Tổng số lượt xem trang

Thứ Tư, 6 tháng 8, 2014

Nhà văn ĐỖ QUYÊN : Chuyện cái mũi khoan và bom dị bào -




                                 LỜI PHI LỘ

Truyện liên hoàn ba truyện mang tên Chuyện dài Trung-Việt gồm:
Truyện 2: Chuyện cái mũi khoan và bom dị bào (dưới đây).
Truyện 3: Chuyện “chiến tranh văn học” bất thành (đã khởi bút).

Chuyện dài Trung-Việt là sáng tác hư cấu; mong được bạn đọc đồng cảm với những trùng hợp ngoài ý đồ nghệ thuật. Một số câu chữ, ý tưởng được phóng tác từ các thành ngữ, cách nói quen thuộc; từ nhiều tác giả (như Khổng Tử, Nguyễn Du, Nguyễn Thái Học, Samuel Huntington, Lê Văn Cương, Carl Thayer, Lê Ngọc Thống, Thái Văn Cầu, Hồ Sĩ Quý, Robert Kaplan, v.v…) cùng nhiều tin tức, bài vở liên quan. Người viết cáo lỗi nếu gây hiểu nhầm nào đó. Chân thành cảm ơn.

Tác phẩm này xin được:
Tưởng niệm các vị Tiên tổ, Anh hùng Liệt nữ đã vị quốc vong thân vì một đất nước Hình Chữ S;
Hiếu kính song thân quá cố - Bác sĩ Đỗ Ngọc Thuận & Y sĩ Lê Thị Thành;
Thân quý tặng Giáo sư Lê Băng Sương cùng các Thầy, đồng nghiệp & bạn học cũ.

Mời độc giả đến với Truyện 2:

CHUYỆN CÁI MŨI KHOAN VÀ BOM DỊ BÀO



“Không thành công, không thành văn; cũng thành thể loại.”




HỒI 1

Thả nhanh ly cà phê xuống bàn, blogger Tám Miệt Vườn, chủ gia trang Nữ Nước Nam vội cho vào bản thảo đoạn tin nóng lấy từ nhật báo mạng Toàn Cầu:

“Vào giờ tý hôm nay, lúc 12 giờ 35 phút sang ngày 15 tháng Tám năm 3014, tại giàn khoan HY189 của Cộng hòa Dân chủ Trung đã xảy ra tai họa vô tiền khoáng hậu: gần như toàn thể nhân lực đã bị tiêu diệt tại trận và do đó toàn bộ hệ thống giàn khoan đã tê liệt sau khi bị ngừng hoạt động bất thường; với các tàu hộ tống, tàu bảo vệ gần đó tình trạng về nhân lực là tương tự nhưng về thiết bị, phương tiện thì nặng hơn do các hậu quả kỹ thuật. Chỉ một số rất ít ỏi người sống sót mà đa phần là những kẻ không có trách nhiệm cần thiết.
HY189 vừa hoàn thành tốt đẹp nhiệm vụ khoan thăm dò dầu khí kể từ ngày 2 tháng Năm, và đang sẵn sàng dịch chuyển về một dự án mới vào chính ngọ hôm nay.

Hung tin xảy ra trong vùng biển Tây Sa, chỉ sau hơn 10 phút xung đột vũ trang giữa hai tàu chiến Trung-Việt mà tàu hải quân Đại Việt đã khai hỏa đầu tiên. Đây là quần đảo đang thuộc về chủ quyền và trong sự cai quản của nước Cộng hòa Dân chủ Trung. Nguyên nhân cùng thiệt hại về nhân lực và phương tiện trong “Thảm họa HY189” đang được khẩn trương làm rõ. Kể từ giờ phút này, bổn báo sẽ cập nhật liên tục tình hình chiến sự.

Lệnh chiến đấu khẩn cấp đã được thực thi trong lực lượng lục quân và không quân duyên hải, cùng toàn thể hải quân Quân Giải phóng!

Dân tộc Trung là Con Trời. Là chủ nhân bất khả tranh biện về lãnh hải cùng nguồn tài nguyên năng lượng, thủy sản tại biển Đông Hải, biển Nam Hải; trong đó ba quần đảo Tây Sa, Nam Sa và Gạc Ma như những khúc ruột ngàn dặm từ đại lục gửi ra đại dương.

Này, bọn tiểu bá da vàng phương Nam, phương Đông Bắc hay lũ bạch diện siêu cường Tây bán cầu! Quân đội Trung quyết không dung thứ bất cứ kẻ thù nào cả gan xâm phạm, tấn công khai chiến trên vùng biển bao quanh quốc gia Trung. Đấy, nơi chốn thiêng liêng mà Trời và bách thần đã trao cho bách tính Trung từ thời Tiền Hán cho đến tận giờ phút này hôm nay - 12 giờ 55 phút ngày 15 tháng Tám năm 3014.

Phương tiện và vũ khí Trung đâu thể như vỏ sò đụn cát!
Máu thịt người Trung không phải là nước sông bọt biển!”

Điện thoại, điện thư, chát, tin nhắn… liên hồi. Chủ nhà choáng váng, bỏ mặc hết. Thư phòng chật hẹp như muốn nổ tung. Mảng nước cà phê chưa kịp tan sữa loang trên mặt bàn trở nên bơ vơ vô cùng tận. Nó vô duyên thì đúng hơn.

“Chuyện gì đây? Thật hay giả cũng phải lưu bản gốc! Sau, bán đấu giá chơi. He he…”  

Blogger Tám Miệt Vườn tủm tỉm cười, thầm nghĩ…

“Không lẽ thời báo chính tông của cái quốc gia “trỗi dậy hòa bình” thêm một lần bị tin tặc chọc phá? Quả này chắc phải tầm “tặc Mẽo” chứ chẳng chơi! Vũ khí mới chi mà lạ? Nước Nam mình đâu có nổi; làm cái tô cái chén còn không xong, méo trong méo ngoài…”

Rồi nụ cười không kịp lan ra khóe miệng khi mà tới tai blogger Tám Miệt Vườn tiếng nhạc hiệu đổ dồn của điện thoại gọi từ người chồng là sĩ quan tham mưu Cảnh sát biển Đại Việt.


HỒI 2

Mười lăm năm sau…

Nữ Nước Nam đã là tuần báo với số phát hành hàng đầu toàn quốc cùng ấn bản ngoại ngữ khác nhau tại một số nước châu Âu, Á.
Cũng là thời toàn cầu ngây ngất theo các thăng hoa kinh tế như của hiếm từ trên trời rơi xuống. Câu nói “Tiền ở ngoài đường” tới lúc thành hiện thực. Nơi nơi chốn chốn, từ dân đen cho đến quan chức chẳng mấy ai còn để tâm về “Trận chiến Hoàng Sa/Tây Sa - Giàn khoan 189” đầy bí hiểm và kỳ khu từng kéo theo cuộc đồng khởi của ba khu tự trị Đài Loan, Tân Cương và Tây Tạng khiến băng phái Tận Cần Bính vô minh tiếm quyền Trung Nam Hải đã phải sụp đổ như tòa nhà cát. Đất nước Trung, bằng hệ thống cai quản mới, đã nhanh chóng khôi phục quan hệ hữu hảo với Đại Việt và các lân quốc biển Đông cùng nhiều cường quốc trên thế giới. Rồi cũng phải vậy thôi, sơn thủy tương liên thiên hạ.

Ngày 15 tháng Tám năm 3029, chủ bút Nữ Nước Nam xuất hiện như khách quý tại một sự kiện lớn bất ngờ.
Đó là lễ tuyên dương công trạng, phong danh hiệu Anh hùng Đại Việt cho nữ đại tá Vương Thúy Kiều (nguyên đại úy tình báo đặc nhiệm, mật danh HH24), và tuyên dương công trạng, truy phong danh hiệu Anh hùng-Liệt sĩ Đại Việt cho 3 Đặc công trứng (mật danh ĐCT1, ĐCT2 và ĐCT5) và danh hiệu Liệt sĩ Đại Việt cho Đặc công trứng ĐCT3.

“Trận hải chiến Hoàng Sa - HD189 oanh liệt đã đi vào lịch sử quân sự thế giới. Đó là khoảng thời gian chỉ trong 50 tiếng đồng hồ, bắt đầu đẫm máu tức tưởi bằng cuộc khơi mào tấn công của pháo hạm Trung và kết thúc ngoạn mục với lá cờ Tổ quốc Đại Việt tung bay trên tháp trung tâm Hoàng Sa.”

Sau lời khai mạc, người hướng dẫn chương trình đã giới thiệu các vị tân khách. Những lời về chủ bút đương nhiệm Nữ Nước Nam làm không ít khán giả thả trí nhớ về blogger Tám Miệt Vườn một thuở:

“Ngay khi giàn khoan HD189 vừa lâm sự, cùng với việc đăng tải truyện “Chuyện tổ quốc moving bất thành”, trang mạng Nữ Nước Nam đã nổi bật như một trong các diễn đàn hữu ích nhất cho công chúng Việt-Trung và quốc tế về diễn biến của 50 tiếng đồng hồ huyền thoại và nhiều tháng ngày sau đó...”

Diễn văn của vị Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Đại Việt khẳng định:
“15 năm qua, với những điều chính quyền và quân đội Trung từng thừa nhận, dư luận thế giới và nước Trung càng thấy rõ: Tập đoàn bành trướng bá quyền Trung thời ấy đã đơn phương hạ đặt trái phép một giàn khoan khổng lồ tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Đại Việt; cho tàu hải giám, hải cảnh dùng vòi rồng cùng các chiến đấu cơ, phi cơ trực thăng thường xuyên hung tợn đe dọa và tấn công tàu Đại Việt dẫn đến các hậu quả: nhấn chìm, đâm húc gây hư hỏng hàng chục tàu chấp pháp, giám sát thủy sản, gây thương tích cho cảnh sát biển, kiểm ngư thực thi pháp luật và bắt đi các ngư dân hoạt động bình thường trong vùng biển thuộc chủ quyền chính đáng của mình mà có tới 73 người Việt là nạn nhân do các hành vi nói trên!

Giàn khoan HD189 là một cơ sở bán quân sự di động đa chức năng. Nó được liên tục bảo vệ và phục vụ bằng hàng chục tốp máy bay quân sự hoạt động trên khu vực, cùng 10 tàu chiến tên lửa tấn công nhanh và hơn 70 tàu hải giám, hải cảnh, ngư chính, vận tải mà các tàu dân sự đều là tàu quân sự hoán cải. Trong không ít ngày con số hạm đội tàu tại đó lên tới khoảng 130.
Đại Việt đã đấu tranh khẳng định cương vực và bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán bằng ngoại giao cùng mọi biện pháp hòa bình và pháp lý.
Đại Việt đã không leo thang đáp trả mọi gây hấn nguy hiểm từ phía Trung.
Đại Việt đã duy trì tàu chiến hải quân ở đất liền; đã hết sức nỗ lực, hết sức nhẫn nại, hết sức kiềm chế để tránh đụng độ trong khu giàn khoan như là bẫy xung đột vũ trang Việt-Trung.

Giàn khoan HD189 thực chất chỉ là con tốt đen trên bàn cờ mưu toan độc chiếm trọn vẹn biển Đông. Suốt ba tháng rưỡi, tập đoàn kiêu binh - quân phiệt - tân phát xít Trung Nam Hải thời ấy đã dùng sách lược “ngoại giao cây gậy nhỏ” hay còn gọi là “gậy Như Ý khai thông kinh tế biển”.
Tức là bằng lực lượng giả danh phi quân sự trong mục đích chiến lược quân sự để đòi chủ quyền biển Đông theo bản đồ “Đường lưỡi bò 13 đoạn”, xâm phạm và đe dọa bằng vũ lực lãnh hải và an ninh hàng hải (thậm chí cả hàng không) của cộng đồng quốc tế mà trước tiên là 12 quốc gia biển lân cận, trong đó đất nước bị lâm nguy hơn cả là Đại Việt.

Họ chọn Đại Việt làm bàn đạp hòng bành trướng toàn bộ biển Đông - một khu vực kinh tế trọng yếu hàng đầu thế giới mang danh “Vạc dầu châu Á” với trữ lượng dầu xếp thứ ba sau Arab Saudi và Venezuela; một tụ điểm giao lưu địa lý và chính trị cần phải được dùng luật pháp quốc tế gìn giữ hòa bình với trách nhiệm nặng nề mà lịch sử nhân loại giao phó.
Họ chọn Đại Việt làm nền tảng cho một hình thức xung đột tại biển Đông khác hẳn với những gì từng xảy ra trong xung đột quốc tế vốn không thể loại bỏ khỏi đời sống loài người.
Họ chọn Đại Việt làm bài học về kiểm soát lãnh thổ bằng can thiệp quân sự trực tiếp với biển Đông là trường hợp ngoại lệ.
Họ chọn Đại Việt làm ngòi nổ biến biển Đông thành kho thuốc súng kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan vùng dậy với “Giấc mộng sư tử Trung” ngõ hầu đặt dấu chấm kết thúc của Thái Bình dương yên tĩnh!

