Tổng số lượt xem trang

Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2013

HẺM BUÔN CHUYỆN (KỲ 119 ) : Từ nay dân ta sướng rồi nha !



              



Mấy hôm nay ông đại tá hưu đi Hà Nội , bà con trong quán tha hồ tán chuyện trên trời dưới biển khỏi lo uốn nắn.Vậy nhưng mới sớm nay đã lại thấy ông ngồi lù lù giữa quán oang oang kể chuyện :

“ ối trời ôi, mấy bữa nay Hà Nội bắt đầu rét .Buổi tối tới Câu lạc bộ Ba Đình nghe nói chuyện Hội nghị trung ương 8 đã phải mặc áo len rồi…”.

Cô Phượng cave cười ngỏn nghẻn :

“Hội nghị trung ương 8 là cái gì vậy chú Ba ?”

Ông đại tá hưu trợn mắt :

“Ơ con này hỏi ngu…Hội nghị trung ương 8 là hội nghị Ban chấp hành trung ương đảng lần thứ 8 chứ còn gì ? Hỏi thế cũng hỏi !”

Thằng Bảy xe ôm cười hô hố :

“ Tôi chẳng cần ra Hànội cũng biết Hội nghị bàn cái gì rồi ?”

Ông đại tá hưu quát :

“ Thằng này giỏi a…mày nói tao nghe coi hội nghị bàn gì nào ? Nói láo tao ghè gẫy răng mày…”

Thằng Bảy xe ôm giãy nảy :

“ Í chết…sợ quá…gãy răng lấy gì nhai ?”

Cô Phượng cave khích :

“ Thì thằng Bảy xe ôm cứ nói đi. Dễ gì chú Ba ghè gẫy được răng mày ?”

Thằng Bảy xe ôm cao giọng:

“ Thì mấy hôm trước ông Nguyễn Phú Trọng đã nói cả  rồi. “Việt Nam vẫn tăng trưởng kinh tế , an sinh xã hội đảm bảo, số hộ nghèo giảm, lạm phát  kiềm chế, an ninh quốc phòng giữ vững,  kinh tế đảm bảo, vị thế quốc tế của Việt Nam rất cao, tóm lại là tình hình rất tốt. Hội nghị cứ thế mà nói theo chứ còn bàn gì nữa ?”

Gã Ký Quèn lắc đầu :

“ Không phải vậy. Khi gặp cử tri, ông Tổng Bí thơ nói :”Giờ về nhà đi ra ngoài thấy cái gì cũng phải tiền, không tiền là không trôi, rất khó chịu. Tham nhũng lớn có, tham nhũng nhỏ cũng nhiều. Chạy chỗ nào cũng thấy phải có tiền”. Ông Trọng nói vậy nhưng trong chương trình nghị sự hội nghị có nói gì tới tham nhũng đâu ?”

Cô Phượng cave cười toét miệng :

“ Thì ông Tổng Bí thơ đã nói rồi, hội nghị dâu nói nữa…”

Gã  Ký Quèn cười lớn :

“ Rồi cả trước khi họp, ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đi tây đi Mỹ cũng nói hết cả rồi cần gì tới hội nghị bàn bạc ?”

Cô Phượng cave õng ẹo :

“ Ông Nguyên Tấn Dũng nói gì vậy anh Ký Quèn ?”

Gã Ký Quèn nghiêm giọng :

“ Thì ổng nói đảng ta lấy  phương châm con người là mục tiêu, là trung tâm , Việt Nam đã đặc biệt quan tâm đầu tư cho y tế, giáo dục, thông tin... cho mọi người dân, nhất vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số….”

Thằng Bảy xe ôm vỗ tay :

“ Í mèn ôi… đảng quan tâm vậy nhất định đẩy lùi được cái đói cái nghèo …”

Cô Phượng cave cười ngặt nghẹo :

“ Vậy rồi cái đói cái nghèo đẩy đi đâu ?”

Gã Ký Quèn cười lớn :

“ Đẩy vào hẻm ổ chuột , đẩy vào công nhân, nông dân, đẩy lên vùng sâu vùng xa chứ còn đẩy đi đâu …”

Ông Tư Gà nướng càm ràm :

“Ông trời cảnh báo sao đó, đúng lúc đảng họp  làm ngay cơn bão lụt . Hàng vạn nhà cửa cuốn trôi, hàng vạn người đói rét mà mấy cha vẫn tỉnh bơ com-lê, cà-vạt bàn chuyện trên trời, không chia sẻ với dân bão lũ lấy một câu ! Mãi hết mưa bão, mới thăm hỏi, kêu gọi quyên góp ..”

Ông đại tá hưu đập bàn quát :

“ Việc cứu trợ bão lụt đã có Chính phủ , hội nghị trung ương đã khai mạc, đảng chỉ họp thôi chớ.. Có họp mới ra quyết sách đầu tư y tế, giáo dục, thông tin cho mọi người dân, đặc biệt vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số chớ…”

Chị Gái hủ tíu thắc mắc :

“ Vậy rồi đảng họp xong giá xăng, giá điện, giá ga, giá nước có giảm không chú Ba ?”

Ong đại đại tá hưu chưa biết nói sao, cô  Phượng cave đã vỗ tay :

“ Giảm chớ….đảng họp ra nghị quyết đầu tư cho dân là phải giảm tuốt luốt chớ …”

Thằng Bảy xe ôm nhảy lên :

“Vậy từ nay dân ta sướng rồi nha….”

Cả quán cười ồ riêng ông đại tá hưu mặt cứ ngây ra.



5-10-2013






Thứ Năm, 3 tháng 10, 2013

nhà văn NHẬT TIẾN : HÀNH TRÌNH CHỮ NGHĨA (KỲ 22)

CHƯƠNG 11
Sinh hoạt văn hoạt Văn Học Nghệ Thuật ở hải ngoại

 Thời điểm:  năm 2006


TRẦN VŨ VIẾT VỀ TẠP CHÍ HỢP LƯU (trích)
Năm 1991 là năm khởi đầu của nhiều bài viết cảnh giác thái độ nhẩn nha cầm chừng trong sáng tác, tranh cãi hay kết án những vòng tường ghetto bao vây. Điều đó chứng minh sau một thập niên khởi sắc, sáng tác hải ngoại gặp khủng hoảng. Trong tình trạng thụt lùi như vậy, làm báo chỉ từ chết đến bị thương giống họa sĩ Khánh Trường than. Nhưng đó chỉ mới là khó khăn riêng của một bộ môn sáng tác, những sáng tác mà Khánh Trường luôn luôn rất cần cho những số Hợp Lưu nối tiếp. Còn nhiều khó khăn khác.

            Buổi tối ra mắt Hợp Lưu trong hiệu phở Thụ là một buổi tối thành công kỳ lạ. Đông đến mức quán hết chỗ, mọi người phải đứng và lần đầu tiên tôi thấy Mai Thảo bị dịch giả Kim Lefèvre quay. Đông, vui, như cơn say quên trời đất của Kiệt Tấn, như ánh mắt hấp háy lạc quan sau lớp kính ve chai của nhà nhạc học Nguyễn Thiên Đạo; nhưng nụ cười tươi của chị Thụy Khuê không khỏa lấp những lo lắng cho ngày mai. Hơn ai hết chị Khuê biết rõ khả năng tài chánh của Hợp Lưu. Hơn ai hết chị hiểu rõ áp lực của hội đoàn đảng phái. Họa sĩ Khánh Trường hùng dũng trấn an: Chị cứ yên tâm, tôi không thua đâu.

Tôi không thua đâu. Có lẽ đây là câu trả lời chính xác nhất vì sao và tại sao chuyển động Hợp Lưu thành công và tạp chí đứng vững suốt 12 năm. Câu trả lời này xác định cá tánh đặc biệt của người chủ biên tạp chí.

