Tổng số lượt xem trang

Thứ Ba, 6 tháng 1, 2015

CHUYỆN XƯA NAY MỚI NÓI - KỲ 163 - 7 lần hẹn gặp ông Chủ tịch Hội Nhà Văn

CCCCCC
 




                                                                                                           
      Cái ghế Chủ tịch Hội Nhà Văn trong trào cộng sản , so với Bộ chính trị, Ban Bí thư thì nhỏ xíu, chưa được bằng cái chức Bật Mã Ôn giữ ngựa  do Ngọc Hoàng thượng đế ban cho Tôn Ngộ Không. Ấy thế nhưng bằng vào bổng lộc  và “uy danh” , cái chức đó cũng gây nên cuộc đấu đá khốc liệt giữa biết bao nhiêu nhà văn, nhà thơ gạo cội trong đó nổi lên hai gương mặt “bám ghế” được lâu nhất Hội : nhà văn Nguyễn Đinh Thi và nhà thơ Hữu Thỉnh.
Ông Hữu Thỉnh đã ngồi ghế Chủ tịch Hội được 3 khoá, xem ra cho tới nay chưa kiếm được như ông để hành nghề “Chủ tịch Hội”, bởi vậy có thể thấy trước ông sẽ vẫn lại ngồi ghế này trong khoá tới.
Bài phỏng vấn dưới  đây của nhà báo Phong Sương ( Hà Nội) cho thấy sự trơ lỳ chính là phẩm chất hàng đầu của các quan chức thời nay.

Nhiều lần trong cuộc đời làm báo của mình, tôi bị các nhân vật là quan chức từ chối phỏng vấn. Họ từ chối cũng đúng thôi vì những vấn đề tôi hỏi đều “tế nhị, nhạy cảm, động chạm” theo quan niệm của họ. Nhưng ít ra thái độ dù khéo léo hay lạnh lùng từ chối một cuộc phỏng vấn ngay từ đầu còn làm cho phóng viên dễ chịu. Bởi lẽ, họ còn có thời gian tìm kiếm nguồn tin khác mà hoàn thành bài vở cho đúng hẹn với yêu cầu cấp thiết của tòa soạn. Cuộc “hẹn hò” với ông Chủ tịch Hội Nhà Văn Việt Nam là một giấc mộng “kinh hoàng” trong cuộc đời làm báo của tôi. Bảy lần “hẹn hò” phỏng vấn là bảy lần ông cho tôi “leo cây”. Hơn hai tuần lễ, tôi thấp thỏm, bồn chồn, đứng ngồi không yên hết gọi điện lại chờ đợi ông tại phòng làm việc riêng. Nhưng những gì tôi nhận lại chỉ là những lời “bong bóng” phập phồng hết nổi lại chìm. Thà rằng, ngay từ đầu ông từ chối. Đằng này…
Lần đầu tiên vào một chiều cuối thu tháng 9. Tôi gọi điện hẹn gặp nhà thơ Hữu Thỉnh trong một tâm trạng rất thoải mái và hứng khởi. Bởi lẽ, tôi đã nghe nhiều giai thoại về tính cách nhẹ nhàng, khéo léo rất được lòng người của ông. Đạo diễn Đỗ Minh Tuấn có lần tâm sự, anh phục nhất nhà thơ Hữu Thỉnh là năng khiếu “truyền dẫn” lòng say mê, niềm hứng thú sáng tác văn thơ cho các hội viên HNV. Nếu quả đúng như vậy, tôi dạt dào hy vọng ông sẽ dành cho mình một cuộc phỏng vấn cởi mở về những vấn đề thời sự của đời sống văn chương nước nhà.
Tôi bấm máy. Ở đầu dây kia vang lên một tiếng nói nhỏ nhẹ: ”Xin hỏi ai gọi đấy?”. ”Dạ, cháu là…phóng viên…ạ. Cháu muốn xin bác một cuộc phỏng vấn nhỏ về các vấn đề thời sự của văn học, đặc biệt là giải thưởng Văn học sắp công bố của Hội.”. “Đang họp, đang họp, cuối giờ chiều gọi lại nhé”. Nghe giọng nhà thơ thì thào đứt quãng chìm lẫn trong tiếng phát biểu sang sảng thì chắc đúng ông đang trong cuộc họp rồi. Đợi đến 5 giờ chiều, tôi gọi và nhắc lại lời đề nghị. “Xin lỗi, tuần này chú bận lắm cháu ạ. Khổ lắm. Họp suốt từ thứ sáu, sang cả thứ bẩy, chủ nhật. Không có một lúc rỗi nào đâu. Thứ hai cháu gọi lại nhé.”. Thấy giọng ông hốt hả, vội vã như vậy tôi cũng đành buông máy. Chẳng gì nhà thơ cũng là lãnh đạo một Hội Văn học đồ sộ với số lượng lên tới hơn 800 hội viên. Làm nhà “quản lý” văn chương thì chẳng khác nghề “làm dâu trăm họ”. Mỗi một cây viết lại là một thế giới sáng tạo khác biệt với những cách nghĩ, quan điểm, lý tưởng sống phong phú đa dạng. Đứng đầu một thế giới phức tạp như vậy, chắc hẳn nhà thơ đau đầu lắm.
Tôi gọi lại cho ông vào buổi chiều thứ 2, đúng theo lời đã hẹn. Lần này, chưa kịp hỏi gì tôi đã nghe tiếng ông sang sảng ở đầu dây: ”Cháu ơi, tuần này chú cũng bận lắm, không hở được kẽ nào để tiếp cháu đâu”. “Cháu cũng biết chú bận lắm nhưng cháu chỉ xin chú 30 phút thôi. Bài này cháu đã khất tòa soạn đến một tuần rồi. Cháu mà không phỏng vấn được chú là bị đuổi việc đấy ạ.”. “Thôi cháu ơi. Thế để chú giới thiệu cháu phỏng vấn Trần Đăng Khoa, Phan Thị Vàng Anh nhé?”.”Không chú ơi, chú là Chủ tịch Hội Nhà Văn rất nhiều năm rồi. Hơn ai hết chú sẽ là người nắm chắc nhất những vấn đề của Hội. Vì thế, phỏng vấn chú sẽ là phương án mà bạn đọc quan tâm nhất ạ”.” Thôi, thế đến thứ 6 gọi lại đi. Tuần này chú bận lắm, không thở được nữa ấy. Thế nhé!”. Chưa kịp nói gì, đầu dây kia đã kéo dài những tiếng tút tút lạnh lùng. Lời từ chối của ông làm tim tôi đau nhói vì nỗi mỏi mòn chờ đợi suốt chục ngày qua. Thế nhưng, trong thời điểm đó, tôi hừng hực một quyết tâm sẽ không bỏ cuộc. Bằng bất cứ giá nào tôi cũng sẽ thực hiện bài phỏng vấn ông Chủ tịch Hội Nhà Văn sau bao nhiêu công sức chuẩn bị, chờ đợi.
Lần thứ 4, tôi gọi lại cho ông vào thời điểm cuối ngày của một ngày cuối tuần. Tôi nhẩm chắc khi ấy ông đã thoát khỏi một tuần bận rộn, mỏi mệt. Cũng như những người ông ở tuổi 65, chắc hẳn ông đang vui đùa ở nhà cũng những đứa cháu nội, cháu ngoại dễ thương, xinh xắn. Trong tâm trạng nhẹ nhõm, hạnh phúc chắc hẳn ông không nỡ lòng nào từ chối tôi một lần nữa. Đúng như dự đoán, lần gọi thứ tư, ông đã chấp nhận hẹn gặp tôi. Ông nói đúng 8h30 sẽ tiếp tôi tại phòng làm việc riêng, tầng Ba, Hội Nhà Văn Việt Nam. Tôi rối rít cảm ơn ông rồi suốt hai ngày cuối tuần thức đêm, thức hôm gò lưng chuẩn bị câu hỏi phỏng vấn.

Các cụ vẫn thương nói: “Qúa tam ba bận”, còn tôi phải mất đến “quá tam năm bận” mới gặp được nhà thơ Hữu Thỉnh. Tính hay lo xa, tôi đã “chầu chực” ở cổng Hội Nhà văn sớm hơn 15 phút so với dự định. Anh bảo vệ hồ hởi chỉ tôi lối lên phòng làm việc của ông trên tầng ba rồi nói theo: “Cứ lên đó chờ đi, giờ này ông ấy chưa đến đâu”. Lọ mọ một lúc, đi qua vài cầu thang ngoắt nghéo, tôi đã nhìn thấy căn phòng dán tấm biến “Chủ tịch” sáng chói, hai cánh cửa im ỉm ánh lên màu gỗ nâu. 8h30, 8h45 rồi 9h, vừa đi đi lại lại dọc hành lang chật hẹp, tôi vừa bồn chồn liếc nhẩm giờ ông tới. Đến đúng 9h10, khi vừa rút điện thoại ra khỏi túi, tôi nhìn thấy dáng ông chầm chậm bước lên cầu thang. Một tay buông thõng xách cặp, một tay nặng chĩu chồng nhật báo “nóng hổi” tin tức, trông ông trẻ trung, phong độ hơn nhiều so với những người cùng độ tuổi 65. Đoán tôi là phóng viên hẹn gặp, ông vội thanh minh lý do đến trễ và lởi xởi mờ tôi vào phòng làm việc. So với khoảnh sân chật chội (không có lấy một nhà gửi xe), cầu thang quanh co, hành lang dài hẹp của Hội, thì phòng riêng của Chủ tịch hội khác hẳn: rộng rãi, sạch sẽ và ấm cúng. Vừa loay hoay rót ấm chà đặc sánh, ông vừa vui vẻ cười nói hỏi han tôi hết chuyện công việc đến chuyện chồng con. Tôi thật ân hận nếu được gặp ông sớm hơn, tâm trạng lo âu, e ngại vì sự “xa cách” của các quan chức sẽ không ám ảnh trong tôi lâu đến vậy. Để không mất thời gian, tôi bật sẵn máy ghi âm và vào ngay vấn đề bắt đầu cuộc phỏng vấn. Nhưng, hỡi ôi, đầu óc tôi như quay cuồng khi ông trả lời lại: Hôm nay, chú chỉ dành cho cháu được một phút thôi, còn không phỏng vấn, phỏng viếc gì hết.”. Tôi tái người hỏi lại:” Tại sao vậy chú? Hôm trước chú đã đồng ý để cháu phỏng vấn rồi mà.” Tôi không thấy một sắc biến thái nào trên mặt ông. ”Tại cháu gọi nhiều quá nên chú nói vậy thôi. Hôm nay chú nói lại là chú bận lắm. Phải đến thứ 2 tuần sau chú mới sắp xếp được công việc. Sau 10h thứ hai cháu gọi lại nhé. Gặp được hay không lúc ấy chú mới hứa được”. Tôi không còn tin vào tai mình nữa. Ít ra ông cũng là bậc cha chú của tôi mà sao ông lại hành xử không khác một đứa trẻ con lên năm vậy? Khoảnh khắc đó, tôi cố gắng bình tĩnh trở lại và tìm mọi lý lẽ thuyết phục nào là cháu đã phải mất bao công sức chờ đợi chú; chỉ có chú là người duy nhất có thể trả lời thấu đáo mọi vấn đề của Hội; nếu không phỏng vấn được chú chắc cháu sẽ đuổi việc mất…Tình thế cam go đến nỗi tôi phải lấy lý do là “đồng hao, đồng hương” Lập Thạch- Vĩnh Phúc nài nỉ ông đồng ý trả lời. Vừa nghe tôi nói, ông vừa chối đây đẩy lại còn “đuổi khéo” tôi bằng lời nhắc uống nước nhanh nhanh lên rồi về cho ông làm việc. Từ nay đến chiều ông còn vài ba cuộc họp nữa, bận không có hơi mà thở nữa. Đến nước này, tôi đành tung ra con bài cuối cùng thường hay áp dụng trong những tình huống cần “chai mặt”: “Vậy chú cứ đi họp đi ạ! Cháu sẽ ngồi chờ chú đến trưa và mong chú cho cháu xin 15 phút vàng ngọc.” Nhìn thẳng vào tôi, ông thản nhiên đáp: Cháu cứ ngồi đấy chờ. Chú đem sách báo, tài liệu sang phòng khác làm việc không biết đến lúc nào mới về đâu. Trời ơi, đến lúc này tôi chỉ còn biết kêu lên than trời! Chưa kịp để tôi đáp lại, ông xoay lưng đi vội ra khỏi phòng rồi vọng lại một lời nhắn nhủ: “Thứ 2 tuần sau gọi điện lại nhé!”


