Tổng số lượt xem trang

Thứ Tư, 17 tháng 7, 2013

nhà văn NHẬT TIẾN : HÀNH TRÌNH CHỮ NGHĨA (KỲ 6)



                                                              (tiếp theo)



                                CHƯƠNG 4

             



Thời điểm Sài Gòn - Sau 30-4-1975 



THÁNG TƯ NHÌN LẠI:

Văn nghệ sĩ miền Nam

trong những ngày đầu của chế độ mới:


(Văn Nghệ Sĩ Miền Nam Trong Những Ngày Đầu Của Chế Độ Mới, Việt Tide Phỏng Vấn Nhà Văn Nhật Tiến, Việt Tide số 146, tuần lễ 30 tháng 4 đến 6 tháng 5, 2004)

                                               

            Việt Tide: Sau khi quân đội miền Bắc tiến vào Sài Gòn, chính quyền cộng sản đã bắt đầu ngay nỗ lực tập trung kiểm soát văn nghệ sĩ, xin anh cho biết về giai đoạn này?


            Nhật Tiến: Thực sự là họ nắm rất vững sự sinh hoạt sáng tác của hầu hết các văn nghệ sĩ miền Nam do báo cáo từ những văn nghệ sĩ nằm vùng khi trước. Thí dụ như ở báo Bách Khoa thì có Hai Khuynh, Vũ Hạnh...chẳng hạn. Thành ra với tài liệu có sẵn, khi vào  tiếp thu Sài Gòn, họ đã có danh sách phân loại văn nghệ sĩ rồi. Người nào bị đánh giá là có liên hệ mật thiết với Mỹ hay chính quyền cũ thì đã bị lùng bắt ngay trong đợt đầu (nhà văn Mai Thảo trốn thoát trong đợt lùng bắt này). Tuy nhiên, một số đông đảo khác thì sau này chỉ có giấy gửi đến tận nhà từng người gọi đi  tham dự một khóa học tập gọi là “khóa bồi dưỡng chính trị dành cho văn nghệ sĩ”. Địa điểm ghi danh, trình diện là trụ sở của tòa đại sứ Đại Hàn khi trước.


            Việt Tide: Thế có đông người đến ghi danh không thưa anh?


            Nhật Tiến: Có thể nói là rất đông, vì khi nói đến văn nghệ sĩ thì không chỉ riêng có giới cầm bút mà bao gồm cả các ngành khác như  nhạc, kịch, sân khấu, điện ảnh. Cho nên quang cảnh ghi danh  trình diện rất đông đảo, tấp nập, sau này tôi được biết số người tham dự thuộc đủ mọi ngành đã lên tới trên 400 người.


            Việt Tide: Ngày đầu tiên của khóa học đó như thế nào?


            Nhật Tiến: Tất cả được tập trung tại một biệt thự lớn ở góc đường Hiền Vương và Trương Minh Giảng, hình như là căn nhà  của ông Nguyễn văn Kiểu, thân phụ ông Nguyễn văn Thiệu. Sau đó mọi người được phân chia theo từng nhóm Bộ môn như  sân khấu, điện ảnh, ca nhạc, riêng bộ môn Văn và Thơ thì gộp chung thành một nhóm. Theo tôi nghĩ  thì đáng lẽ khóa học  phải được khai mạc ngay từ ngày đầu, nhưng chúng tôi rất ngạc nhiên khi thấy suốt trong ba ngày ròng rã, mọi người sau khi được phát cho  một  xấp tài liệu quay ronéo, lại chỉ ngồi đọc, và dò lỗi in ấn hay đánh máy sai. Sau này, tôi nhận ra rằng hình như khóa học đã nhận đượïc chỉ thị từ Hà Nội bắt đình hoãn tạm thời để ban tổ chức điều chỉnh lại cơ cấu nhân sự điều hành khóa học. Lý do : Hà Nội không ngờ  số lượng văn nghệ sĩ  tham dự  khóa học lại đông đảo như vậy và điều này, có thể khiến họ nhìn ra tầm mức quan trọng của khóa học, nên thay vì giao cho Thành Uỷ và đám văn nghệ sĩ nằm vùng ở Sài Gòn đảm trách, họ đã cấp tốc chuẩn bị đưa từ Hà Nội vào những nhân sự có vai vế hơn trong giới văn học của miền Bắc như Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Bảo Định Giang...v..v...


            Việt Tide : Nay thì anh có còn nhớ những ai đã đến tham dự khóa học đó không?