Để hiểu quyết tâm của Khánh Trường, phải sống trở lại bối cảnh của cộng đồng VN đầu thập niên 90. Chưa khi nào áp lực của hàng trăm hội đoàn mạnh đến như vậy. Việc cướp máy bay, rải truyền đơn rồi nhảy dù xuống Việt Nam của Lý Tống (xẩy ra sau vài số Hợp Lưu) biểu trưng tất cả tinh thần quang phục đất nước lúc đó. Phải đọc tất cả các báo Việt ngữ xem affaire Lý Tống là một thiên anh hùng ca, phải đi giữa đường phố Bolsa rợp lá cờ vàng để hiểu hành động làm tạp chí Hợp Lưu của Khánh Trường là một hành động can đảm. Phải trông thấy cảnh cuốn sách Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương bị lôi trên đất và đốt cháy để hiểu bầu không khí quá khích bao trùm nặng nề lúc đó. Điện thoại chửi bới nửa đêm, fax văng tục, mail hăm dọa, thư nặc danh, đập kính xe là thực đơn hằng ngày. Cùng với Hợp Lưu, tạp chí Trăm con của Trân Sa và Tư Đồ Tuệ cũng trong chiều hướng giao lưu đã không chịu nổi áp lực phải đình bản. Áp lực đến nỗi, khi cho xuất bản Cánh Cửa, nhà văn Nhật Tiến trả lời phỏng vấn đã thẳng thừng chua chát: Nhà văn VN ngoài nước không có tự do sáng tác!

            Trước đó, chỉ với Mùa Biển Động với một chương tả người lính VNCH say rượu đeo xâu tai xác chết cắt quanh người, Nguyễn Mộng Giác đã bị chê trách «Bôi nhọ quân lực» và áp lực đến mức chủ bút Văn Học Nghệ Thuật Võ Phiến phải mời trị sự của mình là Nguyễn Mộng Giác từ chức. Nguyễn Mộng Giác không từ chức, tạo nên sự cố Văn Học không dễ tuỳ nghi lúc đó.

            Chưa một tạp chí nào ra đời khó khăn như vậy. Không chỉ một mình chủ biên Khánh Trường chịu búa rìu dư luận, tất cả những nhà văn, nhà thơ chấp nhận đăng bài trên Hợp Lưu đều mặc nhiên bị xem là Việt Cộng, hoặc lịch sự hơn: nối giáo cho giặc.

            Nhà văn Nhật Tiến, người cha tinh thần đỡ đầu cho Hợp Lưu, người chủ trương giao lưu sớm nhất từ Mồ Hôi Của Đá, đã gánh chịu không biết bao nhiêu phỉ báng, một trong những lý do khiến ông buộc lòng rời khỏi ban chủ biên. Không ai có thể trách tác giả Thềm Hoang, giải thưởng văn chương phủ tổng thống VNCH là một nhà văn thiên tả, không ai có thể trách Nhật Tiến là một nhà giáo không gương mẫu, hay một người thiếu đạo đức. Nhưng cũng không ai chịu hiểu tinh thần quang phục đất nước chỉ là một tinh thần hoang tưởng đầy ảo vọng. Nên khi Hợp Lưu, tạp chí thuần văn học đầu tiên đưa ra cái nhìn khác — Đã đến lúc người Việt phải đối xử với nhau như những con người cho dù khác chính kiến và Việt Nam hôm nay phải không còn hận thù, một văn bản nếu mang giá trị văn học là một văn bản có giá trị, dù tác giả của nó sống trong hay ngoài nước — Cái nhìn mới này đã tạo ra một cơn sốt ý thức rất lớn trong tâm hồn của rất nhiều những kỹ sư tâm hồn.

            Thời gian đó, với các văn, thi sĩ được chủ biên Hợp Lưu gởi thư mời, chọn lựa không dễ. Với mỗi người đã là một bước qua lời nguyền vô cùng khó khăn, với tất cả rủi ro trấn áp kết án từ bạn bè, các báo quốc gia đang cộng tác và cả với lương tâm của chính mình, lương tâm nào đã quyết định rời bỏ quê cha đất tổ ra đi vì không chấp nhận chính quyền Cộng Sản đương nhiệm và lương tâm nào ý thức không thể phân ly chia đôi đất nước mãi mãi?

Nhưng thật kỳ lạ, nếu mở lại những số Hợp Lưu đầu tiên, thành phần ban chủ biên tăng dần rất nhanh sau mỗi số báo cho đến khi hầu hết các tác giả thường xuyên viết trên các báo Cộng Hoà đều lần lượt xuất hiện trên Hợp Lưu. Đó là dấu hiệu mà Khánh Trường nhận ra anh đã đi đúng hướng, và đó cũng là dấu hiệu cho thấy những nhà văn Việt đã tự chất vấn mình từ rất lâu. Chắc chắn trong thâm tâm, Khánh Trường cảm tạ rất nhiều tấm lòng của những người bạn Phan Tấn Hải, Ngu Yên, Phạm Việt Cường, Cao Đông Khánh, Nguyễn Mạnh Trinh, Trần Mộng Tú, Du Tử Lê, Thường Quán, Khế Iêm, Lê Bi, Lê Thứ, Hồ Đình Nghiêm, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Trần Long Hồ, Trầm Phục Khắc, Vũ Huy Quang, Võ Đình, Nguyễn Thị Thanh Bình, Phạm Chi Lan, Chân Phương, Đỗ Kh., Hoàng Mai Đạt, Trương Vũ, Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Nguyễn Hương, Lê Thị Thấm Vân, Trân Sa, Vũ Quỳnh Nh., Thụy Khuê, Bùi Vĩnh Phúc, Nguyễn Thị Khoa Phương, Phan Thị Trọng Tuyến.. đã tham dự hết mình ngay từ những ngày đầu, và hơn nữa cảm tạ dân tộc Việt hãy còn biết đến tha thứ, nhân hoà.

            Khó khăn vẫn chưa hết. Ai đã làm báo hiểu rõ khó khăn kinh khủng nhất vẫn là khó khăn tài chánh. Bao nhiêu tờ báo Việt ngữ đã sập tiệm. Hồn Việt chết theo với Thanh Nam, Nhân Văn của nhóm Nguyễn Thượng Văn và Tưởng Năng Tiến, Tân Văn của Hà Thúc Sinh, Văn Lang của Nguyễn Mộng Giác, Văn Xã của Nguyễn Hữu Nghĩa, Ý Thức của Viên Linh, Chân Nguyên của Phạm Công Thiện, Tập Họp của nhóm trẻ Úc, Đối Thoại của Lê Bi, Việt của Nguyễn Hưng Quốc đều phải đình bản. Võ Phiến cũng chết đi sống lại hai lần với Văn Học Nghệ Thuật, và tạp chí Thơ của Khế Iêm trong tình trạng khắc khoãi thường trực của một cái chết được dự báo. Đó là chỉ kể những tạp chí tên tuổi. Khác với Thế Kỷ 21 được công ty Người Việt hỗ trợ, Hợp Lưu chỉ sống bằng công quả của bằng hữu, bằng công sức và lợi tức thu nhập cá nhân của chính chủ biên Khánh Trường. Sự sống sót của Hợp Lưu liên tục suốt 12 năm qua, đều đặn gởi đến tay bạn đọc bao nhiêu số chủ đề, bao nhiêu biên khảo, phỏng vấn và sáng tác thơ, văn, kịch chính là sự thành công riêng của Khánh Trường và sự sống sót tinh thần của chính cá nhân anh.

            Để hiểu khó khăn tiền bạc của chủ biên Hợp Lưu túng thiếu nhường nào, tôi có một kỷ niệm đẹp về tình bạn giữa Mai Thảo và Khánh Trường. Mùa đông năm 96, tôi hay thích đến căn lầu xép trai phòng của Mai Thảo. Không có gì thú bằng ngồi dưới chân giường Mai Thảo nhìn ra hàng hiên trồng những đọt chuối xanh, nghe im lặng của buổi trưa phả hơi nóng nhẹ nhàng xâm chiếm chậm rãi căn phòng. Nhất là căn phòng đầy những chai lọ cognac tôi ưa thích, chỉ cần với chân cũng khều được dăm chai. Buổi trưa sâu thẳm yên tĩnh trong con hẻm Song Long, tôi vừa bị Mai Thảo lừa cho uống cognac có ngâm cu con hải cẩu thối hoắc, thứ rượu thuốc Nguyễn Xuân Quang tác giả Người Căm Thù Ruồi tặng ông uống chống lạnh, thì Khánh Trường ập vào, giọng anh hối hả:

            - Anh có tiền cho em mượn, Hợp Lưu in xong rồi mà em chưa có tiền lấy.

            - Bao nhiêu? Nhiều thì không có, ít thì có thể.