Thất thểu rời khỏi Hội Nhà Văn, đầu tôi vẫn loang loáng giọng thơ nhỏ nhẹ của ông: Thứ hai, thứ hai nhé…Một lần nữa, tôi lại thử thách lòng kiên trì của mình bằng cách nhấc máy gọi điện cho ông. Vừa kịp nhắc tên, tôi đã nghe tiếng ông vọng lại thì thào, thì thào như thể ông đang ngồi giữa một hội nghị cực kỳ quan trọng: ”Đang bận họp, lúc khác gọi lại nhé”. Chiều 31.10.2007, tôi gọi lại cho ông lần thứ 7. Những hồi chuông kéo dài cho đến giây cuối cùng khi những tiếng tút tút réo rắt vang lên. Tôi thử lại lần thứ 8. Vẫn những hồi chuông dài rồi tắt ngấm. Ông không nghe máy. Phải chăng vì số điện thoại này đã quá “nhẵn mặt”? Lần thứ 9, thứ 10, thứ 11…đáp lại tôi là những hồi âm: “Thuê bao quý khách vừa gọi hiện không liên lạc được”. Ông đã tắt máy. Đồng thời cũng tắt ngấm trong tôi lòng tha thiết muốn gặp lại ông một lần nữa.
Thà rằng ông từ chối ngay từ đầu là không thể trả lời đã là một nhẽ. Đằng này, ông đối xử với tôi chẳng khác một đứa trẻ con lên năm: Này mày ngoan đi nhé rồi tao sẽ thưởng kẹo cho. Lúc nào nó khóc ông lại lấy kẹo ra nhử nhưng chẳng đời nào cái kẹo kia rơi vào tay nó. Thái độ bỡn cợt, nhập nhằng của ông chẳng làm tôi thất vọng lâu vì suy cho cùng, ông có quyền đồng ý hay không đồng ý cuộc phỏng vấn này. Chỉ có một điều, tôi không hiểu tại sao ông lại có thái độ “trốn tránh” và “đùn đẩy” trách nhiệm như vậy. Một vài năm trở lại đây, tính minh bạch, công khai trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp đã có những thay đổi đáng kể. Từ Bộ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường, Bộ trưởng Bộ Giáo dục đến các Phó Thủ tướng đã đăng đàn đối thoại trực tiếp với dân chúng quan Internet. Đối với các phóng viên, việc đề nghị một cuộc phỏng vấn với quan chức cấp Vụ trở lên đã không quá khó khăn vì mỗi Bộ, Ngành đều có những người phát ngôn chính thức và chính xác về các vấn đề thuộc thẩm quyền. Đến như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng- người lãnh đạo cao nhất của Chính phủ mới đây cũng đã đối thoại trực tuyến với người dân suốt gần 4 giờ đồng hồ không ngơi nghỉ. Khi gặp những câu hỏi hết sức gai góc như: “Vì sao Thủ tướng lại ký chỉ thị nghiêm cấm tư nhân hóa báo chí dưới mọi hình thức? Như vậy có đi ngược lại mục tiêu tự do, dân chủ mà Thủ tướng đang phấn đấu không?” hay “Có người nói, con gái ông lấy chồng Việt Kiều còn 2 con ông đi học ở Mỹ trong khi trước đây ông chiến đấu chống Mỹ?” Thủ tướng đã rất thẳng thắn trả lời nhẹ nhàng, thỏa đáng. Nếu theo dõi truyền thanh truyền hình ở các nước phương Tây , mọi người có thể dễ dàng nhìn thấy là bất kỳ nhà chính trị nào cũng bị “hỏi khó “. Một nhà báo Anh đã từng bình luận: Đó chính là tính cách đặc thù của truyền thông tự do. bởi vì bản chất của nó thay mặt công chúng giám sát những việc làm của chính phủ. Các phóng viên hỏi những gì người dân muốn biết và trách nhiệm và trách nhiệm của các chính khách là trình bày rõ ràng mạch lạc chính  sách của họ. Đến như Tổng Thống George W. Bush, người chịu trận gần như hàng ngày trước truyền thông và đối lập. Ông Bush có lẽ cũng không thích thú gì với những màn công kích của báo chí nhưng sau tám năm, khả năng đối phó của ông đã cải thiện đáng kể. Những việc né tránh câu hỏi "khó" của báo giới đã làm cho các quan chức ứng phó thiếu linh hoạt khi gặp phải tình huống buộc phải trả lời. Khi đó, tờ báo sẽ có những cuộc phỏng vấn dở khóc, dở cười. Hình ảnh của quan chức vô hình chung sẽ méo mó và đáng thất vọng trong con mắt dư luận. Sự cởi mở của các quan chức xét cho cùng chỉ có lợi cho chính cơ quan, ban ngành mà họ đang phụ trách.

Vì thế, cách từ chối phỏng vấn của ông Chủ tịch Hội Nhà văn khiến tôi rất băn khoăn, trăn trở:  Tại ông không thích báo chí hay những điều tôi hỏi đều “tù mù, tế nhị, động chạm, nhạy cảm” khiến ông không thể trả lời? Cách đây vài năm, khi xảy ra nghi án văn chương về bài thơ “Hỏi”, tôi nhớ không một tờ báo nào phỏng vấn được ông về vụ việc này. Ông đã chọn cách im lặng để sự việc chìm xuồng thay vì đối thoại một cách trực tiếp, thẳng thắn với công luận. Đến dự lễ giao lưu với sinh viên khoa Văn trường Đai học sư phạm I , ông còn thốt lên: “Câu chuyện đạo thơ mà người ta dựng lên ấy, biết thanh minh thế nào... Trời ơi! Chỉ có người viết ra nó mới biết được thôi...”. Đâu có phải ông không có cơ hội thanh minh? Nếu có những um xùm, tin đồn, bịa đặt không hay về ông hoặc cơ quan ông đang phụ trách, ông có thể chọn cách nhận lời phỏng vấn mà đối thoại lại công luận những vấn đề chưa sáng tỏ. Ngày nào, ông còn chọn cách im lặng thay cho đối thoại thì ngày ấy những “bóng ma” vẫn tiếp tục treo lơ lửng như những nghi án không thể gột rửa. 


               P.S.



NHẬT TIẾN : Chuyện bé Phượng - Tiểu thuyết - KỲ 3

                                   
                                        (tiếp theo)

                             
                                                  3.