Cuối cùng, như tội ác tối hậu, pháo hạm hải quân Trung đã khai chiến hèn hạ khi vô cớ bắn đắm tàu cảnh sát biển CSB1988 của Đại Việt khiến hết thảy 64 sĩ quan, thủy thủ cùng các ký giả nước ngoài quả cảm hy sinh, đứng đầu là cố thiếu tá tàu trưởng Anh hùng-Liệt sĩ Ngụy Văn Thành và cố thượng úy tàu phó Anh hùng-Liệt sĩ Trần Văn Phượng, như từng được vinh danh ngay sau đó.

Sóng biển bị đè nén tới lúc phải thăng thiên! Chiến công hiển hách và vô song của chiến dịch cản phá HD189 đã dự phần quyết định thu hồi nhanh gọn toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trở về nước mẹ Đại Việt, sau 20 năm bị quân Trung tàn độc và phi pháp chiếm đóng bằng vũ lực.” 
Đêm trước buổi lễ, chủ bút Nữ Nước Nam thêm một lần đọc tập hồ sơ riêng mà tiền bối để lại:

“9 giờ tối hôm 14 tháng Tám năm 3014, trang mạng Toàn Cầu của Trung bỗng tung ra xã luận vẻ khác thường với nhan đề “Phòng ngự tốt nhất là tiến công; chủ quyền trên nòng pháo”, và kết thúc ở câu: “Kẻ đang quấy nhiễu quá trình thăm dò tài nguyên của siêu cường Trung tại biển Nam Hải phải hiểu rằng, thời điểm này trên địa cầu không chỉ Ukraine và Iraq là đỏ lửa!”
Báo mạng Đuốc Việt của ta lập tức có bài mang nhan đề dài hơn: “Xâm lăng không tiếng súng, nhưng họ đang dùng hết mọi binh lực để khai triển chiến dịch”, và kết bằng câu ngắn ơi là ngắn mà cũng với dấu chấm than hẳn hoi: “Đuốc Việt sẽ rực tỏ!” Ha ha ha…”


HỒI 3

Mùa giáng sinh năm 3011. Phi trường Tân Sơn Nhất.

Thúy MC rầu rĩ báo tin cho cha đã hoãn chuyến đến Đài Bắc sang đầu năm mới. Từ Kanada cô tới Sài Thành trước và sẽ ở lại lâu hơn dự định.

“Ba yêu! Các buổi Đệ Nhị Tái Ngộ của “Tôn Ngộ Không” thay đổi tá lả hà. Lại là lần đầu con gái bé bỏng của ba hội ngộ cùng chàng và làm chung show tại cả ba thành phố lớn của nước mình. Xin lỗi ba và dì lần này, con phải thất hứa và không kịp báo sớm hơn.”

Cô con gái nhõng nhẽo theo điệu nửa Nam nửa Bắc pha chút giọng mũi Pa-ri-siêng mà chưa đấng nam nhi nào có thể rắn lòng, kể cả cha ruột. Nghệ danh thân mật của cô là Tý MC - nickname cha đặt cho từ những buổi bé Tý líu lo “làm em-xi phỏng vấn Tướng quân” bằng tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Pháp, tiếng Trung và tất nhiên cả tiếng Việt.
Nhưng lần này thì không. Một ông già đang xuống bên kia dốc đời đâu còn đùa cợt được. Đây là lần lâm bệnh hy hữu, trong cuộc sống bồng bềnh của chàng trai Hà Thành tài hoa bị thời cuộc xô dạt trở thành người hùng xứ Mặt trời mọc rồi phải chọn đảo Đài Loan làm bến cuối ẩn dật.

“Okay, cưng của ba… Miễn sao con đến được vài tiếng bên giường bệnh…”

“Kìa ba, chớ nghĩ xa. Dì nói ba vẫn “sung” lắm cơ đấy! Hi hi… Ba ráng ít bữa nữa. Qua dịch cúm. Rồi Tướng quân sẽ lại chạy bộ trên bờ biển, và kể tiếp cho Tý MC nghe về trận không-thủy chiến thiêu thân Trân Châu Đảo. Con chưa thể đoán ra đoạn cuối lá thư Di Ngôn Xuất Kích “chàng” gửi thiếu nữ Hàng Đào năm xưa?”

“Tý, đừng nhắc lại mà ba con buồn!”

Người vợ kế của bệnh nhân nói vọng vào điện thoại. Thường lệ, bà ghen tức với vợ trước của chồng, và ghen ghét đứa con gái độc nhất của họ đang là Người dẫn chương trình kiêm Giám đốc Công ty ca nhạc nổi tiếng mang tên Hongcouver By Night.
Bên kia, những tiếng yếu ớt, nghẹn ngào. Bên này càng lúc càng nặng lời.

“Thôi tùy! Cô Thúy ạ: bay đến chào ba cô lần chót; hay bám theo thằng “khỉ gió” đó. Không phải việc của dì. Mà dì nói cho cô hay. Vợ cả thằng chả uýnh ghen thế nào, khắp đại lục ai không biết. Dì rành quá mà! Chưa kể đám bồ nhí lượn quanh. Cô đâu phải là đối thủ? Coi chừng Thúy MC làm hổ danh Thần Phong của cha già … xệ cánh!”

“Bà im ngay đi để tôi còn sống với! Con tôi có bản lĩnh. Tôi tin… con tôi… Tý… Thúy… Ba cần… nói riêng con… một việc… của họ… Vương…”

Non giờ đồng hồ sau, giữa căn phòng hồi sức tồi tàn vắng lặng, vị cựu chuẩn tướng lực lượng đặc nhiệm Thần Phong của không quân Nhật hoàng đã thở hắt ra. Đầu ngoẹo về hướng gió.
Từng cơn gió lộng vỗ bên ngoài ô cửa kính. Trời Đài Bắc đen kịt, riêng mạn biển phương Nam ánh lên vệt sáng.


HỒI 4

Khách sạn Ngọc Viễn Đông tọa lạc tại trung tâm đô thị cổ Sài Thành.
Tiền sảnh có một bàn ngồi nhìn ngắm đường vào. Tại đó đang là Lưu Tiểu Tinh Đan, nghệ sĩ nức danh hoàn cầu với vai Tôn Ngộ Không. Trẻ trung, linh động trong bộ đồng phục đỏ pha vạch nâu. Áo quần giầy mũ. Trừ gọng kính đắt tiền, đen tuyền.
Ngồi xa vài bàn, hai vệ sĩ riêng từng theo ông chủ đến Đại Việt năm trước. Một nữ một nam, trò chuyện tiếng Trung-Việt hòa trộn.

Kém 3 phút đầy 2 giờ chiều. Chiếc xe hạng sang màu xám bạc mang cờ hiệu Hongcouver By Night tiến vào vòng cung. Nó dừng nhẹ nhàng. Duyên dáng và đài các, Thúy MC rời xe nghiêng mình đáp lễ tiếp tân viên mở cửa xe. Cô quay lại trìu mến, vẫy nhẹ những ngón tay hồng chào người nữ phụ tá. Khi cánh cửa xe đóng sập, Thúy MC đang bước lên bậc tam cấp.
Bỗng từ nơi người phụ tá tiếng điện thoại vang hối hả. Phụ tá vội ngoái nhìn Thúy MC, ra hiệu tài xế đi nhanh rồi từ tốn đàm thoại. Nói đoạn cô ta run rẩy, khóc rấm rứt…

Tới bậc cuối, trước cửa lớn, Thúy MC bỗng trượt chân trên chiếc giày cao gót sành điệu và ngã hơi chúi xuống. Một sơ suất chưa từng có trong hàng chục năm với loại nghề không được phép sơ suất. Lại ở một võ sư Hầu quyền. Linh tính phụ tử đã cao hơn tất cả, cho dù con người ta có nơi có lúc muốn né tránh.
Những vạt nắng nhè nhẹ chạy theo đại lộ và kéo dài hết thảm cỏ quanh khách sạn cao vút trên màu vàng tươi. Nắng muốn dừng lâu hơn nơi các hoa văn hình hoa sen lượn theo thân hình uyển chuyển mà săn lẳn chìm nổi trong bộ xường xám màu máu đỏ rực.

Nam nhân chần chừ: ngồi ở bàn đợi hay ra cửa đón? Khoảnh khắc, cũng đủ để người được đón vào giữa tiền sảnh rồi. Thế là, cuối cùng, trai tài gái sắc tay trong tay sau nhiều lần lỗi hẹn.

“Thúy… đẹp quá! Đẹp hơn nhiều trên màn ảnh và trong tưởng tượng của tôi…”

“Ôi… Cảm ơn! Còn Lưu ca ca thì nhanh nhẩu hơn Tôn Hầu Tử, bô trai hơn Mỹ Hầu Vương, và….”

“Xin người đẹp khoan nói tiếp! Ngộ Không chỉ biết múa may, láu lỉnh giữa thiên hạ, chứ sao đối đáp nổi một MC thượng thặng...”

Nữ nhân im lặng qua một cái liếc dao cau.

“Mà Thúy nói tiếng Trung điêu luyện, hơn cả dân Trung chúng tôi! Những lần điện thoại tôi đã bất ngờ rồi…”

Khi Lưu Tiểu Tinh Đan kéo ghế mời Thúy MC vào bàn, hai cặp mắt gần lại lần nữa. Gắn chặt, tin cậy.

Một chiêu đãi viên mang nước cam cho Thúy MC và tiếp thêm cà phê cho Lưu Tiểu Tinh Đan. Người đó nhận từ Thúy MC lời cảm ơn mà ngầm nói: “Tôi okay. Dù sao mọi việc vẫn tốt đẹp, như đã định.” Duy nhất, Chiêu đãi viên nhận ra vẻ tự tin đã trở về với Thúy MC. Ngoài Lưu Tiểu Tinh Đan, người này cũng hồi hộp theo dõi cú trượt chân của nữ nhân xường xám. Và tất nhiên, đã không bỏ qua ánh mắt của đấng nam nhi trung niên nhiều sinh lực bị thôi miên theo cặp chân thẳng tắp, theo mảng đùi trắng như ngó sen ẩn hiện trong gió cùng vạt áo xẻ sâu táo bạo, theo bộ ngực như còn tân rất kiêu sa mà vẫn muốn vươn khỏi nếp lụa mong manh.

Tới lúc ấy, Thúy MC cảm nhận chính xác được sự ra đi của cha. Qua cái nhìn nước mắt chảy vào trong của Chiêu đãi viên - một sĩ quan nội gián tại Ngọc Viễn Đông.
Hai tiếng sau, trở về khách sạn của mình người con gái không còn cha mẹ đã được khóc. Theo từng tiếng nấc, từng mẩu đời diễn ra liên tiếp trong đêm định mệnh lại hiện về…

… Tiệc sinh nhật Tý MC 13 tuổi, trùng ngày giỗ mẹ… Cựu chuẩn tướng Thần Phong giới thiệu người tình mới… Cũng là buổi đầu đời, thiếu nữ nhận ra luồng máu mẹ cha hiện sinh từ thân thể non tơ… Trong toilet, mẹ kế tương lai phát hiện sự bối rối của thiếu nữ và đã can thiệp… Cô con gái gây chuyện với cha và bỏ đi... Tý MC mơn mởn trong một hầm rượu cạnh hộp đêm Hongcouver và xém bị thất thân bởi đám giang hồ… Nữ điệp viên nhị trùng Kanada-Việt giải thoát rồi bảo lãnh cô bé vào làng tình báo Đại Việt… Không ai xa lạ, đó chính là người em gái từng mất tích của cựu chuẩn tướng Thần Phong mà Tý MC chưa hề nghe nói…

Mà thôi, độc giả khỏi để tâm vào thước phim cũ, mời trở lại với dòng tình bén lửa.

Kể từ đó, sau bữa ăn đêm tình tứ, hai người trao duyên. Những buổi họp báo, giao lưu, trình diễn của Lưu Tiểu Tinh Đan có tới ngàn khán giả, nhiều hơn hẳn lần đầu. Dăm kẻ để mắt nhận ra mỹ nhân Việt kiều nổi danh từ Kanada trở về lần này vừa là bạn diễn, thông dịch viên, vừa là bạn tình của “Tôn Ngộ Không” huyền thoại. Họ không rời nhau nửa con mắt trong cả những chuyến tham quan, du lịch khắp dải đất hình chữ S uốn lượn ven bờ biển Đông. Và giới showbiz Việt-Trung biết thêm nghệ danh Xường Xám MC.
Buổi diễn trên sân vận động Tinh Cầu, siêu tài tử hút hồn hàng chục ngàn thần tượng trong tuồng Đại Náo Thiên Cung cùng các diễn viên nước chủ nhà. Ghế khán giả số Một tất nhiên là Thúy MC.