            Nhật Tiến: Đông lắm, nhớ không hết, nhưng có thể kể: Nguyễn Thị Vinh, Đỗ Phương Khanh, Phạm Thiên Thư,  Hồ Trường An, Tuấn Huy, Sơn Nam, Thế Nguyên, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thụy Long, Lệ Hằng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Tường Linh, Lê Thanh Thái, Minh Quân, Hoàng Hương Trang .... Nói chung là tổ Văn, Thơ cũng phải trên dưới 40 người. Còn bên bộ môn Nhạc, tôi thấy có cả Ban Thăng Long như nhạc sĩ Phạm Đình Chương tức ca sĩ Hoài Bắc, Hoài Trung, Thái Thanh.


            Việt Tide: Tâm trạng của những người đến địa điểm tập trung đó theo anh thì như thế nào?


            Nhật Tiến: Thật sự thì chúng tôi chẳng kỳ vọng học tập cái gì hết, nhưng khi đã chứng kiến một số đông bạn bè đã bị bắt giữ trước đó thì mình cũng phải tới tham dự thôi. Và cũng có thể nói, thời gian tham dự khóa học cũng là cơ hội cho chúng tôi có dịp gặp gỡ nhau để bàn tán, chia xẻ những tin tức và những băn khoăn  lo lắng về tương lai.


            Việt Tide:  Thưa anh, khóa học diễn tiến như thế nào?


            Nhật Tiến: Lễ khai mạc khóa học được tổ chức tại hội trường của Bộ Thông Tin cũ, nằm trên đường Phan Đình Phùng, Sài Gòn. Sau đó là các Tổ bộ môn sinh hoạt riêng. Ở bộ môn Thơ-Văn, chúng tôi được nghe trình bầy những đề tài nói về Duy vật biện chứng, Duy vật sử quan, chủ nghĩa khoa học Xã Hội, đặc biệt là những vấn đề lập trường cách mạng, về đấu tranh giai cấp, về quan điểm mỹ học và nhiệm vụ của văn nghệ sĩ trong lãnh vực sáng tác. Bên cạnh những bài học có tính cách sách vở là những buổi thuyết trình của một vài cây bút gạo cội ở miền Bắc mà nội dung phô bầy những kinh nghiệm dấn thân của diễn giả trên con đường phục vụ xã hội Xã-hội-Chủ-Nghĩa. Chẳng hạn như nhà thơ Lưu Trọng Lư  đã kể lại con đường phục vụ "cách mạng" của mình và kêu gọi văn nghệ sĩ  miền Nam hãy mạnh dạn đi theo con đường mà ông đã trải qua. Khoá học cứ thế kéo dài một tháng ròng rã và chấm dứt bằng một màn gọi là "ra điển hình". Nói rõ hơn là Ban tổ chức khoá học đã chỉ định  một số văn nghệ sĩ phải đứng ra "bộc bạch” về cá nhân sáng tác của mình. Mỗi người được chỉ định như  thế phải lựa chọn 2 trong số tác phẩm đã in để trình bầy trước khóa học và phải trả lời những câu hỏi đại để như : bối cảnh nào, động cơ nào, ý đồ nào đã sáng tác nên tác phẩm đó. Tôi là một trong những ngườøi bị chỉ định ra điển hình. Ngoài tôi ra còn có nhà thơ Phạm Thiên Thư, nhà thơ Tường Linh, nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ, nhà văn  Lệ Hằng...


            Việt Tide: Anh đã chuẩn bị gì cho sự xuất hiện trước khoá học ?


            Nhật Tiến:  Trưóc khi ra "điển hình" chừng một tuần lễ thì Vũ Hạnh là người đã  thông báo cho tôi biết về chuyện tôi đã bị chỉ định này. Anh ấy còn cho biết, trong số 2 tác phẩm "tự ý" chọn lựa, bắt buộc phải có cuốn Giấc Ngủ Chập Chờn. Theo một số bà con, hay bạn bè cũ từ ngoài Bắc vào cho biết thì cuốn này đã bị đánh giá ù là "cực kỳ phản động".


            Việt Tide: Anh vừa mới nhắc đến cuốn "Giấc Ngủ Chập Chờn", xin anh nói sơ qua về cuốn truyện đó như thế nào?