 Bởi vì cái tính của con Dung như thế, nên khi thấy nó gọi đến tên mình, Phượng ngần ngại không muốn lại gần. Nhưng Phượng chưa kịp có ý định gì thì Dung đã xồ đến liến thoắng:
- Phượng, mày có thích đọc chuyện a-la-đanh và cây đèn thần không?
Phượng nói:
- Tao thích nhưng không đọc đâu. Mày lại ăn trộm ở đâu ra phải không?
- Mốc sì, tao chẳng thèm ăn trộm đâu hết, tao bắt được ở trong nhà để đồ.
Vừa nói nó vừa dúi cho Phượng một cuốn sách nhầu nát làm Phượng dẫy nẩy lên, lùi lại. Dung hét:
- Cho ngay vào bụng không lại chết đòn với các bà ấy bây giờ.
Phượng nói:
- Tao không xem. Tao không cần đâu. Mặc kệ mày.
Nhưng con Dung đã tốc ngay áo của Phượng lên, ấn ngay cuốn sách vào cạp quần rồi bỏ chạy. Phượng thất thanh gọi :
- Dung! Dung!....
Nhưng con bé đã biến mất sau những bồn hoa bên cạnh bể nước rồi.
Vào đến lớp học, Phượng phải tuột xuống gậm bàn để cho cuốn sách vào cặp. Con Bích ngồi bên cạnh tò mò hỏi:
- Quyển gì thế ?
- Aladin và cây đèn thần.
Con Bích thích quá, nhón người lên:
- Ở đâu ra thế? Chuyện ấy nghe chị Giang kể, hay phải biết !
Phượng cấu vào đùi nó làm nó sợ hãi ngồi ngay người lên. Cả hai bắt gặp cái nhìn sắc như dao của bà Juliette. Bà ta chỉ ngay cái thước về phía Phượng rồi nói:
- Phượng ! Ta đang giảng đến cái gì đấy ?
Phượng đứng dậy:
- Thưa ma soeur, ma soeur đang nói về cách dùng ba ngôi …..
Bà Juliette hơi tức mình về sự thông minh của nó. Theo ý bà, đáng lẽ nó phải nhận hai thước kẻ về tội lơ đãng. Bây giờ bà quay cái thước về con Bích làm nó rúm lại. Miệng bà nhếch một nụ cười khoái chí. Bà có cảm giác như đã chộp đúng kẻ phạm tội, mà nó không chối cãi được. Bà nói:
 - Bích hãy nhắc lại….
Con Bích rụt rè đứng dậy. Mặt nó xám như chàm đổ. Phượng nom thấy rõ thân hình nhỏ bé của nó run lên bần bật. Có tiếng bà Juliette quát:
- Nhắc đi.
Con Bích run lên:
- Thưa ma soeur, ba ngôi là Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con, và Đức Chúa Thánh Thần….
Cả lớp phá lên cười, còn mặt bà Juliette thì đỏ lên rần rần. Bà ta vội đập cái thước lên mặt bàn rồi săm săm đi xuống. Cả lớp đổ dồn mắt về phía Bích. Nó bị xách tai kéo lên bảng như người ta xách cổ một con gà. Rồi bà Juliette lấy cái thước kẻ khều tay xinh xắn của nó bắt xòe ra đằng trước. Nó nghiến răng chờ. Nhưng lần này bà Juliette lại phát minh ra kiểu phạt mới. Bà ta nghiêm nghị nhìn những khuôn mặt chờ đợi của lũ trẻ trong lớp, một lát bà mới chỉ đứa thứ nhất ngồi ở đầu bàn:
- Nhắc lại cho nó nghe. Hồng!
Hồng đứng dậy:
-Thưa ma soeur, ba ngôi số ít là je, tu, il  như trong verbe Être thì là  je suis, tu es, il est. Còn số nhiều thì là  nous sommes, vous êtes, ils sont.
- Lên đánh cho nó một thước để làm gương.
Con Hồng rụt rè đón lấy cái thước ở tay bà rồi tiến lại phía con Bích. Bà Juliette nói:
- Đứa nào đánh không đau thì đứa đó phải chịu gấp đôi.
Con Hồng nghiến răng, quất xuống lòng bàn tay của con Bích một cách thực mạnh. Người con Bích lạng đi. Mặt nó đỏ rừ, nước mắt của nó ràn rụa. Bà Juliette nhìn Hồng một cách bằng lòng. Bà ta chỉ một đứa  tiếp theo:
- Nhắc lại cho nó nghe Tám !
Con Tám rụt rè đứng lên:
- Thưa ma soeur, je suis, tu es, il est, nous sommes, vous êtes, ils sont.
- Lên đánh cho nó một thước để làm gương .
Con Tám đánh rồi im lặng đi xuống. Trong lớp học bao phủ một bầu không khí nặng nề, ghê gớm. Nhưng giọng bà Juliette vẫn lạnh lùng.
- Nhắc lại cho nó nghe, Hảo !
Hảo đứng dậy:
- Thưa ma soeur, je suis, tu es, il est, nous sommes, vous êtes, ils sont.
- Lên đánh cho nó một thước để làm gương.
Con Bích chịu đựng đến lần thứ sáu thì òa lên khóc. Nó xòe hai bàn tay đỏ rừ ra trước mặt bà Juliette vừa mếu máo vừa xin. Lớp học đang im lặng bỗng trở nên nhốn nháo khiến bà Juliette phải đập cái thước lên bảng hét lớn:
- Silence!....
Trật tự trở lại ngay khi ấy và bà ta nhìn con Bích bằng cặp mắt ghét bỏ. Một lát bà nói:
- Ra quỳ ở trước cửa và cho chịu nốt đến ngày mai !
Giờ tan học bọn trẻ khoái chí hét lên ở ngoài sân sỏi:
- Ba ngôi ! Ba ngôi trong verbe Être là Đức Chúa Cha, đức Chúa Con và đức Chúa Thánh Thần ! Ôi giê-su-ma lạy chúa tôi.
Trong khi ấy Phượng thương xót nắm lấy hai tay của con Bích thủ thỉ:
- Đáng lẽ tao không nên trả lời bà ấy như thế. Tao phải nói đang chia verbe être thì mới phải.

                                    4
 

 Thanh bước vội lên những bậc xi măng ở cửa salle số 4. Tiếng trẻ con oa oa khóc đập vào những tấm kính trong suốt khiến căn phòng trở nên ồn ào, đinh tai nhức óc. Nàng tiến qua những cái nôi bằng gỗ sơn cùng một màu xanh nhạt. Ở trong mỗi chiếc lại có những đứa bé nằm khoa chân múa tay trên những cái tã trắng. Có đứa đã biết lật xấp và đang bò lồm cồm. Có đứa đang níu lấy thành gỗ để thò tay sang với món đồ chơi ở chiếc nôi bên kia; có đứa nằm phơi cái bụng thật lớn che lấp cả cái ngực lép kẹp đang mệt nhọc thở từng nhịp mạnh và ngắn. Trước mặt tất cả chúng nó là những cái dây thòng xuống từ một chiếc xà ngang. Ở đầu mỗi chiếc dây có buộc bình sữa hoặc đã bú cạn, hoặc bỏ giở đang đu đưa trên đầu chúng nó. Một thằng bé thò tay lên với nhưng trượt đi trượt lại mấy lần khiến nó òa lên khóc. Một đứa nằm sát ở nôi bên cạnh đang chập chờn ngủ chợt choàng dậy cũng òa lên khóc theo.
Tất cả căn phòng rộng có chừng năm sáu chục chiếc nôi như thế, tạo thành một bầu không khi ồn ào nhộn nhịp suốt ngày.
Lúc đó, Hương đang thay lót cho một con bé ở cuối phỏng. Dáng điệu của nàng nhanh nhẹn và gọn gàng như một bà mẹ đã nhiều năm kinh nghiệm. Thanh tiến lại gần và nói nhỏ vào tai bạn :
- Quyển truyện chị cho em mượn đã mất rồi!
Hương giật bắn người lên, hốt hoảng:
- Thôi chết …
Thanh tiếp :
- Em để ở dưới gậm tủ trong căn phòng xép chứa đồ cũ. Vừa xuống tìm lại thì không thấy nữa.
Hương khổ sở nói:
- Phải tìm cho ra mới được không thì chết cả lũ. Chị đã hỏi hết mọi người chưa?
Thanh đáp:
- Tất cả bọn mình đều không ai biết hết.
- Cả lũ trẻ nữa chứ ?
Mặt Thanh vụt tươi lên. Nàng hấp tấp :
- Ừ nhỉ, còn lũ trẻ nữa mà em không nghĩ ra. Để em chạy đi hỏi.
Nàng không kịp từ giã bạn và tất tả đi ra. Một thằng bé nhìn theo nàng khóc thét lên, đòi bế. Thanh quay lại nhét vào mồm nó một cái núm vú bằng cao su. Nhưng tay nó đã túm được vạt áo của nàng rồi giữ chặt lấy. Thanh mỉm cười hiền hậu giơ hai tay bồng đứa bé lên. Nó nín bặt và nép đầu vào ngực nàng. Thanh với lấy một cái lúc lắc bằng nhựa đem lắc trước mặt nó. Đứa bé toét miệng ra cười.
Hưong nói:
- Thôi liệu mà đi đi, chị mà ẵm nó thì hết ngày.
Thanh nựng nịu :
- Em chịu khó ngồi xuống đây nhé. Chị đi một lát thôi.
Đứa bé không chịu, bấu cứng lấy người Thanh. Cử chỉ ấy làm Thanh bối rối. Nàng nhìn Hương cầu cứu. Hương thu gọn cái nôi trước mặt mình rồi bước lại. Đứa bé được chuyền qua tay Hương. Nó lại ôm lấy Hương như không muốn rời ra. Đối với tất cả bọn chúng nó thì ai bế cũng được, miễn là khỏi phải nằm hàng nửa ngày trong một cái nôi chật chội.

                                                 (còn nữa)                             

Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2015

BÁC BA PHI ĐI THĂM MỸ - KỲ 140



                       (tiếp theo)