“Em sẽ cho cưng đêm nay được quay tít mù “cây gậy Như Ý” của mình trên… giường ngủ! Hi hi hi…” - Sau màn diễn, tin nhắn gửi đến điện thoại của Lưu Tiểu Tinh Đan; và được trả lời. “Hân hoan chờ đón! Xem “khỉ” nào cắn “khỉ” nào…”

Phải công nhận, cú làm tình đầu tiên họ xứng danh đệ tử của võ phái hầu quyền. Tương hợp giữa cương và nhu một cách tự nhiên thường chỉ ở các bậc có kinh nghiệm chăn gối bẩm sinh. Thần thái cùng tính cách của con người và con khỉ ẩn hiện, hòa quyện. Nhân tính và thú tính cùng nhau điệu nghệ trong ái ân. Ba tiếng đồng hồ, đỉnh hân khoái chàng tới ba lần, dâm thủy nàng ra liên tục. Lưu “Hầu Vương” đưa trọn vẹn thể lực khang kiện và tâm thái minh mẫn từ phim tuồng vào các đợt giao hoan. Liên hồi. Ngây ngất. Thật ra, trong 22 chữ yếu lĩnh của hầu quyền, Thúy MC chỉ sánh nổi với Lưu Tiểu Tinh Đan ở tầm chục chữ. Là học trò, vậy mà cũng làm thầy khụy gối khi trò ở tư thế dưới trong yếu lĩnh Triền - chân tay thân mình quấn quít, vừa quắp đùi vừa bấm huyệt lưng thầy, trong khi mũi thở đều đều, hút môi thì thào “Em dễ ra lắm, Hầu Vương! Em dễ ra lắm, Hầu Vương! Em dễ ra…”

Hôn những giọt nước mắt trên đôi mi huyền ngây dại, người đàn ông nước Trung họ Lưu không hiểu đó là tinh túy trào ra từ ba tình cảm lớn trong người phụ nữ Việt mang tên Vương Thúy Kiều. Không hiểu thổn thức của Tý MC hướng về thi thể thân phụ đang cô đơn trước lò hỏa thiêu. Không hiểu trăn trở của HH24 với nhiệm vụ đặc biệt được nảy sinh từ lời cha thường kể - chuyện về những chuyến phi cơ cảm tử Nhật chở đầy bom bổ nhào xuống ống khói Hạm đội 7 Mỹ.
Trong căn phòng bí ẩn của khách sạn Ngọc Viễn Đông, đó vẫn chỉ là người nam người nữ giao nhau kỳ ngộ.

                                                               (còn tiếp)

Thứ Ba, 5 tháng 8, 2014

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 48 - Thơ …bâuxít.


                        5


                          
                                            
                 
Văn thi sĩ trong nước có tiếng là..nhát, trước bao nhiêu ngang tai, chướng mắt cứ im thin thít, hoặc là nói lén tại bàn trà hoặc là về nhà gỉ vào tai vợ …Bao nhiêu ấm ức, bao nhiêu hậm hực trước các thảm trạng  cải cách ruộng đất, Nhân văn Giai Phẩm, hợp tác hoá nông nghiệp, cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh… văn thi sĩ đành ngậm đắng nuốt cay ít ai dám thổ lộ nó ra trên mặt giấy.
Vậy nhưng sang thời internet – liên mạng toàn cầu này tình hình đã khác. Không tỏ bày được những bức xúc trên các báo “quốc doanh”, nhiều văn thi sĩ đã dám công khai phê phán “chủ trương lớn của Đảng” trên các web, các blog …
Sôi nổi nhất hiện nay phải kể tới việc Đảng cho Trung Quốc vào khai thác bâu xit ở Tây Nguyên. Mặc cho bao nhiêu người phản đối kể cả các đại công thần , các lão thành cách mạng, văn nghệ sĩ trí thức…Đảng vẫn trước sau như một khăng khăng rước tàu vào Tây Nguyên và ra hẳn một cái chỉ thị của Bộ chính trị. 
Nhà thơ Tê Tê ở Cần Thơ đã có bài thơ gửi BCT – có thể hiểu là Bộ công thương và cũng có thể hiểu là Bộ chính trị với lời lẽ như tát vào mặt :

                Gởi BCT
                        Tê Tê - Cần Thơ

BCT, BCT( Bê Xê Tê, Bê Xê Tê)
Giả câm giả điếc, u mê mất rồi
Tham khai quặng, chôn vùi tất cả
Cứ đồng lòng dối trá nhân dân
Hiện nay đất nước đang cần
Phát triển kinh tế mấy lần năm qua
Có bô xít tạo đà nhảy vọt
Biết đâu lên chót vót đỉnh cao.
Thế rồi ra lệnh ào ào
Xe ben, xe xúc, tràn vào Tây Nguyên
Gây bao nỗi buồn phiền nhức nhối
Từ Nam Quan tới mũi Cà Mau
Phát triển không biết tới đâu
Nguy cơ xâm lược về lâu về dài.
Dân còn biết sao ông không biết
Cứ hồ đồ không chết được đâu
Cùng là cộng sản bao lâu
Tham gia hội nhập tòan cầu lo chi.
Việc xâm lược làm gì ra có.
Mấy ông Tàu đất rộng thiếu gì
Ông Quang Thứ trưởng tức thì
Chủ quan ông phán, ít khi sai lầm
Việc khai thác đã bàn đã tính 
Cứ việc làm sợ quái gì ai.
Ban đầu ta cứ lai rai
Em êm ta lại triển khai ào ào
Chuyện ngày xưa Mỵ Châu trọng Thủy
Vì cả tin mất vũ khí nỏ thần
Cơ đồ đất nước tiêu dần
Nhận ra kẻ xấu, tấm thân đâu còn.
Chúng con xin Vua Hùng lượng thứ
Đã can ngăn nhưng chẳng ích chi.
Nếu mai Tổ Quốc mất đi
Chúng con chẳng biết nói gì …Vua ơi.

7/05/2009

Nhà thơ Hoài Xuân cảnh báo “AI” chớ có rước voi về dày mả tổ :

                    HÃY SỚM TỈNH RA 
                  
                           Hoài Xuân

Ước gì Ai sớm tỉnh ra 
Dừng Bauxiê thật là quá hay 
Dư luận phản ứng tràn đầy 
Xưa nay nước Việt lần này đầu tiên 
Hẳn rằng chẳng thuận dưới trên 
Hẳn rằng dân cũng thấy liền nguy cơ 
Vì sao Ai cứ làm ngơ? 
Vì sao Ai cứ phớt lờ nhân dân? 
Xin đừng để nước đến chân! 
Xin đừng cõng rắn về ăn gà nhà! 
Rước voi rầy mả ông bà! 
Ngàn năm đô hộ sao mà chóng quên? 
Đừng tưởng ăn chốc ngồi trên 
Đừng tưởng có chức có quyền là to 
Nước dâng cũng lúc tràn bờ 
Nhớ câu tức nước vỡ bờ hỡi Ai? 
     
Để trấn an dư luận, đảng cử Thứ trưởng Bộ công thương Lê Dương Quang tổ chức họp báo đưa ra những lý lẽ bịp bợm về khai thác bâuxít , mạt sát trí thức ký kiến nghị đòi dừng khai thác bâu xit là thiếu hiểu biết, bị kích đông…Lập tức một cơn mưa “thi ca” dội xuống đâù gã Lê Chiêu Thống cấp Bộ này :

           TẶNG LÊ DƯƠNG QUANG 
                                     
                         Quản Tuấn Ngụ

Từ Cần Thơ tôi nghe tin ông phát biểu trong cuộc họp báo. Tôi không phân tích thêm làm gì. Kẻ hèn này chỉ có đôi dòng gởi tặng ông.

Ông làm thứ trưởng bao lâu?
Mà ông ngang ngược nói câu hỗn hào
Thứ trưởng !Ôi thứ tào lao
Làm cho dân chúng xôn xao chê cười
Lương ông, tiền của mọi người
Còng lưng đóng thuế tưởng chơi, tưởng đùa
Ông đâu có phải là vua
Phát ngôn lệch lạc phun bừa vào dân
Biết điều hãy giữ lấy thân
Đừng theo kẻ xấu muôn phần hiểm nguy
Muốn nói phải nghĩ, phải suy
Tính ngang tàng thế khác gì… kẻ điên
Cả dân tộc đang muộn phiền
Nguy cơ ….đất nước triền miên dài dài
Hết Thiên tai, lại nhân tai
Những câu ông nói mà ai không buồn
“Trăm năm bia đá thì mòn
Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”
Bao giờ, cho đến bao giờ.
Những kẻ đầy tớ tôn thờ thượng dân.
17h ngày 29/04/2009
Quản Tuấn Ngụ-Cần Thơ


Nhà thơ Trường Giang cũng có “thơ” gửi Bộ công thương với lời lẽ mắng mỏ :

        THƯ NGỎ GỬI BỘ CÔNG THƯƠNG 
          
                                     Trường Giang

Chắc quý bộ hết người tử tế ,
đành dùng  “ Lê thứ trưởng” dở hơi ?
Đã không biết của , biết người,
Lại còn cậy thế ,xổ lời trái tai .
Ai bịa đặt ? nào ai kích động ?
Hay là suy từ bụng  ông  ta ?
Thời “Hồng vệ binh” đã qua  
Cái oai “ngoáo ộp” hóa ra trò hề
Eo ôi , sợ ! sợ ghê sợ gớm !
Sợ ngài “ Lê thứ trưởng” Công Thương
Phen này trí thức ,báo chương
bị ông ta gọi “ đối phương” không chừng !!!
Chúng tôi xót cánh rừng , con suối
Tiếc máu xương đồng đội năm xưa
Ai tham ,nhắm mắt làm bừa
Hãy mau thức tỉnh ,đừng đưa nạn vào !
Thời Bắc thuộc khổ đau biết mấy !
Nay phải lo giữ lấy non sông ;
Đất badan ,tiếng chiêng cồng ;
Cao nguyên xanh của cha ông truyền đời
Quý bộ trót cử người bất nhã
Gây bất bình với cả bao người 
Mắc mưu phương Bắc lòi đuôi
Hãy mau mở mắt kẻo rồi …đi tong ! 

     Phương Mai 29-4-2009

     Ngày 10 tháng 5 phái đoàn của Bộ tài nguyên môi trường lên Tây Nguyên để vờ vịt kiểm tra, chính là để tạo cớ cho việc tiếp tục khai thác bâu xít :    

                 
                 ĐỢI XEM

                                        Trường Giang

 Kính gửi Bộ Tài Nguyên và Môi trường

Quý Bộ vào Tân Rai rồi đấy
Đến tận nơi , mắt thấy  tai nghe         
Phải đâu bịa đặt , hóng nghe
như “ Lê thứ trưởng “ ngang phè nói nhăng
Đau xót đất Badan , đau quá  !
Họ làm liều , phớt cả phép công ;
coi quý Bộ : có như không
khác gì gán núi , “cầm” sông lấy …giàu
Nhôm nhiếc ở tận đâu chưa biết
Họ bới đào nát bét Tây Nguyên
Chuyên môn , quý Bộ nghĩ xem
Môi trường , nguồn nước trở nên hoang tàn !
Họ rằng  : mới chỉ làm thử tí ,
Các giấy tờ pháp lý “ sẽ”…xong
Dân kêu , trên đáp lòng vòng
Rằng “ mấy trăm tỷ , bé , không phải trình “ !!!
Ô , dù ở nước mình ghê thật !
Miễn được lòng,  trái luật chẳng sao
Cử tri trông cậy cấp cao
Liệu rồi kết quả thế nào , đợi xem …

                                      Phương Mai 8-5-2009

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì nói :” Đây là chủ trương lớn của Đảng”, để tránh đưa ra quốc hội tranh luận, ông Chủ tịch quốc hội hồi đó là Nguyễn Phú Trọng lại nói “dự án này nhỏ, chưa được đưa ra quốc hội”. Lập tức có thơ chửi :

                       VỪA NHỎ VỪA TO

                           THÁI HỮU TÌNH 

        Bô xít là kế hoạch to(1)
Mấy lần Đại hội Đảng ta quyết rồi      
      Bảo dân đừng có lắm lời
Chống Nghị quyết Đảng thì toi có ngày.
      Chẳng ngờ dân chúng hôm nay
Đòi kế hoạch này Quốc hội thông qua.
      Thế là bác Trọng nhà ta
Bảo việc này nhỏ đưa ra làm gì ?(2)
       Đang to bỗng nhỏ mới kỳ
    Chẳng biết cái gì vừa nhỏ vừa to ?
 7-6-2009
      
Thơ “bâuxit” của các nhà thơ còn dài dài, chắc chắn chác nhà văn cũng không chịu kém, họ đang viết “văn bâu xit” . Hãy đón đọc…!


         N.T.














