Tổng số lượt xem trang

Chủ Nhật, 28 tháng 7, 2013

BÁC BA PHI ĐI THĂM MỸ ( KỲ 55 )




                                         (tiếp theo)







Bác Ba Phi còn đang so sánh  cái sự cười khi coi hài kịch của người trong nước và người hải ngoại , bất chợt trong bóng tối lù lù xuất hiện một ông cảnh sát Mỹ. Ông ghé vào hàng ghế chị Kelly Thi soi một ánh sáng hạt đỗ vào người chị, lập tức chỉ trỏ tay vào anh chàng đang mải mê quay phim ở hàng ghế trước. Ông cảnh sát tiến tới, đập tay vào vai chàng đó ra hiệu theo ông ra ngoài. Thôi rồi, thủ phạm quay lén bị bắt quả tang, phen này thu máy là cái chắc, có khi còn ra Toà nữa.

Bác Ba Phi chợt vỡ lẽ. Hoá ra chính chị Kelly Thi đã ra ngoài không phải đi restroom mà tố cáo cảnh sát anh chàng quay phim trộm.

Hoá ra là thế...Ghê thật, ý thức công dân, ý thức chấp hành luật pháp của chị và của cả “lão già” nữa cao thật. Dường như nó đã ngấm vào máu  thành một thứ bản năng sẵn sàng bật ra mỗi khi gặp trường hợp luật pháp bị xâm phạm. Thật chẳng bù cho người trong nước, nhiều khi chứng kiến thằng ăn cắp chặt dây cáp đồng của bưu điện cũng cứ ngó lơ, sợ bị trả thù không dám báo công an.

Bác Ba Phi cứ suy nghĩ vẩn vương chẳng còn bụng dạ coi tuồng tích trên sân khấu nữa. Bỗng bác thấy thương và lo cho anh chàng quay phim lén. Chắc quay cho vợ con ở nhà coi thôi chứ tối thui thế này , máy quay lại nhỏ, quay được cũng chẳng bán cho ai coi. Xét  về lý thì đáng trách nhưng về tình thì lại tội nghiệp. Chắc chẳng phải ra Toà  , mất cái máy quay thôi. Ký vào biên bản vi phạm chắc lại được vào coi tiếp . Bác Ba Phi cứ nhấp nhổm chờ hoài, không thấy anh chàng quay vào, đành hỏi chị Kelly Thi :

“Sao không thấy anh chàng quay phim lén vào coi tiếp nhỉ ?”

Chị Kelly Thi dằn giọng :

“ Vào sao được . Người ta đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần cấm quay phim chụp hình, vậy sao còn quay lén. Xâm phạm bản quyền tội nặng lắm đâu có giỡn...”

Bác Ba Phi lo lắng :

“ Chắc nhà nghèo không đủ tiền mua vé nên chỉ đi mình anh quay phim mang về cho vợ con coi...”

Chị Kelly Thi bật cười :

“ Bác tư duy theo kiểu miệt vườn rồi. Bên này chẳng ai nghèo đến nỗi không tiền mua vé  vợ con coi ca nhạc đâu. Hành động vậy là xâm phạm tài sản người khác, tuỳ lỗi nặng nhẹ toà án sẽ tuyên hình phạt và mức độ bồi thường .”

Bác Ba Phi kêu lên :

“ Chèn đéc ôi, chuyện bé xíu xé ra to vậy sao ? Vậy khi tố cáo cảnh sát chị có nghĩ anh chàng đó chịu phạt sao không ?”

Chị Kelly Thi nhún vai :

“ Nghĩ chuyện đó làm gì ? Chỉ biết trước mắt là một vụ vi phạm pháp luật trên lãnh thổ Hoa Kỳ , tôi là công dân Mỹ tôi có trách nhiệm tố cáo . Đơn giản vậy thôi...”

Bác Ba Phi dè dặt :

“ Nhưng anh ta cũng cùng máu đỏ da vàng, cũng dòng giống người Việt đằng mình ?”

Chị Kelly Thi cười  cười :

“ Thế bác không nhớ các cụ ta có câu “pháp bất vị thân” , tức pháp luật là trên hết, ngay người thân cũng vậy thôi, cũng không thể vì thân mà bỏ qua được...”

Bác Ba Phi nhỏ giọng :

“ Vẫn biết thế nhưng vẫn ái  ngại sao đó... Mà thực ra hắn quay lén về cho vợ con coi thôi chứ có giết người cướp của gì đâu mà bảo phạm pháp ?”

Chị Kelly Thi bật cười :

“ Bác này quan niệm về pháp luật buồn cười nhỉ ? Cứ giết người cướp của mới gọi là phạm pháp sao ?”

Vừa lúc đó đèn bật sáng tạm nghỉ , bác Ba Phi nhìn hàng ghế trên vẫn chống một chỗ.  Vậy là chàng đó bị đuổi khỏi rạp rồi, biết đâu còn bị phạt tiền nữa. Khổ thiệt. “Lão già” hùa theo chị Kelly :

“ Tôi chắc ở Việt Nam pháp luật lỏng lẻo lắm nên bác mới  coi giết người cướp của mới là phạm pháp, còn bên này hả ? Bác thử đánh chó nhà bác coi, hàng xóm  gọi điện cho 911 tới còng tay bác liền...”

Bác Ba Phi trợn mắt :

“ Đánh chó cũng phạm pháp à ? Pháp luật gì kỳ vậy ? Chẳng bù cho ở Việt Nam, khối đứa đánh người giữa quán, giữa chợ , giữa công đường mà vẫn cứ nhơn nhơn chẳng pháp luật nào sờ tới .”

Chị Kelly Thi đưa cho bác Ba Phi lon Coke :

“ Vậy mới nói luật ở Việt Nam là luật rừng , đen hay trắng, phải hay trái đều do đảng xử cả. Như tôi có ông anh con ông bác, về quê thăm họ hàng, nghe dỗ ngon dỗ ngọt cho  ông cán bộ xã vay 10 ngàn USD đầu tư nuôi tôm, có làm giấy má vay mượn đàng hoàng.  Đến hẹn trả ông cán bộ cứ khất lần, mấy vụ tôm ông ta thu lời quá trời nhưng không chịu trả một cắc. Ông anh tôi kiện ra xã. Ban tư pháp xã không giải quyết vì giấy tờ vay mượn viết tay không có giá trị. Ông anh tôi lại nộp đơn lên Toà án huyện. Mấy ông huyện  coi giấy tờ rồi phán một câu xanh rờn :” Luật pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không cho phép công dân giao dịch với nhau bằng ngoại tệ. Bởi thế hợp đồng này vô giá trị.” Ông anh tôi cãi :”Nhưng tôi không phải công dân Việt Nam, tôi là công dân Mỹ...”. Toà lại phán :” nếu vậy ông về Mỹ kiện ở Toà án Huê Kỳ nha !” Ông anh tôi chửi một câu rõ tục ở ngay giữa Toà : “quân cướp ngày”, rồi xé béng giấy biên nhận ngay trước mặt các ông Chánh Án , Việt kiểm sát với cả công an...”

Bác Ba Phi kêu lên :

“ Í chết sao dại vậy ? Huyện không được đưa lên tỉnh, tỉnh không được  đưa lên Toà án nhân dân tối cao chớ ?”

“Lão già” cười  ngất :

“ Có hoạ thần kinh mới theo kiện ở Việt Nam. Cán bộ nó binh nhau. Mình kiện nó khác nào con kiến kiện củ khoai ?”

Bác Ba Phi thắc mắc :

“ Vậy sao không kiện ra Toà án Mỹ ?”