“ Lão già” đành lắc đầu :
“ Vậy thôi vậy…mình giải tán đi, cứ mặc cho lão ngủ đường ngủ chợ cho cảnh sát đi qua nó hốt đi…”
Nói rồi “lão già” leo lên xe ra hiệu cho cô Ut và chị Kelly Thi lên theo. Cô con gái chợt nhớ ra điều gì đó :
“ Mom này…lâu nay bố không đươc đóng bảo hiểm y tế, nhỡ ngủ đường bố cảm lạnh phải đi cấp cứu mẹ phải thanh toán viện phí là chết tiền đó…”
Người vợ cáu kỉnh :
“ Mặc kệ, cứ cho lão nằm đường, có cảm nặng cũng không cho vào bệnh viện, cứ mặc xác lão…”
Cô gái kêu lên :
“ Í…đâu có được…bố mà bị cảm lạnh, ngất xỉu  thì nhất định cảnh sát sẽ đưa bố vào bệnh viện cấp cứu rồi tính sau…”
Người vợ trợn mắt :
“ Tính sau là tính thế nào ?”
Nghe hai mẹ con cãi nhau, lão già chen ngang :
“ Là mai mốt nó tính viện phí bắt gia đình phải trả chứ còn thế nào ?”
Bà vợ nổi cáu :
“ Tôi không trả làm gì được tôi…”
Chị Kelly Thi kêu lên :
“ Ay chết…bà nói vậy đâu có được, bà đang sống ở đất Mỹ, luật pháp đâu ra đấy, có đủ thứ chế tài chứ đâu có xài luật rừng như ở Việt Nam mà bà đòi không trả ? Bà nghe tôi, để ông ấy về đi, không sau này méo mặt vì tiền viện phí đấy.”
Mỗi người nói một câu, dồn bà vợ ông say xỉn vào nỗi lo mất tiền sau này làm bà phải kêu lên :
“ Của nợ…chồng với con gì…của nợ của tội thì đúng hơn…”
Rồi bà thở dài đánh sượt :
“ Thôi được , nhờ bác lôi lão ấy về đi. Để lão chết đường chết chợ tôi mang tiếng là ác…”
“Lão già” nhảy vội xuống xe, vừa dợm chân bước đi, bà vợ đã kéo lại, giao hẹn :
“ Chỉ một ly nhỏ kiểu chén hạt mít thôi nha. Không nghe tôi cứ chén chú chén anh , tôi sẽ đuổi ra khỏi nhà bất chấp mai mốt tôi có phải đóng viện phí cho ông cũng được…”
“Lão già” cười hề hề :
“ Yên trí…bà yên trí…ông ấy không say xỉn nữa đâu.”
Nói rồi “lão già” xuống xe chạy theo hướng người đàn ông vừa bỏ đi. Lão đi dọc theo con đường vắng, hai bên nhà đã đóng cửa kín mít. Làn gió lạnh buốt thổi qua làm lão rùng mình. Lão kéo cao cổ áo ngó ngược ngó xuôi, quái lạ cái thàng cha say xỉn vừa mới đây còn đi lảo đảo như cậy sậy trước gió, giờ biến đâu nhỉ ? “Lão già” đi đến một ngã tư , căng mắt nhìn tứ phía cũng không thấy bóng dáng gã đâu ? Không lẽ gã đã chui xuống đất. Không giống như khu trung tâm, buổi tối xe cộ còn qua lại náo nhiệt, khu ngoại ô này vắng ngắt, giờ này chẳng con ma nào ở ngoài đường để mà lão say có thể nhờ cậy đưa gã đi ngủ đâu đó.
“Lão già” cứ đứng ngẩn giữa ngã tư đường phố vắng vẻ lòng dạ rối bời. Đúng là lão tự dưng mua giây buộc mình. Chuyện bác Ba Phi biến đâu chưa tìm thấy, giờ lại vướng vào chuyện đi tìm cái lão say này không biết lão “bốc hơi” đi đâu. “Lão già” tự trách mình cứ hay bị  lôi cuốn vào những chuyện chẳng dính dáng gì đến mình ? Bác Ba Phi với “thằng say” kia thì có liên quan gì tới lão kia chứ ? Cứ ngó lơ đi cả hai  người thì giờ này lão đâu phải đứng co ro giữa con phố tối vắng vẻ và lạnh lẽo này.
Lẽ ra lúc này “lão” đang trong căn phòng riêng ấm cúng, có lò sưởi ga, nằm trên giường nệm êm, nhấm nháp một ly cognac trước màn hình tivi với bao nhiêu là tin tức, phim ảnh và nhiều show lý thú khác.
Nhưng chẳng lẽ suốt ngày cứ loanh quanh trong ngôi nhà đầy tiện nghi, từ phòng ngủ, sang phòng khách , tới phòng ăn rồi lại về phòng ngủ , suốt ngày cứ ngồi trước màn hình tivi với vi tính đọc đủ các thứ tin tức trên trời dưới biển ? Mặc dầu sang Mỹ cả hai  chục năm nay nhưng lão lười học tiếng Anh, chỉ học đủ để nói chuyện thông thường, còn đọc sách báo thì lão chào thua.
Bởi vậy hàng ngày ngồi trước vi tính lão cũng chhỉ đọc các trang web tiếng Việt cả trong nước lẫn ngoài nước. Và quay qua quay lại chỉ độc một chuyện cộng sản Việt nam bán nước cho Tàu, đàn áp những nhà hoạt động dân chủ và bóc lột hai giai cấp vốn dĩ được coi là hậu thuẫn cho Đảng cộng sản là công nhân và nông dân.Công nhân thì bị bóc lột sưc lao động tàn tệ, nông dân thì bị cướp nhà cướp đất. Quay đi quẩn lại có nhiêu đó thôi. Đọc riết rồi phát khùng , có văng tục chửi bới thì cộng sản Việt Nam vẫn cứ sống nhăn răng. Ngay ở bên Mỹ này nó cũng hiện diện cả ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn, ở Chicago lẫn cả ở Houston. Mòn mỏi chờ đợi mãi mà chẳng thấy cộng sản tan rã, “lão” phát khùng,  đâm chán cả vi tính, internet và mượn chén rượu tiêu sầu.
Cứ thế ngày này qua ngày khác, chẳng phải lo lắng gì, tháng tháng đã có tiền hưu tuy không nhiều nhặn gì nhưng cũng đủ trả các thứ bill, tiền xăng, tiền nhà và đủ các thứ chi tiêu vặt vãnh ,ngoài ra còn thừa ra chút ít để tích cóp hàng năm có thể du lịch một chuyến theo các tour khuyến mãi. Tuy thế không phải là “lão” không có những nỗi lo. Lượng cholesterone trong máy đột ngột tăng cao khiến lão phải giảm cáca món ăn khoải khẩu như tôm, cua, gan ngỗng . Lượng đường trong máu cũng vậy, lâu lâu lại nhảy một phát lên cao chót vót khiến “lão” laị phải lập tức bóp mồm, bóp miệng không ăn uống “thả ga” cho thật khoái khẩu nữa.Rồi áp huyết ngày đo hai lần sớm tối, bình thường vẫn ở dưới ngưỡng ch phép, nhưng lâu lâu quá chén, nó nhảy lên đột ngột lào lão sợ muốn đứng tim, thề sẽ không uống tới một giọt rượu. Nhưng rồi cũng chỉ được vài ba ngày, thấy huyết áp “êm êm” lão lại lôi chai rượu trong tủ lạnh ra nhấm nháp.
Như vậy đó, cuộc đời “lão” cứ bình bình như “tấm vải thôi dệt đều” theo cách nói của nhà văn Thạch Lam ngày xưa. Vậy nhưng chẳng lẽ hết ngày dài lại đêm thâu , ròng rã tháng năm chỉ có nhiêu đó thôi ? Bởi vậy lâu lâu cũng phải có chuyện gì đó cho “trật đường rầy” . Chuyện đi tìm bác Ba Phi và “lão say xỉn” này là một cú trật đường rầy dù có mất tý chút công sức nhưng cũng mang lại cái thú tạm thoát được nỗi buồn “một ngày như mọi ngày”.
“Lão già” nghĩ bụng vậy và lại thấy hào hứng đi lùng sục ở các gốc cây, các hốc cửa của những ngôi nhà đống im ỉm chìm trong bóng tối. Và rồi “lão già” giật minh khi trức mắt lão dưới chân một bức tường cao chót vót, lù lù một đống gì đó đen sì. “Lão già” chạy vội tới và nhận ra một người đang nằm co quắp. Đúng là thàng cha say xỉn rồi. “Lão già” chạy tới đập vào người kiua, gọi tới tấp :
“ Dậy…dậy…sao lại nằm đây ?”
Thằng cha kia vẫn im lìm, mắt nhắm nghiền, co quắp như một con tôm luộc mặc cho “lão già” lay gọi, gã vẫn im limg, hai mắt nhắm nghiền.”Lão già” hoảng hồn. Thôi chết, có khi thằng cha say xỉn này gặp luồng gió độc rồi ngã lăn ra ở đây không biết chừng. “Lão già” thử xốc nách gã dậy, nhưng vô phương, gã phải nặng tới 70 kí làm sao mà cõng nổi ? “lão già” đành bỏ mặc gã nằm đó rồi chạy vội về chỗ xe hoiư đang đậu, la lớn :
“ Cấp cứu…gọi cấp cứu đi…thằng cha đó ngất xỉu ở đàng kia rồi…”
Bà vợ vội vàng :
“  Khoan gọi cấp cứu. Lão đó nằm lăn lóc, bất tỉnh như vậy là sự thường. Cứ để lão nằm chán, hết say xỉn lại bò dậy ngay ấy mà…”

                    (còn tiếp)






Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2015

YÊU THỜI ĐỒ ĐỂU - KỲ 163




                                    (tiếp theo)