            Nhật Tiến: Giấc Ngủ Chập Chờn do tôi sáng tác và ấn hành vào khoảng năm 1969, nội dung viết về  một vùng xôi đậu ở miền Trung ( hiểu như  một vùng nằm giữa lằn ranh Quốc Gia và Cộng Sản, ban ngày thì do bên Quốc Gia kiểm soát, ban đêm thì du kích mò về làm chủ). Ở vùng đất đó, có những gia đình, anh thì đi lính quốc gia bên này, em thì theo đi du kích bên kia, dĩ nhiên là không tránh khỏi cảnh cốt nhục tương tàn. Trong thân phận của những ngườøi già cả của vùng đất đó, họ không hề quan tâm hay không hề biết gì đến vấn đề chính trị, và uớc vọng của họ chỉ đơn giản là muốn có một đời sống bình an, ấm no hàng ngày. Một cụ già, nhân vật trong cuốn đó, đã nói với đứa con trai đi theo du kích một câu như sau : " Mầy theo ai mặc cha mầy ! Mà điều đi với bên đây thì còn có đôi giầy, cái áo mà bận. Chớ qua bên đó chết trần chết truồng, ai thương !". Đấy, tâm tình người dân quê chỉ đơn giản có thế, nhưng chỉ như thế thôi cũng đủ bị lên án là bôi nhọ "chính nghĩa" của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.


            Việt Tide:  Thế thì ngày anh phải ra "điển hình" đó ra sao?


            Nhật Tiến: Tôi chọn hai cuốn: cuốn thứ nhất là "Giấc Ngủ Chập Chờn" theo Vũ Hạnh gợi ý và cuốn thứ hai là "Thềm Hoang". Và tôi cũng chuẩn bị rất kỹ phần phát biểu của mình, bởi vì theo tôi, đây là một cuộc trực diện công khai giữa một bên là những trí thức thượng thặng của miền Bắc và một bên là chính tôi (do bị chỉ định), coi như một trong những người đại diện cho giới cầm bút miền Nam.


            Việt Tide:  Và họ đã hỏi anh những câu hỏi như thế nào?


            Nhật Tiến: Trước hết họ hỏi về động cơ, hoàn cảnh viết cuốn sách đó. Tôi đã trả lời đại ý : Tôi di cư vào Nam năm 18 tuổi. Khi đó tôi chưa có ý thức chính trị gì nhiều, nhưng trước mắt tôi là cả triệu người di cư từ miền Bắc vào Nam. Điều này cho thấy chủ nghĩa cộng sản đã phải có vấn đề. Tuy nhiên, ý định vào Nam của tôi chỉ thực sự bắt nguồn từ cái tính thích phiêu lưu của tuổi trẻ. Vả lại sau hai năm, sẽ có tổng tuyển cử và tôi sẽ có thể trở về quê quán của mình. Sau đó thì chuyện tổng tuyển cử không được thực hiện và tôi nhận ra rằng miền Nam dần dà hình thành một quốc gia được rất nhiều nuớc trên thế giới công nhận. Cho nên tôi đã phục vụ quốc gia này trong tư cách một công dân, và trong tư cách công dân, tôi đã viết tác phẩm đó cũng như nhiều cuốn khác. Một câu hỏi khác mà tôi còn ghi nhớ được là của ký giả Thái Bạch, thuộc hàng ngũ những người viết miền Nam. Anh này đứng dậy gằn giọng hỏi tôi: "Anh cho tôi biết, anh có liên hệ gì với tên phản động Nhất Linh?" Tôi chưa kịp trả lời thì chị Nguyễn Thị Vinh đã đứng dậy, chỉ mặt Thái Bạch và nói ngay "Anh muốn biết về Nhất Linh thì hãy  hỏi tôi, vì tôi mới là người có nhiều liên hệ với nhà văn Nhất Linh, cả về mặt văn chuơng lẫn đời sống chính trị". Nói chung đa số anh chị em văn nghệ sĩ tham dự khóa vẫn còn giữ được tư cách của người cầm bút. Riêng tôi thì cho rằng cùng lắm thì số phận của mình cũng giống như những anh em đã bị bắt đợt trước thôi. Bản thân tôi và nhà tôi là Đỗ Phương Khanh, trước khi tham dự khóa học cũng đã chuẩn bị sẵn một cái túi xách tay, trong có bàn chải đánh răng, cục xà bông để sẵn sàng đi tù như mọi người khác.


            Việt Tide: Có một cuộc đấu khẩu rất sôi động trong khóa học về tương lai của nhà văn miền Nam. Anh có thể kể lại vụ này không?