Chị  Kelly Thi bật cười  :

“ Kiện ở Toà án Mỹ à ? Mỹ với  Việt Nam đã có hiệp định tư pháp, dẫn độ tội phạm đâu ? Vả lại tiền án phí, tiền thuê luật sư có khi gấp mấy lần tiền đòi được nợ thôi thì thí hồ thí cháo cho thằng cán bộ xã cho rồi.”

Bác Ba Phi lắc đầu :

“ Tệ vậy kia à ? Từ hồi đó ông anh cô có về Việt Nam đòi nợ nữa không ?”

Chị Kelly Thi trợn  mắt :

“ Ông ấy kể rằng khi ra phi trường trở lại Mỹ, máy bay vừa cất cánh ông ấy đã vọt miệng chưởi :” Fuckle it”. Rồi thề độc không bao giờ quay trở lại cái xứ sở luật rừng này nữa...”

Bác Ba Phi hít hà :

“ Vậy là mất toi cả 10 ngàn đô la à ?

“Lão già” cười cười :

“ Mất vậy còn ít . Tôi có thằng cháu mang cả nửa triệu đô la về đầu tư  vào lãnh vực làm đèn và bảng quảng cáo. Mấy năm đầu có vẻ làm ăn được lắm, lãi đều đều,  nhưng rồi chẳng hiểu sao doanh thu cứ tụt dần tụt dần,  hoá ra Nhà nước dụ khị Việt kiều mang vốn và công nghệ mới về nước làm ăn. Cho đến khi mấy cha nắm được công nghệ rồi, cơ sở kỹ thuật , trang thiết bị đầy đủ cả rồi mới giở mặt  dùng đủ mọi thủ đoạn đê tiện nhất để thằng cháu tôi phải rút hết vốn ra , từ đó ung dung điều hành nhà máy như  ông chủ vì chiếm tới hơn 80% cổ phần. Thằng cháu tôi đành bỏ của chạy lấy người vì nếu to gan nấn ná ở lại tụi nó vu cho ông tội xách động, móc nối phản  động thì nguy.”

Chị Kelly Thi cười cười :

“ Chẳng cần chụp cho cái tội chính trị làm gì . Nó cứ vu cho cái tội trốn thuế cũng đủ rũ tù...”

“ Lão già” hùa theo :

“ Tôi đi du lịch cũng đã nhiều nước nhưng chẳng thấy cái nước nào pháp luật lạ đời như cái nước Việt Nam. Chẳng hạn Toà án phải phán quyết theo “dự kiến án” của đảng...”

Chị Kelly Thi cười cười :

“ Dự kiến án “ là cái quỷ gì ? Sao Toà lại xử theo “dự kiến” ? Ai dự kiến ?”

“Lão già” cười hềnh hệch :

“ Vậy mới nói. Toà án không phải xử án mà là “diễn án”. Tức bề ngoài cũng vẫn có luật sư, công tố viên, chánh án, Hội đồng xét xử..cũng có Chánh án hỏi các bị cáo, cũng tranh luận...như thật.  Nhưng tất cả đều là “diễn” hết. Hội đồng xét xử cũng lui vào phòng kín nghị án , nhưng mà “nghị” cái con mẹ gì, làm ra vẻ vậy thôi, án tuyên ra sao đảng đã dự kiến cả rồi. Chánh án cứ việc dựa vào đó mà tuyên . Bởi vậy mới có cái trò “dự kiến án”. Nhất các vụ án chính trị như xét xử linh mục Nguyễn Văn Lý, luật sư Nguyễn Văn Đài, luật sư Lê thị Công Nhân, tiến sĩ  Cù Huy Hà Vũ...tuốt tuột đều do Ban Bí thư trung ương đảng chỉ đạo dự kiến mức án hết...”

Chị Kelly Thi cau mày :

“ Nếu vậy thì sao đảng không trực tiếp xử án cho rồi, bầy ra Toà án, Viện kiểm sát, luật sư làm chi cho tốn kém...”

“Lão già” cười  hềnh hệch :

“ Ấy ấy...cũng phải bày trò “luật pháp giả hiệu” chứ ? Không thì chẳng lẽ thành Nhà nước xã hội đen à ? Dự kiến án đã thành cái “lệ” rồi, nhưng chưa hết đâu, lại còn “khoanh án” nữa kìa ...”

Chị Kelly Thi cau mày :

“ Khoanh án là cái khỉ gì ? Pháp luật gì bầy lắm trò vậy ?”

“ Lão già” giải thích :

“ Có biết tại sao vụ PMU18 ở trong nước lúc đầu sôi sùng sục, bắt giam cả Thứ trưởng Bộ giao thông rồi sau lại tuyên bố vô tội không ? Hay vụ Huỳnh Ngọc Sĩ bị Nhật Bản tố cáo ăn hối lộ  hơn 2 triệu USD mà chẳng thấy điều tra , điều con mẹ gì cả ? “

Chị Kelly Thi cười cười  :

“ Thì lại nói theo kiểu cù nhầy chưa có chứng cứ chứ gì ?”

“Lão già” lắc đầu :

“ Chưa có thì phải điều tra chớ ? Chẳng qua là mấy cha sợ rút dây động tới thiên tào. Xử thằng Thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến chẳng may nó khai đã nộp tiền cho ông Tổng Bí thư thì chết cha . Thằng Huỳnh Ngọc Sĩ cũng vậy. Ăn hơn 2 triệu USD chứ có ít , điều tra điều con lớ ngớ dính tới bí thư  thành uỷ Lê Thanh Hải thì bỏ mẹ. Bởi vậy mới “khoanh án” lại, chỉ điều tra tới đó thôi là tốp tốp. Kiểu như chỉ giới hạn chống tham nhũng tới bụng thôi. Trên rốn một chút là “khoanh” , cái này trong danh từ tố tụng Việt Nam gọi là “khoanh án”....”



                                                           (còn tiếp)

Thứ Bảy, 27 tháng 7, 2013

nhà văn NHẬT TIẾN : HÀNH TRÌNH CHỮ NGHĨA (KỲ 8)



                                                          (tiếp theo)



Trong hoàn cảnh nhà ai cũng có bị ruồng xét như­ thế thì còn đâu là chỗ an tòan để cất giấu ! Nhiều nhà tư­ởng đã giấu kín được mớ sách quí sau những đợt tảo thanh kỳ trư­ớc, này đâm ra mệt mỏi, thất vọng, chán chư­ờng, bèn đem tất cả những tài liệu còn cất giấu được cho vào bếp đun ráo trọi. Ở trong nhà của tôi, bên cạnh bếp lúc nào cũng có sẵn hai bao tải, trong đựng toàn những sách quí mà tôi ký cóp mua lại được ở chợ trời những năm sau này. Tôi chuẩn bị nếu có bị phát giác thì sẽ khai là tôi chỉ dùng những sách cũ này để đun bếp trong khi nhà không còn tiền mua than, mua củi.



Ở trong xã hội C .S. con người phải dối trá hèn hạ như­ thế đấy, nhưng vì an ninh bản thân, vì sự ràng buộc với những người thân khác, đành là phải nhẫn nhục, và chẳng còn nói được cái gì khác hơn khi phải đối thoại với loại người không còn tâm địa con người. Trong khung cảnh khét lẹt mùi khủng bố như thế, tôi đành phải đem đốt tập ghi chú của tôi vì nhớ đến những cuộc khám xét tỉ mỉ tại những nhà đã bị kiểm kê, dù có ngụy trang cách nào cũng bị cán bộ moi ra bằng hết với những cuộc đục t­ường, nạy gạch bông ở nền nhà, đào bới từng thư­ớc đất, rỡ tung lên cả những chậu hoa ngoài bờ t­ường, thậm chí có nơi còn bị rỡ cả bồn cầu ra để khám xét nữa.