Kỳ này rõ ràng là trong nhà có ma, vậy không nhờ thằng đó còn nhờ ai ? Nghĩ chán rồi mới bảnh mắt ông đã đập bà dậy làm bà gắt :
“ Ông lại nằm mơ thấy ma nữa sao mà thúc tôi dậy sớm quá vậy ?”
Ong Sáu Thượng nhìn bộ mặt hầm hầm của vợ thấy ngán ngẩm . Ong định buông trôi hết mọi chuyện, sáng nay vào cơ quan ông sẽ vẽ ra kế hoạch đi thăm các tỉnh miền trung, mặc xác mọi chuyện ở nhà. Nào chuyện thằng Hàm, nào chuyện ma hiện hình , mặc xác tất cả cho bà lo, ông chuồn đi cho rảnh nợ.
Tuy nhiên ông vừa dự định vậy, bà đã kéo tay ông :
“ Ong nghĩ cái gì mà đực mặt ra vậy  ? Đêm qua thằng Hàm có ngủ được  không ?”
Ong bực mình :
“ Nó đánh một giấc thẳng cẳng từ tối đến sáng , chỉ có tôi là suốt đêm không chợp mắt được  chút nào thôi …”
“ Làm sao không ngủ được ?”
Ong than vãn :
“ Trời ơi… không hiểu sao cứ chợp mắt là tôi lại thấy thằng thành uỷ viên  hiện ra đòi đền mạng cho con gái và cả  hắn nữa.”
Bà Sáu Thượng dịu giọng :
“ Vậy ra ông thấy ma hiện hồn thật à ?”
Ong trợn mắt :
“ Thật chứ sao không ? Tôi hỏi bà cái chuyện bà cho tay chân đầu độc lão thành uỷ, ngay đến tôi bà có cho biết đâu ? Đúng không ?”
Bà vợ ông Sáu Thượng hỏi dồn :
“ Thật à ? Nó nói cả chuyện ấy à ? Làm sao nó biết nhỉ ? Không lẽ có ma thật à ?”
“ Đến thế mà bà vẫn chưa tin hả ? “
Bà Sáu lặng đi suy nghĩ chốc lát rồi lắc đầu :
“ Không…tôi không tin…trong chuyện này chắc có bí ẩn gì đây ? Không biết có phải thằng tay sai của tôi nó trống miệng đến tai ông không ?”
Ong Sáu Thượng lắc đầu thất vọng, ông thật không ngờ bà vợ ông lại cố chấp đến thế. Bộ bà tưởng cái mớ lý thuyết duy vật người ta cố nhồi vào đầu bà có giá trị lắm à ? Bà cứ khăng khăng không chịu tin có ma, ngược lại bà còn trách ông :
“ Ong là trùm cộng sản mà lại  mê tín dị đoan kể cũng lạ ”
Ong Sáu Thượng cười nhạt :
“ Vậy bà tưởng chỉ có mình tôi là mê tín thôi hả ? Bà cứ để ý ngày rằm, mồng một coi…toàn xe con đời mới sáng choang chở vợ con các ông lớn đi chùa, đi đền rầm rập kia kìa. Dân nó biết cả đấy nhưng vì mình bịt miệng nên nó không dám hó hé , nhưng trong bụng nó chửi mục mả kia kìa….”
Bà xem ra khó mà thuyết phục được ông , đành buông xuôi :
“ Thôi tôi cũng đành theo ông. Vậy ông định giải quyết sao ?”
“ Bà còn nhớ thằng Bảy Dự không ?’
Bà Sáu Thượng có vẻ suy nghĩ rồi vỗ trán :
“ Phải cái thằng tự phong là “Giám đốc Công ty tư vấn phong thuỷ trong xây dựng nhà “ không ?”
Ong Sáu gật gật :
“ Đúng thằng đó đấy…”
“ Vậy thì tôi còn lạ gì …nó là thằng vua bịp moi tiền vợ con mấy ông lớn. Bà nào bà nấy tin nó sái cổ. Nghe nói nó thông thạo cả tử vi, bói dịch, coi tướng mạo rồi còn biết cả địa lý, phong thuỷ nữa kìa…”
“Thằng này nó không bịp đâu, nó giỏi thật đấy…tôi định mời nó tới lập đàn tràng yểm bùa trừ ma tại cái phòng dưới  nhà ấy…”
Bà Sáu Thượng giật mình :
“ Ay chớ… thuê nó tới làm chuyện đó nó nắm được bí mật của mình sau nó tống tiền thì nguy. Thôi thôi ông đừng có dại…”
Ong Sáu Thượng gân cổ cãi :
“ Đời nào tôi lộ chuyện cho nó biết. Mình cứ nói không hiểu sao cái phòng đó có ma hiện hình rồi cứ để mặc nó làm gì thì làm …”
“ Ong ngây thơ lắm… nó lập đàn tràng trừ ma cho ông tất nhiên phải hỏi phòng này có ai chết oan không ? Có ai tự tử không ? Ma hiện hình ra sao ? Con trai hay con gái ? Già hay trẻ ? Hình dong ra sao ? Vậy làm sao ông dấu được  nó ?”
“ Thì tôi bịa ra một câu chuyện vu vơ nào đó, bảo ma hiện lên là một ông già chẳng hạn…”
Bà Sáu Thượng bật cười :
“ Ong dối thày như vậy thì pháp thuật sao mà linh . Và rồi nhỡ thằng Bảy Dự nó có tài gọi hồn ma lên thật , hồn ma nó tố cáo thằng Hàm bóp cổ con gái nó ra sao, ông chạy tội cho nó như thế nào thì ông tính sao ?”
Ong Sáu Thượng sợ toát mồ hôi :
“ ừ nhỉ, bà nói tôi mới nghĩ ra, mình cho thằng Bảy Dự nó gọi được hồn bố con thằng thành uỷ lên để nó tố cáo mình thì chết, đúng là gậy ông đập lưng ông…”
Bà Sáu Thượng cười cười :
“ Tôi không tin có chuyện đó đâu. Cả hai đứa đều đã chết mục xương ra rồi, hồn vía đâu mà hiện lên tố cáo mình nữa…”
Ong Sáu Thượng không dám cãi vợ nhưng trong bụng vẫn bán tín bán nghi.  Sáng hôm sau từ cơ quan về, ông nói lái xe ghé trụ sở Công ty của Bảy  Dự. Theo đúng địa chỉ, xe dừng trước một ngôi nhà đồ sộ , mặt tiền  phố lớn, trương bảng hiệu chữ to :
Công ty trách nhiệm hữu hạn
   Tư vấn phong thuỷ  Đài Bắc
      Pháp sư Trần văn Dự .
Ai chà chà…như thế này thì loạn thật . Nhà nước ta ngày nay cho phép kinh doanh cả chuyện coi đất coi cát, hướng bếp hướng nhà . Vậy  còn đâu chủ nghĩa duy vật biện chứng cái xương sống của chủ nghĩa Mác Lênin, kim chỉ nam của Đảng ta nữa kìa.
Ong Sáu Thượng vừa bước vào Công ty, một cô váy ngắn cũn , đeo biển xanh ghi rõ chức vụ “ Thư ký Giám đốc” đã chạy ra . Ong vừa xưng tên, cô đã vội vàng mời ông vào phòng khách chờ pháp sư đang dở chút việc quan trọng, hẹn xong việc sẽ tiếp ngay.
Ong sáu Thượng tò mò đưa mắt nhìn quanh phòng. Trên tường chính giữa treo một bức tranh vẽ một ông già tàu râu ria xồm xoàm nom có vẻ như một đạo sĩ, xung quanh treo toàn hình vẽ các quẻ trong kinh dịch nom rối cả mắt, rồi thì những câu  thần chú được viết theo kiểu thư pháp dù đã trợn cả mắt lên đọc ông Sáu cũng chẳng hiểu nó là chữ gì.
Ong Sáu còn đang bỡ ngỡ chẳng hiểu sao mới có thời gian ngắn  mà thằng cha Bảy Dự này đã nhảlên Giám đốc một Công ty có văn phòng sang trọng vậy rồi  , ĐM cái thời này, đâu đâu cũng thấy chó nhẩy bàn độc, cô thư ký đã quay trở lại, theo sau là một người mặc comlê, thắt cavát, nom sang trọng như ngài đại sứ. Trời đất ơi, tưởng ai, thằng Bảy Dự, vốn sống lén lút bằng nghề tử vi, bói toán, chẳng hiểu sao nó phất nhanh vây ? Nhìn thấy ông Sáu Thượng, gã Bảy Dự vội phóng tới, nắm lấy cả hai tay, lắc rối  rít :
“ Trời đất ơi…tưởng ai…hoá ra anh Sáu…sao anh cần gì không điện thoại cho thằng em để em tới tận nơi, anh quá bộ xuống đây làm gì cho khổ…”
Ong Sáu Thượng chờ gã qua được cơn “tình cảm thắm thiết ” mới cất giọng :
“ Hôm nay rảnh…tớ ghé thăm đâu có sao ?”
Gã bảy Dự thừa biết ông Sáu đang có việc phải nhờ cậy đến gã nên mới quá bộ tới đây, nếu không thì đừng hòng, bởi lẽ người như ông Sáu vốn là trụ cột trong công tác văn hoá tư tưởng mà lại tới giao du với một cha phong thuỷ, pháp sư gọi tuột ra là bói toán, tử vi, tướng mạo thì còn ra cái thể thống gì ?                                                                    
Nếu vậy phải khôn khéo cho ông Sáu đỡ ngượng khi phải hạ cố tìm tới gã, Bảy Dự nghĩ bụng vậy rồi khom cả người xuống, dắt tay ông Sáu Thượng vào phòng Giám đốc. Khác hẳn phòng của người đứng đầu các Công ty kinh doanh khác, phòng Giám đốc của Bảy Dự lại giống như  điện thờ của mấy bà đồng vẫn dụ khị  con công đệ tử tới sì sụp khấn vái.
Ong Sáu Thượng ngỡ ngàng thấy mọi thứ đồ đạc trong phòng đều sơn son thếp vàng, từ khung tranh vẽ một ông thầy tàu mắt trợn ngược, râu ria xồm xoàm bày trên trang thờ cho tới bộ xa lông mời khách ngồi và những hoành phi, câu đối treo ngang dọc khắp phòng. Trên tường ngay đối diện chỗ khách ngồi  treo một tấm hình bát quái khổng lồ to bằng cả chiếc chiếu . Bốn góc nhà dựng bốn bức tượng nom dữ dằn như tượng ông Ac. Và bất ngờ hơn quả là bên hông trang thờ có treo một cái lồng bên trong có một chim nhỏ như chim sâu ủ rũ đậu bên cạnh cóng sứ, im lìm như đã chết, chỉ còn lại cái xác nhồi bông. Cách bài trí trong phòng rõ ràng nhằm “khủng bố” tinh thần tất cả những ai đã bước chân vào đây còn mang theo chút ngờ vực, báng bổ uy tín của thầy Bảy Dự.
Sau khi để cho ông Sáu Thượng ngắm nghía hết căn phòng, Bảy Dự mới cất giọng :
“ Hồi này anh Sáu lo lắng  nhiều việc của trung ương lắm hay sao mà thần sắc hơi bị kém ?”
Ong Sáu Thượng giật nảy mình, vội hỏi :
“ Trung ương thì bao giờ chẳng lắm việc , nhưng đã có các đồng chí bên Ban Bí Thư  giải quyết hết rồi nên có gì đáng phải lo lắm đâu…”
Gã Bảy Dự gật đầu :
“ Đúng đúng…thoạt nom cũng đủ biết anh Sáu xuống sắc không phải vì lo việc Đảng việc Chính phủ mà là lo việc riêng !”
Ong Sáu Thượng lại giật mình :
“ Việc riêng ? Việc riêng có cái gì đâu mà phải lo ?”
Gã Ký Quèn lắc đầu, bất ngờ chụp lấy bàn tay ông Sáu xoè ra giơ lên coi :
“ Anh Sáu đừng dấu em…trong lòng anh Sáu đang canh cánh một nỗi lo gia đình….”
Ong Sáu Thượng trố mắt :
“ Nỗi lo gia đình ? Mày thử nói rõ tao coi nỗi lo gia đình đó là cái gì ?”
Gã Bảy Dự giơ tay lên bấm bấm rồi cất gịng thao thao :
“ Anh Sáu đang chịu chi phối bởi luật tích tiệm…như người xưa có nói tôi mà thí vua, con mà giết cha đâu phải phát lộ  một  sớm một chiều mà do tích tụ lại dần dần đến đỉnh điểm thì mới nổ ra…Nỗi lo của anh Sáu cũng vậy…nó do tích tiệm  nhiều thứ lần lần từ trước tới nay…”
Ong Sáu Thượng tái mặt :
“ Mày có thể nói rõ hơn nỗi lo của tao cụ thể là gì được không ?”
Gã Bảy Dự nghiêm mặt :
“ Nếu em chỉ nói suông chắc chắn anh Sáu sẽ không tin đâu. Nhưng nếu em  đưa ra những bằng cớ thuyết phục thì anh Sáu không được cãi em nhé…”
Ong Sáu Thượng giật nảy người :
“ Bằng cớ xác thực ? Lấy đâu ra ? Mà nó là bằng cớ gì ?”
Gã Bảy Dự hốt nhiên  trầm hẳn mặt xuống, miệng lầm rầm kiểu như niệm chú rồi bước tới trang thờ thắp nén nhang vái lia lịa. Ong Sáu Thượng còn đang ngơ ngác ngó nhìn , gã đã vẫy tay :
“ Anh Sáu lại đây…       “
Ong Sáu Thượng bước lại gần trang thờ, trong lòng hoang mang chẳng hiểu thằng cha “phù thuỷ” này giở ra phép thuật gì đây. Gã Bảy Dự đốt một nén nhang đưa cho ông Sáu :
“ Anh Sáu cắm nén nhang này lên trang thờ rồi vái ba vái…”
Ong Sáu Thượng làm theo lời Bảy Dự như một cái máy. Chờ ông Sáu vái xong, gã lấy trên trang thờ xuống một cái hộp gỗ chạm trổ tinh vi trao cho ông :
“ Anh mở ra đi !”
Tim ông Sáu Thượng đập thình thịch. Cái quái gì trong cái hộp này vậy ? Ngộ nhỡ nó là một vật gì đó của lão thành uỷ viên hoặc của con gái lão thì thật chắc phải bỏ của chạy lấy người. Ong Sáu Thượng còn đang ngập ngừng, gã Bảy Dự đã giục :
“  Mở ra đi…anh cứ mở ra đi…”
Ong Sáu Thượng run bắn cả người nhưng cũng liều mở nắp hộp. Tưởng gì, bên trong có một cỗ bài giống y như cỗ bài tổ tôm, chỉ khác mỗi quân bài là một tờ bìa mỏng gấp lại mà thành. Gã Bảy Dự  nghiêm giọng :
“ Đây là những quân bài bản mệnh của mọi người. Anh Sáu cũng là một quân trong cỗ bài này. Bây giờ anh tráo bài đi, mình sẽ tìm ra quân bài bản mệnh của anh…”
Ong Sáu Thượng ngoan ngoãn theo lời gã Bảy Dự, cầm cả bộ bài tráo đi tráo lại nhiều lần. Sau cùng gã Bẩy Dự  cầm lại cỗ bài, kêu to :
“ Thôi được rồi…thôi được rồi…”
Lão Bảy Dự bước tới với xuống cái lồng chim đặt lên trang thờ. Ong Sáu Thượng tròn mắt nhìn con chim nhỏ nhảy nhót, bụng thắc mắc không hiểu thằng cha này giở ra cái trò gì. Đột nhiên gã Bảy Dự thắp ba cây nhang rồi cầm trong tay múa vòng vèo, nhẩy cẫng lên, miệng la hét đọc thần chú. Lát sau gã cắm cả ba cây nhang lên lồng chim rồi bảo ông Sáu Thượng :
“ Anh xoè hai bàn tay ra…”
  Gã đặt cỗ bài lên lòng bàn tay ông Sáu Thượng, gí sát lại cửa lồng chim rồi quát lên :
“ Anh nhìn đây…”
Vừa nói dứt lời gã đã mở cửa lồng, con chim lúc lắc cái đầu rồi nhảy ra ngoài  bay tới cỗ bài, mổ ra một cây . Ga Bảy Dự cầm lấy quân bài, thưởng cho con chim một hạt thóc. Nó mổ trên tay gã rất thành thạo rồi bay trở lại trong lồng. Gã Bảy Dự đóng cửa lồng và lại treo lên tường vào chỗ cũ.  Ong Sáu Thượng cử ngẩn ngơ nhìn cái trò chim mổ quân bài kỳ lạ đó. Thật đúng là một tiếc mục xiếc. Chắc hẳn gã phải dầy công huấn luyện cho con chim.
Gã Bảy Dự cầm quân bài giơ lên :
“ Quân bài bản mệnh của anh đây. Anh mở ra coi đi…”
Ong Sáu Thượng cầm lấy quân bài hay đúng hơn là tờ bìa mỏng gấp lại làm tư. Ong vừa định mở nó ra, gã Bảy Dự vội ngăn lại :
“ Khoan đã… em phải nói trước với anh Sáu bên trong quân bài này sẽ có  hình vẽ anh Sáu và những gì anh Sáu đang trải qua.”
Ong Sáu Thượng tỏ vẻ không tin :
“ Vẽ tao à ? Lại vẽ cả những gì tao  đang trải qua à ? Có thật không đấy ?”  
Gã Bảy Dự  cười bí hiểm :
“ Vậy anh mở ra coi đi…”
Ong Sáu Thượng run run tay mở quân bài. Ong nhìn thấy hình vẽ một người nằm trên giường và  một người đang đứng ở đầu giường nhìn lom lom vào mặt ông ta. Ong Sáu Thượng tái mặt :
“ Như thế này là thế nào. Người nằm là ai ? Người đứng là ai ?”
Gã Bảy Dự nhếch miệng cười :
“ Người nằm là anh Sáu đang ngủ đó. Còn người đứng là người trong mơ…”
Ong Sáu Thượng hỏi giật giọng :
“ Người trong  mơ ? Người đó là ai vậy ?”
Gã Bảy Dự lắc đầu , mặt trở nên rất trầm trọng  :
“ Thiên cơ bất khả lậu, việc này em không thể cho anh Sáu biết được, tổn thọ cho em lắm….”
Ong Sáu Thượng thúc giục mấy gã vẫn trơ trơ. Sau cùng ông nằn nì :
“ Thôi mà…cậu  cứ cho tớ biết rồi muốn gì tớ cũng chiều…”
Lúc đó gã Bảy Dự mới ra vẻ lấm lét , thì thào vào tai ông Sáu Thượng :
“ Chắc là một hồn ma đang thụ  án ở dưới âm phủ  nhưng vì là oan hồn nên chưa giải thoát được, hắn nhất quyết nấn ná lại đòi mạng … “