            Mai Thảo điềm nhiên lắc lắc ly rượu vàng lóng lánh. Màu vàng của buổi trưa loang đến cườm tay ông đọng lại thành vệt lỏng. Giá Khánh Trường có thể ngồi xuống uống rượu thưởng thức sự im lặng của trưa không có những phiền hà nợ nần của đời sống. Đâu ai biết gồng Hợp Lưu thường đắng như con hải cẩu chết tiệt.

            - Một ngàn đô, anh.

            - Hà hà.. tưởng bao nhiêu, một ngàn thì nhà băng lớn nhất nước Mỹ này cho vay.

            Mai Thảo, người thầy tinh thần của Hợp Lưu, bạn nhậu của tôi với anh, lặng lẽ lục tìm ví đưa tiền cho Khánh Trường mang ra nhà in ông Đào Văn Ngoạn lấy báo.

            - Vẽ được mấy cái bìa sách em sẽ gởi trả anh.

            - Không hứa, không hẹn gì cả, có tiền thì trả thế thôi!

            Mai Thảo gắt, ông ghét nói chuyện tiền bạc. Ông đưa tay quơ tìm bật lửa, đốt điếu thuốc Winston. Hành động của ông vừa nãy thật đẹp. Cho vay vô điều kiện, không thắc mắc dù ông cũng rất nghèo. Bác Thảo lúc đó còn mạnh, cười móm mém:

            - Tiền thì không có, nhưng rượu thì không khi nào thiếu. Và không bao giờ thiếu, không thể thiếu được! C’est inadmissible, insolent!

            Mai Thảo đập mạnh tay xuống mặt đệm. Tôi biết ông không bao giờ thiếu rượu. Tôi đã từng chở một cốp xe 30 chai cognac quà tặng cho ông đêm sinh nhật 63 tuổi. Mai Thảo là người giàu cognac và giàu tình bằng hữu nhất trần gian.

            Mấy ngày sau, rời quán Song Long sau điểm tâm với Hoàng Khởi Phong, Cao Xuân Huy, Du Tử Lê, tôi và người bạn làm báo văn học liên mạng trên internet Phạm Chi Lan đến chơi với Khánh Trường. Tôi với Phạm Chi Lan không giúp gì được anh trong công tác tòa soạn, nhưng vẫn thích ngồi quanh quẩn xem anh làm việc. Chúng tôi ngỡ ngàng nhìn 1200 cuốn Hợp Lưu chất đầy mặt đất.

            - Sao anh chưa gởi bưu điện, trễ hạn rồi mà? Lan hỏi.

            - Ờ hớ, để anh vẽ xong mấy cái bìa băng, bìa sách có tiền rồi gởi.

            Khánh Trường thản nhiên, không có vẻ gì cấp bách, nhưng tôi biết, đã 6 tây là trễ một tuần. Và từ hôm vay tiền bác Thảo cũng gần cả tuần, có nghĩa anh chưa có tiền. Phạm Chi Lan với tôi đi lạc quyên các anh chị Lê Thứ, Lê Bi, Nguyễn Hương, nhà xuất bản Hồng Lĩnh, và Trương Vũ từ miền Đông qua chơi, cuối cùng được vài trăm phụ với anh tiền cước phí bưu điện. Những ai còn thắc mắc nguồn tài trợ Hợp Lưu thì thực tế là như vậy. Và thực tế tài chánh này triền miên dằng dặc từ số đầu cho đến nay. Hai tháng một số báo qua thoăn thoắt, 66 số Hợp Lưu của 12 năm là 66 lần họa sĩ Khánh Trường xoay tiền chóng mặt.

            Một lần Hợp Lưu được Viện Vận Động Dân Chủ của quốc hội Hoa Kỳ đề nghị trợ cấp $10.000 một năm, vì tạp chí được xem có đóng góp cho chuyển động dân chủ. Những ai đã sống ở Âu Úc Mỹ biết rõ, những tài trợ của chính phủ, trường đại học, hay hiệp hội tư nhân cho những hoạt động văn hóa, nhân văn vô cùng bình thường. Ban chủ biên điều hành tạp chí lúc đó, Nguyễn Hương, Lê Bi, Phan Tấn Hải, Khánh Trường, Đỗ Hữu Tài, và nhà văn Nhật Tiến đã thảo luận cân nhắc việc nhận số tiền này. Giảm mối âu lo tài chánh để rồi tai tiếng như tạp chí Sáng Tạo của Mai Thảo đã nhận trợ cấp của phòng thông tin Hoa Kỳ? Nhận tài trợ nhưng nhất quyết giữ vững độc lập của tạp chí? Cho thì lấy nhưng không dính gì đến Hoa Kỳ? Nhưng ai cho tiền dễ dàng vô điều kiện như vậy?

            Trong cuộc đời có vay, có trả. Nhật Tiến cương quyết và dứt khoát nhất. Nhưng làm sao gồng triền miên trong tình trạng thị trường chữ nghĩa khánh kiệt như vầy? Ban chủ biên quyết định biểu quyết qua cách bỏ phiếu kín. Mọi lá phiếu đều đã ghi một chữ duy nhất: NO!

            Tôi ở xa không rõ vụ việc, chỉ biết như vậy. Cá nhân tôi tiếc mãi số tiền này, thêm tiền thêm nhiều khả năng mới, tăng trang, phụ bản tranh màu, đẩy mạnh nhà xuất bản Hợp Lưu, có thể trả nhuận bút cho các tác giả nghèo trong nước, đỡ chật vật cho Khánh Trường. Nhưng tôi hiểu nhân cách và lòng tự trọng không cho phép Nhật Tiến chấp nhận điều này. Và tôi cũng hiểu ông muốn tạp chí Hợp Lưu giữ linh hồn trong sạch. Nhật Tiến là một người thầy, một nhà văn đúng nghĩa, quyết định của ông được toàn ban chủ biên theo tuyệt đối. Quyết định đó, về sau, ngay cả những lúc khánh tận nhất, ban biên tập không ai hối tiếc. Trừ tôi - vẫn nghĩ, tất cả sinh sống ở Âu Mỹ, nhưng suy nghĩ giống quân tử Tàu. Nước Mỹ là một nước Dân Chủ và có quy chế Dân Chủ. Chúng ta có quyền hưởng quy chế xây dựng trên lá phiếu của từng công dân và trích từ tiền thuế tất cả cùng đóng. Nếu áp lực đến từ cơ quan nào đó của quốc hội Hoa Kỳ, chỉ cần viết một bài báo đăng trên New York Times, áp lực đó sẽ biến mất tức khắc. Các quân tử đã không chịu hành xử quyền công dân Hoa Kỳ của chính mình, thứ quyền công dân mà tất cả đã bỏ nước đi tìm. Quân tử, nên những ngày Khánh Trường bệnh nặng, không bảo hiểm y tế, không tiền túi, bạn bè phải chạy lo thuốc thang, các tác giả bác sĩ chạy giấy nhập viện, rồi anh xuất viện, tôi đến thăm, quần vẫn còn ướt đẫm máu, lại nhập viện. Hay những khi túng thiếu, ban biên tập khất thực từng tác giả, nhưng không phải ai cũng có tấm lòng của anh chị Trương Vũ, anh chị Lê Tất Luyện, anh chị Hoàng Chính Nghĩa. Khất thực một lần, lần thứ nhì, ni cô chê. Quân tử Tàu, nên Khánh Trường phải viết dâm thư kiếm tiền nuôi Hợp Lưu. Không một quân tử nào khác chịu viết Kim Bình Mai chung với anh. Thê thảm là vậy, cho Khánh Trường, kẻ ôm hoài bão văn chương. Nhưng kỳ diệu, Khánh Trường không xuống bùn, bạn đọc, văn hữu vẫn dành cho anh những tình cảm quý mến vì tất cả hiểu, anh bán mạng cho Hợp Lưu.