Cho nên, phải đã trải qua những giờ phút kinh hoàng đó mới thấy rõ được những cố gắng phi thư­ờng của anh chị em cầm bút nào vẫn còn có thể âm thầm sáng tác được, vẫn cất giữ được tài liệu ghi chép và may mắn hơn nữa là đã móc nối được để chuyển ra bên ngoài những bản thảo còn nóng hổi tâm tư của mình. Tuyển tập thơ văn, nhạc “Tắm Mát Ngọn Sông Đào” của 7 tác giả miền Nam là một thí dụ điển hình cho những kỳ công đó.



Tuy nhiên khi những áng văn, thơ ở quê nhà đã lọt ra được tới hải ngoại thì một vấn đề cấp thiết phải được đặt ra đối với giới văn nghệ hiện đang hoạt động ở bên ngoài. Đó là vấn đề làm thế nào vừa vẫn tiếp tục duy trì được tiếng nói của anh chị em ở quê nhà vừa không làm tổn hại đến sự an nguy của chính các anh chị em đó. Sự khai thác một cách vô ý thức tên tuổi của một cây bút còn kẹt lại chẳng những xô đẩy một người trở lại trong lao tù mà còn có thể kéo theo cả một sự khủng bố rộng rãi nếu như­ chúng ta để cho chính quyền CS nắm được những mấu chốt, những bằng chứng cụ thể. Trư­ớc đây, hầu hết báo chí ở hải ngoại đã đãng tải tập bút ký trong tù của nhà văn Phan Nhật Nam thể theo chính ước nguyện cáa nhà văn này. Đó là một bịệt lệ, nhưng không thể coi đó là một tiền lệ. Nếú ở địa vị của Phan Nhật Nam, ta phải hiêủ rằng anh ấy đã đi một n­ước bài xả láng bằng tất cả cuộc đời của mình với sự kỳ vọng rằng thế giới bên ngoài sẽ đấu tranh triệt để để vận động cho anh âý cùng các bạn văn đồng cảnh ngộ được giải thoát cuộc sống lao tù.



Thử hỏi, những tập san, những tạp chí, những tuần báo đã từng đăng tải bút ký cúa Phan Nhật Nam, thì sau đó họ đã tiến hành công cuộc vận động đúng như­ ­ước muốn của anh ấy hay ch­ưa ? Thực tế đã cho thấy câu trả lời khá chua chát và buồn thay, sẽ chỉ riêng một mình Phan Nhật Nam sẽ phải trả cái giá vì sự l­ượng định không đúng mức của mình.



Hỏi như­ vậy, không phải tôi phủ nhận những công trình vận động của một số Hội đoàn, Tổ chức, và Báo chí đối với trường hợp Phan Nhật Nam, nhưng điều mà tôi muốn đề cập đến ở đây là đáng lẽ công cuộc vận động ấy phải được phát động quyết liệt hơn nữa, liên tục hơn nữa, lâu dài hơn nữa tr­ước số phận của một nhà văn đã đấu tranh xả láng bằng cả cuộc đời của mình.



Trong khi tr­ường hợp của nhà văn Phan Nhật Nam vẫn còn nguyên đó thì đã lại có ít nhất hai tờ báo ở ­miền Nam Cali tung ra thêm tr­ường hợp cúa một nhà văn khác còn ở quê nhà. Thậm chí, một trong hai tờ ở trên còn mở cả một mục chính thức lâý tên của nhà văn này để đăng tải những sáng tác cáa chính tác giả gửi ra từ quê nhà.



Trong một cuộc họp mặt " thảo luận bàn tròn " giữa một số anh em cầm bút được tổ chức trong tuần lễ vừa qua, chúng tôi có thảo luận về vấn đề đó. Rất tiếc rằng một số anh em đã chỉ nhìn tr­ường hợp ấy như một cơ hội để mở một cuộc đấu tranh mới trên mặt trận văn hóa, nhưng trong khi đó thực chất ảnh hư­ởng của những cuộc đấu tranh vẫn theo cung cách đó như­ thế nào, thì chỉ cần nhìn vào trường hợp của anh Phan Nhật Nam ta cũng đủ thấy rõ. Một vài anh em khác lại nhìn tr­ường hợp thứ hai nêu ở trên như là biểu tượng của một "anh hùng " và chủ tnrơng phải vinh danh "những anh hùng” đó, với lập luận rằng đặt ra vấn đề an nguy của một anh hùng thì là điều vô lý.



Thật mỉa mai thay cho cái cảnh ngồi bình an ở nư­ớc Mỹ để nói chuyện an nguy của những bạn bè còn đang ở tại Sài Gòn. Bởi vì rằng vẫn còn có nhiều anh em hiện đang có tờ báo trong tay mà vẫn chủ trư­ơng để tên thật của tác giả đang ở quê nhà nếu một khi có sự đồng ý của các tác giả đó và bởi vì rằng trong cuộc " thảo luận bàn tròn " nêu trên tôi đã cố gắng thuyết phục mà không được,  nên tới đành sủ dụng bài báo này như­ một lời biện núnh thêm nữa cho lập luận của tôi để mong các anh em có báo chí trong tay suy nghĩ lại.



Không phải rằng tôi là loại ng­ới chết nhát không dám tham dự vào những cuộc vận động, đấu tranh mới cho văn hóa và cho những anh chị em còn kẹt lại ở quê nhà và hơn nữa tôi lại hiện đang cư­ ngụ bình an ở Hoa Kỳ, tôi không có lý do gì để lo sợ cho an ninh bản thân của mình. Tôi cũng quan niệm rằng chẳng anh chị em cầm bút nào ở quê nhà lại muốn tự khoác cho mình cái nhãn hiệu anh hùng cả. Điều khao khát duy nhất của anh chị em là được cầm bút nói lên những suy tư­ của mình và gởi gấm được những tâm tư­ ấy tới đồng bào hải ngoại. Vì vậy điều chính yếu là ta phải duy trì được lâu dài cái tiếng nói quí giá đó dưới những bút hiệu khác hơn là bút hiệu thực sự của tác giả, cho dù tác giả vì lý do đã không đánh giá được thực lực của những nỗ lực bên ngoài nên đã đồng ý cho báo chí hải ngoại nêu tên tuổi đích thực của mình. Tư tưởng, cảm nghĩ, hoàn cảnh xã hội đều nằm trong nội dung của bài viết chứ không nằm ở cái tên của tác giả.  Do đó không nhất thiết cứ phải nêu tên thật của người viết thì bài viết mới có giá trị. Vì thế tôi vẫn coi trư­ờng hợp của Phan Nhật Nam là một biệt lệ, nhưng khớng thể lấy đó làm tiền lệ cho những trư­ờng hợp khác.



Song song với việc tiếp tục phổ biến những tác phẩm như­ loại “Tắm Mát Ngọn Sông Đào”, giới cầm bút cũng như­ báo chí ở hải ngoại cũng cần phải đặt vấn đề đấu tranh cho những anh chị em còn đang bị cầm tù một cách rộng rãi và liên tục hơn nữa. Sự thực thì giới cầm bút ở hải ngoại cũng đã có một thực lực rất đáng kể, nếu biết kết hợp trong một chiến dịch vận động ồ ạt, thống nhất, và liên tục thì sẽ thu được nhiều thành quả hơn.



Chúng ta có cả một bó đũa, nhưng xin đừng tự biến mỗi người chỉ là một cây đũa riêng lẻ mà thôi .



NHẬT TIẾN

28-10-1981

******



                                    CHƯƠNG 5



Thời điểm Sài Gòn -Cuối thập niên 70



ÐÃ CÓ MỘT THỜI NHƯ THẾ !