                                        (còn tiếp)




Thứ Năm, 1 tháng 1, 2015

NHẬT TIẾN : Chuyện bé Phượng - Tiểu thuyết - KỲ 2

                                      
 
                                      (tiếp theo)

                                2.


Tiếng còi tập họp ré lên làm Phượng vùng chạy, bỗng nó nghe thấy  có đứa gọi tên nó ở phía nhà ngang. Nó vội ngừng lại. Nó nom thấy con Dung đang giơ tay lên vẫy. Phượng ngần ngại nửa muốn chạy, nửa muốn ở lại. Đối với nó, con Dung là đứa đáng nghi ngờ nhất. Đầu óc Dung lúc nào cũng sẵn sàng nẩy ra một ý kiến tinh nghịch tai tác. Hình như nó sinh ra để làm khổ người khác, và nó lấy làm sung sướng được thấy người ta bị hại như thế. Dung lớn hơn Phượng một tuổi, tức là mười một. Tóc nó mượt óng ả, da trắng ngần, cặp môi đỏ và mỏng quẹt. Bọn chị Quỳnh, chị Giang thường bảo tính nó gian giảo vì nó hay nhìn trộm rồi ngó xuống đất. So với lũ trẻ, Dung là đứa khôn ngoan nhất. Nó biết nịnh các soeur khi cần nịnh, biết nhường nhịn lũ trẻ khi cần thiết phải nhường, nếu làm lợi và vui cho nó thì dù có phải tàn nhẫn để đánh đổi lấy, nó cũng không từ. Cũng vì thế, nó là đứa đầu tiên của cả bọn trong các cuộc cãi vã, những vụ tranh giành, hoặc trong cả những tai nạn sứt gối, trầy da vẫn thường xảy ra cơm bữa giữa bầy trẻ mồ côi sàn sàn tuổi.
  Trong tất cả mọi ngõ ngách của viện cô nhi, không chỗ nào là con Dung không biết đến. Theo ý nó, chỉ có phần trên cái trán của các bà soeur là bí hiểm nhất. Một lần nó nói :
- Không biết các bà soeur có tóc hay không có tóc?
Con Hằng nói:
- Tao chắc là trọc lông lốc bình vôi.
- Sao mày biết?
- Bởi vì trọc tếu cho  nên các bà mới phải đội mũ.
Con Nguyệt đáp:
- Tao thì tao cho rằng các bà ấy cũng có tóc như mình. Nhưng các bà ấy bôi thuốc cho nó tịt lại.
- Eo ơi! Nếu thế thì đầu của các ma soeur chắc là đầy những sẹo là sẹo.
 Con Dung nói:
- Chúng mày việc gì phải cãi nhau lôi thôi. Tao sẽ có cách tìm ra điều ấy.
  Rồi không biết nó “tìm” bằng cách nào mà một hôm nó tuyên bố:
- Tao nom thấy rồi ! Tóc của các bà ấy ngắn như bờm ngựa và đỏ lòm như tóc dạ xoa. Có như thế mới phải đội mũ suốt ngày chứ ?
Cả bọn nhao nhao lên bàn tán. Chúng nó bắt con Dung kể lại những điều mà Dung đã chứng kiến. Lập tức con Dung bịa ngay một câu chuyện tràng giang đại hải, kể từ lúc các bà Phước đi tu thì tóc đen thế nào, đến lúc « cấm phòng » uống thuốc tiên để được lên thiên đàng thế nào, rồi nó kết luận:
- Thuốc tiên của các bà ấy đã làm cho mái tóc ngắn đi và đỏ ra như tóc quỷ. Đó là tóc của những người nhà giời. Những kẻ sống ở trên thiên đàng.
Con Bích lè lưỡi:
- Thế thì tao thèm vào. Tao không thích lên thiên đàng.
Con Rô - giét cãi:
- Người ta có thể lên thiên đàng được mà không cần uống thuốc. Ma soeur đã nói thế.
  Con Dung gân cổ lên nói:
- Kẻ đó là mày chăng ?
  Bích rích lên cười rồi nói thật nhanh:
-Không phải là tao mà chắc cũng không phải những đứa nói khoác như mày.
Nói xong Bích vùng lên chạy làm mặt con Dung đỏ rần lên vì tức. Nó cảm thấy như mình vừa bị cắn trộm. Hai bàn tay nó nắm lại, hàm răng rít lên, chân nó dậm thình thịch lên mặt cát, rồi nó hét về phía con Bích đang chạy:
- Đồ chết tiệt, quỷ sứ rút lưỡi mày ra !
Tuy vậy những lời nói của Dung cũng khiến cho nhiều đứa khác tin tưởng. Ngày hôm sau chúng nó nhìn lên đầu các bà Soeur bằng những con mắt lấm lét. Chúng nó tưởng tượng ở đằng sau lớp mấn trắng đội trên vầng trán trắng ngời ấy là cả một mớ râu ngô đỏ lòm, xoắn tít lại. Câu chuyện đó một hôm có đứa tâng công đi mách lại với bà Hạnh. Lập tức sau giờ học, con Dung bị lôi lên phòng giấy trước những bộ mặt giận dữ của các bà.
Bà Hạnh nói:
- Đồ dơ dáy! Bay nói chuyện gì mà dơ dáy vậy ?           
Con Dung liến thoắng :
- Thưa ma soeur, con có nói chuyện gì đâu, ma soeur đừng nghe chúng nó. Chúng nó là những đứa đặt điều.
 Bà Nhân nói:
- Đừng chối nữa . Mẹ biết hết cả rồi.
 Con Dung hỏi lại:
- Thưa mẹ, mẹ biết cái gì cơ ?
Bà Nhân quát bằng giọng giận dữ:
- Còn chuyện gì. Câu chuyện…. chuyện cái tóc ấy.
 Dung sờ lên tóc ngơ ngác:
- Thưa mẹ tóc con làm sao?
Bà Hạnh không thể chịu hơn được nữa. Bà xô lại phía nó và tát nó một cái thật mạnh. Con Dung òa lên khóc. Tiếng khóc của nó nghe còn đau đớn hơn là sự đau đớn mà nó phải chịu. Bà Cécile nhăn mặt nhìn vào cái miệng gang ra của nó, bà nom thấy cả cái đầu thực quản và chiếc lưỡi gà ở trong đó rung rung. Rồi bà quay đi sau khi nhún vai một cái để biểu lộ một sự ngạc nhiên rõ rệt:
- Sao lại có thể có đứa như thế được!
Nhưng bà phước Hạnh thì nổi giận thực sự. Bà hét lên một tiếng còn to hơn tiếng hét của con Dung:
- Im ! Im mồm!
Con Dung hốt hoảng nín bặt ngay tức khắc. Nó có cảm tưởng như mình đã đụng phải một đối thủ đáng gờm. Quả nhiên bà Hạnh mặt xám ngắt lại, bà nhìn vào mặt nó bằng đôi mắt đỏ ngầu khiến nó sợ hãi. Nó vội khoanh tay liến láu:
- Thưa mẹ, con xin mẹ tha lỗi. Con hứa! Con chừa !
Nghe nó nói, bà Hòa khinh bỉ bỏ ngoắt đi. Bà Cécile nhún vai thêm một cái nữa. Còn bà Phước Nhân thì lọm khọm như vẫn còn chưa hết cái vẻ ngẩn ngơ sau tiếng hét bất thình lình của bà Hạnh. Riêng bà Phước Hạnh thì xách vai áo của nó lên, lôi ra khỏi phòng:
- Đồ dơ dáy ! Còn như thế nữa thì ta sẽ cho biết thế nào là kỷ luật.
Nói rồi bà đẩy nó xuống sân sỏi và quay quắt trở về. Mặt con Dung tươi ngay lên. Nó không ngờ hình phạt giáng xuống nó lại nhẹ nhàng hơn là nó tưởng .
Nó sung sướng co chân chực chạy thì bà Félicité đã hiện ra ở cánh cửa bên kia và vẫy nó lên thềm. Mặt nó vụt cau lại. Đối với sự dịu dàng của bà ta, Dung rất coi thường. Nó biểu lộ sự coi thường bằng cái nhìn hỗn xược. Và nó đứng nguyên một chỗ khiến bà Félicité phải nhẹ nhàng đi xuống. Bà nhìn nó bằng cặp mắt bồ câu dịu dàng như tỏ ra hòa hoãn với nó. Bà nói:
- Nào,  Dung kể cho ma soeur nghe những gì đã xảy ra nào?
Con Dung đáp:
- Không có gì xảy ra hết cả.
- Ồ ! Như vậy không đúng. Bởi vì các soeur không làm điều gì mà không suy nghĩ cả, có phải thế không?
- Thưa ma soeur phải!
- Vậy trước khi làm điều gì con có suy nghĩ  như các ma soeur không?
- Thưa ma soeur nghĩ cái gì cơ?
- Nghĩ rằng mình làm trái hay phải, có hại đến quyền lợi của người khác không?
- Thưa ma soeur, thế thì con có nghĩ.
- Nghĩ rồi sao con còn làm những điều khiến phiền lòng các soeur. Con phải….
 Dung tru tréo lên:
- Con không làm gì hết, chúng nó là đồ quỷ sứ. Chúa sẽ trừng phạt tội ăn gian nói dối của chúng nó. Ai mà tin chúng nó thì cũng có tội như chúng nó vậy.
Bà Félicité đứng sững người lại. Bà ngơ ngác nhìn con bé ranh con đã dám thốt ra những lời quá ư hỗn sược như vậy. Khuôn mặt dịu dàng của bà thoáng lộ một sự thất vọng sâu xa. Bà khẽ lắc đầu và giơ tay ra hiệu cho nó trở về phòng. Con Dung không cảm ơn và cũng không chào một tiếng. Nó vùng lên chạy. Nó muốn dùng mấy ngón tay của nó cấu thịt đứa nào đi hớt lẻo về chuyện những bộ tóc râu ngô của các bà Phước.