            Nhật Tiến: Một nhà văn nữ miền Nam trong khoá học đã phát biểu tự nhận mình chỉ là đứa trẻ sơ sinh so với những nhà văn miền Bắc đã tham gia "cách mạng" trước đó  hàng mấy chục năm, vậy thì cần phải có thời gian học tập để sau này sẽ  được cầm bút trở lại. Ngay lập tức, Mai Quốc Liên một cây bút đến từ miền Bắc đã đứng dậy nói ngay " Khóa học này mở ra để các anh các chị hiểu biết về xã hội mới thôi chứ đừng trông mong vào việc cầm bút trở lại. Bởi vì miền Nam các anh các chị làm gì có văn hóa!"


            Việt Tide:  Phản ứng của anh chị em văn nghệ lúc đó ra sao?


            Nhật Tiến: Phải nói là sôi sục. Trước tiên, Đỗ Phương Khanh đứng lên chỉ mặt Mai Quốc Liên và hỏi ngay "Anh vào trong Nam được bao lâu rồi, và anh đã đọc được bao nhiêu tác phẩm của miền Nam rồi mà anh dám nói miền Nam không có văn hóa?" Rồi nhiều người khác cũng nhao lên, cả tôi lẫn nhà văn  Nguyễn Thụy Long đều đứng dậy. Không khí lúc đó rất sôi động. Những người điều khiển khóa học vội vã tuyên bố nghỉ giải lao. Khi ra ngoài sân thì Nguyễn Thụy Long có một người đi kè. Vũ Hạnh cũng kè tôi ra một góc sân và bảo :"Anh đừng có nóng. Anh phản ứng như thế người ta sẽ cho là anh phá hoại khóa học". Đến khi tái nhóm thì chúng tôi không thấy mặt Mai Quốc Liên nữa. Qua buổi chiều, Ban tổ chức cho biết Mai Quốc Liên chỉ là thành phần dự thính, không được quyền phát biểu. Vấn đề do đó cũng được bỏ qua đi. Chuyện này, nhà văn Tuấn Huy hiện ở Orange County cũng đã chứng kiến và anh cũng đã viết lại trong một hồi ký đăng trước đây trên nhiều  báo  ở hải ngoại.

                                           (còn tiếp)

Thứ Ba, 16 tháng 7, 2013

HẺM BUÔN CHUYỆN (KỲ101) : Giấy phép…”tự thiêu” (!)






                           