            Trong thư từ biệt của chủ biên, Khánh Trường nhìn nhận sự bảo bọc của độc giả và nhiệt tâm đóng góp của văn hữu. Nhưng anh quên mất: Chính anh xứng đáng được nhận sự bảo bọc và nhiệt tâm đó. Không phải ngẫu nhiên nhà phê bình Thụy Khuê thường xuyên giúp đỡ anh, lo bài vở cho các số chủ đề, phỏng vấn định kỳ, hỗ trợ anh trong những quyết định khó khăn. Cũng không ngẫu nhiên mà mỗi lần anh kêu cứu, nhà tiểu luận Trương Vũ bay từ Washington DC sang cứu nguy, cũng không ngẫu nhiên mà chị Thụy Khuê, rồi Trân Sa, rồi Mai Ninh, rồi Miêng, rồi Phan Huy Đường và nhiều bằng hữu nữa đứng ra lạc quyên cứu trợ bão lụt miền Trung cho Hợp Lưu mỗi lần… thiên tai hạn hán. Chuyển động Hợp Lưu là một chuyển động dài, không ai có thể đơn thương độc mã gánh vác, và như Khánh Trường khẳng định: Tạp chí Hợp Lưu không thuộc cá nhân ai, là một diễn đàn cấp tiến chung cho tất cả - thì việc mọi người góp công, góp của là bình thường và chính đáng.

                                   (còn tiếp)



                                                            **********


Thứ Tư, 2 tháng 10, 2013

BÁC BA PHI ĐI THĂM MỸ ( KỲ 68 )



                                (tiếp theo)




Ong hoạ sĩ đã đánh xe về. Ong lùng sục mấy cái siêu thị Việt , Mễ rồi cả Mỹ nữa mới tìm được chiếc khăn mầu xanh nhạt chứ không có loại trắng tinh như dự định. Ong lấy cọ với sơn vẽ thành những đường rằn ri trên khăn  thành chiếc khăn rằn cho bác Ba Phi cuốn quanh đầu.

Sửa soạn xong xuôi, ông hoạ sĩ đứng ngẩn ra ngắm nghía rồi vỗ tay đen đét :

“ Hay lắm…giống bác Ba Phi lắm…giờ bác đứng chỗ đó để tôi sửa soạn giá vẽ nha…”

Ong chạy đi chạy lại, lăng xăng kê dọn, sắp xếp cái bàn, cái ghế cho tới cuốn vở, cây bút, lọ mực. Bác Ba Phi ngồi trên chiếc ghế gỗ , mặt nghểnh ra phía trước, hay đặt trên đùi , nín thở bất động cho ông hoạ sĩ bắt đầu phác hoạ những nét cọ đầu tiên .

Ong hoạ sĩ tập trung toàn lực, hết nhìn bác Ba Phi lại cúi xuống trên mặt toan. Ong cứ vẽ, vẽ miệt mài rồi bất chợt ông quăng cây cọ xuống cau mày :

“ Không phải…nom bác không phải bác Ba Phi…không phải ông già Nam Bộ…”

Bác Ba Phi than trời :

“ Chèn đéc ôi…không phải ba Phi thì là cái gì ? Ba Phỉ   à ?’

Ong hoạ sĩ vẫn lắc đầu :

“ Lạ thật…bác đúng là bác Ba Phi bằng xương bằng thịt vậy mà tôi thấy bác như  ông phú hộ Bắc Kỳ thời Pháp thuộc đó…”

Bác Ba Phi thắc mắc :

“ Ông phú hộ là ông nào ? Sao tôi lại giống ổng ?”

Ong hoạ sĩ giải thích :

“ Ong phú hộ là ông nhà giàu ở nhà quê , có dăm bảy mẫu ruộng, chục con trâu bò, thuê thợ cấy thợ cầy, có vợ cả và dăm bà vợ lẽ…Ong phú hộ thường là ngược hẳn với ông nông dân nghèo tấc đất không có, suốt đời ở đợ làm thuê …”

Bác Ba Phi hiểu ra, càm ràm :

“ Vậy tôi làm sao giống ông phú hộ được ? “

Ong hoạ sĩ cau mày suy nghĩ rồi bất chợt reo lên :

“ Hiểu rồi…tôi hiểu rồi…ở nhà bác có bộ bàn ghế này không ? Có cái nền gạch lót thảm len kia không ? Có bộ đèn trùm trên trần không ? Không có phải  không ? Bởi vậy bác ngồi trong cái phòng này nom giống ông phú hộ là đúng rồi…”

Bác Ba Phi lo lắng :

“ Vậy phải làm sao ?”

Ong hoạ sĩ gật gù :

“ Trước hết bác tả căn phòng của bác ở Việt Nam đã !”

Bác Ba Phi ngập ngừng :

“ Tả căn phòng ? Tôi đâu biết tả tót gì đâu ? Ngày xưa học đến lớp ba là nghỉ nhà làm ruộng. Đâu biết tả tót gì ?”

Ong hoạ sĩ lắc đầu :

“ Vậy thì bố tôi cũng không vẽ được bác. Thôi được rồi bác không tả được thì để tôi hỏi bác vậy…”

Bác Ba Phi bụng đang sốt ruột về số phận  bức tranh của bác, vội vàng :          “ Hỏi đi….muốn hỏi gì hỏi, tôi trả lời hết…Hoá ra vẽ vời cũng phức tạp gớm nhỉ ?’

Ong hoạ sĩ gật đầu :

“ Trước hết căn phòng của bác rộng bao nhiêu mét ?”

Bác Ba Phi la lên :

“ Chèn đéc ôi… tôi có lấy thước đo bao giờ mà biết nó rộng bao nhiêu ?”

Ong hoạ sĩ thở dài :

“ Thôi được rồi, cứ cho là nó rộng bằng căn phòng này  ? Thế còn tường ? Tường quét vôi hay sơn nước hay có giấy dán tường như phòng này ?”

Bác Ba Phi cười  cùng cục :

“ Cha này hỏi hay quá ha…tường nhà quê làm gì có sơn nước hay là giấy dán tường có dán báo thì có …”

Ong hoạ sĩ tròn mắt :

“ Dán báo ? Hay quá, thường bác dán báo gì ?”

Bác Ba Phi lắc đầu :

“ Tôi đâu có dán…con vợ thằng Đậu nó rước đâu về đủ các thứ báo có hình đào kép, người mẫu, áo tắm, điện thoại di động treo kín đặc cả tường…”

Ong hoạ sĩ thở dài :

“ Chà…cái chiêu này mới khó đây…bên này làm sao kiếm ra của đó..”

Bác Ba Phi cười cười :

“ Lại cứ phải nhất thiết làm cho giống tường nhà tôi ở quê à ?”

Ong hoạ sĩ gật đầu :

“ Đúng rồi, phải làm sao cho thật giống với  phòng bác ở quê thì vẽ mới ra bác Ba Phi chớ ?”

Bác Ba Phi lắc đầu :

“ Vậy thì khó lắm, bên này lấy đâu ra tủ thờ với bát nhang, đế đèn cày, hình ông bà ông vải, dĩa lớn đựng ngũ quả rồi nhiều thứ khác nữa, mà hai bên tủ thờ còn có  trạm hai con rồng chầu nữa kìa…”

Ong hoạ sĩ xanh mặt :

“ Tủ thờ kê giữa nhà à ?”

“ Giữa nhà chứ sao ? Cạnh đó là cái bàn nước bằng gỗ xưa lắm rồi từ hồi cụ nội để lại kìa…”

Ong hoạ sĩ thở dài :

“ Nếu vậy thì thua…bố ai tìm được của đó bên xứ Mỹ này…”

“ Nếu không vẽ được tôi đứng trong nhà thì ra ngoài vườn  vậy …”

Ong hoạ sĩ sáng mắt :

“ Có lý….vẽ bác đứng ngoài vườn cũng ra bác Ba Phi lắm chớ. Vậy  bác đứng ngoài vườn  trước tiên cần cái gì  ?”

“ Cái cuốc…hễ ra ngoài vườn là trong tay phải có cái cuốc rẫy cỏ, rồi  con dao bự chặt cây, cái liềm cắt cỏ, rồi thì trên vai phải có bình xịt thuốc diệt cỏ hoặc thuốc trừ sâu…”

Ong hoạ sĩ chắp tay vái :

“ Thôi thôi con lậy tía…những cái đó có mà vào tận phim trường Holywood cũng khó tìm ra…”

Bác Ba Phi cười cười :

“ Vậy thôi cứ vẽ đại đi cần gì phải giống cả phòng ốc, lẫn vườn tược…Hay ông vẽ tôi đứng cạnh cái ô tô cho nó oách, gửi về cho vợ chồng thằng Đậu coi mừng hết lớn…”

Ong hoạ sĩ kêu lên :

“ Oh My God…vẽ bác Ba Phi mà đứng bên cạnh xe hơi thì còn gì là bác Ba Phi nữa ?”