NHẬT TIẾN


LTS Việt Tide số 209 tháng 7-2009 :
Nhà văn Phan Lạc Tiếp, một thành viên nòng cốt của Ủy ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển (Boat People S.O.S Committee - thành lập ở San Diego từ năm 1980 do Giáo sư Nguyễn Hữu Xương làm Chủ tịch) dự tính từ năm 2005 là sẽ cho ấn hành một cuốn sách do ông biên soạn nhằm tổng kết những công việc do Ủy Ban đã từng vận động cho thuyền nhân từ năm 1980 cho đến khi Ủy Ban chấm dứt nhiệm vụ (1990). Cuốn sách mang tựa đề VỚT NGƯỜI BIỂN ĐÔNG, sẽ do Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển, một tổ chức tiếp nối công trình của Ủy Ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển có trụ sở ở miền Đông Hoa Kỳ, ấn hành. Trong tiến trình biên soạn, tác giả có mời tôi tham gia một bài viết vì tôi cũng là một thành viên của Ủy Ban đã giải thể, hơn thế nữa, còn là một trong những nhân chứng đã trở thành nguyên nhân để Ủy Ban được thành lập.
Bài viết này đáng lẽ chỉ ra mắt độc giả khi cuốn VỚT NGƯỜI BIỂN ĐÔNG được phát hành, nhưng vào thời điểm cộng đồng VN đang sôi nổi tranh đấu chống lại vụ nhà cầm quyền Cộng Sản áp lực hai chính phủ Nam Dương và Mã Lai phá bỏ những tấm bia tưởng niệm thuyền nhân ở Pulau Bidong và Galang, nên với sự chấp thuận của hai nhà văn Phan Lạc Tiếp và Trương Anh Thụy (đại diện Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển), tôi cho đã đăng tải trên báo Việt Tide trước đây và nay xin đưa vào tập tài liệu này, như một đóng góp vào những nỗ lực đấu tranh mà cộng đồng VN đã và đang thực hiện.                                                                                                                                                                                                                                               Việt Tide




Cho đến bây giờ, vào thời điểm 2005, con số vừa tròn để có thể nói là hai mươi lăm năm nhìn lại, tôi chỉ coi thảm kịch trên đảo Kra trong vịnh Thái Lan là một khúc phim cũ mòn đã bị khoả lấp bởi sức sống vươn lên mạnh mẽ của thuyền nhân tỵ nạn và bởi thời gian bao giờ cũng làm tăng lên sự phai nhoà của trí nhớ.




Nhưng không lẽ một thảm kịch như thế, trong đó đã chất chứa không biết bao nhiêu nỗi đau thương, nghẹn ngào, cũng như đã chôn vùi biết bao nhiêu cái chết đớn đau tức tủi của những con người vô tội lại không còn được nhắc đến?



Nếu mà như thế thì lịch sử đâu có lý do để tồn tại? Và nếu thế hệ mai sau muốn tìm lại dấu chân của các bậc cha anh, họ sẽ lấy gì để mà soi rọi? Rồi thêm nữa, những kẻ trong nhiều năm đã từng gây nên nguyên nhân sâu xa của thảm kịch thuyền nhân, gián tiếp xô đẩy hàng triệu con người ra biển cả chẳng lẽ lại được phủi tay, vỗ trắng trách nhiệm, dù chỉ là trách nhiệm tinh thần ?



Chỉ mới nêu ra ngần ấy câu hỏi đã thấy dù là thuyền nhân hay chưa từng là thuyền nhân, cũng không ai muốn để cho những thảm kịch đã xẩy ra ở biển Ðông phải chịu số phận chôn vùi trong lớp bụi quên lãng của thời gian.



Cho nên việc ôn lại những đau thương của thuyền nhân tỵ nạn trong muôn ngàn nỗi đau thương của bao nhiêu con người khác nữa kể từ sau biến cố 30-4-1975 sẽ chẳng phải là việc khơi lại hận thù, nhưng là chuyện cần thiết phải làm. Làm để dựng lại một mảnh gương lịch sử cho đời sau, để gìn giữ những chứng tích trước công lý ngõ hầu sau này trả lại công bằng cho mọi thành phần dân tộc trong ngày phán xét của lịch sử. Và thêm nữa, một mai, khi bình minh ló dạng trên quê hương, những tượng đài gian dối, những danh nhân biển sắt đầu đường bất xứng, những tên tuổi được ca ngợi một cách xảo trá trong sách vở mà trong nước đã in ...tất cả sẽ nhờ những công việc nhắc nhở này mà được sắp xếp lại. Tính chất vàng thau không thể vì nhu cầu chính trị nhất thời hay riêng tư mà lẫn lộn trong những trang sử của dân tộc vì chúng ta chỉ có thể trân trọng gửi lại cho con cháu những trang sử ghi chép sự thật mà thôi !



Trong những ý nghĩ như thế, tôi hoàn toàn tán đồng và khích lệ các cựu thành viên của Uỷ Ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển (Boat People S.O.S Committee) biên soạn và ấn hành cuốn sách mà bạn đọc đang cầm trên tay. Về phần cá nhân, tôi xin đóng góp bài viết nhỏ này trong cương vị của một trong những nhân chứng đã trở thành nguyên nhân để Uỷ Ban nói trên được thành lập.



                                                                         (còn tiếp)

Thứ Sáu, 26 tháng 7, 2013

HẺM BUÔN CHUYỆN (KỲ 103) : Mỹ cho những … 20 chữ lận !!!

                            
    
 Tối nay vừa mở tivi đã thấy ông Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ngồi cạnh Tổng Thống Obama phát biểu với các nhà báo. Gã Ký Quèn  có vẻ lắng nghe từng lời rồi vỗ tay đồm độp :

“Thắng lợi rồi…thắng lợi rồi…”

Cô Phượng cave tròn mắt :

“ Thắng lợi gì vậy anh Ký Quèn ?”

Gã Ký Quèn vui vẻ :

“ Ông Trương Tấn Sang phát biểu không cần nhìn vào giấy như ông Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết vào nhà Trắng trước  đây…”           

Ông Tư Gà nướng càm ràm :

“ Sao không thấy Tổng thống Obama ra đón tại sân bay, không thấy duyệt đội danh dự, cũng không thấy chiêu đãi quốc yến là sao ?”

Gã Ký Quèn cười cười :

“ Thì đã có Bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ thết tiệc rồi còn gì ?”

Thằng Bảy xe ôm trợn mắt :

“ Đề nghị chú Ba đại tá hưu nhắc Bộ ngoại giao ta ghi chép cẩn thận nghen. Nó tiếp ông Trương Tấn Sang sao, mai mốt Obama sang VN mình tiếp đón y vậy. Không bắn súng chào , không cờ đèn kèn trống, không chiêu đãi trọng thể, mặc kệ cho đại sứ nó sang Nội Bài đón tổng thống nhà nó…”

Cô Phượng cave cười ngỏn nghẻn :

“ Đón vậy nó không sang nữa thì chết bỏ bu…”

Ông đại tá hưu quát :

“ Con Phượng cave nói năng linh tinh. Obama không sang thì thôi , VN sao chết được ?”

Gã K‎ý Quèn cười cười :

“ Nó mà không sang sức mấy k‎ý được Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương. Lại không mong nó sang như mong mẹ về chợ ấy à ?”

Thằng Bảy xe ôm chợt la lên :

“ Í trời ơi…ông Obama vừa cất vào túi ngực cái gì nom như bao thư kìa…”

Cô Phượng cave cười ngỏn nghẻn :

“ Chắc không phải bao thư lót tay. Cái đó xài ở nhà thôi, sang Mỹ ai xài cái đó…”

Ông đại tá hưu lại quát :

“ Con cave này chuyên phao tin nhảm. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang sang Mỹ  kỳ này là do Tổng Thống Obama mời đối thoại song phương , bình đẳng hai bên đều có lợi, làm gì có chuyện phải lót tay bao thư ?”