CHIM HÓT TRONG LỒNG - Tiểu thuyết NHẬT TIẾN -KỲ 6

                                    (tiếp theo và hết)

                                                Chương 14
 
                                        Lễ Giao Thừa
 
Má ơi má,
 
Năm mới con và Gigi chúc má mau chóng khỏi bệnh để về với chúng con.  Con sẽ đến đón má ra khỏi căn buồng chỉ có tường vôi trắng và chăn màu trắng.  Con sẽ đỡ má đi xuống những bực cầu thang bằng gỗ.  Còn Gigi thì sẽ phải ra gọi xe và mặc cả về nhà.  Cửa nhà ta sẽ không khóa như bây giờ nữa.  Con sẽ mở những cửa sổ để cho nắng mùa Xuân sưởi ấm cái giường của má.  Lọ hoa để mốc ở trên bàn sẽ được cắm hoa hồng màu đỏ và bàn sẽ trải khăn màu xanh.  Má sẽ ngồi dựa lưng ở trên giường để dưỡng sức.  Con sẽ đi đun nước lá thơm cho má gội đầu.  Còn Gigi thì cầm bàn là là lại những cái áo bẩn ở nhà thương.  Ba mẹ con sẽ hát ở trong phòng tất cả những bài mà từ lâu không hát.  Con sẽ trèo lên ghế để quét màng nhện bám ở trên tường.  Gigi bé không giữ được chân ghế thì phải ra lên giây cót cái đồng hồ báo thức mà từ lâu không chạy.  Má sẽ không ho nữa.  Má sẽ chải đầu, đánh phấn rồi mặc áo đẹp.  Má sẽ dẫn chúng con lên phố mua kẹo và mứt.  Mình sẽ ăn Tết lại với nhau.  Má sẽ mừng tuổi cho Gigi mộtt đồng, cho con hai đồng thật mới.  Hai chị em sẽ tết thành hai con bướm màu xanh đem cài ở trên tóc.  Rồi con và Gigi cùng khoanh tay để mừng tuổi má.  Má đừng mua pháo vì Gigi không biết bịt tai.  Má chỉ mua một cành đào có hoa màu đỏ, có lộc non màu xanh đem về cắm ở giữa nhà.  Con sẽ cho Gigi đánh đu ở trên ấy.  Đến tôi nếu trời mưa thì mình đóng cửa và thắp đèn sáng.  Má phải mặc áo len trước khi lên giường vì trời sẽ lạnh.  Con sẽ kể chuyện ở trường cho má nghe, sẽ đem sách vở cho má kiểm sóat.  Lúc ấy thì chắc Gigi đã ngủ ở trên cành đào.
Mồng một tết – 8 tháng 2...
 
Con bế Gigi vào nhà thương với bác Tuyết.  Chúng con ngồi ở trên toa tầu điện.  Gigi háo hức đứng giơ tay ra nhìn cánh đồng cỏ màu xanh.  Một tay con ôm nó, một tay con cầm gói bánh chưng.  Quà Tết của má đó má, bác Tuyết mang về từ sáng sớm lúc quá giao thừa.  Bác ấy mừng tuổi cho con mười đồng.  Gigi chẳng được gì cả.  Nhưng rồi con chia với nó.  Cả buổi sáng hôm nay hai đứa náo nức sửa sọan đi vào thăm má.  Gigi bận áo chòang xanh, ở trong có váy đỏ và sơ mi trắng.  Còn con thì không có áo nhung lam má ạ.  Má khóa cửa ở nhà mất rồi.  Nhưng con không cần, con mặc jupe màu cà phê rang với len hòang yến cũng đẹp rồi.  Lúc ra đến cửa thì có ông bạn bác Tuyết đến chơi.  Ông ấy hỏi:
-        Con ai?
 
Bác Tuyết bảo:
-        Con gái Lệ Hà đấy!
 
Ông ấy hôn vào môi con rồi mừng tuổi cho con năm đồng.  Nhưng con ghét ghét là.  Con chỉ muốn có một mình má hôn con thôi, phải không má.
 
Xe điện đi ở trong mưa bụi bay.  Gigi đứng ở cửa toa nên tóc của nó bám những hạt nước long lanh.  Bác Tuyết thở khói thuốc lá vào trong gió.  Hai người đàn bà ngồi bên cạnh mừng tuổi nhau bằng những miếng trầu.  Thằng bé con mặc quần áo dạ tím cứ ngắm mãi Gigi. 
Tay nó cầm khẩu súng làm Gigi hết hồn.  Con dấu Gigi vào trong áo.  Cu Cậu tẻn tò quay ra bắn lốp đốp vào đùi mẹ nó.  Mẹ nó kêu lên:
-        Con giai! Con giai!...
 
Lúc tàu đổ, con bế Gigi chạy trước.  Con nhớ lối từ sấn sỏi lên hành lang.  con gọi má ngay từ đầu cửa sổ.  Có những người ốm nhìn ra.  Nhưng con chỉ trông thấy cái bảng số ở trên cửa phòng của má.  Con chạy vào trong ấy.  Chắc Gigi cũng đang reo lên:
-        Má ơi, má!
 
Nhưng căn buồng má bỏ không.  Cái giường của má trống không.  Con không nhìn thấy guốc của má nữa.  Con ném gói bánh chưng lên tấm lò xo không có đệm, rồi ôm mặt khóc òa lên.  Lúc ấy Gigi ngã xuống nền đá hoa trắng.  Nó ngủ ngay mất rồi, nên chỉ có một mình con.  Con chạy lại cửa sổ, con mở những ngăn tủ, nhưng chẳng chỗ nào còn lại di vật của má.  Má ơi, má bỏ con rồi, má bỏ con thật rồi.  Con chạy về phía người nữ y tá trẻ lúc ấy đang bế Gigi, và đứng nhìn con.  Con kêu nức nở:
-        Má em đâu, má em đâu rồi?
 
Chị ấy khóc.  Chị ấy ôm lấy đầu con.  Những giọt nước mắt của hai người chan hòa cả những nét phấn hồng hồng ở trên mặt chị.  Rồi chị ấy nói:
-        Má em mất từ hồi giao thừa đêm qua.  Có chị vuốt mắt cho má.
 
Con khóc thét lên.  Con không đứng ở trong vòng tay chị nữa.  Con chạy ra cửa gọi má vang lên ở khắp dãy hành lang.  Con vào phòng số 5, số 6, số 7.  Ở phòng nào con cũng khóc hỏi người ta:
-        Má em đâu rồi!  Má em đâu rồi.
 
Chẳng có ai trả lời con cả.  Người ta chỉ dương những cặp mắt sầu và ướt nhìn con.  Con đứng ở cửa sổ mà khóc.  Má ơi, sao má lại bỏ chúng con bơ vơ một mình.  Sao má không trở về nhà gội đầu bằng lá hương nhu, mặc quần áo mới và ngồi mà xem Gigi đánh đu ở trên cành đào.  Má ơi má, má đi mà không nói gì.  Má đi mà không hôn con gái má.   Má đi mà không cho chúng con được nhìn lại một lần.  Bây giờ chúng con đem bánh chưng vào cho má, nói chuyện với má thì má chẳng còn nằm đây.  Guốc má đâu rồi.  Áo má đâu rồi.  Chăn màn của má, ai đã mang đi.  Đêm hôm qua con còn nghĩ đến má, còn hy vọng được gặp má.  Sáng hôm nay còn hớn hở sửa sọan được gặp má.  Má ơi, sao đau đớn thế, sao khổ sở thế.  Má bỏ chúng con mà đi được thật hay sao.
 
Đêm hôm qua con còn mơ thấy má.  Còn tưởng rằng hai mẹ con sẽ lại gặp nhau.  Ai ngờ trong lúc ấy thì má đã chết một mình.  Chẳng có ai ở gần má.  Chẳng có ai rót nước cho má.  Chẳng có ai để má cười, má nói.  Mẹ con đến phút cuối cùng cũng chẳng được trông thấy nhau.  Má làm gì nên tội mà chết đau đớn như thế.  Những lời cầu nguyện của cho cho má không ăn thua gì.  Con ghét Chúa.  Chúa thật bất công.  Hay là ông ấy chẳng biết cái gì cả.  Má đã tòan mình mà không được che chở.
 
Một đời má, má chỉ nghĩ đến con gái, chỉ thương có một mình con gái, chỉ vì con gái mà má phải vất vả.  Thế mà bây giờ, con chưa làm gì cho má cả.  Chưa báo hiếu được gì đối với má.  Má bỏ con đi rồi thì con còn hát với ai.  Còn đánh đàn cho ai.  Con chẳng còn ai để mà trông ngóng tới ngày chủ nhật.  Bây giờ thì hôm nào cũng chỉ như hôm nào mà thôi.  Sẽ mãi mãi chúng con không còn được đứng ở gốc cây bàng trong sân trường đón má, vẫy má, hét má từ trong mái hiên nhà trường.  Đường phố sẽ chẳng bao giờ còn có bóng dáng ba mẹ con chúng đi ở lùm cây, ngồi ở trên ghế đá, nhặt những viên sỏi trắng đem ra rửa ở máy nước vườn hoa.  Má ơi, hết rồi, hết thật rồi.  Mùa lạnh sẽ không còn có ai mua áo cho con, chọn áo cho con.  Mùa lạnh sẽ không còn có ai viết thư căn dặn rằng con phải uống dầu cá và sirop.  Làm gì có tiền mua sirop nữa hở má.  Con khóc cho má, khóc cho mình và cho Gigi.  Chẳng có sự gì làm con đau đớn như thế.
 
Khi ấy bác Tuyết đã lên hết cầu thang.  Con báo rằng:
-        Bác ơi, má chết rồi!
 
Bác ấy ném cái ví xuống đất rồi khóc to lên:
-        Hà ơi, mày khinh chúng tao, mày ghét chúng tao, mày bỏ đi thế là mày thóat rồi...
 
Nhiều người mở cửa phòng ra đứng xem.  Chị y tá dẫn hai bác cháu xuống nhà xác.  Con gặp má rồi.  Má nằm ở đây.  Má không cười.  Má không nói.  Má không nhìn chúng con.  Mắt má nhắm nghiền như người ngủ say.  Da mặt má trắng xanh.  Môi má mím chặt.  Má mặc cái áo len cộc tay màu xanh hoa lý.  Chung quanh má chỉ có bóng tối, có tường vôi, có mùi ẩm thấp ở chân tường, có hơi lạnh lẽo của những người chết.  Con ôm lấy má, khóc ở trên ngực má, hôn ở trên cổ má, cào xé lên người má.  Bác Tuyết giằng con ra và bế xốc con lên hai cánh tay.  Bác ấy vừa đi vừa khóc ở dưới lùm cây trong bệnh viện.  Tiếng khóc của con cũng vang lên vọng vào những cửa sổ mở toang.  Có những người mặc quần áo trắng đứng nhìn, có những người đang đẩy xe băng-ca đứng dừng lại.  Họ nói với nhau:
-        Tội nghiệp nó, tội nghiệp nó.
 
Nhưng con không nhìn ai cả.  Con ném Gigi xông đám cỏ.  Chị y tá phải cúi xuống nhặt lên.  Con gục đầu vào cổ bác Tuyết nức nở như chưa bao giờ con nức nở như thế.  Bên tai con văng vẳng có tiếng má nói với con gái má.  Có tiếng pháo đầu xuân nổ ròn ở một phía rất xa, và có cả tiếng những người nằm rên trong những phòng lạnh lẽo.
 
Mưa bụi vẫn bay ở lưng chừng trời...

Mồng hai tết – 10 tháng 2 ...
 
Quan tài của má để ở trên chiếc xe hai ngựa.  Đôi ngựa kéo chiếc xe đi trong mưa bay buổi chiều.  Trên đầu má có bát cơm và quả trứng.  Bát cơm ấy, quả trứng ấy là lần đầu tiên con làm cho má.  Bác Tuyết tặng má một vòng hoa đỏ.  Tất cả thật là thảm thương.  Đám ma của má chỉ có bốn người:  Người đánh xe, bác Tuyết, con và Gigi.  Chiếc xe đi chậm chậm ở trên đường phố hàng Bột.  Chiều mồng hai Tết có những người áo xanh, áo đỏ đi ở dưới hàng hiên.  Pháo nổ ở những cửa hiệu.  Đáng lẽ pháo nổ thì vui nhưng bây giờ lại càng buồn.  Con để Gigi ngồi trên ván gỗ.  Tội nghiệp Gigi vẫn cười.  Chỉ có con và bác Tuyết là khóc.  Chỉ có hai người là khóc trong buổi chiều hôm nay.  Chắc linh hồn má cũng nức nở ở trên những cánh hoa, ở trong lần khăn liệm trắng, ở trong linh hồn bé nhỏ của chúng con.  Má ơi má, hôm qua ngủ con lại nằm mơ thấy  má.  Má ngồi gỡ đầu ở trong nhà xác.  Má cười với con.  Má vuốt tóc con.  Rồi má đi ra đứng ở ngòai hiên.  Má ho rũ rượi.  Máu má thấm đỏ cả cái áo chòang trắng.  Người ta trói má lại, bắt má trở về cái bàn đá, bắt má ngủ trong ánh nến màu vàng.  Má khóc.  Nhưng mắt má nhắm dần dần.  Má gọi mơ hồ:
-        Hạnh ơi, Hạnh ơi.
 
