạn vui mừng đón Đảng CSTQ thắng được Quốc Dân Đảng  với sự nồng nhiệt, nhưng ngòai chuyện đó, ông và bạn bè vẫn quyết tâm  không chịu sự kiểm sóat của Đảng. Một trong những bài biên khảo lí luận viết trong 1949-50, “Thông nguyên đầu đáo hồng triều” (Từ khỏi nguồn đến triều dâng), Hồ tuy bày tỏ sự đón mừng Đảng thắng lợi trong chính trị, nhưng ông ta giữ nguyên ý kiến riêng trên vấn đề sáng tác.
Vài đệ tử của Hồ Phong không cần phân biệt Mao và quan chức như Hồ. Họ cho rằng Mao chịu trách nhiệm công thức hóa văn nghệ. Chương Chấn Điều viết cho Hồ,”Bởi tôi muốn viết, tôi đọc Mao Thọai. Đọc xong, tôi không muốn cầm bút nữa.” Về việc Mao yêu cầu nhà văn ca ngợi giai cấp vô sản cùng các anh hùng của Đảng, Chương nói,”Thật là hình thức, máy móc khi nhìn việc đời…Tôi tin là chúng ta nên viết về sự chịu đựng, đau khổ, hạnh phúc, sự tìm tòi cùng trí tưởng tượng nhìn sự việc.” Chương kết luận,”Cái lối THOẠI đề ra chỉ đúng với thời Diên An chứ không đúng với thời này. Bây giờ, người ta có thể phá mọi gò bó.” Và nữa, “Tôi rất không tin  cuộc sống phải trong tổ chức. Như thế sẽ đưa đến ai ai cũng phải suy nghĩ rập khuôn. Phương pháp bây giờ tôi thấy không khác gì của Hitler…Tôi cho rằng những điều bây giờ đã có trong sách của Andre Gide rồi đó.” Sách mà Chương nhắc, là cuốn giải ảo về Liên bang Xôviết, “Trở về từ Liên Xô” của Gide. Người khác, cùng phe với Hồ, là Sử Đào đang dạy ở Đại Học Nhân Dân, sau khi Đảng khống chế tòan diện, cũng viết,”Phương pháp mới mà chúng tôi đang thực hành chỉ làm kiệt quệ con người. Lẽ ra thày dạy phải dùng trí tuệ để giảng dạy, nay thì thay đổi đến nỗi người thày không hiểu dùng đầu óc để làm gì nữa.” Sách để xuất bản của nhóm Hồ bị duyệt, coi là không đúng đường lối, bị gác lại. Bài viết trên báo cũng vậy. Áp lực đến với họ càng nhiều, đủ mặt. Một người, Lữ Kiện, còn ngây thơ đề nghị với Hồ, là có lẽ nên “gặp trực tiếp Chu Ân Lai” để giải quyết.
Nhưng rồi sự việc càng nặng về chính trị. Một thân hữu của Hồ, Thu Ngô phải viết bản tự kiểm đăng trên báo Nhân Dân ngày 8 tháng 6, 1952. Ngày càng nhiều tấn công vào nhóm Hồ Phong…vì các Tổng Biên tập báo đều cho rằng Hồ Phong là người chủ mưu trong sự chống đối, rồi không báo nào nhận đăng ý kiến của “bè lũ Hồ Phong” nữa. Rồi đến lượt Hồ cũng phải viết bản tự kiểm.
Hà Kỳ Phương và Lâm Mộ Hàn cùng chỉ trích quan điểm Hồ Phong nói về nghệ thuật (trong bản Tự Kiểm), cho rằng Hồ chỉ nói theo ý riêng mình, không phản ánh ý kíến Đảng, “Sự sai lầm to lớn của Hồ Phong là ông ta không dùng tư tưởng Mao làm chỉ đạo mà dùng tư tưởng riêng mình để vẫn chống đối mọi đường lối trong văn học cách mạng.”

Sách tham khảo:
-“Literarry Dissent in Communist China” – Merle Goldman. Harvard Unibersity Press, 1967.
 -“China’s Urban Revolutionaries” – Gregor Benton. Humanties Press, 1996.
-“Lỗ Tấn Tạp Văn” –Trương Chính.  NXB Giáo Dục, 1998.
-“Chinese Revolutionary” - Wang Fan-xi. Oxford University Press, 1980.
                                                                                                           
                                                (còn tiếp)

Chủ Nhật, 19 tháng 8, 2012

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN (KỲ 72)




                          (tiếp  theo)