Gã Ký Quèn cao giọng :

“ Đúng rồi không phải bao thư lót tay đâu. Thư bác Hồ gửi cho Tổng Thống Mỹ Truman hồi năm 1945 đó…”

Thằng Bảy xe ôm thắc mắc :

“ Ủa , thư viết từ hồi đó sao giờ mói chuyển…”

Gã K‎y Quèn lắc đầu :

“ Chắc nó nằm đâu đó không tới tay Tổng thống Mỹ nên không thấy ổng hồi âm…”

Cô Phượng cave tò mò :

“ Thư viết gì vậy anh Ky Quèn ?”

Gã Ky Quèn lên giọng :

“ Đại khái viết là thay mặt chính phủ và nhân dân Việt Nam, tôi đưa ra lời yêu cầu tha thiết tôn trọng nhất tới Ngài và những người dân Mỹ để can thiệp khẩn cấp và hỗ trợ độc lập cho chúng tôi …”

Thằng Bảy xe ôm vỗ tay  :

“ Tuyệt vời..bác Hồ kêu gọi Mỹ can thiệp khẩn cấp kẻo thằng Trung Quốc nó cướp mất nước…”

Ông đại tá hưu đập bàn quát :

“ Phản động…Trung Quốc với ta là anh em môi răng, đồng chí Hồ Cẩm Đào còn tặng ta 16 chữ vàng , làm gì có chuyện Trung Quốc sang cướp nước ta ?”

Gã K‎y Quèn cười khà khà :

“ Hồ Cẩm Đào tặng VN có 16 chữ , còn ông Obama tặng những…20 chữ lận…”

Chị Gái hủ tíu :

“ Những chữ gì vậy anh Ky Quèn ?”

Gã Ky Quèn đọc vanh vách :

“ đối tác toàn diện chính trị , ngoại giao,  thương mại , kinh tế,  công nghệ, giáo dục , môi trường, y tế.”

Cô Phượng cave cười  rinh rích :

“ 20 chữ suông bõ bèn  gì…giả tỷ Mỹ nó thay 20 chữ đó bằng 20 tỷ đô la có phải ngon không ?”

Gã Ký Quèn xua xua tay :

“ Dễ gì… như mấy cô tiếp viên phải “chịu” cho khách cái gì thì khách mới…”bo” chớ. Mỹ cũng vậy, khi không sức mấy nó “bo” cho Việt Nam những 20 tỉ đôla…”

Thằng Bảy xe ôm hít hà :

“ Í trời ơi…nếu nó “bo” 20 tỉ đôla thì kỳ này Obama sang thăm VN , chắc ông Trương Tấn Sang ra đón tại cầu thang máy bay quá …”

   Cả quán cười ồ…



26-7-2013










Thứ Năm, 25 tháng 7, 2013

nhà văn NHẬT TIẾN : NHẤT LINH năm tháng cuối đời (kỳ 3 )



Giai  Phẩm   VĂN HÓA NGÀY NAY

  

Năm 1951 nhà văn Nhất Linh từ bỏ cuộc sống lưu vong ở Hồng Kông để trở về Hà Nội. Một năm sau, tức năm 1952, Ông thành lập nhà xuất bản Phượng Giang, sau đổi tên thành Đời Nay rồi Ngày Nay. Nhà xuất bản này trong những năm đầu hoạt động hầu như chỉ chuyên tái bản các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn, mặc dù cũng in một số tác phẩm của vài cây viết mới như Nguyễn thị Vinh với Thương Yêu, Hai Chị Em, Linh Bảo với Gió Bấc, Duy Lam với Gia đình tôi, Tường Hùng với Gió Mát. Năm 1961, cuốn Thềm Hoang của tôi được ông ấn hành dưới tên nhà xuất bản Đời Nay (xin coi hình)


             Tập 1 (Tháng 6-1958)                                 Tập 11- (Tháng 4-1959)
                           Số  đầu                                                      Số cuối