Con nắm lấy tay má. 
Tay má lạnh như tay vịn bằng sắt ở trên tàu điện.  Cổ má không còn mùi thơm.  Má không còn nói nữa, khôn khóc nữa, không thở gì nữa.  Má không nghe thấy con gọi, mà chỉ thấy Bác Tuyết kêu lên:
-        Hà ơi, Hà ơi.
 
Rồi cảm mấy người cùng khóc theo.
Tỉnh dậy con tưởng mình đang nằm trong lòng má.  Nhưng không phải.  Chỉ có bác Tuyết nằm ôm con ngủ.  Con úp đầu vào ngực bác khóc thút thít và hỏi:
-        Má cháu đâu rồi, má cháu đâu rồi?
 
Bác ấy thở dài không đáp.  Rồi bác ấy kể chuyện về má, về ba.  Con không có ba, phải không má.  Ba bỏ má từ ngày con lên một.  Má làm gái điếm để nuôi con.  Nhưng con không ghét má, khinh má đâu.  Má vẫn là mẹ hiền từ và đáng kính của con.  Má vẫn là tấm gương chói lòa dẫn dắt con đi, con sẽ nhớ lòng hy sinh và tận tụy của má vì con, con sẽ nhớ mãi những sự dạy dỗ hiền từ của má.  Hình ảnh của má vẫn mãi mãi là hình ảnh thân yêu nhất của lòng con.  Má ơi, tuy má chết đi rồi nhưng không bao giờ con quên má.  Những ngày ở bên má là những ngày êm đẹp nhất của đời con.
 
Bác Tuyết nói một lúc thì nằm yên rồi ngủ.  Nhưng con thì trở dậy.  Gigi vẫn ngồi mở mắt ở trên nóc tủ.  Con bế Gigi vào lòng mà ru Gigi.  Một lát, con đặt Gigi nằm ở trong mền, và con nghĩ đến má, đến những việc đã vừa xảy ra...
 
Má ơi má.
Nghĩa địa chỉ có năm người.  Hai người cuốc đất, bác Tuyết, con và Gigi.  Cây cỏ rủ rủ trong sương mù.  Đất đỏ ẩm thấp lấp lên quan tài trắng của má.  Quả trứng cũng rơi xuống hố.  Quả trướng được nằm với má.  Con bế Gigi đứng ở trên này.  Đất đỏ ngăn cách mẹ con chúng mình.  Từ nay ai còn được trông thấy má.  Ai còn được nghe má nói, má cười.  Đường phố không còn hình bóng má nữa.  Trong đám những ba, má đi đón trẻ con ở trường vào sáng chủ nhật, từ nay sẽ không còn có má.  Con không còn mong ai để mà khóc ở trên ghế đá.  Chủ nhật chị em con sẽ ngủ muộn hơn, không dậy sớm, không đánh giày, không xếp quần áo.  Vì chúng con mất má rồi.  Má nằm một mình ở đây, dưới làn đất lấp kín.  Má chỉ còn đi chơi với những người ngủ ở mộ chung quanh.  Buổi tối má ngủ ở đấy, không có đèn sáng, không có chăn bông, không có cửa sổ để đóng.  Nhưng nếu má hiện về thì má ngồi ở trên ghế, ở bên cạnh con, nghe con hát những bài ở trường, con ru Gigi ngủ ở trong màn trắng.  Rồi má lau nước mắt cho con, những dòng nước mắt khóc vì nhớ má.
 
Bác Tuyết căm một bó hương lên mộ má.  Chung quanh bó hương là vòng hoa.  Vòng hoa có những chữ “Hà ơi, mình khóc cho nhau”.  Mắt bác Tuyết ràn rụa, bác nói ở trong tiếng gió thổi ở trên những cây cao:
-        Hà ơi, linh hồn có linh thiêng thì phù hộ cho con gái.
 
Hai người phu vác cuốc đi về trên con đường nhựa ướt nước mưa.  Con bế Gigi đứng bên cạnh nấm mồ mới lấp.  Má của chúng con nằm ở dưới ấy.  Con gái má ở trong ý nghĩ.  Rồi con nói thầm với Gigi:
-        Gigi ơi Gigi, má không về nữa rồi.  Chắc má nhìn theo chúng con lúc chúng con lủi thủi đi về.  Chung quanh thật là im lặng.  Chỉ có những mô đất ngơ ngác nhìn nhau không nói.  Chỉ có những cây cỏ rì rào và tiếng những giọt nước lóng lánh rơi từ ở trên cao.  Ngòai đồng có gió thổi về lạnh ngăn ngắt.  Môi bác Tuyết tái, môi con và Gigi cũng tái.  Bác Tuyết châm thuốc hút, thở ra khói màu xanh.  Không có ai nói với ai.  Nhưng thật ra là con đang nói với má.  Con gọi má như lần nào ôm lấy cổ má trong chăn ấm.  Con hát cho má nghe như lần nào má ngồi đan áo ở cửa sổ.  Nhưng không biết má có nghe thấy gì không.  Hay là má chỉ ngồi ở trên những cánh hoa, nhìn theo con gái má mà nức nở một mình? 


Mồng tám Tết – 16 tháng 2...
 
Má ơi,
 
Sau khi bà Félicité đưa cho bác Tuyết xem thư của má, thì bác Tuyết sửa sọan quần áo cho về trường.  Bác ấy cầm lấy tay con mà nói như khóc:
-        Mẹ cháu nghĩ cũng phải, cháu chẳng nên ở với bác làm gì.
 
Con bế Gigi đứng chào bác.  Bác tháo ở quyển album ra một tấm hình của má.  Con xin thêm một tấm ảnh của bác.  Bác cho và hôn lên mắt con.  Bác tiễn con ra cửa.  Bà Félicité đứng chờ ở trên ô tô của nhà trường.  Con hôn bác lúc ô tô mở máy.  Xe chạy rồi mà bác còn đứng vậy mãi.  Bác mặc quần dài trắng, áo lụa trắng.  Bóng dáng bác nhỏ dần ở trong đường phố có nắng đầu xuân.  Bà Félicité ôm lấy con và Gigi và nói:
-        Tội nghiệp, tội nghiệp!  Con tôi!
 
Con gục đầu vào khuôn mặt dịu dàng của bà.  Bà cũng hiền từ như má, hay cười như má.  Nhưng bây giờ thì bà long lanh những giọt nước mắt.
 
Con trở về sân trường, nhớ đến những buổi sáng má mặc quần đen, áo đen, đứng vẫy con ở dưới gốc cây.  Những hòn sỏi trắng tháng trước còn reo lên ở dưới gót giày của má.  Hai mẹ con hay ôm nhau ở đúng chỗ này.  Bây giờ thì chỉ có một mình con.
 
Con sống những giờ im lặng ở trong lớp học.  Những giờ im lặng bắc ghế ngồi ở cửa sổ nhìn ra vườn có nắng mùa xuân.  Ban đêm con ôm Gigi nằm ở trong chăn ấm.  Chúng con nghĩ đến má luôn luôn, nhớ đến má nhưng chẳng bao giờ còn hy vọng để gặp má.
 
Ma soeur Félicité nhận đỡ đầu cho con.  Bà dẫn con đi học đàn piano ở bên nhà dòng.  Phút đầu tiên ấn ngón tay trên phím trắng, con rưng rưng mà nghĩ rằng má không còn ở trên đời, không còn ngồi ở trên giường có ánh trăng chiếu vào sàn đá, để nghe con đánh đàn và hát cho má nghe như má hằng ao ước.  Bà Félicité dạy con hát với những lời ngọt ngào.  Bà cho phép Gigi được ngồi bên cạnh bản nhạc.  Nó nhìn con.  Hai chị em cùng mỉm cười.  Nếu có má ở đấy, chắc má phải sung sướng mà hôn lên mắt chúng con.
 
Nhưng bây giờ thì má đã nằm ở ngòai nghĩa địa, trong quan tài trắng.  Không biết má còn nhìn thấy chúng con hay không?
 
Những buổi sáng, buổi chiều, hay buổi tối, sau giờ học và giờ ăn, bà Félicité giảng kinh thánh cho con nghe.  Con yêu tiếng nói dịu dàng của bà, yêu cặp mắt đen và hiền từ, yêu cả nụ cười êm dịu của bà hay nở ở trên môi.
 
Có những đêm con nằm ở trong bóng tối khóc và nhớ má một mình.  Nhưng ma soeur đã đến bên giường, sờ tay lên bộ mặt chan hòa nước mắt của con.  Bà bế con trở dậy, và đi đến bàn thờ Đức Mẹ.  Bà nói qua tai con:
-        Con cầu nguyện cho má đi.  Má có linh hồn.  Linh hồn của má sẽ được tới gần chân Chúa.
 
Con quì xuống ở bên cạnh bà.  Có ánh nến leo lét cháy trong bóng tối.  Có tiếng cầu kinh văng vẳng từ những dãy hành lang.  Con nghĩ đến má, đến những buổi chiều mùa thu đi nhặt lá bàng ở trên đường Cột Cờ, đến những buổi tối mùa đông hai mẹ con ôm lấy nhau ngủ ở trong hơi ấm, đến buổi sáng chủ nhật có nắng vàng tươi má dẫn con đi ngắm những cửa hàng ở trên phố.
 
Tất cả đều đã qua đi như một giấc mộng.  Trong bóng tối im lìm, bà Félicité lấy khăn chấm lên những giọt nước mắt long lanh trên má con và dịu dàng:
-        Con nghĩ gì thế.
-        Thưa, con nghĩ đến má của chúng con.
-        Vậy con hãy cầu nguyện cho má đi.  Má chắc chắn sẽ được lên thiên đàng.
 
Lạy Chúa, xin Chúa hãy vì má, hãy vì nỗi lòng đớn đau và tinh khiết của má, mà đưa má về nơi thanh cao như lúc này con đang thành tâm tha thiết nguyện cầu cho má...
 
NHẬT TIẾN
3-9-1959 

Thứ Hai, 4 tháng 8, 2014

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 47 - HỘI NHÀ VĂN CỦA NƯỚC TA - KỲ 10

Hội nhà văn Việt Nam -  sao im lặng  ???                           

                                         Nhà thơ  Bùi Minh Quốc

“Về “Chống diễn biến hoà bình của chủ nghĩa bành trướng hiện đại Trung Quốc”)                  
                            
                                     (trích) 