Một sự thực hiển nhiên là cuộc cách mạng tháng Tám đã lôi cuốn  đông đảo dân chúng Việt Nam trong đó rất nhiều cư dân đô thị, đặc biệt trí thức văn nghệ sĩ. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là khắp thiên hạ ai cũng làm cách mạng và càng không có nghĩa  cứ theo Việt Minh là “giác ngộ cộng sản”. Còn một bộ phận không nhỏ hoặc đã chống lại hoặc đã đứng ngoài cuộc “trùm chăn” chờ thời - đó là một sự thực hiển nhiên .
Ấy thế nhưng với cái mũ kim cô “ chính trị là thống soái” trên đầu, nhằm tô vẽ cho cuộc cách mạng,  Nguyễn Đình Thi đã “lùa” toàn bộ nhân vật Vỡ bờ đi theo Việt Minh trừ những phần tử phản động trong giai cấp tư sản và địa chủ.
Trước hết là ông giáo Hội kiêm nhà văn , tác giả tiểu thuyết  “Đồng Chiêm” . “ Thật không ai ngờ được và chính Hội cũng không ngờ được  mình lại thành một ông Việt Minh ở giữa Hà Nội như thế này…”. Không tù đầy, không giam giữ, ông nhà văn Hội làm cách nào trở thành “ông Việt Minh” nhanh như thế ? Hoá ra ông chỉ làm cái việc “đi khắp từ các đầu ô cho đến phố nội thành để tới gặp hết người nọ đến người kia trong đám các trí thức của đất ngàn năm văn vật…”. Chính vì tham vọng mở rộng Vỡ bờ thành một bức tranh hoành tráng diễn tả toàn dân làm cách mạng nhưng lực bất tòng tâm Nguyễn Đình Thi đành diễn tả cả quá trình giác ngộ Việt Minh của ông nhà văn kiêm nhà giáo sơ sài có vậy.
Trí thức theo cách mạng phải có thưởng chớ ? Có ngay, liền sau đó Nguyễn Đình Thi vội vàng cho ông nhà văn Hội được  bầu làm Chủ tịch Uỷ ban giải phóng xã và sau đó tiểu thuyết “ Đồng Chiêm” của ông được tái bản lãnh mấy trăm đồng nhuận bút về đưa vợ. Tuy nhiên cái “quả thực ” cao nhất đi theo cách mạng với ông nhà văn này là được…kết nạp Đảng thì Nguyễn Đình Thi chưa nói tới, chắc còn để lại cho hậu Vỡ Bờ mà sau này ông không còn thời gian và hứng thú để thực hiện nó.
So với ông nhà văn Hội, nhạc sĩ Toàn chậm cách mạng hơn ; anh vẫn đi kéo đàn kiếm sống và mua hoa tặng bạn gái. Thế rồi khi gặp một anh nhà báo, ông nhạc sĩ bỗng tỉnh ngộ và sám hối :” Chết thật, mình ở trên mây, không biết gì cả…”.Toàn nghĩ thầm và vừa đi nhanh vừa nhìn bó hoa hồng trên tay. “.Tuy ông nhà văn không nói rõ , nhưng người đọc hiểu từ nay ông nhạc sĩ sẽ chấm dứt những trò tặng hoà phù phiếm để theo cách mạng làm Ô việc thiết thực hơn.
Ông giáo già Điềm, sau một thời gian dài “trùm chăn” , giờ cũng giác ngộ xung phong lên chiến khu huấn luyện quân sự cho bộ đội chỉ vì ông đang tôn sùng binh pháp của Tôn Tử . Ông đồ già đến với cách mạng như vậy cũng đã là hoả tốc  rồi, vậy mà ông còn than thở, hối tiếc :” Tôi thật chậm hơn các anh mấy chục năm . Phí mất nửa đời người…”. Quả thực “trường hợp giác ngộ “ của ông Giáo Điềm nếu không là một giai thoại tiếu lâm thì cũng là một tưởng tượng…tầm phào .
  Tất nhiên lớp người trẻ đến với cách mạng phải được nhà văn diễn tả ‘rầm rộ” và “khí thế” hơn nhiều. Phi cô gái con nhà giàu, quanh năm đi học và rong chơi như con bướm. May mắn cô được người yêu là Đông – hoạt động bí mật cảm hoá, thế là bỗng chốc Phi trở thành “nữ chiến sĩ cách mạng” cầm đầu doàn biểu tình đấu tranh với Nhật :
“Phi vẫy cả đoàn vượt qua đám đông ở đây, đi vượt lên nữa. Trên thềm nhà hát lớn từng tốp lính Nhật quỳ hoặc nằm sau những khẩu súng máy đã bắc càng sẵn sàng…”
Thế rồi cô nữ sinh đấu lý với đám sĩ quan Nhật khiến họ phải thả các công nhân bị bắt , trả lại cả súng cho họ nữa. Sự hiên ngang, dũng cảm của Phi làm viên sĩ quan phải trầm trồ khen ngợi :” Thấy Việt nam bây giờ mà thèm. , từ người con gái  đàn bà con gái cũng gan dạ, rắn rỏi, kiểu này khi trở về Nhật chắc sẽ …mổ bụng tự vẫn…”
Ghê thế đấy, gương đấu tranh của cô tiểu thư Hà Nội đã làm cho sĩ quan Nhật cảm phục đến thế , vậy những người cách mạng thứ thiệt còn thần kỳ tới đâu. Tất nhiên họ phải  là gia đình ruột thịt của những cán bộ cộng sản đã hy sinh. Như  cô Quyên, em gái Khắc – lãnh tụ cách mạng chết trong tù,  cũng thoát ly làm cách mạng chuyên nghiệp. Chỉ sau một thời gian, Quyên đã trở thành chỉ huy du kích đánh đồn:
“ Thôi ta cứ vào thôi” - Quyên hét to lên với anh em và vượt lên đầu , chạy đến cổng đồn mở toang một bên.Anh em chạy đi rồi, Quyên quay sang mấy anh du kích :” Hễ thằng nào định giở trò, các đồng chí cứ bắn chết ngay tại chỗ. Còn đồng chí nào có lựu đạn không ?...”
Thật không thể hiểu nổi, vì sao cô gái quê rụt rè, suýt chịu làm vợ bé cho ông Chánh hội , vậy mà đùng cái trở thành nữ chỉ huy du kích say máu và giết người không ghê tay . Chắc là vì không khí cách mạng  khẩn trương , cấp tập nên ông nhà văn cũng phải vội, đành bỏ qua “cái quá trình trở thành” mà chỉ trình bày cái kết quả và người đọc đành phải chấp nhận hình tượng cô gái quê trở thành chỉ huy du kích “ăn gan uống máu quân thù” như vậy là có thực…
                                                                           