Năm 1958, Nhất Linh chủ trương Giai Phẩm Văn Hóa Ngày Nay mà số đầu ra mắt vào ngày 17-6-1958, một ngày mà theo nhà báo Hiếu Chân thì Nhất Linh cố ý lựa chọn vì 17-6-1930 là ngày mà những liệt sĩ Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí bị Thực dân Pháp đưa lên đoạn đầu đài  xử trảm tại Yên Bái.
Văn Hóa Ngày Nay (VHNN) không được chính phủ đương thời coi là một tờ báo. Nó chỉ được gọi tên là một Giai Phẩm. Theo dịch giả Trương Bảo Sơn, một đồng chí thân cận của Nhất Linh  thì  vì  chính quyền lo ngại tên tuổi của Nhất Linh nên VHNN không được phép xuất bản như một tạp chí được phát hành có định kỳ. Ngoài ra, theo ông thì  tờ báo còn bị Cơ quan kiểm duyệt Bộ Thông Tin cố tình giữ lâu mới trả bản thảo để mang in, gây tình trạng báo ra chậm trễ nên không thể có hạn kỳ nhất định cho ngày ra báo.
Trong bài “Văn Hóa Ngày Nay với Văn Hóa Việt Nam” mở đầu cho số ra mắt, coi như một “tuyên ngôn về văn hóa”, nhà văn Nhất Linh nhận định:  
“Văn Nghệ Việt Nam hơn mười năm nay vẫn ở trong tình trạng ngưng đọng, chưa tìm được lối đi. Một số lớn bình luận gia và văn nghệ sĩ cho rằng văn nghệ chậm tiến vì không biết phụng sự thời đại; họ cố bắt mạch cho được  ý thức công cộng của nhất thời để khơi xúc động trong lòng độc giả. Thế rồi nhiều tác phẩm ra đời để ướm thử, thăm dò dư luận nhưng chỉ ít lâu sau đều chìm trong lãng  quên !” (VHNN tập I- trang 17)
Để khắc phục tình trạng bế tắc này, Văn Hóa Ngày Nay đề  ra chủ trương :
“ Không đề cập đến vấn đề chính trị, kinh tế, khoa học : tập san của chúng tôi sẽ nặng về phần tìm sống hơn về phần tìm  hiểu”(VHNN tập I- trang 18)
 ( phần chữ in nghiêng là của chính  tòa soạn VHNN muốn nhấn mạnh).
Hẳn cũng đã có nhiều độc giả thấy khó nắm vững được ý tưởng của tòa soạn trong chủ trương này, vì hiểu như thế nào là tìm sống ? Và tại sao lại gắn chuyện tìm sống với chuyện tìm hiểu để có chủ trương tìm sống sẽ đặt nặng hơn tìm hiểu. Mà nếu coi nhẹ việc tìm hiểu thì thành quả của sự tìm sống sẽ có được tốt đẹp không ?
Tuy nhiên, suy nghĩ kỹ thì ý nghĩa của hai chữ “tìm sống” hình như đã được giải thích thêm trong đoạn dưới của bài nhận định :
“Về tư tưởng, chúng tôi sẽ giải quyết những thắc mắc thời đại và cố đi đến một nhận định đúng đắn về vũ trụ, về đời người; đã đến lúc loài người phải giở sổ soát lại vốn tư tưởng quá khứ để định hướng đi tương lai, tìm chân lý làm kim chỉ nam cho người đời giữa biển khơi sóng gió”  (VHNN -Tập I-trang 19)
Đoạn văn này cho người đọc cái cảm tưởng như đấy là một chủ trương của một tổ chức tôn giáo hơn là đường lối chỉ đạo cho nội dung của một tờ báo. Nhưng ở nhiều trang  khác, nhà văn Nhất Linh lại đã luôn luôn nhấn mạnh đến quan điểm nghệ thuật của Văn Hóa Ngày Nay là: “Văn chương phải có giá trị vượt thời gian và không gian”.
Quan điểm này không có gì phải thắc mắc. Trong gia tài văn hóa dân tộc đã có đầy dẫy những tác phẩm có giá trị “vượt không gian và thời gian”. Nhưng trong sinh hoạt chữ nghĩa, dù là sách hay báo, nhiều khi những vấn đề nhỏ nhặt thời sự hàng ngày - hay nói theo ngôn từ  của Giai phẩm Văn Hóa Ngày Nay là ý thức công cộng của nhất thời -  sẽ cũng vẫn là những nhu cầu của độc giả. Nhất là trong bầu không khí khởi sắc của những năm cuối thập niên 50’s, dân chúng miền Nam bắt đầu tạo dựng cho mình một đời sống tự do khác biệt với miền Bắc CS.
Ở thời điểm đó, sau cuộc chia đôi đất nước mới chỉ vài ba năm nên có thể coi như một vết chém chia lìa dân tộc chưa ngưng rỉ máu. Cuộc di cư khổng lồ với cả triệu con người từ Bắc vô Nam tất gây xáo trộn trong cả nước và như thế  thì hẳn đời sống có rất nhiều vấn đề thời sự nóng hổi bầy ra trước mắt. Vậy thì việc từ bỏ ý thức công cộng của nhất thời để chỉ đi tìm những đề tài vĩnh cửu sẽ có khiến cho người sáng tác quay lưng lại với thực tế hay không ?
Nói thế không phải tôi phủ nhận quan điểm làm báo của VHNN. Thế giới chữ nghĩa là cả một rừng hoa với nhiều mầu sắc. Văn Hóa Ngày Nay đương nhiên là một tạp chí tô điểm thêm cho sinh hoạt báo chí thời đó vốn đã vô cùng sôi nổi với nhiều tờ báo danh tiếng khác như Đời Mới, Vấn Đề, Sáng Tạo, Bách Khoa, Văn Hóa Á Châu, Quê Hương..v..v..  
Tuy nhiên, sau vài số đã phát hành, có vẻ như Văn Hóa Ngày Nay đã hiện diện như một bông hoa tuy nhiều hương sắc nhưng lại có vẻ như lạc lõng giữa dòng đời đang trôi đi hối hả. Đọc những trang chính Nhất Linh trả lời thư độc giả ở những số đầu, ta thấy hầu như Ông chưa nhận ra được sự lạc lõng này. Ông vẫn bộc lộ sự chủ quan qua những lời lẽ như nhận mình là con voi nằm thù lù trong sở thú, hay trách độc giả sao bắt ông làm việc quá nhiều trong khi ông cũng chỉ có 24 giờ như mọi người...
Mặt khác, Nhất Linh lại là một nhân vật nổi tiếng với nhiều thành tích văn học quá lẫy lừng. Phải chăng chính sự nổi tiếng này đã trở thành một yếu tố bất lợi cho chính ông bởi vì các độc giả đã kỳ vọng ở nơi ông quá nhiều. Cứ nhìn số báo ra mắt Văn Hóa Ngày Nay được đón nhận thế nào thì đủ thấy. Theo học giả Đoàn Thêm trong cuốn “Hai Mươi Năm Qua, việc từng ngày”, thì VHNN số đầu tiên đã bán hết tới 10 ngàn số, và Thế Uyên, người cháu gọi Nhất Linh bằng Bác còn tiết lộ trong cuốn “Chân Dung Nhất Linh” do tạp chí Văn ấn hành, rằng :
“Trước khi phát hành Văn Hoá Ngày Nay số 1, Nhất Linh dự đoán sẽ bán được năm ngàn số. Duy Lam lạc quan hơn, đưa con số tám ngàn. Tất cả đều đoán sai. Tám ngàn là con số bán hết trong mấy ngày đầu, sau đó phải in đi in lại nhiều lần.”
Nếu đúng như thế thì đây là một kỷ lục mà sau đó chưa có một tạp chí văn nghệ nào theo được bén gót. Nó cũng nói lên rằng độc giả đã quý trọng và đón chờ công trình văn hóa mới của Nhất Linh như thế nào sau biết bao nhiêu biến cố lớn lao của đời sống, cả chính trị lẫn văn học.
 Ta hãy thử xem trong VHNN số đầu tiên đã chứa đựng những gì ?
Điểm sơ qua thì thấy Nhất Linh dành tới 6 trang để trả lời thư độc giả xa gần ở nhiều tỉnh từ Huế vào Sài Gòn, từ Biên Hòa, Vũng Tầu xuống  Mỹ Tho, Trà Vinh ....Báo chưa phát hành mà đã có nhiều độc giả gửi thư về tòa soạn đến thế.  Họ có thể là những độc giả tò mò hay hối hả gửi thư chất vấn ông ngay cả khi tờ báo chưa ra số đầu chăng ?
Ngoài phần trả lời thư độc giả, Nhất Linh còn viết 4 bài khác, trong đó có 2 sáng tác gồm truyện ngắn Bắn Vịt Trời và truyện dài Xóm Cầu Mới, cộng 1 bài nghị luận “Văn Hóa Ngày Nay với Văn Hóa Việt Nam” như đã nhắc ở trên và thêm một bài khởi sự cho tập biên khảo “Viết và đọc Tiểu Thuyết”.
Nhà giáo Nguyễn Thành Vinh, một đồng chí của Nhất Linh trong lãnh vực chính trị, viết 1 bài bình luận nêu cao chủ trương “Văn chương phải có giá trị vượt thời gian và không gian”, Trương Bảo Sơn dịch Một Bản Đàn của Leon Tolstoї,  Nguyễn thị Vinh có truyện dài Cô Mai,  Duy Lam, một cây viết mới có tới 4 bài, và Tường Hùng cũng là một cây viết mới có 2 bài, hầu hết là loại văn vui. Sau cùng là những truyện ngắn của các tác giả, cả mới lẫn cũ như Khái Hưng, Đỗ Đức Thu, Bình Nguyên Lộc, Linh Bảo, Quỳ Hương.