Sáng nay tiết trời Sàigòn thật lạ : gió lành lạnh,trời âm u như mùa thu Hànội. Vậy nhưng đừng tưởng cô Phượng cave sẽ  hát ư ử  :” Ngoài  hiên giọt mưa thu thánh thót rơi…trời lắng u buồn mây hắt hiu ngừng trôi…”. Ngược lại cô cười hắc hắc coi thằng Bảy xe ôm diễn tấu hài :
 “Này bà con ơi…tôi ra đây có phải xưng danh không nhỉ ?”
Lập tức gã Ký Quèn lên tiếng :
“ Không xưng danh ai biết ai là ai ?”
Thằng Bảy xe ôm ỏn ẻn:
“ Vậy thì tôi xin thưa…tôi tên Ba, đại tá hưu đây…”
Cũng may ông đại tá hưu vắng mặt nên thằng Bảy xe ôm tha hồ bốc phét. Nó kể cách nay 10 năm  đại tá hưu mua căn nhà xập xệ trong xóm , bà con qua lại cứ lắc đầu :” rõ khổ, đại tá hưu mà ở cái nhà thua thằng xe ôm”. Ông đại tá hưu thì cứ phân bua :” tôi về với nhân dân…tôi về với nhân dân…”. Thế rồi ông sống khép kín cùng cô vợ trẻ mới ngoài hai mươi, bình dị  như bà con lối xóm, chỉ khác  cứ vào ngày Quốc khánh , Quốc tế lao động…độc trọi có mỗi nhà ông treo quốc kỳ, còn cả xóm cứ tảng lờ như không. Rồi cũng chỉ được vài năm , thấy “xa rời quần chúng” quá ông cũng dẹp luôn.
Thế rồi như có cây đũa thần gõ vào người , chỉ sau bốn năm, ông đại tá hưu bỗng biến thành người khác. Ong nhậu tối ngày, mặt mũi đỏ ké, cười nói oang oang , bặm trợn chứ chẳng khép nép hiền lành . Kỳ lạ hơn, chẳng hiểu tiền đâu ra, ông cho đập nhà cũ, xây lên 4 tầng lầu cao chót vót . Ngày lễ tết không treo cờ thì đã đành, thỉnh thoảng từ đám nhậu ồn ào bên nhà ông vẳng sang, tiếng ông oang oang :
” Từ nay tao đéo sợ thằng nào. Bí thơ, Chủ tịch chẳng là con cặc gì , thằng nào cũng “ăn “ hết”, cứ gì tao …”
Thế rồi cất nhà xong, ông khuân về ùn ùn nào ti vi LCD khổ lớn, nào máy lạnh hai cục, nào xa lông, sập gụ, tủ gương…toàn hàng cao cấp , ba thứ đồ second hand, ông bán tuốt luốt. Cô vợ trẻ cũng tân trang triệt để, tóc nhuộm hoe hoe,môi xăm đỏ chót, xe Nouvo  trắng đen, đập hộp,  Nokia xịn , ví Louis Vuitton, giày Gucci…tóm lại toàn hàng hiệu. Sống thượng lưu vậy nhưng ông rất hoà mình với quần chúng, dàn nhạc Mỹ 15 ngàn USD chơi toàn…cải lương, vọng cổ, dứt khoát không mở ba thứ nhạc tây lai căng, giật cục. Rồi quỹ xoá đói giảm nghèo ông đóng góp gấp chục người thường , giả tỷ  hạng nghèo như bà Năm củ cải góp 3 ngàn thì ông xoẹt luôn ra tờ 5 chục, cười hà hà :” Tôi vốn từ nhân dân lao động mà ra, giờ lại về với nhân dân lao động”.
“Diễn” tới đây, thằng Bảy xe ôm hỏi :
“ Đố biết sao ông đại tá hưu giàu nhanh vậy ?”
Chị Gái hủ tíu :
“ Chắc ổng trúng số quá…”
Gã Ký Quèn trề môi :
“ Số đâu mà trúng. Chắc chắn hồi đương chức chả “thụt két” gửi nhà băng nước ngoài, mấy năm rồi nghe ngóng, giờ thấy “êm”, hạ cánh an toàn mới rút ra xài.”
Mọi người ồn ào cãi nhau bất chợt cô Phượng cave hắng  giọng :
“ Kìa…chú Ba tới kìa…”
Thằng Bảy xe ôm nín bặt, chạy vội về bàn ngoáy ngoáy ly càphê đá vẻ chăm chú lắm làm cả quán cười rộ. Ông đại tá hưu hất hàm :
“ Chuyện gì cười dữ vậy…”
Cô Phượng cave lấp liếm :
“| À…chuyện “ngân  hàng bò” tối qua tivi mới đưa, giờ chiếu lại kìa…”
Ông đại tá hưu gật gật :
“ Phải rồi…phải rồi…đó là chủ trương lớn của đảng giúp đồng bào miền núi tiến kịp miền xuôi…”
Thằng Bảy xe ôm thắc mắc :
“ Miền núi lấy đâu ra ruộng mà tặng bò ?”
Gã Ky Quèn chen ngang :
“| Ơ cái thằng ngu… tặng bò cho bà con không dùng cày thì thịt bán  cho nhà hàng chớ sao ?”
Ông Tư Gà nướng càm ràm :
“ Tao thấy miền núi họ nuôi dê nhiều lắm…sao đảng nhà nước không lập “ ngân hàng dê” ?”
Thừng Bảy xe ôm cười hô hố :
“ Nếu lập ngân hàng dê chị Phượng cúng hẳn một “sư phụ” cỡ cụ …”
Cô Phượng cave rút guốc ném vào mặt thằng Bảy xe ôm làm nó la oai oái. Ông đại  tá hưu đập bàn :
“ Tụi bay toàn bàn chuyện tào lao…”
Gã Ky Quèn cao giọng :
“ Không bàn chuyện tào lao thì bàn chuyện gì ? À thôi phải rồi bàn chuyện người  có công với cách mạng ở Lâm Đồng tự thiêu vì cưỡng chế oan …”
Ông đại tá hưu đập bàn :
“ Xuyên tạc…người có công với cách mạng là vốn qu‎ý của đảng , được đãi ngộ xứng đáng làm gì có chuyện tự thiêu ?”
Gã Ky Quèn cãi :
“ Ủa vậy chú Ba không biết, mới sáng nay cô con gái người tự thiêu tên Kiều mang bát nhang và di ảnh cha tới Văn phòng chính phủ khiếu kiện kìa…”
Nói rồi gã Ky Quèn rút ngay máy hình chụp trên mạng cô Kiều ôm hình cha  làm ông đại tá hưu ắng cổ không cãi , đâm nổi sùng :
“ Sao không làm đơn ra xã, ra huyện ? Ai cho phép tự thiêu ?”
Cô Phượng cave tròn mắt :
“ Ủa ! Tự thiêu cũng phải xin phép hả chú Ba ? Vậy cơ quan nào cấp giấy phép tự thiêu. Chắc đảng bộ xã quá…”
Cả quán cười ồ. Ông đại tá hưu mặt  đỏ lựng.
16-7-2013