Bác Ba Phi thở hắt ra :

“ Thôi định vẽ sao thì vẽ đại đi …mất công sửa soạn quá…”

Ong hoạ sĩ nhăn nhó :

“ Bác cứ để tôi suy …làm nghệ thuật chứ kéo cày đâu mà hối vậy ?”

“ Tôi nhớ ra rồi, ông muốn vẽ bác Ba Phi cho giống cứ mua cái dĩa phim có hài kịch bác Ba Phi do diễn viên Hoài Linh đóng đó, bên nhà cô Ut có dĩa đó, để tôi về lấy chiếu cho ông coi rồi dựa vào đó mà vẽ bác Ba Phi…”

Ong hoạ sĩ giơ cả hai tay lên trời :

“ Oh My God… tôi có coi rồi…vậy mà cũng gọi bác Ba Phi…có bác Ba Phỉ , bác Ba Phì thì có…Thôi thôi hôm nay tạm hoãn để tôi nghĩ sửa soạn sao vẽ bác cho đúng bác Ba Phi …”

Bác Ba Phi mừng rỡ :

“ Vậy mình tới ngay chỗ bán tranh đi…”

Ong hoa sĩ ngớ người :

“ Chỗ bán tranh nào ?”

“ Ong quên rồi à ? Ong chẳng  bảo bức tranh tôi vẽ đã mang đi trưng bầy và có thể bán được 3000 đôla lận…”

Ong hoạ sĩ  giật mình đánh thót :

“ Phải rồi…phải rồi…tranh của bác tôi đã mang đi trưng bày để bán rồi…”

Bác Ba Phi mừng rỡ :

“ Vậy chừng nào có tiền ?”

Ong hoạ sĩ ngạc nhiên nhìn bác Ba Phi, cứ tưởng chân chất, thật thà hoá ra cũng hám tiền như ai. Ong trợn mắt :

“ Bác cho tôi hỏi thật nha. Bác sang đây mọi chi phí cô Ut lo hết , vậy sao bác cần tiền dữ vậy ?”

Bác Ba Phi thật thà :

“ Tôi đâu có cần tiền cho tôi , tôi cần tiền cho vợ chồng thằng Đậu ở nhà ấy. Chả là vừa rồi tụi nó thất bại vụ cá ba sa nên kỳ này tính nuôi ba ba  gỡ lại nên mới cần vốn ban đầu là 3000 đô la, vừa đúng bằng tiền bán bức tranh của tôi. Hôm qua gọi điện về gặp vợ chồng tụi nó, nghe nói tôi sẽ bán tranh gửi 3000 đô la về tụi nó mừng húm…”

Ong hoạ sĩ tá hoả, ôi chết chết, câu nói giỡn của ông không ngờ lại sinh chuyện thế, giờ  tính sao , nói thật cho bác Ba Phi biết sẽ đổ vỡ cả một hy vọng lớn lao thì thật không đành lòng mà bỏ ra một lúc 3000 đô la thì lại là một việc vượt quá xa lòng hào hiệp của ông.  Ong hoạ sĩ đành tìm kế hoãn binh :

“ Hôm nay là ngày lễ Tạ Ơn của dân Mỹ nên cái Phòng trưng bày tranh đâu có mở cửa….”

Bác Ba Phi chợt nhớ ra :

“ Thôi chết cha rồi…con Ut nhà tôi dặn tía đi đâu thì đi nhưng ngày lễ Tạ Ơn phải về nhà với gia đình. Vậy ông đưa tôi về không nó lại trách tía  sang đây thờ ơ với gia đình…”

Ong hoạ sĩ OK liền. Ong thay đồ cho bác Ba Phi, dẹp hết các thứ “đạo cụ” để vẽ, đánh xe đưa bác Ba Phi chạy ra phố. Khi qua khu vực Phước - Lộc-Thọ, bác Ba Phi đập tay vào người ông hoạ sĩ :

“ Ong ghé đây cho tôi mua cái quà gì cho con nó . Không lẽ về ăn lễ Tạ Ơn với con cháu lại tay không , cũng cần có chút quà gì cho tụi nó vui vẻ…”

Oong hoạ sĩ Tụng ỌK liền. Ong tìm chỗ đậu xe rồi đưa bác Ba Phi vào khu mua sắm. Bác đi hết tầng trên tầng dưới, cứ hoa cả mắt lên vì đủ các loại hàng hoá, mỏi nhừ cả chân mà chưa biết mua quà gì làm ông hoạ sĩ sốt ruột :

“ Bác mua gì mua đi, sắp tới giờ ăn trưa rồi, về nhanh không cả nhà cô Ut chờ…”

Bác Ba Phi cuống quýt :

“ Tôi biết mua cái gì …khiếp khiếp sao mà lắm hàng hoá, lắm mầu sắc, lắm mẫu mã vậy, nhìn cứ hoa cả mắt, không biết mua gì, chọn gì ?”

Ong hoạ sĩ góp ý :

“ Vào dịp lễ Tạ Ơn dân Mỹ thường hay mua các loại quà như máy chụp hình, điện thoại di động, máy nghe nhạc, máy chơi game…nói chung là  hàng điện tử dịp này đang khuyến mãi mạnh…”

Bác Ba Phi nghe ra, quyết định mua một cái máy chụp hình làm quà cho thằng Jimmy , con cô Ut. Quyết định rồi bác lại phân vân không biết nên mua loại nào vừa đẹp, vừa tốt lại vừa …rẻ tiền. Bác cứ chọn đi chọn lại mãi làm ông hoạ sĩ lại sốt ruột, ông ca cẩm :

“ Không có thứ nào vừa tốt, vừa đẹp lại vừa rẻ tiền đâu bác ơi. Bên Mỹ này cũng giống như ở bên Việt Nam, “tiền nào của đó”, bác muốn mua máy chụp hình vừa đẹp, vừa tốt giá chót cũng phải 6-700 đôla…”

Bác Ba Phi giật thót người :

“ Chèn đéc ôi…sáu bảy trăm đô la tính ra mười mấy triệu đồng VN  để mua máy chụp hình cho con nít chơi ? Sao xài sang dữ vậy ? Ở quê tôi nhiều người cả đời chỉ mơ có được  nhiêu đó để mua một chiếc xe máy Tàu hành nghề xe ôm mà không được kìa…”

Ong hoạ sĩ cười cười :

“ Vậy thôi ông mua loại máy rởm có sáu, bảy chục thôi  về làm quà cho cháu !”

Bác Ba Phi lo ngại :

“ Máy sáu bảy chục liệu có chụp được hình không. Mua về cho nó không chụp được nó liệng thùng rác thì ê mặt ông ngoại…”



                                            (còn tiếp)


Thứ Ba, 1 tháng 10, 2013

YÊU THỜI ĐỒ ĐỂU ( KỲ 89 )




                                            (tiếp theo)




Bà Phu nhân hoảng sợ :

“Ông mê sảng à ? Ông  nói chuyện với ai thế ? Không lẽ ông trò chuyện với đứa con gái đó.Ong có nhìn thấy nó không ?”

Ong Sáu Thượng nhìn vợ chằm chặp ,  không trả lời  mà lại tuôn ra một tràng cười cùng cục :

“ Ai làm nấy  chịu nhá...tội lỗi này là do thằng con bà gây ra, chẳng dính dáng gì tới tôi đâu nhá...”

Bà bực  mình gạt đi :

“ Ong nói năng hay nhỉ ? Tội tình ở đâu ? Ai biết gì mà tội tình ? Bao nhiêu việc  tày đình bằng mấy thế này ông còn ém nhẹm được , chuyện này nhỏ như con thỏ, ăn thua gì mà lo lắng đến sảng cả người thế kia ? ”

Ong Sáu Thượng bỗng trợn mắt  :

“  Bà biết, tôi biết, thằng cận vệ biết ...”

“ Thế có gì phải sợ, chẳng lẽ thằng cận vệ dám phản ông. Không đời nào, dân tộc không bao giờ làm chuyện đó …”

Ông không đếm xỉa tới lời bà, vẫn cứ lảm nhảm :

“ Rồi cả thằng con trai bà và con bé ấy nữa...”