Đúng ra, đối với đất nước ta, chủ nghĩa bành trướng hiện đại Trung Quốc đã có cả “diễn biến vũ trang” lúc rộ lên, lúc âm thầm nhỏ lẻ, và trong cái im ắng của những năm tháng bình yên thì kẻ thù nguy hiểm truyền kiếp phương bắc vẫn không ngừng chuẩn bị cho “diễn biến vũ trang”, nhưng dưới đây xin chỉ tập trung nói về diễn biến hoà bình.
Lâu nay khi nói đến “chống diễn biến hoà bình” chúng ta thường chỉ chú ý nhìn về phía tây, phía các nước đế quốc thù địch cũ. Thế là chệch hướng rất tai hại, là mất cảnh giác rất nghiêm trọng, một sự mất cảnh giác chiến lược.
Hãy cùng nhau đọc lại một đoạn hồi ký của bậc lão thành cách mạng Hoàng Tùng, nguyên bí thư trung ương Đảng, trưởng ban tuyên giáo trung ương:
“Mùa thu năm 1950, Trung Quốc phái hai đoàn cố vấn sang Việt Nam. Một đoàn chính trị do La Quý Ba làm Tổng cố vấn. La Quý Ba trước là bí thư của Mao, bí thư Sơn Tây. Ông này là người nghiêm chỉnh, phục Mao Trạch Đông như một ông thánh. Ông là người tin cẩn của Mao. Còn Tổng cố vấn về quân sự là Vi Quốc Thanh. Đoàn cố vấn quân sự đông hơn, vì nó có đủ cả các bộ máy của quân sự. Ta không hiểu thâm ý của Trung Quốc là muốn sửa ta. Họ sang để giới thiệu kinh nghiệm Trung Quốc, lý luận Mao Trạch Đông, lý luận quân sự, tổ chức quân đội. Việc đầu tiên là họ sửa đổi đã. Họ sửa cả Đảng trong quân đội cho nên mới lập ra chức chính uỷ. Trước, ta chỉ có chính trị viên. Cũng là chính trị cả nhưng có khác nhau về chức năng. Chính uỷ là người bao trùm lên Tư lệnh, chứ không phải Tư lệnh là người quyết định. Lập ra Chính uỷ là để xác định vị trí của Đảng, mà việc đầu tiên là nhằm vào ông Giáp. Vì ông Giáp xuất thân từ trí thức, năm 1950 mới có 10 tuổi Đảng, mặc dù ông tham gia cách mạng từ những năm 1930, nhưng ông hoạt động bị bắt rồi lại đi học mãi đến năm 1940 mới được Bác kết nạp vào Đảng, theo Trung Quốc ông là một trí thức xuất thân không phải công nông, mà để ông nắm quân sự thì không ổn. Đặt ra những Chính uỷ để phụ trách Đảng trong quân đội. Có người đưa cho đoàn cố vấn một danh sách cán bộ trong quân đội xuất thân gia đình không phải là công nông định để gạt ra khỏi quân đội. Ai đưa danh sách này cho đoàn cố vấn? Tôi ngờ rằng đó là một người trong quân đội (…). Ông Giáp mới đưa danh sách đó cho Bác, Bác bảo đốt ngay đi, thay bằng ấy người thì quân đội không còn cán bộ…”.
Đoạn vừa trích dẫn trên là rút từ một bản photo truyền tay nhiều năm nay trong các lão thành cách mạng, các cựu chiến binh và các nhà nghiên cứu, tôi nêu ra để bạn đọc tham khảo khi đối chiếu với thực tế lịch sử trước và sau năm 1950. Phần tôi thì tôi tin những điều ông Hoàng Tùng kể là có thật; cũng như nhà văn Nguyễn Khải viết “Đi tìm cái tôi đã mất”, bậc lão thành Hoàng Tùng tự buộc mình phải nói với mọi người những sự thật quan thiết đến vận mệnh dân tộc để đáp ứng nhu cầu tâm linh của một người cao tuổi đã sắp về cõi.
Qua vụ việc ông Hoàng Tùng kể, ta thấy cái đòn “diễn biến hoà bình” của Trung Quốc trước hết nhằm vào quân đội ta (hãy nhớ đến luận điểm “súng đẻ ra chính quyền, súng chỉ huy Đảng” của Mao Trạch Đông), nhằm vào từ người đứng đầu là đại tướng tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp cho đến hàng loạt sĩ quan trung cao cấp, và đòn này được sự hưởng ứng (hay tiếp tay?) ngay từ trong nội bộ ta. May mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã lẳng lặng dẹp khéo ngón đòn ấy, không thì chúng ta không thể có được Điện Biên Phủ. 
Nhưng đến cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức với cả một hệ thống cố vấn Trung Quốc từ trung ương tới địa phương kèm sát các đoàn uỷ của ta thì mưu đồ nham hiểm bất thành nêu trên đã thành công ở qui mô chưa từng thấy, dưới một hình thái bi thảm chưa từng thấy: Đảng ta tự đưa mình vào cảnh dùng tay nọ chặt tay kia. Hàng nghìn cán bộ đảng viên, hầu hết là những người tận tuỵ nhất, trung kiên nhất, hy sinh nhất, những người con ưu tú nhất của Đảng, của dân tộc bị giết, bị hành hạ, tù đầy, số sống sót thì bị vô hiệu hoá. Hàng vạn người dân lương thiện, trong đó nhiều người là ân nhân của cách mạng và kháng chiến cũng chịu cảnh tương tự. Tổn thất này vượt ngàn lần so với những tổn thất do thực dân đế quốc gây ra, cùng những hệ luỵ tai hại dai dẳng về mọi mặt, nhất là về chính trị và văn hoá.
Nói cho chính xác thì qua vụ cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, Đảng ta đã rơi vào cảnh tự chặt đứt dưới chân mình những cội rễ dân tộc mà từ đó Đảng được sinh ra. Đường lối giai cấp trong công tác cán bộ chính thức xác lập, đưa hàng vạn nông dân thất học vốn hiền lành chất phác nhưng được bồi dưỡng để nói điêu, tố điêu rất giỏi, thoắt cái đã trở thành cán bộ cốt cán. Khối đại đoàn kết toàn dân chỉ còn là hình thức, Mặt Trận trở thành nơi trình diễn sự đoàn kết bề ngoài, bên trong là “đoàn kết” kiểu chơi cha thiên hạ.
Giáo sư Phan Ngọc trong bài “Những suy nghĩ ban đầu về vấn đề học thuyết Hồ Chí Minh” cho biết một chi tiết quan trọng trong lịch sử Đảng bấy lâu bị bưng bít: “…khi anh Đào Duy Dếnh tức Đào Phan bí thư thành uỷ Hà Nội bị bắt vào tù, anh tuyên truyền đường lối Việt Minh cho anh em cộng sản trong nhà tù Sơn La thì mọi người đều tán thành, nhưng có một người nói: “Có một Nguyễn Ái Quốc chứ mười Nguyễn Ái Quốc mà đi theo con đường ấy cũng thất bại”. Người đó là Lê Đức Thọ”(trang 9 tạp chí “Biển và Bờ” tháng 5.2008 ).  “Con đường ấy” mà Lê Đức Thọ bài bác chính là con đường do Nguyễn Ái Quốc vạch ra, là đường lối Việt Minh – đường lối đoàn kết toàn dân đánh Pháp đuổi Nhật được quyết định tại hội nghị ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 8 tháng 5 năm 1941.
Nhà cách mạng lão thành Nguyễn Hữu Đang lúc sinh thời, từng kể với nhà thơ Phùng Quán và người viết bài này (tại chòi ngắm sóng của anh Phùng Quán): Hồi ở Việt Bắc, có thời gian sức khoẻ yếu, ông được cho đi nghỉ dưỡng. Phụ trách cơ sở nghỉ dưỡng là một cán bộ cao cấp nhưng có tính hay nói tục (sau này lên tới cấp tướng, ở trong trung ương nhiều khoá nhưng vẫn hay văng tục). Một buổi tối ngồi quây quần trò chuyện, khi đề tài chuyển đến vấn đề đoàn kết dân tộc, đoàn kết tất cả những người yêu nước không phân biệt giai cấp, thì cái vị hay văng tục kia bật ra một câu khiến ông nhớ đời: nói thế chứ đoàn kết thế đéo nào được! (xin phép bạn đọc tôi ghi nguyên xi cái từ văng tục của vị kia đúng như cụ Nguyễn Hữu Đang đã kể)
Thế lực bành trướng trong giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc dễ dàng nhận ra: từ khá sớm, trong đầu óc không ít cán bộ nòng cốt cao cấp của Đảng ta luôn có một mảnh đất mầu mỡ để gieo và thúc cho bốc nhanh những mầm mống giai cấp chủ nghĩa dù tạm thời bị xẹp xuống sau thất bại của Xô viết Nghệ Tĩnh nhưng sẽ sẵn sàng mọc dậy khi có cơ hội. Đấy chính là bàn đạp êm ái và đắc dụng nhất cho những bước chân bành trướng mà tất cả các thế lực bành trướng cổ truyền phương bắc chưa hề có được.
Sau cải cách ruộng đất, uỷ viên bộ chính trị Lê Đức Thọ làm trưởng ban Tổ chức trung ương, nắm quyền về cấu trúc, xây dựng tổ chức và sắp đặt nhân sự trong toàn Đảng. Nắm tổ chức, nắm nhân sự là nắm thực quyền hầu như toàn quyền rồi còn gì! Xin hãy nhớ, Lê Đức Thọ nắm tổ chức (có thời gian còn nắm luôn cả tư tưởng) mấy chục năm liên tục cho tới 1986.
Hãy cùng nhau đọc lại những trang hồi ký của nhà cách mạng lão thành Nguyễn Văn Trấn ghi lời kể của uỷ viên trung ương Đảng Bùi Công Trừng về hành xử của Lê Đức Thọ trong hội nghị trung ương lần thứ 9, năm 1963; nhân vật đầy quyền uy này ngang nhiên chặn lời cả cụ Hồ - “Bác phải để cho anh em người ta nói chứ!” - và lúc giải lao, Lê Đức Thọ cầm thuốc lá đi mời người này người nọ vừa làm ra vẻ “gần gũi” vừa để “chiếu tướng” .
Sau hội nghị, lập trường chính trị của Đảng ta ngả hẳn sang lập trường của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, hữu nghị với Liên Xô chỉ là bề ngoài để có vũ khí đánh Mỹ, bên trong là theo Trung Quốc chống Liên Xô kịch liệt. Xảy ra cái gọi là “Vụ án xét lại chống Đảng” do Lê Đức Thọ làm trưởng ban chuyên án, được phong (hoặc tự phong) là “tư lệnh đánh xét lại”, mà sau này nhà ngoại giao Nguyễn Khắc Huỳnh trong hồi ký của mình nhận xét rằng đó chỉ là thủ đoạn nham hiểm dựng ra vụ án nhằm thanh toán các đồng chí thật sự tài đức để thoán đoạt quyền bính.
Hàng trăm cán bộ sĩ quan trung cao cấp trong và ngoài quân đội cùng gia đình họ bị tù đày, hành hạ triền miên, có người đã chết trong tù, về sau các nạn nhân kể rằng mọi cuộc thẩm vấn đều cố gán ép để họ khai một điều gì đó dính líu đến đại tướng Võ Nguyên Giáp nhưng không ai khai cả vì chẳng có gì để khai (Xin lưu ý: đại tướng Võ Nguyên Giáp một lần nữa lại là đích nhắm của các âm mưu đen tối, và cũng xin lưu ý: vụ việc xảy ra khi ta sắp phải đối đầu trực tiếp với Mỹ, còn Trung Quốc âm thầm chuẩn bị bắt tay với Mỹ và nắm Pôn-pốt thủ lĩnh Khơ-me Đỏ ).
Có bao giờ âm mưu và thủ đoạn diễn biến hoà bình của phương Tây và của các thế lực bành trướng cổ truyền Trung Quốc đạt kết quả to tát như thế chưa?
Chưa.
Bởi vì phương Tây và các thế lực bành trướng cổ truyền Trung Quốc không có được mối quan hệ giữa hai “Đảng anh em” cầm quyền trên hai đất nước xung đột lâu đời về lợi ích quốc gia. Tính chất đặc biệt nguy hiểm trong âm mưu và thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa bành trướng hiện đại Trung Quốc đối với nước ta chính là ở đấy: bành trướng thông qua mối quan hệ giữa hai Đảng cầm quyền. Và tính chất đặc biệt nguy hiểm này chưa bao giờ được đề cập, được làm rõ trong công tác lý luận và tư tưởng, thậm chí còn cố tình lờ đi. Chính nhờ mối quan hệ giữa hai Đảng mà bọn Trần Ích Tắc, bọn Lê Chiêu Thống hiện đại thẻ-đỏ-tim-đen mới ẩn náu lâu đến thế, sâu đến thế trong bộ máy cầm quyền, và bọn này đã từ trong bóng tối ung dung thực hiện mọi âm mưu và thủ đoạn “diễn biến hoà bình” một cách “chính thống”.
... Gần đây, tại cuộc hội thảo triển khai nghị quyết 23 của Bộ chính trị về văn hoá văn nghệ, uỷ viên bộ chính trị, thường trực ban bí thư trung ương Trương Tấn Sang cảnh báo: “Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh thực hiện âm mưu và thủ đoạn “diễn biến hoà bình” nhằm tạo ra sự “tự diễn biến” trên lĩnh vực tư tưởng-văn hoá trong xã hội ta”.
Cần đi sâu phân tích và làm rõ thêm ý kiến quan trọng nêu trên.
Trước hết phải vạch ra cho cụ thể, dứt khoát: trong “các thế lực thù địch” hiện nay, thì thế lực nào là nguy hiểm nhất?
Câu trả lời đã rõ như ban ngày: đó là thế lực bành trướng hiện đại trong giới cầm quyền Trung Quốc, chứ không phải những thế lực từ phương tây hay từ cộng đồng người Việt hải ngoại.
Chúng đã và đang tạo ra sự “tự diễn biến” trong nội bộ dân tộc ta, mà trước hết là nội bộ Đảng ta  như thế nào, và có phải chỉ diễn ra trong lãnh vực tư tưởng-văn hoá thôi không?
Xin nêu một dẫn chứng nho nhỏ mà tôi là một nhân chứng trực tiếp. Năm ngoái, (2007), nhà thơ Phan Đắc Lữ (một người tham gia kháng chiến từ lúc 16 tuổi, thuộc dòng họ Phan ở Bảo An, Gò Nổi, Quảng Nam, bà con gần gũi với các nhân vật yêu nước, cách mạng, và cán bộ cao cấp Phan Khôi, Phan Thanh, Phan Bôi, Phan Diễn…) đưa tôi đọc bản thảo tập thơ “Bốn mùa tôi” của ông. Ông kể rằng ông gửi bản thảo để xin giấy phép của nhà xuất bản Hội Nhà văn, nhưng bị họ cắt sửa tệ hại quá nên chẳng muốn in nữa. Trong những chỗ bị cắt, có 4 câu thơ này:

Tổ Quốc ta nơi nào cũng đẹp
Từ ải
Nam Quan đến Cà Mau
Sông là máu đừng đem mua bán
Núi là xương đừng lấy đổi trao

                                                   (“Ký sự ngược sông Thu”)