Một nội dung như thế, có thể gây đôi chút cảm giác ngỡ ngàng cho người đọc sau những ngày chờ đợi. Gọi là ngỡ ngàng vì Giai phẩm VHNN hầu như không đáp ứng được nhu cầu đọc sách của độc giả lúc đương thời. Hàng triệu con người vừa di cư vào Nam, trước cuộc sống mới vô vàn khó khăn, bỡ ngỡ, với biết bao nhiêu nhu cầu đặt ra trước mắt và biết bao nhiêu vấn đề phải đối phó, tất nhiên nội tâm của họ phải sôi động, tâm tình phải gắn bó với cuộc sống đang dồn dập thay đổi xẩy ra từng ngày, từng giờ ở chung quanh. Sống trong một hiện trạng xã hội như thế, hẳn độc giả rất muốn được nghe tiếng lòng của Ông, hoặc nghe ông kể về  những kinh nghiệm dầy dạn trong sinh hoạt cả về Văn Chương lẫn Chính trị khi họ tuyên xưng Ông vừa là một Văn gia, lại cũng vừa là một Chính trị gia lão thành.
Vậy mà trong những trang sáng tác mới, những nhân vật vượt không gian và thời gian của Ông như Cô Mùi, như Ông Năm Bụng, như Bà mẹ Lê..v..v.. tuy vẫn là những hình tượng vĩnh cửu, nhưng lại thiếu ngọn lửa hừng hực của cuộc sống đương thời và đó không phải là những nhu cầu mà  người đọc đã  nôn nóng chờ đợi như khi vừa nghe tin “nhà văn Nhất Linh xuống núi, ra báo trở lại”.
Cảm nhận này không chỉ ở phía đa số độc giả mà ở ngay cả những người trong nhà, lại là những người cũng đã trở thành nhà văn sau này. Tôi muốn nói đến hai nhà văn Thế Uyên và Duy Lam, những người có họ hàng ruột thịt với Nhất Linh và cũng đã tiếp cận với ông khi VHNN đang được chuẩn bị ra số đầu. Duy Lam thực sự là một cây bút chủ lực của VHNH, nhưng Thế Uyên thì lại không thấy xuất hiện bài nào. Trong cuốn “Những Ý Nghĩ Của Bọt Biển”, nhà văn Thế Uyên đã thuật lại rằng khi chủ trương ra tờ Văn Hóa Ngày Nay, Nhất Linh đã nói với ông rằng : “ cháu viết được nhưng kiểm duyệt không cho đăng đâu.”
Khi VHNN đã ra được vài số, cả Duy Lam lẫn Thế Uyên cũng đều có cảm nhận giống như tôi đã trình bầy ở trên. Trong tập “Chân Dung Nhất Linh” do tạp chí Văn ấn hành, Thế Uyên đã viết trong bài “Người Bác’  như sau:
“ Cả hai đứa đều không chịu nổi những bài khảo luận linh tinh, những bức thư Nhất Linh viết trả lời độc giả. Đọc loạt bài này đôi khi thấy cũ kỹ và lẩm cẩm. Về văn, tuy vẫn phục nghệ thuật phân tích tâm lý, nghệ thuật trình bày nhân vật, nhưng tôi đã cảm thấy Nhất Linh không còn là nhà văn của thế hệ trẻ. Trường giang tiểu thuyết Xóm Cầu Mới có những nhân vật đặt trong một không gian thật xa cách.”
Điều này hầu như cũng là nguyên do khiến cho chỉ sau vài số, số lượng báo VHNN bán ra đã sút giảm dần.

                                           (còn tiếp)

Thứ Tư, 24 tháng 7, 2013

YÊU THỜI ĐỒ ĐỂU ( KỲ 75 )





                                                   (tiếp theo)





 “ Vậy anh tìm ở đâu ?”

“ Tôi chắc nó đi “đánh quả” với ông Thuộc ở Sàigòn chứ chẳng sai…”

Cô tiểu thư sợ hãi :

“ I mèn ơi, lại giết người cướp của ? Thôi thôi, đừng tìm nữa. Tốt nhất cho hắn đi luôn. Ba má tôi là cán bộ sao lại quan hệ với xã hội đen…”

Gã thư ký bật cười :

“ Ngày nay xã hội đỏ với xã hội đen có khác chó gì nhau.  Thế cái thằng bạn cằm bạnh của cô là xã hội đen hay xã hội đỏ ? “

Cô tiểu thư la lên :

“ Í chết…? Ảnh con ông lớn đó…”

“  Vậy phải rồi…vừa con ông cháu cha vừa trùm mafia, làm cha thiên hạ rồi…”

Cô Kim Anh đỏ mặt vì hãnh diện. Con gái Chủ tịch tỉnh quen con trai Uỷ viên Bộ chính trị, môn đăng hộ đối quá rồi . Chỉ buồn gã chơi trò “cặp đôi”, bên này  Kim Anh bên kia Tuyết Nhi, đi chơi Phú Quốc thuê có một phòng, cùng lúc kéo cả hai cô lên giường. Kim Anh chưa quen kiểu  “tay ba” , chối đây đẩy :

“ Chịu thôi, em chịu thôi, kỳ lắm…”

Tuyết Nhi cười nhạt :

“ Kỳ thì thôi , thuê phòng khác mà ngủ…”

Gã cằm bạnh chẳng nói chẳng rằng tát bốp vào mặt Kim Anh , lôi sấn cô lên giường. Tuyết Nhi không bênh bạn thì chớ, còn mắng thêm :

“ Đã chấp nhận đi chơi còn bày đặt…tay đôi hay tay ba có gì khác nhau …”

Kim Anh đành chịu trận, vài ba đêm thành quen, tham gia trò chơi tay ba tới mức thành thạo làm Tuyết Nhi phải khen :

“ Con nhỏ này tiến bộ nhanh ghê. Thôi mai mốt tớ với cậu lấy chung một thằng chồng cho vui…”

Kim Anh bĩu môi :

“ Giỡn hoài, chơi bời thì được, còn chuyện chồng con phải nghiêm chỉnh, đâu có tay ba, tay tư được ?”

Gã cằm bạnh cười hô hố :

“ Một chồng ba bốn vợ cũng được chớ sao ? Ong già anh đó, một bà Sàigòn, một bà Hà Nội, một bà mãi trên Cao Bằng…ba bà chung sống hoà bình đâu có sao ?”

Tuyết Nhi cười cười :

“ Giờ thì vậy đó, mai mốt ông già anh nằm xuống, mấy bà mới xúm vào uýnh lộn đòi chia gia tài …”

Gã cằm bạnh trừng mắt, nghiến răng trèo trẹo :

“ Sức  mấy, đứa nào gây sự với mẹ anh, anh cho nó đi theo bố anh liền…”

Hoá ra thằng cằm bạnh cũng chỉ là con bà Hai ở Hà Nội thôi, vợ cả của đồng chí  tuốt mãi trên Cao Bằng, quê hương cách mạng. Sau năm 1975 vào chỉ đạo cách mạng miền Nam, đồng chí cưới thêm bà Ba ngay Sàigòn công khai trước mắt bàn dân thiên hạ mà chẳng ai dám ho he. Bà Ba được  cấp hẳn một ngôi biệt thự có vườn, có bể bơi, có điện ưu tiên ở khu trung tâm thành phố mà sang thời kinh tế thị trường giá trị của nó không dưới 10 ngàn cây vàng. Gã cằm bạnh tức ói máu mà sợ bố không dám động tới, tuy trong thâm tâm gã dự định một mai bố gã nằm xuống, nhất định gã sẽ nhảy vào ngôi biệt thự đòi ăn chia chứ không để bà ba ăn cả được . Ong cán bộ cấp cao là người chu đáo cả việc công lẫn việc tư. Bà vợ cả trên Cao Bằng được “đầu tư” trên trăm  tỷ  xây biệt thự theo kiểu  nhà sàn người dân tộc. Ngôi nhà chót vót trên đồi được dựng bằng toàn gỗ lim cổ thụ, đồ đạc trong nhà cũng toàn bằng gỗ quý để mỗi khi có dịp lên thăm bà Cả, ông tạm xa  thế giới mạ kền bóng loáng nhà bà Hai,  tức mẹ gã cằm bạnh ở Hà Nội. Ngôi nhà này ở khu Ba Đình, có lính gác, có dẫy nhà phụ giành cho đám phục vụ và lẽ dĩ nhiên bên ngoài kín cổng cao tường, bên trọng sang trọng vào bậc nhất nhì Hà Nội. Thực ra ngôi biệt thự này trước kia là của một ông Bộ trưởng được cấp từ hồi Đảng và chính phủ về tiếp quản Hà Nội năm 1954. Từ khi ông Bộ trưởng về hưu, bố gã cằm bạnh lên thay, ngôi nhà đã lọt vào tầm ngắm của ông ta. Nhưng phải chờ tới khi ông tranh được ghế cao hơn , Ban quản trị tài chánh trung ương mới đẩy được ông Bộ trưởng hưu đi nơi khác giành  ngôi nhà cho ông kịp lúc ông cưới bà Hai đẻ ra gã cằm bạnh sau này.