                        (còn tiếp)



PHẠM THẮNG VŨ - Con sóng dữ - KỲ 43





                                              (tiếp theo)

Phần vách barrack của ghe chúng tôi ở vẫn còn trống toác hoác và nhớ lời dặn của người đàn ông cho mượn cái gầu, Đỉnh nói ba cô gái nên cất quần áo ướt vừa giặt để chờ ngày mai sẽ phơi sau. Riêng tôi vì bộ quần áo vừa giặt đã cũ mèm, không sợ mất nên cứ phơi nó ở trên các hàng cọc gỗ sát vách. Ba cô gái ngồi chụm lại với nhau vừa nói chuyện vừa chải tóc cho mau khô. Trong barrack dưới ánh đèn lập lòe khi tỏ khi mờ, chỗ này người đang sắp xếp lại chỗ ở, chỗ kia người soạn đồ đạc cá nhân cho gọn gàng hoặc đã nằm im như đang ngủ. Mùi đất thoang thoảng chung với tiếng vo ve của muỗi rừng bay kiếm ăn bên tai.

Barrack chúng tôi bắt đầu có khách ghé thăm, họ là những người đã nhập trại từ trước nay nghe nói có hai ghe mới đến thì vội vào, tìm xem coi có gặp thân nhân hay người quen. Họ đi lẻ từng người hoặc từng cặp với nhau, dõi mắt nhìn lom lom vào mặt chúng tôi trong ánh đèn leo lét, mờ vàng. Đang ngồi bó gối trên tấm chiếu chưa biết tối nay cả đám năm người chúng tôi sẽ ngủ nghê ra sao thì tôi nghe có tiếng hỏi: " Vũ! Phải là Vũ không hả? ". Ngẩng đầu, tôi nhìn lên hai người một nam một nữ đang đứng trước mặt, thầm nghĩ họ là ai mà biết tên mình. Tôi chưa kịp hỏi thì tiếng đàn ông nói: " Đúng là Vũ rồi. Anh là Khảm nè Vũ! ". Tôi liền kéo cái đèn lại gần chỗ hai người đang đứng, ba cô gái cũng ngừng chải tóc và nhìn họ. Anh Khảm! Tôi nhận ra rồi. Nhà anh ở gần tiệm chạp phô nhỏ trong cùng khu phố bên quê nhà. Nhưng, tôi nhớ anh đã vượt biên từ năm ngoái và sống ở bên Malaysia mà. Sao bây giờ anh lại có mặt ở đây? Không lẽ anh cũng bị y như ghe chúng tôi? Tôi liền mời hai người họ ngồi xuống chiếu, cô Đào lật đật mang nước trà nóng ra mời. Anh Khảm cười với cả bọn chúng tôi và kể:

- Hồi chiều khi biết tin có hai ghe mới đến trại, anh hỏi thằng bạn làm trong phòng hành chính thì nó dò hồ sơ, nói có vài người thuộc quận Tân Bình mà không rõ ở phường nào. Do vậy, khi vừa cơm nước xong thì anh chị vội tìm đến, xem coi có gặp người quen nào trong khu phố không. Ghé qua mấy cái barrack của chiếc ghe trước nhưng không gặp friend nào cả, vào đây thời may anh gặp Vũ. Mừng quá đi!

" Anh-Chị "! Khi vừa từ Campuchia trở về, tôi vẫn còn gặp vợ và hai đứa con anh Khảm, vậy thì người phụ nữ trẻ cạnh bên anh ở đây là ai? Sẽ hỏi anh sau vậy, chắc chắn! Vừa lúc thì Đỉnh đi tắm về tới, anh Khảm mời cả nhóm chúng tôi đi ra quán uống nước tán chuyện cho vui. Lời mời của anh thật đúng lúc vì ba cô gái mới vừa ban nãy đã bàn nhau khi Đỉnh tắm về, cả bọn sẽ đi một vòng xem coi phố xá Galang cho biết. Chúng tôi liền gom các túi xách để gọn chính giữa một tấm chiếu và phủ kín lên bằng các tấm khác rồi kéo nhau đi theo anh Khảm cùng người phụ nữ.

Ba cô gái bám sát người phụ nữ hỏi chuyện huyên thuyên để tôi, Đỉnh và anh Khảm lẽo đẽo theo sau lưng họ. Lấy tay chỉ người phụ nữ đó, tôi hỏi nhỏ anh Khảm: " Chị nầy là ai vậy hả anh? ". Anh Khảm mỉm cười, khẽ khàng: " Xe của anh đó Vũ ". Tôi thắc mắc: " Xe là nghĩa gì, em không hiểu? ". Anh Khảm giải thích: " Ở Galang, người ta gọi bồ bịch với nhau là Xe mấy em à. Đẩy xe nghĩa là có bồ, có girlfriend hoặc boyfriend đó ".

Khi còn ở trong barrack đèn vàng lù mù mờ mịt, giờ theo lời mời của anh Khảm đến quán thì chúng tôi mới thấy phố xá Galang thật nhộn nhịp. Tiệm tạp hóa, quán ăn, quán nước và cả nhà ở nằm sát bên nhau dọc theo cạnh đường có đèn chiếu sáng chưng. Thêm vào đó, vài xe bán bánh mì, nước mía hoặc sữa đậu nành nóng lạnh... làm khu phố thêm sinh động. Quán cà phê nào đám chúng tôi đi qua cũng đông nghẹt khách vừa uống nước vừa xem TV khá lớn được treo ở hộc trên tường. Anh Khảm dẫn chúng tôi vào một quán cà phê có những bàn phía ngoài sân và chọn một cái bàn rộng nằm cạnh một cây dù nylon lớn phòng mưa. Anh Khảm lấy thuốc lá ra mời tôi và Đỉnh rồi nói khi thấy một cô hầu quán đến bên bàn.