Quái thật! Dưới chế độ ta, lại có kẻ nào dám cả gan hạ bút cắt bỏ những câu thơ yêu nước như thế? Nhìn kỹ vào các chữ ký trên bản thảo thì thấy, trực tiếp cầm kéo cắt là biên tập viên Ngô Văn Phú, ký duyệt là giám đốc Nguyễn Phan Hách, người kế nhiệm Ngô Văn Phú (đã nghỉ hưu nhưng được mời làm tiếp trong chân biên tập). Ngô Văn Phú và Nguyễn Phan Hách thì tôi biết, đó là hai đảng viên chức sắc trong Hội Nhà Văn và giới xuất bản, khó có thể nghĩ hai nhà văn ấy không yêu nước, nhưng thật tình tôi không hiểu nổi tại sao hai ông lại đang tâm dập tắt một tiếng lòng yêu nước của đồng nghiệp? Rõ ràng, đây là bằng chứng không thể chối cãi về tình trạng “tự diễn biến”. Từ người yêu nước, hai ông đã “tự diễn biến” thành công cụ cho thế lực vong bản bên trong và bành trướng bên ngoài, nếu không sớm tỉnh ngộ thì từng ngày một, qua từng việc một, sẽ dần dà tự huỷ tư cách yêu nước của người đảng viên.
.... Thư ngỏ của tôi và của nhà văn Nguyễn Khắc Phục (ông có thư ngỏ gửi các nhà văn Trung Quốc về vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa, thư ngỏ gửi thanh niên Việt Nam về nhiệm vụ chống bành trướng) bị báo Văn Nghệ cất kỹ vào ngăn kéo. Hơn một năm qua, ban chấp hành Hội Nhà văn vẫn im lặng. Không thể nghĩ là các nhà văn hội viên không yêu nước nhưng sự im lặng của ban chấp hành Hội khiến nhân dân buộc phải nghĩ rằng cái hội này đã thành công cụ của thế lực vong bản bên trong và bành trướng bên ngoài.
Mà không chỉ riêng Hội Nhà văn “tự diễn biến” đáng xấu hổ như thế. Hầu hết các hội đoàn đều im lặng. Mặt trận Tổ Quốc cũng im lặng; bài phát biểu về vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa của giáo sư Tương Lai, uỷ viên đoàn chủ tịch trung ương Mặt trận tại diễn đàn Mặt trận không báo nào đăng. Thanh niên, sinh viên, nhà báo, văn nghệ sĩ đi biểu tình trật tự ôn hoà trên đường phố và trước đại sứ quán, tổng lãnh sự quán Trung Quốc để trực tiếp khẳng định với đối phương Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam thì bị đàn áp thô bạo – bị quật xuống đường, bị bóp cổ, bị còng tay, rồi công an lôi về phường sách nhiễu, không từ cả đến các cựu chiến binh cao tuổi chỉ đứng bên hè hoan nghênh ủng hộ, mọi người phải phẫn nộ hỏi những người lính ăn lương từ tiền thuế của dân để làm nhiệm vụ bảo vệ dân:
“Các anh có còn là người Việt Nam nữa hay không?”.
Có nhà báo bị đưa ra toà với một màn xử nguỵ trang vụng về gượng gạo bằng khép tội trốn thuế. Phải chăng những người ngồi ghế xét xử đã “tự diễn biến” thành công cụ cho thế lực vong bản bên trong và bành trướng bên ngoài?
Theo nhận xét của riêng tôi, tình hình “tự diễn biến” đã trở nên rất nguy hiểm: trong nội bộ dân tộc, nội bộ đảng cầm quyền đã xuất hiện một thế lực ăn bám, ăn cắp, ăn cướp và mại bản về kinh tế, vong bản về chính trị và tư tưởng. Thế lực này núp trong bóng tối đằng sau cái bình phong Đảng lãnh đạo đang từng ngày từng giờ đẩy đảng viên vào cảnh dần dần tự huỷ tư cách yêu nước của mình, đồng thời phá hoại nghiêm trọng tư cách yêu nước, tư cách vì dân của Đảng. 
Cách đây 20 năm, trước khi qua đời, nhà văn Nguyễn Minh Châu (giải thưởng Hồ Chí Minh) viết: “Làm thằng nhà văn Việt Nam vào lúc này mà tìm cách lẩn tránh vấn đề dân chủ là thiếu tư cách”.
Xin mời các uỷ viên  bộ chính trị và uỷ viên trung ương Đảng, các đại biểu Quốc Hội cùng tất cả mọi người đọc câu thành ngữ dân gian mới đang lưu truyền mà tôi nghe được:
 "Đảng chỉ tay, Quốc hội giơ tay, Mặt trận vỗ tay, Chính phủ ra tay, Doanh nghiệp nhà nước ngửa tay, Công ty hữu hạn ngoặc tay, Công an còng tay, Tội phạm bắt tay, Báo chí chùn tay, Trí thức phẩy tay, Đồng đội cụt tay, Quan chức đầy tay, Dân trắng tay".           
Đó là hậu quả kết đọng đau đớn của tình trạng tự diễn biến bên trong và diễn biến từ bên ngoài.
Tình hình là như thế, theo sự quan sát và nhận thức của tôi. Tôi rất mong có một cuộc thảo luận bình đẳng, công khai và thẳng thắn để nhận được sự chỉ bảo xem nhận định của tôi có chỗ nào quá mức, chỗ nào chưa đúng mức so với thực tế.

Đà Lạt 30.12.2008
                  BMQ        



HẺM BUÔN CHUYỆN - KỲ 172 - Chung quy chỉ tại thằng…dân !!!

               

Trưa nay chẳng hiểu đi đâu về, ông đại tá hưu mặc đồ lớn, ngực đầy huân chương gõ giày cồm cộp bước vào quán.làm cô Phượng cave trố cả mắt :
“ Í trời…bộ chú Ba đi họp đại hội đảng sao diện oách quá ta ?”
Bà tổ trưởng đỡ lời :
“ Hai năm nữa mới tới đại hội đảng kìa …chắc chú Ba đi họp Hội cựu chiến binh ?”
Ông đại tá hưu trợn mắt :
“ Không phải họp cựu chiến binh mà đi mét tinh ?”
Gã Ký Quèn cười hô hố :
“ Chắc họp mét tinh phản đối Trung Quốc phát huy chiến thuật biển người thành chiến thuật “biển …tàu” đưa tới 23 ngàn tàu đánh cá vào cướp cá của ta ở biển Đông ? Mà sao không thấy cha phát ngôn nhân ngoại giao lên tiếng phản đối hè ?”
Bà tổ trưởng cong cớn :
“ Sao phản đối ? Đây là chủ trương lớn của đảng, gác tranh chấp, cùng khai thác mà..”
Ông đại tá hưu quát :
“ Vậy tụi bay có biết hôm nay ngày gì không ?”
Ông Tư Gà nướng càm ràm :
“ Ngày 5 tháng Tám tây chớ ngày mẹ gì ?”
Ông đại tá hưu ưỡn ngực :
“Cách đây 50 năm, ngày 5/8/1964, Hải quân Việt Nam lần đầu tiên ra quân đã dũng cảm, kiên cường đánh đuổi tàu khu trục Maddox của Mỹ, bắn rơi 8 máy bay trên vùng biển, vùng trời miền Bắc, làm nên truyền thống “đánh thắng trận đầu” của Quân chủng Hải quân anh hùng. Hôm nay tao đi dự mét tinh chào mừng ngày lịch sử đó…”
Cô Phượng cave tròn mắt :
“ Ủa …vậy hồi năm 1988 Trung Quốc giết hại chiến sĩ ta, cướp trắng đảo Gạc Ma, Hải quân anh hùng rúc đâu nhỉ ?”
Ông Tư Gà nướng cũng lên tiếng :
“ Bao năm qua, Trung Quốc bắt giam, bắn giết ngư dân ta, đâm chìm tàu ta có thấy thằng hải quân anh hùng nào ló mặt ra đâu. Ngay cả giàn khoan 981 đặt trên lãnh hải của ta, rồi Trung Quốc rượt đuổi đâm va tàu hải cảnh, tàu kiểm ngư, tàu cá của ta mà hải quân anh hùng rúc xó nào nhỉ ?”
Ông đại tá hưu đập bàn :
“ Đó là đường lối chiến lược chiến thuật thiên tài của đảng ta, tụi bay đừng nói láo …”
Vừa lúc đó thằng Bảy xe ôm chạy xe về quán mặt mày hớn hở làm cô Phượng cave vội hỏi :
“ Thằng Bảy xe ôm vừa trúng đề sao nom hí hởn vậy mày ?”
Thằng Bảy xe ôm cười toe toét :
“ Trúng đề đâu mà trúng đề. Có điều vừa được coi cảnh sát giao thông bị uýnh đòn …?”
Cô Phượng cave trố mắt :
“ Đâu vậy mày ? Ai to gan dám đánh cả cảnh sát giao thông ?”
Thằng Bảy xe ôm cười cười :
“ Dân thường ai dám đánh cảnh sát. Chỉ cảnh sát đánh cảnh sát thôi…”
Lúc này ông Tư Gà nướng mới lên tiếng :
“ Vậy cảnh sát giao thông uýnh nhau à ? Chắc ăn chia không đều phải không ?”
Thằng Bảy xe ôm lắc đầu :
“ Không phải cảnh sát giao thông uýnh nhau, mà là cảnh sát cơ động uýnh cảnh sát giao thông ?”
Cô Phượng cave láu táu :
“ Thiệt vậy à ? Nhưng có chuyện gì cảnh sát cơ động lại đánh cảnh sát giao thông ?”
Thằng Bảy xe ôm cười cười :
“ Cha cảnh sát cơ động này đang được  nghỉ nên không mặc đồ cảnh sát. Đã mặc thường phục lại không đội mũ bảo hiểm. Khi chạy xe qua cảnh sát giao thông bị huýt coi nhưng cha lờ đi chạy thẳng. Cha cảnh sát giao thông phóng theo và đánh một cú gậy lên đầu cha cảnh sát cơ động. Cha này  tức quá xuống xe vớ ngay thanh sắt bên đường cứ thế là vụt túi bụi ….”
Cô Phượng cave cười khoái chí :
“ Đáng đời hai thằng chó. Cứ giỏi ăn hiếp dân cho lắm vào ?”
Thằng Bảy xe ôm trợn mắt  :
“ Sao chị Phượng cave dám bảo cảnh sát ăn hiếp dân ?”
Cô Phượng cave giẩu mỏ :
“ Không hiếp dân thì là gì ? Cứ thổi một cái là dân phải nôn tiền ra…”
Thằng Bảy xe ôm cười hô hố :
“ Thì cũng tại cảnh sát mới chỉ sờ tay vào cạp quần, dân ta đã tụt ngay ra rồi. Hiếp đâu mà hiếp …”
Cả quán cười ồ ồ , trừ ra ông đại tá hưu và bà tổ trưởng…


5-8-2014

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI KỲ 44 - 85 năm sau “vũ như cẫn”


                               
                                     
                                                                              

 Xin hãy đọc đoạn văn sau đây :