Bà cười nhạt :

“ Con bé ấy chết rồi, còn biết cái mẹ gì nữa. Còn ai mà cứ sợ nó đi tố cáo ? Đứa nào dám to gan  thế ? Có thí mạng cùi vậy cũng chẳng ăn thua mẹ gì. Bôi đen lãnh đạo Đảng à ? Có mà rũ tù. Ông cứ yên tâm nghỉ ngơi , chẳng có chuyện gì đâu….”

Bà đỡ ông  nằm xuống rồi kéo gã cận vệ ra phòng ngoài nói nhỏ :

“ Giờ mày mang chôn xác con bé được rồi …”

Gã giật mình, tái mặt :

“ Chôn xác ? Mà chôn ở đâu ? Nhỡ lọt chuyện ra ngoài thì ông Thượng đánh chết con…”

Bà Phu nhân nói gọn thon lỏn :

“ Chôn ngay trong buồng chứ còn chôn đâu ?”

Tên cận vệ sợ xanh mặt :

“ Chôn trong buồng. Oi trời ôi, con chẳng dám đâu, oan hồn cô ta vật chết con…”

Bà Phu nhân cong cớn :

“ Vớ vẩn ? Hồn vía ở đâu ra ?”

Bà Phu nhân mở tủ lấy ra cọc tiền quăng cho gã cận vệ :

“ Một mình mày làm thôi. Đào ngay trong buồng, đất cho vào bao tải rồi mang đi phi tang. “

Thằng khỉ đột gãi tai :

“ Khó lắm bà ơi…”

Bà Phu nhân sầm mặt :

“ Khó gì mà khó…ngày xưa hồi đánh Pháp tao đào cả chục cái hầm bí mật ấy chớ. Đào tới đâu sạch tới đó, đến người trong nhà cũng chẳng biết. Cứ đào đi, xong việc tao thưởng thêm…”

Gã cận vệ kèo nèo một hồi nữa mới chịu bỏ xuống nhà dưới tìm cái cuốc. Bà Phu nhân lấy viên phấn vạch cho gã một cái vòng tròn, chỉ dẫn :

“ Mày cứ đào xuống chừng hơn một mét là được…”

“ Sao không đào hố dài cho cô ta nằm, đào thế này phải chôn ngồi ?”

Bà Phu Nhân gạt đi :

“ Chết rồi thì ngồi hay nằm có khác gì nhau. Chôn ngồi cho mày đỡ phải đào , ngốc ạ…ngày xưa tao đào hầm cá nhân tao thừa kinh nghiệm …Mày chịu khó đào qua được lớp gạch xuống đến đất là ngon xơi…”

Bà thắp cho cô gái ba nén nhang lầm rầm trong miệng điều gì đó . Cầu cho vong linh cô được siêu thoát hoặc tha thứ cho chồng con bà đừng vật chết họ ? Hoá ra đều không phải vì trước khi ra khỏi phòng bà dặn  lại :

“ Tao vừa khấn ông bà ông vải phù hộ độ trì cho ông ấy khoẻ mạnh đừng có tưởng tượng mình bị ma ám lại lăn ra ốm thì khổ…”

Bà Phu nhân đi rồi tên cận vệ mới xắn tay áo cầm cái cuốc đào hố. Hoá ra không khó như gã tưởng , vừa đào vừa gom đất vào bao tải chỉ hơn một tiếng sau gã đã đào gần xong  cái hố theo đúng kích cỡ bà Phu nhân yêu cầu. Bỗng dưng cái cuốc trong tay gã va phải vật gì đó nghe cái cắc , chồn cả tay. Gã nhận ra một cái hộp sắt nhỏ, vải nhựa bọc xung quanh đã mục nát. Cái gì vậy nhỉ ? Trống ngực gã chợt đập thình thịch – nếu đây là hộp vàng hay là kim cương thì gã đổi đời. Gã sẽ dấu biến đi không cho bà Phu nhân biết , gã sẽ xin nghỉ việc trở về bản vùng cao, quê gã lấy vợ và xây nhà ngói. Vậy nhưng một ý nghĩ lại đâm nhói vào đầu gã : ngộ nhỡ đây là quả mìn thì sao? Ừ nhỉ, nếu là một quả mìn thì chỉ một nhát cuốc nữa có khi gã tan xác. Gã hoảng sợ nhảy phắt ra khỏi cái hố đang đào. Ba nén nhang bên cạnh xác cô gái đã tàn hết, gã vội thắp cả một bó nhang nữa. Cô ta chết oan  chắc thiêng lắm chứ không phải thường. Hết ám vào hai bố con ông cán bộ cao cấp giờ lại tạo ra rắc rối này.  Gã chạy lên nhà trên tìm gặp bà Phu nhân. Lúc này ông chồng đã tỉnh đang ngồi ở bàn để bà bón cho từng thìa sâm. Nghe bà thuật lại những câu ông nói lúc mê sảng, ông trố mắt :

“ Tôi nói vậy thật à ? Làm gì có chuyện đó …”

“ Tôi bịa sao được …ông cứ lảm nhảm một mình như bị ma ám ấy…”

Ong Sáu Thượng cười cười :

“ Hay con bé biến thành ma thật…”

Bà Phu nhân cũng cười theo :

“ Nếu mà có ma thật thì chẳng tới lượt nó. Khối đứa biến thành ma vật chết ông từ lâu rồi…”

Ong chồng nhăn nhó :

“ Bà nói thế là thế nào ? Đứa nào muốn vật chết tôi ?”

“ Thế ông quên rồi à ? Ong còn nhớ thằng Dĩ, Bí thư đảng uỷ xã dưới quê mình không. Hồi cải cách ruộng đất ông là đội trưởng, ông thừa biết nó là cán bộ trung kiên, bám đất bám dân trong suốt thời kỳ 9 năm. Vậy mà ông cài thằng Mạch , cốt cán vu cho thằng nó là cơ sở Quốc Dân Đảng rồi mang ra bắn . Còn nhớ lúc bị dẫn  ra trường bắn nó chửi vào mặt ông:” đồ vu cáo ”  ?”

Ong chồng cười nhạt :

“ Bà nhớ dai gớm nhỉ ?”

“ Còn con Nguyễn thị Hai nữa, ông vu cho nó làm gián điệp mở phiên toà xử bắn  nó để bịt miệng khỏi tố cáo cái việc ông cưỡng dâm nó, ông còn nhớ không ?”

Ong sầm mặt :

“ Chuyện từ tám đời nào rồi bà còn nhắc lại làm gì. Vả lại việc gì xảy ra cũng có hoàn cảnh…lịch sử của nó. Có nguyên nhân khách quan…có nguyên nhân chủ quan…”

Bà Phu nhân cười khảy :

“ Nguyên nhân gì thì nguyên nhân nếu những người bị ông hại chết đều biến thành ma thì họ bóp cổ ông từ lâu rồi chẳng tới lượt cái con bé nằm chết  kia đâu ?”

Ong Sáu Thượng chợt nhớ ra những việc cần làm ngay, vội vàng :

“ Vậy bà chưa giải quyết cái xác đó ư ? Nhớ phải cho kín, lọt vào tai mấy thằng phóng viên thì phiền lắm, còn thằng bố nó có là thành uỷ viên cũng chẳng ngại, tôi đã có cách dàn xếp…”

Bà Phu nhân cau mặt :

“ Dàn xếp ? Ong dàn xếp sao ? Cứ xoá sạch dấu vết, không cho lọt  ra ngoài bất cứ điều gì dính dáng tới vụ này thì ông cần gì phải dàn xếp. Mà dàn xếp  với ai ? Mà liệu rồi có nổi không ? Mạng sống của con gái người ta chứ có phải con trâu con bò gì đâu mà ông đòi dàn xếp ?”

Ong chồng cười nhạt :

“ Mạng gì thì mạng cũng chẳng to bằng cái ghế ngồi. Cứ cho lão ngồi thêm cái chức Trưởng ban tuyên huấn thành uỷ đó thêm một khoá nữa thì bảo gì lão cũng phải nghe…”

“ Ong đừng có chủ quan. Nhỡ khoá sau không trúng lão không cần tới ông nữa, lúc đó mới tố ra thì nguy cho ông, bởi vậy cứ bịt kín mọi chuyện đi là yên tâm…”

“ Chuyện tày đình thế bà định bịt làm sao ?”