- Ba người mình uống cà phê sữa đá nha hai em? Còn Phượng và ba cô gái thích thứ gì thì cứ gọi tự nhiên nghe.

Bẩy, Đào, Yến và người phụ nữ đi cùng anh Khảm đều gọi trái Vải đóng hộp. Nhìn bên trong và ngoài sân quán, khách đông nghẹt ngồi ken chật với nhau ở các bàn, tôi nghĩ ít nhất cũng phải trên dưới 200 người. Phía bên ngoài hàng rào của quán cà phê, người đi kẻ lại đông đúc trên đường hoặc dừng chân trò chuyện với nhau. Đèn điện sáng chưng trong các tiệm ăn phía bên kia đường soi rõ khá đông thực khách đang dùng bữa tối với nhau. Một hình ảnh giống như của khu phố buôn bán náo nhiệt cuối năm gần Tết bên quê nhà. Không biết đảo tị nạn Galang rộng cỡ nào mà trước mắt tôi lại có quá đông người Việt. Nghe tôi giới thiệu tên của Đỉnh và của ba cô gái xong, anh Khảm hỏi:

- Nhập trại Galang, rồi thấy barrack Cao Ủy cho mình ở đâu dè lại tệ như vậy hả mấy em? Hàng tiếp liệu họ phát cho được những thứ gì rồi, kể anh nghe xem?

Tôi kể tên các món hàng mới nhận được lúc xẩm tối, anh Khảm nghe qua từng thứ rồi bảo: " Thế thì còn thiếu một cái chăn len. Có lúc thì thiếu chiếu hoặc thiếu khăn, thiếu nồi... Vậy là hàng tiếp liệu chưa về kịp rồi, còn phải chờ vài ngày mới có đấy ". Hàng tiếp liệu về không kịp thì số người nhập trại Galang phải rất đông. Anh Khảm lại tiếp: " Hiện giờ, Galang có khoảng 15.000 người Việt tị nạn và sẽ còn thuyền nhân tiếp tục đổ đến nữa. Chưa bao giờ trại Galang lại đông người như vậy, cứ nhìn các quán cà phê ở đây thì biết. Không còn chỗ chứa, Cao Ủy phải cấp tốc làm các loại barrack lợp lá cho người mới đến trại như chỗ mấy em ở đó ".

Các thức uống được cô hầu bàn mang ra, anh Khảm và chị Phượng mời đám chúng tôi dùng. Cà phê sữa đá đã làm tôi sảng khoái tỉnh cả người. Nó quá ngon vì đã bao nhiêu ngày rồi nay chúng tôi mới có miếng nước đá để uống. Đào, Bẩy, Yến và Đỉnh cùng mỉm cười nhìn nhau sau ngụm nước mát lạnh. Anh Khảm hỏi thăm về gia đình tôi cùng các người quen khác trong khu phố bên quê nhà. Anh Khảm lớn hơn tôi 6 tuổi, gốc lính không quân và có vợ tên Hoa cũng người sống chung trong khu phố. Tôi còn nhớ vào cuối năm 1974, cả khu phố đã kéo nhau ra xem đám cưới của anh Khảm khi họ hàng hai bên đi rồng rắn từ nhà trai qua nhà gái rồi đến nhà thờ để làm lễ hôn phối. Ai cũng khen đôi vợ chồng anh thật đẹp. Anh Khảm tính tình hiền lành, rất thương vợ con và lúc nào cũng sống hoà thuận với chòm xóm-láng giềng. Tôi chưa thấy vợ chồng anh gây gỗ, to tiếng với nhau. Có người ở trong khu phố còn lấy gia đình anh Khảm để làm gương mẫu cho con cái trong nhà học theo. Khi đám Việt Cộng chiếm được miền Nam VNCH thì anh Khảm bị tù cải tạo hơn 4 trời vì chuyện đi tu nghiệp một khoá 8 tháng ở Mỹ lúc trước. Khi ra tù, anh Khảm phải làm đủ nghề từ đạp xích lô, bỏ mối nước đá, sửa xe đạp... phụ với chị Hoa buôn bán lặt vặt ở chợ để sống. Vậy mà cũng không yên với Hai Lùn, gã công an trong khu vực. Hai Lùn vẫn nói dân buôn, người bỏ mối hàng như vợ chồng anh Khảm... thuộc thành phần ăn bám xã hội. Hai Lùn là con trai một gia đình cán bộ mới chuyển đến sống ở khu phố trong thời gian nhiều gia đình phải bỏ nhà để đi vùng kinh tế mới. Không lâu sau đó thì Hai Lùn được chính quyền địa phương chọn để làm công an khu vực. Trình độ văn hóa thấp và bản thân còn đang học bổ túc nên Hai Lùn luôn có thành kiến với những người học hành đàng hoàng và đặc biệt, y rất ghét người từng du học nước ngoài bất kể về một chuyên môn gì. Người chế độ miền Nam VNCH còn sống trong khu phố đã phải khổ và điêu đứng vì y. Lấy cớ là thăm hỏi bà con cùng đi sâu đi sát quần chúng, Hai Lùn thường bất ngờ đi vào nhà những người nằm trong sổ đen. Y làm ra vẻ quan tâm hỏi han nạn nhân nhưng thực ra là để dò xét, theo dõi.

Chị Phượng bảo xong chầu nước thì cả bọn sẽ đi quán hủ tiếu nhưng anh Khảm góp ý nên ăn bánh mì cho gọn. Thấy năm đứa chúng tôi đồng ý, chị Phượng kéo Yến đi ra ngoài rồi sau đó mang về các ổ bánh mì thịt còn ấm. Nghe Đỉnh thắc mắc về chủ quán cà phê, quán ăn ở Galang là người bản xứ hay người Việt thì anh Khảm cho biết: " Galang nó như một cái phường ở bên Việt Nam. Dân tứ xứ người vượt biên mình được Cao Ủy tập trung về hết nơi đây. Người có tiền nhiều thì mở quán bán cà phê, tiệm may quần áo hoặc quán ăn. Vốn nhỏ thì bán bánh mì, gánh nước, làm công... để sống lây lất qua ngày chờ đi định cư ".

Chị Phượng rủ ba cô gái đi lòng vòng cho biết phố xá, để anh Khảm cùng tôi với Đỉnh ngồi lại quán. Anh Khảm lúc này mới hỏi: " Vũ thấy chị Hoa và hai con anh vẫn khoẻ chứ? Có nghe bà con chòm xóm nói gì về anh không vậy? ". Thực tình, tôi chẳng nghe bà con chòm xóm nào trong khu phố nói gì về anh cả. Hỏi vậy, chắc anh Khảm muốn thăm dò chuyện đang sống chung với chị Phượng ở đây? Thấy tôi lắc đầu, anh Khảm bộc bạch:

- Anh và Phượng quen nhau từ lúc sống bên Malaysia rồi khi chuyển đến trại Galang, cả hai càng thân hơn và... bồ bịch với nhau từ lúc nào cũng chẳng nhớ.

- Chị ấy có biết anh còn gia đình bên quê nhà không? Tôi hỏi.

- Biết chứ em! Anh đâu dấu diếm gì. Những lần anh viết cho Hoa hoặc nhận được thư gửi sang thì Phượng cũng được đọc. Không biết cứ sống với Phượng mãi như thế nầy rồi anh sẽ phải làm gì? Cũng khổ tâm lắm Vũ ơi!

Hỏi thêm về vợ và hai người con anh nhưng thấy tôi chẳng biết nhiều hơn thì anh Khảm im lặng, ngồi dựa lưng vào thành ghế tư lự. Đỉnh nháy mắt nhìn tôi rồi nó bỏ vào bên trong quán kiếm chỗ để xem TV đang chiếu một đoạn phim cao bồi miền viễn Tây-Hoa Kỳ có tài tử Clint Eastwood đóng. Tôi và anh Khảm ngồi nói chuyện quê nhà được độ gần một tiếng đồng hồ thì chị Phượng cùng ba cô gái quay về mà trên tay mỗi người lỉnh kỉnh vài thứ đồ gồm xô đựng nước, bình, ly và các món lặt vặt cá nhân. Yến cho biết: " Chị Phượng cho tụi em mượn tiền để mua đó anh Vũ ". Thấy Đỉnh trở lại bàn, anh Khảm gọi quán tính tiền rồi rủ cả bọn ghé vào barrack nơi anh sống cho biết chỗ. Theo chân anh Khảm-chị Phượng, đám chúng tôi băng qua cổng lớn của một bức tường bằng tôn ngăn cách với phía ngoài đường nhựa rồi đi vòng vèo, xuyên thẳng ngang ruột các barrack nằm liền sát bên nhau. " Đây là zone 3, nơi ở của những người đến từ đầu năm 1989 ngay sau ngày Cao Ủy tuyên bố đóng cửa trại ", anh Khảm kể. Khác hẳn với các barrack lợp lá thô sơ tạm bợ như ở zone 4 chỗ ban Đại diện vừa sắp xếp cho chúng tôi nhập trại hồi lúc chiều, những barrack ở trong zone 3 đều cất bằng gỗ ván có mái lợp tôn vững chắc nhưng có điều phải nằm trong một hàng rào ngăn cách với bên ngoài. Có lẽ lúc đầu, Cao Ủy nghĩ chỉ còn ngần đấy người Việt vượt biên đến trại nên mới thiết lập barrack kiểu biệt lập như vậy. Đèn neon treo đều trên các cột điện ở các lối đi nên trông khu vực zone 3 thật sáng sủa, sạch sẽ. Barrack nào cũng vậy, đều một kiểu có sập gỗ ở hai bên để làm giường cho người ở và một lối đi tráng cement ngay chính giữa căn nhà. Chỗ ở của anh Khảm-chị Phượng ở gần cuối barrack nơi đã được họ quây kín bằng các tấm plastic mầu thành một căn phòng nho nhỏ khá kín đáo. Lấy tay vén các tấm plastic về một phía cho gọn, anh Khảm-chị Phượng mời đám chúng tôi ngồi lên phần ván gỗ, giang sơn riêng của hai người họ.

- Đây là nhà của anh chị. Lúc đầu, khi Cao Ủy cho tụi anh vào sống trong barrack nầy thì ai cũng thấy nó quá tệ so với các bararck ở trong Galang 2. Bây giờ, so sánh với barrack của người mới đến như các em thì mới thấy trại tị nạn càng ngày càng tệ hơn. Anh Khảm nói.


                             (còn nữa)