“Không thể chối cãi được rằng đất nước này đang trải qua một cuộc khủng hoảng, có thể là khủng hoảng tăng trưởng, cách gì thì cũng là một khủng hoảng khá sâu sắc, và nhiều người không nghi ngờ gì mức độ nghiêm trọng của nó.
Sự phát triển kinh tế, sự thịnh vượng vật chất có thể dễ dàng đo đếm, đánh giá được: các chỉ số, các thống kê khéo léo, các biểu đồ dễ dàng hiển thị chúng thành các đường cong biểu diễn. Nhưng một trạng thái bất ổn về tinh thần biểu lộ trong những lĩnh vực không cân đong đo đếm được thì khó nắm bắt hơn nhiều.
Ở nhiều nước khác, văn chương, báo chí cho biết tình hình các chuyển động và dao động của công luận, phản ánh thái độ hay miêu tả các tâm trạng, cung cấp các dấu hiệu quý giá về cuộc sống sâu kín của dân chúng, nhưng ở đất nước này, vì nhiều lý do mà nói ra sẽ rất dài, những phương tiện đó gần như không có.
Đến mức một nhà quan sát tò mò muốn tìm hiểu cuộc sống sâu kín của dân tộc này, đặc biệt nếu anh ta lại không nói được ngôn ngữ của nó, không hoà mình được vào cuộc sống bản địa, sẽ không biết mình phải dựa trên cái gì để mà quan sát. Thậm chí đôi khi anh ta còn không nắm bắt được những biểu lộ ra bên ngoài của người dân: hoặc anh ta không hiểu, hoặc anh ta hiểu sai. Và nếu anh ta hài lòng với các tài liệu chính thức, vốn rất dồi dào và dài dòng, anh ta sẽ chia sẻ một sự lạc quan giả tạo, rất ít thật và rất nhiều giả!
Phải chăng nói như thế có nghĩa là cảnh khủng hoảng mà chúng ta vừa nói ở trên và tình trạng tinh thần bất ổn sinh ra từ đó là điều một nhà quan sát sành sỏi không thể nắm bắt được?
Bất kỳ ai chịu khó nghiên cứu cuộc sống của người dân nước Nam mà không dừng lại ở những khía cạnh hời hợt bên ngoài đều nhận ra rất nhiều dấu hiệu tố cáo cảnh tượng khủng hoảng và bất ổn đó. Và người ta sẽ ngạc nhiên khi thấy chỉ trong vài năm mà đã có những biến đổi sâu sắc trong ý thức, tập tục và tâm trạng của các tầng lớp dân chúng khác nhau.
Một sự tiến hoá đang trở thành hiện thực không diễn ra theo đường thẳng mà người ta muốn gán nó theo những dấu hiệu bề ngoài, mà đó là một cuộc tiến hoá lộ ra rất nhiều khó khăn và trắc trở, nhiều sóng gió, gian truân, đau đớn.”
Đọc xong ta có cảm giác như tác giả là một nhà hoạt động dân chủ viết về tình hình Việt Nam vào năm 2014 với những nhận xét rất sâu sắc về “khủng hoảng xã hội”, về báo chí và văn học.
Nhưng không phải….
Tác giả đoạn văn trên chính là nhà đại trí thức Phạm Quỳnh viết vào năm 1929 – cách nay 85 năm nhưng vẫn còn tươi rói tính cách thời sự . Người ta phải giật mình khi đọc đoạn viết sau đây của ông :
“  Giờ đây, một trạng thái tinh thần bất ổn đang trùm lên đất nước này, nó có thực và khó sờ thấy được như khí quyển, một khí quyển tích đầy điện dông bão.
Trạng thái tinh thần bất ổn này là do các nguyên nhân về đạo đức, xã hội và chính trị. …. Trật tự mới do cuộc xâm chiếm thiết lập và sự phát triển kinh tế của đất nước đã làm đảo lộn trật tự thứ bậc cũ. Các tầng lớp mới hình thành nhờ sự phát triển chung và cũng từ hoàn cảnh mới đang du nhập vào đất nước các tập tục mới, ban đầu thì ở thành phố, sau đó ngày càng thấm sâu vào các vùng nông thôn. Chúng mâu thuẫn với các thói quen lâu đời, va chạm với những khuôn khổ xã hội cũ, làm tan rã nền tảng cũ của gia đình và làng xã. Hệ quả tất yếu là một sự rối loạn trong tập tục, cũng nghiêm trọng như rối loạn ngự trị trong đầu óc con người.
Nhưng nếu đúng là giá trị của một đất nước là ở tầng lớp tinh hoa, thì tầng lớp tinh hoa nước Nam hiện giờ lại đang vô cùng chán nản, và họ chán nản vì những lý do chính trị. Trong bài viết về chủ nghĩa dân tộc, chúng tôi đã lưu ý rằng người nước Nam có cảm giác mình là những người xa lạ ở ngay trong đất nước họ.
…Gộp tất cả các nguyên nhân này lại thì có một trạng thái tinh thần bất ổn chung, nó rồi sẽ trôi qua thôi, cần phải hy vọng thế, nhưng không phải vì thế mà lúc này không lo lắng, bởi vì bất ổn đó làm cho cơ thể xã hội rơi vào trạng thái kháng cự yếu ớt nhất, đúng vào thời điểm trên toàn thế giới sự lây nhiễm một vài tư tưởng đang là điều đáng lo ngại nhất.”
Những đoạn trên trích trong bài “Tinh thần bất ổn” trong tập “ Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp những năm 1922-1932” của Phạm Quỳnh , năm 2008 được nhóm Nguyễn Xuân Khánh, Nguyên Ngọc, Ngô Quốc Chiến và Phạm Xuân Nguyên biên dịch, Phạm Toàn giới thiệu do nhà xuất bản Tri Thức và trung tâm Đông Tây vừa phát hành .
Sát gần với tình hình hiện nay còn phải kể tới bài “Chính trị” của tiên sinh viết vào năm 1929 :
““Vậy chính trị theo định nghĩa ở từ điển là gì? Đó là tất cả những gì liên quan đến công việc cai quản Nhà nước, đến công việc quản lý có hiệu quả mọi công việc công cộng, đến việc bảo vệ lợi ích tối cao của dân tộc.
Vậy thì, vì lẽ gì một công dân xứng với danh hiệu này, cho dù danh hiệu đó đã bị hạ thấp ít nhiều, - và đó chính là trường hợp của kẻ đang muốn trở thành công dân ở xứ Đông Dương hay ở nước Nam – lại có thể không quan tâm đến công việc của đất nước mình, nghĩa là quan tâm đến chính trị, cái chính trị như một nghệ thuật quản lý mọi công việc của đất nước sao cho tốt đẹp?
Vì lẽ gì một người nước Nam biết lo lắng cho sự phồn thịnh và tương lai của tổ quốc mình, lại có thể không tìm hiểu xem tổ  quốc mình được cai quản như thế nào, lại không tự hỏi liệu các thể thức cai quản hành chính hay cai quản hiện nay có phù hợp với đất nước mình không, và nếu cần, thì phải tiến hành những cải cách, những cải tiến, những sửa đổi hoặc những cải tạo hữu ích hoặc cần thiết nào? Và nếu cái người nước Nam ấy phát hiện thấy có những lạm dụng, những sai sót hoặc những vi phạm, liệu cái người nước Nam ấy có thể tự buộc tội mình không tố cáo chúng ra?
Tất cả những điều đó chính là chính trị, và đó không chỉ là quyền được làm mà còn là nghĩa vụ phải làm của người công dân.
Và nếu, trong khi tranh luận về những vấn đề lợi ích chung này, công dân nước Nam kia chỉ duy nhất bị thúc đẩy bởi ước vọng được có ích cho đất nước và đồng bào mình, nếu như công dân ấy không bao giờ mất bình tĩnh, mất khả năng làm chủ hoàn toàn bản thân, mất cái trung lập về tinh thần hay tính “trung dung” thành thói quen trải qua nhiều thế kỷ văn hoá Khổng giáo, nếu như công dân ấy không đem vào đó bất kỳ định kiến nào, bất kỳ sự nóng nảy nào, và hơn thế nữa, nếu công dân ấy luôn luôn giữ mình trong phạm vi hợp pháp và tôn trọng trật tự, thì có cái chính phủ nào, dù có yếu bóng vía đến mấy, lại có thể coi hành vi và thái độ như thế của công dân kia là một tội ác?
Ngược lại, một chính phủ quan tâm đến việc hoàn tất tốt nhiệm vụ của mình sẽ phải biết ơn những con người có thiện chí này, những người làm hết sức mình để soi tỏ cái niềm tin đó của chính phủ….Và trong hoàn cảnh này, các bạn lại không muốn người nước Nam làm chính trị hay sao? Như thế chẳng khác nào các bạn muốn họ thờ ơ với số phận của đất nước họ, đến tương lai con cháu họ, đến hạnh phúc gia đình họ, đến cuộc sống của chính họ!

…Dưới cái cớ kiếm tìm hạnh phúc cho nhân dân, người ta ru ngủ và lừa dối nhân dân bằng các ảo tưởng nguy hiểm hoặc giả trá. Với chiêu bài chính trị này, những kẻ tầm thường nhờ vào những con người tốt đẹp hơn họ để giành lấy chiến thắng, những người cuồng nhiệt nhất thì vùng vẫy và đứng ra trục lợi là láu cá nhất hạng hoặc là những kẻ ít biết hổ thẹn hơn cả thì đứng ra trục lợi.…
Bọn họ duy trì trong xã hội một tình trạng siêu kích động triền miên thuận lợi cho sự bùng nổ mọi loại hằn thù, oán hận, mọi loại tình cảm xấu vốn đang ngủ yên trong đám đông. Đó chính là chính trị “làm chiêu bài cho đủ điều ngu ngốc, cho mọi thứ tham vọng, và cho mọi chuyện lười nhác” như Alphonse Daudet đã nói. Chính vì thế nó trở thành “chất hoà tan cực mạnh ý thức con người”, trở thành yếu tố làm bại hoại tình cảm và phong tục. Cái thứ chính trị đó luôn luôn đi kèm với những cách thức thực thi ít nhiều được đem dùng phổ biến, bao gồm từ những lời dối trá ngu xuẩn nhất đến những doạ dẫm trơ trẽn nhất, từ các mưu mô xảo quyệt nhất đến hành động mua chuộc công nhiên nhất. Lợi ích chung, lợi ích của nhân dân, lòng ái quốc, sự hoà hợp xã hội, đó là những lời lẽ được dùng để biện hộ cho sự buông thả mọi dục vọng và mọi thói ích kỷ.
Dạng chính trị này, vốn dĩ mọi người đều có thể tiếp cận được, tự nhiên làm nảy nở mọi sự tầm thường. “Thô bạo, bất công, gây hận thù, và to mồm”, nó làm những con người có giá trị tránh xa, nhưng lại phô ra những nét hấp dẫn đặc biệt cho đám người bất tài, mưu mẹo, tham vọng, ba hoa. Sở thích này bắt đầu lan truyền trong một số giới người nước Nam. Nhưng nếu đồng bào chúng ta được tiếp xúc sâu rộng với loại chính trị này, - và dường như đó là quy luật để “tiến bộ” lên – thì chúng tôi mong muốn sự tiếp xúc để tiến bộ đó càng xảy ra muộn càng tốt.
Kết luận phải rút ra từ sự so sánh như thế giữa hai dạng chính trị là rành rành rồi. Người nước Nam có thể và cần phải làm chính trị, nhưng đó là chính trị theo nghĩa thứ nhất đã đem ra phân tích: cái chính trị của lợi ích chung đòi hỏi một sự toàn tâm toàn ý cho việc công. Ngược lại, người nước Nam phải tránh cái chính trị có xu hướng mị dân, nó ve vãn nhân dân để lừa dối nhân dân, và bất chấp thực tế, khiến nhân dân lao vào các ảo tưởng nguy hiểm và không thể thực hiện được.”
Rõ ràng cái thứ  chính trị “Thô bạo, bất công, gây hận thù, và to mồm” chính là cái thứ chính trị ngày nay Đảng và Nhà nước đang thực hiện khiến cho “những con người có giá trị tránh xa, nhưng lại phô ra những nét hấp dẫn đặc biệt cho đám người bất tài, mưu mẹo, tham vọng, ba hoa…”
80 năm sau, (1929 – 2014)  những ý kiến của Phạm Quỳnh vẫn còn nguyên giá trị hiện thực khiến người ta phải tôn vinh ông như một thiên tài .
Trong dịp ra mắt cuốn “Tiểu luận” của Phạm Quỳnh, nhà văn Nguyên Ngọc đã phát biểu :
“ Tôi lấy làm vinh dự và hạnh phúc được tham gia dịch tác phẩm của một học giả lớn nhất thế kỷ XX. Là người uyên thâm cả Đông lẫn Tây, mỗi tiểu luận của ông đều có giá trị như một công trình nghiên cứu hoàn chỉnh, Tây thì đến tận gốc Hy La, Đông thì tiêu biểu cho một trí thức có nền Hán học, Việt Nam học uyên thâm trước khi ông tiếp thu phương Tây học. Ngày nay chúng ta biết rất nhiều, nhất là những cái là lạ của phương Tây nhưng biết đến tận gốc thì không mấy người biết. Con người Phạm Quỳnh là hiện thân của quá trình giáp mặt Đông Tây, đó là số phận phương Đông nói chung và của Việt Nam nói riêng.”
Vậy mà con người vĩ đại đó đã bị Việt Minh thủ tiêu vào tháng Tám năm 1945, bị vùi dập , chụp cho cái mũ “tay sai của thực dân Pháp và triều đình nhà Nguyễn” trong suốt hơn nửa thế kỷ vừa qua, cho dù một tài liệu mật ở Bảo tàng Aixen Provence của thống đốc Trung kỳ Haelewyn gửi Toàn quyền Decoux (tháng 8-1945) về Phạm Quỳnh trong đó có câu kết:
“Dưới bề ngoài nhã nhặn và thận trọng, con người đó là một chiến sĩ không lay chuyển nổi cho nền độc lập của Việt Nam. Và đừng hòng làm dịu tình cảm yêu nước của ông ta bằng một cương vị danh giá hoặc trả lương hậu hĩ. Ông ta là một kẻ thù không khoan nhượng nhưng cương quyết chống lại sự đô hộ của nước Pháp.”
Mãi hơn nửa thế kỷ sau, từ năm 2000, một số tác phẩm của Phạm Quỳnh mới được xuất bản : Mười ngày ở Huế, NXB Văn học - 2001 , Mục lục Nam Phong, NXB Thuận hoá - 2002 , Luận giải Văn học và Triết học, NXB Thông tin, 2003 , Pháp du hành trình nhật ký, NXB Hội Nhà Văn, 2004 , Thượng Chi văn tập, NXB Văn học, 2007 , Du ký Việt Nam, NXB Trẻ, 2007 , Phạm Quỳnh - Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp, NXB Tri thức, 2007 .•    
Mặc dầu bị thảm sát, bị bôi xoá, vùi dập , nhà đại trí thức yêu nước Phạm Quỳnh vẫn như ngôi sao mỗi ngày mỗi sáng hơn trong lòng dân tộc.

NT.