Bà Phu nhân hể hả :

“ Tôi đã cho thằng Hàm uống thuốc ngủ rồi quăng lên xe đưa tuốt nó vào Saìgòn gửi nhà cô Năm rồi. Chẳng ai biết nó ở đâu mà mò. Còn cái xác con  đó tôi cũng bảo nó chôn rồi …”

Ong chồng lo lắng :

“ Bà chôn đâu ? Lộ ra phiền lắm…”

Bà Phu nhân đắc ý :

“ Có đưa đi đâu mà ông lo. Tôi bảo thằng cận vệ chôn ngay trong buồng đó rồi. Còn chiếc xe máy mini của con bé cũng cất kỹ vào kho. Ong còn lo gì  nữa ?”

Vừa lúc đó gã cận vệ bước vào, hốt hoảng :

“ Nguy to rồi…thưa bà nguy to rồi…”

Gã chỉ nói tới đó rồi cái nhìn của ông Sáu Thượng xoáy vào gã làm gã muốn đứng tim, lưỡi ngay đơ không nói được nữa. Bà Phu nhân vội giục :

“ Mày nói nguy cái gì ? Hay là có con mèo nhảy qua xác con bé khiến nó sống lại thành quỷ nhập tràng ?”

Gã cận vệ xanh mặt :

“ Lại có cả chuyện đó nữa kìa ? Sao bà không nói sớm để con nhốt con mèo lại…”

Bà Phu nhân tái mặt :

“ Vậy nó sống lại thật à ? Súng đâu không bắn cho nó chết hẳn đi …”

Gã cận vệ đã bình tĩnh lại :

“ Không phải quỷ nhập tràng , không phải cô gái sống lại mà là con đào phải cái hộp sắt , chỉ sợ bên trong có mìn …”

Ong Sáu Thượng nhảy nhổm :

“ Mìn à…có mìn à …mìn thật không ? Nếu là mìn thì phải gọi công binh tới không nó nổ  thì sập cả nhà…”

Bà Phu nhân xua tay :

“ Khoan đã , cứ bình tĩnh đã, nếu trong cái hộp sắt không phải là mìn mà là vàng bạc kim cương thì sao ? Vừa lộ chuyện con bé bị chết vừa hỏng ăn…Số vàng đó phải xung vào công quỹ có phí đi không ?”

Ong Sáu Thượng lo lắng :

“ Vậy bà tính sao ?”

Bà Phu nhân quay sang gã cận vệ :

“ Cái hộp đó thế nào ? Nặng hay nhẹ ? To hay nhỏ ?”

Gã cận  vệ lắc quày quạy :

“ Con sợ nó nổ nên đâu có dám động tới mà biết  nặng hay nhẹ…”



                  (còn tiếp)

Thứ Hai, 30 tháng 9, 2013

Nhà văn Nhật Tiến : GIẤC NGỦ CHẬP CHỜN ( KỲ 5 )



                                                (tiếp theo)

             


Thằng Bình quay lại nhoẻn một nụ cười gượng gạo. Không còn vẻ hồn nhiên nào in trên nét mặt thơ ngây của nó nữa. Hai hàm răng trăng nhởn như quá lộ liễu trên khuôn mặt vêu vao. Cho đến giây phút đó, lão Đối mới thực sự cảm thấy nó xa lạ với mình. Ngần nấy tuổi đầu, sống bám vào mảnh đất quê hương dai như sức sống của những con đỉa đói trong Đầm Tròn, tất cả mọi sự kiện nào xẩy ra ở đây, dù là một thân cây mục ruỗng, một bồn cỏ héo úa, một con gà chết dịch hay một nhân vật trái nắng trở trời, lão đều thông suốt như tất cả mọi phần huyết mạch chạy trong thân thể cằn cỗi của lão. Vậy mà bây giờ nhìn thằng bé, lão thấy như giữa mình với nó có một sự cách biệt sâu xa. Lão tự hỏi cái gì đã làm cho lão cảm thấy điều đó? Phải chăng bây giờ nó không còn chia xẻ với lão nếp sống nhọc nhằn ở đây, bây giờ ý nghĩ của nó không hòa cùng ý nghĩ của lão về một trận banh tròn, một đám tế lễ ồn ào, náo nhiệt hay về thời tiết ảnh hưởng đến đời sống của toàn thể mọi người trong ấp Vĩnh Hựu. Ôi! Cái thuở xa xưa ấy như chìm lỉm trong tiềm thức dai dẳng của lão. Chúng nó có thể không nhớ, nhưng lão thì chẳng thể nào quên được. Đó chính là cái nguyên do mà lão không rời bỏ chốn này, cho dù súng đạn, chết chóc vẫn xảy ra hàng ngày như cơm bữa.

Lúc thằng Bình đi khỏi và tai lão đã lắng nghe thấy tiếng chân của nó tan biến hẳn vào bóng đêm tịch mịch, lão Đối mới bắt đầu cài cửa và lên nằm duỗi dài trên phản gỗ. Giấc ngủ đến với lão chập chờn. Hình ảnh của gia đình lão, gia đình thằng Hoanh, thằng Bình và tất cả mọi người mà lão quen thuộc hình như thấp thoáng ẩn hiện trong ý nghĩ của lão.

Cho đến lúc có từng tràng đạn nổ dài xé rách bầu không khí tĩnh mịch xen với tiếng reo hò từ xa vẳng lại, lão mới giật mình thức giấc. Lão nhỏm phắt người lên và nhẩy bổ lại phía vách nghe ngóng. Tiếng súng vẫn vang lên ở gần đó một lát, trở thành rời rạc lẻ tẻ, rồi im hẳn. Tim lão Đối đập mạnh trong lồng ngực. Mạch máu của lão như đông cứng lại đến tê dại cả tay chân. Lão lẩm bẩm cầu khấn cho thằng Đực không phải là nạn nhân.

Sáng hôm sau lão Đối y hẹn lần mò lên cột cây số từ sáng sớm. Nhưng lão không thấy thằng Bình. Trong bầu không khí ẩm ướt còn vương vất sương mờ buổi sớm, lão chỉ nghe thấy tiếng động thanh thoát của những con “tè hoét” vọng xuống từ những lùm cây cao và tiếng cành khô rơi rụng trong từng đám cỏ xanh mượt lóng lánh những giọt sương mai. Mãi đến khi trời sáng hẳn lão mới thấy Hoanh lững thững xách súng từ đồn về ấp nghỉ ngơi. Lão vội hỏi:

- Đêm qua có chuyện gì thế?

Hoanh đáp:

- Thằng Bình! Trời đất ơi, thằng nhóc mà to gan. Bác có thấy nó về trỏng hôn?

- Bình nào? Có ai ở đâu ra mà thấy.

- Thằng Bình ở kế bên nhà bác đó. Một hồi nó cướp súng rồi trốn ra bưng bác không nhớ sao?

- Ừa! Mà nó làm sao?

- Đêm qua nó lại mò về. Thế mới gớm chớ. Chỉ thiếu có chút xíu nữa là cháu chộp được nó rồi.

Lão Đối mừng rơn trong bụng:

-        Thiệt hả?

Hoanh kể:

- Hồi hôm cháu ngồi đi tiêu ở mé xế cây gòn tuốt đầu kia kìa. Trời tối đen như mực, cháu đâu có thấy cái gì. Tới chừng trở về đến chỗ ngoẹo vô con đường ra chẩn y viện đó, thì cháu đụng ngay phải nó. Cháu hết hồn tưởng ai. Cháu mới lên tiếng thì nó ấp úng không trả lời. Tới lúc rọi đèn bin vô ngay mặt thì té ra thằng Bình. Trời ơi! Cái mặt nó ai mà quên. Cháu bèn sấn tới thì nó vùng lên chạy. Uổng quá, nếu không chới với tại cây đèn thì cháu hạ nó cái một rồi.

- Rồi nó đâu?

- Chắc nó lết tuốt vô trong đồng rồi chớ còn đâu?

Tim của lão Đối thót lại:

- Sao lại lết? Bộ nó đau hả?

Hoanh đắc chí mỉm cười:

- Chẳng đau thì cũng thành tật, bác à. Cháu lớ quớ vậy chớ cũng còn đủ thì giờ lia cho nó một băng. Hiềm vì tối quá nên chắc nó chỉ bị thương thôi. Hồi sáng này cháu có trở lại chỗ đó để dò la manh mối thì thấy có nhiều vết máu trên cỏ, chẳng của nó thì ai?