Bà Hai nguyên là một nữ văn công được “vinh dự” vào hát phục vụ ông . Mới nghe chưa hết một bài ông đã quát tả hữu lui ra khỏi phòng và đè nghiến ngay cô  xuống đất. Từ hôm đó cô từ bỏ nghiệp cầm ca để làm vợ hai đồng chí lãnh đạo đầu ngành kính mến. Sau này mỗi lần nhìn thấy bố xuất hiện trên ti vi, gã lại cười thầm. Ong thường nói rất hăng về về đạo đức của bác Hồ, con đường Bác đã chọn cho dân tộc, về người cộng sản  lo trước thiên hạ, hưởng sau thiên hạ, về quyết tâm của Đảng đẩy lùi quốc nạn tham nhũng…. Quả thực bề ngoài, ai cũng tưởng bố gã là vị lãnh tụ mẫu mực, chỉ biết lo cho dân cho nước, ngờ đâu ở bên trong, gã cằm bạnh thừa biết bố gã là người “làm ăn lớn”, chỉ nhận những phi vụ tiền “phong bì” phải 100 ngàn đô la trở lên. Gã có thể biết bố gã có bao nhiêu bất động sản, ở những đâu, đứng tên ai, riêng tài khoản của ông ở nước ngoài thì gã chịu. 1 tỷ…2 tỷ …10 tỷ đôla hoặc hơn thế nữa chỉ bố gã biết . Tuy nhiên số vốn của bà Hai , tức mẹ gã được  ông chồng cho cũng thừa cho gã ăn tiêu phè phỡn hoặc mua đi bán lại đất  đai và bất động sản.

Mấy hôm ở Phú Quốc gã được một cán bộ huyện uỷ đưa đi  coi mấy lô đất  ven biển. Mỗi lô chừng 2000-3000 mét vuông, có bãi tắm, có rừng thông, dựa lưng vào đồi soai soải , thật lý tưởng để xây nhà nghỉ. Biết gã là thành phần 4C, “con cháu các cụ”, ông cán bộ huyện uỷ xúi :

“ Cậu mua đi, chỉ vài năm nữa giá đất sẽ tăng lên mấy chục lần…Cầm chắc lời  lớn…”

Gã gọi điện cho bà mẹ ngoài Hà Nội gửi tiền vào nhưng bà xui gã :

“ Việc gì phải mua. Không lẽ người ta không biếu bố anh được một lô ư ? Đại hội Đảng sắp tới rồi, gợi ý cho tụi nó “chạy chức” dần đi là vừa…”

Gã phản đối :

“ Bố không nhận lộ liễu thế đâu , bố chỉ nhận tiền rót vào tài khoản mật thôi, mẹ còn lạ gì…”

Tuy vậy bà vẫn khăng khăng không chịu dốc hầu bao mua đất ở nơi đảo xa cực Nam đất nước, dẫu sau này lời gấp bội. Thấy gã suốt mấy ngày liền bỏ đi từ sáng đến tối , bỏ mặc hai cô nằm chỏng chơ,  Kim Anh tức quá rủ bạn chuồn về, Tuyết Nhi cười khảy :

“ Cậu về trước đi,  tớ ở lại …”

Kim Anh sốt ruột :

“ Sao bảo ra đây tìm mua đất giá bèo ? Đất cát chẳng thấy đâu cứ nằm suông như vầy chán thấy mồ tổ…”

Vừa lúc đó gã cằm bạnh lò lò bước  về phòng. Gã đang buồn rười rượi vì bà mẹ không chịu bỏ tiền mua đất, nghe Kim Anh than thở, gã reo lên :

“ Rồi, có rồi, anh đã tìm ra được  3 lô đất ven biển giá  bèo cho mỗi người mua một lô rồi. Chịu không ?”

Bà Phu nhân cho phép cô tiểu thư đi chơi Phú Quốc cũng là nhằm kiếm mua miếng đất mà theo lời đồn chỉ vài năm nữa là có lời bạc tỉ. Bởi vậy nghe tin có đất cô Kim Anh  rối rít :

“ Đất ở đâu ? Anh cho em mua với…”

Ngay hôm sau gã cằm bạnh đưa hai cô đi coi mấy lô đất gã đã coi trước và đòi  mỗi cô phải điện về gia đình gửi  ra đảo 30 ngàn đô la đặt cọc. Ong Chủ tịch nghe điện giãy nảyvới vợ :

“ Con Kim Anh đòi gửi cho nó những 30 ngàn đô đặt cọc mua đất ngoài đảo Phú Quốc kìa. Bộ nó điên chắc ?”

Bà Phu nhân điềm nhiên :

“ Thì tôi với ông đã thống nhất cho nó ra đó cùng mua với con Tuyết Nhi và thằng bạn nó mà. Mình ăn theo cái lộc con trai ông Uỷ viên Bộ chính trị nhất định sẽ thắng to, sau này Phú Quốc thành đảo du lịch thì mình lời lớn…”

“ Nhưng đã biết đất cát, giấy tờ ra sao mà đã đòi gửi ra những 30 ngàn đô la ?”

Bà Phu nhân cũng phân vân , giá như đích thân bà đi một chuyến ra đó xem cụ thể thì yên tâm hơn. Nhưng lúc này bà mới cặp được thằng Bành Trọc, không muốn dứt ra, viện lý do mắc công chuyện nhà không đi được.

“ Hay mình sai thằng thư ký ra đó coi tình hình sao , nếu nó báo về là mua được mình sẽ gửi tiền cho con Kim Anh…”

Ong Chủ tịch lắc đầu :

“ Không được, nó đang chạy việc uỷ ban, đi đâu được, thôi bỏ qua vụ này đi…”

Bà Phu nhân tròn mắt :

“ Ua … Đại hội Đảng sắp tới rồi, sao ông không tận dụng cơ hội qua thằng cằm bạnh tiếp cận ông Chín sau này còn nhờ cậy ?”

Ong Chủ tịch ngẩn ra nghĩ ngợi.  Ong biết cái ghế ông đang ngồi sắp  hết thời hạn, muốn ngồi tiếp ông phải chi tiền, theo thời giá hiện nay, chức Chủ tịch tỉnh giá không dưới 50 tỷ. Tuy nhiên tiền bạc là một chuyện, cốt lõi đặt cửa nào cho  chắc ăn. Khoá trước khối  anh đặt tiền vào cửa một ông kễnh, “chạy chức”  nào Bộ trưởng, nào Chủ tịch tỉnh, nào Trưởng ban… Nào ngờ tới phút chót cha này bị chính phe cánh mình “ phản thùng” lật đổ, vậy là bao nhiêu anh đặt tiền vào cửa của kễnh  coi  mất trắng.

Nếu biết chắc ông Chín, bố thằng cằm bạnh giữ vững cái chức Uỷ viên Bộ chính trị ngay trong khoá tới, ông chẳng ngại ngần gì đặt cọc vài trăm ngàn đô la vào đó. Nhưng khác hẳn đại hội trước, mấy cha chửi nhau như hát hay, lần này cứ thấy êm ru  giống như họ hoà hoãn với nhau, ai ngồi đâu cứ ngồi đó cùng toạ hưởng kỳ thành cũng nên. Trong trường hợp đó , ông Chủ tịch có thể yên tâm vững ghế tới 70 % , tuy nhiên vẫn còn 30 % …phải chạy. Ong quyết định nắm ngay lấy cơ hội này , điện cho Kim Anh mời thằng cằm bạnh về nhà nhận tiền .  Thằng này nghe cô tiểu thư báo lại, mừng rơn trong bụng, đã tới mùa làm ăn rồi đây, cứ mỗi mùa bầu cử, tranh thủ trấn lột chục quan chức cấp tỉnh như bố con nhãi Kim Anh này cũng trúng cả triệu đô la.



                                                        (còn tiếp)