 “Tức nước” phải “vỡ bờ”. Cảnh vật sau khi “vỡ bờ “ thường đổ nát, tan hoang, hỗn loạn không khác gì một cơn bão, một trận động đất hoặc cơn sóng thần quét qua. Vậy nhưng cảnh tượng sau “vỡ bờ” của Nguyễn Đình Thi hoàn toàn ngược lại, nó được sắp xếp thứ tự lớp lang đâu ra đó, kẻ có tội với nhân dân bị trừng trị, người có công với cách mạng được tưởng thưởng . Cái kết cuộc của cuốn tiểu thuyết trường thiên được ông tác giả gia công, sắp xếp theo nguyên tắc đó, chính xác , chi li, tỉ mỉ không thua gì một ông già tỉa hoa thuỷ tiên  nhân ngày tết.Cái kết cuộc phù hợp tuyệt đối  với “ý Đảng, lòng dân” làm người đọc phải kinh ngạc vì ý thức chính trị đã giết chết ý thức nghệ thuật trong Nguyễn Đình Thi khiến tiểu thuyết của ông nặng mùi tuyên truyền  . Ta chịu khó đọc những dòng kết của cuốn tiểu thuyết đồ sộ nhất trong sự nghiệp văn chương Nguyễn Đình Thi :
“Nắng đã lên, sáng vàng, tươi ấm, chan hoà trên sông núi từ đây sống lại.
Thành cũ , Cột Cờ, vườn Ba Đình, tất cả ngập trong cờ đỏ sao vàng.
Trên một cái đài cao dựng tạm đơn sơ, một người mảnh khảnh , mặc chiếc áo vải kaki, trán cao, đôi mắt sáng mênh mông, cằm điểm một chòm râu lưa thưa, vừa bước lên và đứng lặng mấy giây nhìn cái biển người bát ngát trước mặt.
Và cả cái biển người cũng chăm chú nhìn lên và đợi nghe.
Người ấy bắt đầu nói. Từ các loa phóng thanh vang ra một giọng ấm áp mà vang như tiếng chuông. Cụ Chủ tịch nói câu gì đầu tiên đây ?
“ Tôi nói đồng bào nghe rõ không ?”
Cả cái biển người ngạc nhiên im  phắc một giây rồi bỗng dưng nghìn vạn tiếng reo trả lời gầm lên thành một tiếng sấm truyền đi xa, xa mãi…”
Đọc đoạn kết cho hơn một ngàn trang tiểu thuyết , người ta hiểu được vì sao tới đêm trước thời đổi mới ở Đại hội nhà văn Việt Nam lần thứ 4, Nguyễn Đình Thi vẫn còn tự nhận “ nhà văn là hạt bụi lấp lánh ánh sáng của Đảng”,  vì sao đến khi qua đời Nguyễn Đình Thi vẫn còn ngồi cái ghế quan văn nghệ cao chót vót :” Chủ tịch Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam”.
“Bất tri tam bách dư niên hậu”, chẳng cần lâu la thế, chỉ ba năm sau khi ra đời, trường thiên tiểu thuyết “Vỡ bờ” của Nguyễn Đình Thi chỉ còn được  nhắc tới  trong giáo trình văn học cách mạng và trong những công trình “bốc thơm” của các phê bình gia quốc doanh như Vũ Đức Phúc, Phan Cự Đệ,  Hà Minh Đức…

                             (còn tiếp)