Lão Đối lặng người đi không đáp. Im lặng một lát, lão từ biệt gã đàn ông rồi lững thững trở về. Chưa bao giờ lòng lão thấy bồn chồn và nóng nẩy như thế. Lão hình dung ra hình bóng nhỏ bé của thằng Bình chạy biến vào khoảng tối mù mịt. Theo dấu chân của nó là những giọt máu in trên lối cỏ. Nó bị thương ở đâu? Làm thế nào lão có thể biết được? Lão cầu cho nó có đủ sức trở về được chỗ trú đóng để không phải nằm hấp hối một mình giữa đồng không mông quạnh.



                                   *

                                  * *

Câu chuyện đó rồi bẵng đi, đến gần hai tháng sau lão Đối mới lại được tin của nó. Quả nhiên Bình chưa chết mà chỉ phải nằm điều trị có hai tuần lễ. Nó bị bắn thương tích ở đùi và hai tay của nó vẫn còn cầm súng được nên thằng Há vẫn sử dụng nó theo đúng khả năng.

Ít lâu sau Bình trở về ấp Vĩnh Hựu lần thứ hai. Nhưng lần này nó đi thành toán đông đảo. Mặt trận đã mở màn ở Phú Sơn, khai mạc cho chiến dịch mùa mưa sắp tới. Nhiệm vụ của thằng Há là phải tăng cường phá hoại để khuấy rối hậu phương địch, ngõ hầu yểm trợ cho những toán chủ lực Miền giữ vai trò chủ động chiến trường. Lao đầu vào công tác mới mẻ này, thằng Bình không thọ thêm được vài tuần lễ.






                                      CHƯƠNG 2




Đổi gác xong, điểm tâm qua loa bằng khúc bánh mì, Lầu xách súng từ đồn Phi Mã đi về ấp Vĩnh Hựu. Trời sáng rõ từ lâu. Sương mai đã tan hết trong ánh nắng vàng tươi của một ngày tốt trời. Bầu trời xanh ngắt không gợn một làn mây. Rặng núi đằng xa hiện ra từng giải chập chùng với những khối đá phủ màu rêu xám. Đồng ruộng trước mặt nhấp nhô những gò đất nhỏ có những lùm cây thấp. Một vài chiếc chòi trú mưa của mục đồng hiện ra thấp thoáng trên những thảm mạ xanh rì. Lầu ngửa mặt lên cao hít những hơi thật dài. Không khí trong lành thấm vào tận thớ phổi làm gã thấy nhẹ nhõm. Cơn mệt mỏi kéo dài gần trắng đêm hôm trước dần dần tan biến. Bây giờ trong ý nghĩ của Lầu chỉ còn âm hưởng của tiếng rên la thảm thiết của thằng Huỳnh, một đồng đội, khi nó còn lăn lộn trên vũng máu. Nó lên từng cơn khát nước liên hồi. Trong lúc hôn mê, nó gào nước như những đứa bé con ngày nào gào bên xác mẹ mỗi lần một chuyến xe cán trúng một quả mìn. Lầu rất quen thuộc với súng đạn, chết chóc, nhưng không bao giờ gã có thể làm quen được với những loại âm thanh thảm thiết đó. Thoạt nghe gã còn thấy khó chịu, rồi dần dần gã thấy bủn rủn cả chân tay, trong đầu như có những mũi kim đâm vào buốt tới óc. Gã bỏ đi thật xa cho khuất hẳn tiếng kêu gào. Nhưng rồi những âm thanh ấy vẫn trở thành một ám ảnh không nguôi. Trong giấc ngủ, gã nghe thấy tiếng trẻ thơ gọi mẹ. Trong sự im vắng của tháp canh lúc trời về chiều, gã mơ thấy những bạn đồng đội, đồng hành với gã từ ngày quê hương bắt đầu có tiếng súng và họ đã xa lìa vĩnh viễn cuộc đời lính tráng với ít ra là một phần thân thể bị cưa đi. Đêm hôm qua, thằng Huỳnh là đứa bị nặng nhất. Hồi trước nó vẫn ước ao có một đôi bottes de saut, loại giầy da cao cổ, ngày nghỉ phép có thì giờ dùng si-ra đánh bóng lộn. Cả đồn Phi Mã, ngoài mấy ông sĩ quan không nói làm gì, trong hàng ngũ từ trung sĩ trở xuống, Huỳnh mới chỉ thấy một người có được một đôi. Đó là gã binh nhất Nguyễn văn Cói.

Cói mới được đổi từ vùng I về đồn được hơn sáu tháng. Hôm ra mắt đồn trưởng, “cả người gã trông chỉ được có mỗi đôi giầy”, đó là lời nhận xét của Huỳnh khi thấy gã lễ mễ ôm đồ quân trang, quân dụng đi ngang qua sân sỏi ở cột cờ. Đôi giầy của gã quả thật trông thích mắt. Gã đánh thật kỹ mặt da đen láng đến lên nước bóng như gương soi. Đi đôi giầy vào, thân hình phục phịch của gã như cao thêm, nhanh nhẩu ra và đầy vẻ hùng dũng. Huỳnh ước ao có nó còn hơn là ước ao có cái băng đạn báng cong của loại súng Carbine M2, loại băng đạn có thể nạp được một lúc 30 viên mà lại có thể dùng cho loại súng Carbine M1 của gã. Đã nhiều lần gã mượn Cói đôi giầy để đi thử một vài vòng vào những buổi sáng Chủ Nhật. Gã nện đế giầy cồm cộp xuống mặt đất lổn nhổn đá dăm. Đẹp thì có đẹp nhưng vẫn chỉ là đồ đi mượn. Gã muốn làm chủ hẳn một đôi giầy oai vệ như thế. Gã nhắn nhe ông Chuẩn úy Dũng hồi nào đi phép thường niên về Sài Gòn, “thế nào cũng cố tha về cho em một đôi, mắc bao nhiêu em cũng chịu ”. Tiền thì gã đã sắp sẵn. Chuẩn úy Dũng cũng đã rục rịch nạp đơn xin nghỉ phép. Thế mà cuộc đụng độ hôm trước đã phũ phàng cất đi của nó cái điều kiện thiết yếu nhất dành cho chủ nhân một đôi giầy. Tức là nó phải có đủ cả hai bàn chân! Bây giờ thì Huỳnh chỉ còn có một nửa cái điều kiện ấy mà thôi! Ước mơ của nó thế là đã vĩnh viễn nằm trong tâm tưởng.

Lầu dừng chân ở trên dốc cầu. Vết tích của cuộc đụng độ đêm hôm trước còn để lại là những vỏ đạn đồng sáng loáng nằm rải rác trên mặt đất loang lổ máu. Chiếc lô cốt ở cánh mặt bị sập một khoảng lớn. Lớp rêu phong xám xịt bở toác ra, làm lộ hẳn ra ngoài những lõi gạch đỏ hỏn, trông như những mẩu xương lòi ra ngoài lớp da thịt. Qua khỏi dốc cầu bên này, những vệt máu tím sẫm lại hiện ra, nhưng lần này tạo thành một dây kéo dài từ mặt đường nhựa xuống bụi cỏ và mất hút sau những luống rau xanh bị dẫm nát. Như thế là ngoài cái xác thằng Bình ở bờ mương, chúng nó cũng còn có đứa bị nặng. Chắc chắn là nó không thể đi được một mình và ít ra là phải có hai đứa khiêng đi. Những tên tuổi quen thuộc đi qua ý nghĩ của Lầu. Thằng Há, thằng Đực, thằng Sách hay thằng Du... Bất giác Lầu tự hỏi cho đến bao giờ, cái danh sách gồm toàn những tên tuổi quen thuộc với Lầu từ hồi còn nhỏ đến giờ sẽ bị loại trừ dần dần cho đến hết. Vốn liếng kỷ niệm ấu thơ của Lầu chỉ có ngần ấy. Mà chiến tranh trên đất nước này thì đã kéo dài từ hai mươi năm. Ý nghĩ buồn thảm đó làm Lầu thấy thót ruột lại. Gã chợt nghĩ đến người vợ ở nhà. Với trời đất này, hằng ngày đã xảy ra biết bao nhiêu là biến cố. Gã rùng mình xua đuổi ý nghĩ hãi hùng vừa chợt đến và rảo bước thật nhanh.

                               (còn tiếp)