‎

Chủ Nhật, 14 tháng 7, 2013

Nhà văn NHẬT TIẾN : NHẤT LINH - năm tháng cuối đời .



Sinh hoạt văn hóa của NHẤT LINH
              Giai đoạn cuối đời với
                 Hội BÚT VIỆT
và Giai phẩm VĂN HÓA NGÀY NAY





NHẬT TIẾN



Lời người viết : Bài viết này được soạn thảo trong dịp nhà văn Phạm Phú Minh và bằng hữu chuẩn bị tổ chức 2 ngày “Triển lãm và Hội Thảo về hai tờ báo Phong Hóa và Ngày Nay” ở Nam Cali vào đầu tháng 7-2013. Những tưởng buổi Hội thảo chỉ có quy mô hẹp, không rầm rộ như sau này mọi người đã thấy, nên tôi đã đáp ứng ngay lời mời  đóng góp một bài trong cuộc Hội Thảo do nhà văn Phạm Phú Minh nhân danh Ban Tổ Chức chuyển đạt, và tôi đã hoàn tất bài viết này ngay từ cuối tháng 5-2013.
Qua đầu tháng 6, nhà văn Phạm Phú Minh công bố trong vòng nội bộ toàn bộ chi tiết của hai ngày Hội thảo và cho tới lúc này tôi mới thấy sự nhận lời mời tham dự của tôi là một điều không mấy thích hợp đối với mục tiêu của Ban Tổ Chức.
 Lý do :  Các diễn giả trong suốt 2 ngày tổ chức đều tập trung vào chủ đề "Tự Lực Văn Đoàn" với những công trình tốt đẹp mà Nhất Linh cùng các văn hữu của ông đã thực hiện được. Đây là một nỗ lực hết sức công phu của Ban Tổ Chức và nội dung các bài phát biểu đã nêu ra được một bức tranh toàn cảnh rất đẹp đẽ về Văn Đoàn này. Như thế, bài nói của tôi về các sinh hoạt văn hóa của nhà văn Nhất Linh lúc cuối đời  (buồn nhiều hơn vui, có những sự thực về tờ Văn Hóa Ngày Nay không thể không nói ra), có thể sẽ làm mờ nhạt hào quang của người đứng đầu Tự Lực Văn Đoàn mà Ban Tổ Chức muốn phô bầy.
 Qua đầu tháng 6-2013, tôi đã gửi Email tới nhà văn Phạm Phú Minh nêu rõ ý nghĩ của mình và xin ban Tổ Chức cho tôi được rút tên ra khỏi cuộc Hội thảo. Nhà văn Phạm Phú Minh đã rất thông cảm với sự quan ngại này của tôi nên đã đồng ý hoàn toàn và hẹn sẽ mời tôi hợp tác trong một dịp khác.
Nay cuộc Triển Lãm và Hội Thảo về 2 tờ báo Phong Hóa-Ngày Nay cùng Tự Lực Văn Đoàn đã hoàn tất, mà theo báo chí tường thuật thì rất là quy mô và mỹ mãn. Như vậy, tôi nhận thấy cũng đã tới thời điểm thích hợp để tôi cho đăng tải bài viết của mình, sau khi bổ sung thêm vài chi tiết mà trước đây vì phải gò bó trong khuôn khổ một bài nói chuyện, tôi không thể nêu ra được hết.
Xin gọi là một chút đóng góp nhỏ nhoi  về một cái nhìn riêng tư của tôi đối với những sinh họat văn hóa của nhà văn Nhất Linh khi Ông ở vào giai đoạn cuối đời. Nếu bài viết có điều chi sai lầm hay thiếu sót, tôi xin sẵn sàng ghi nhận những lời chỉ giáo của bạn đọc.
                                                                                 Nhật Tiến
                                           

Trong mấy năm vừa qua, người quan tâm đến công cuộc bảo tồn văn hóa bỗng rất ngạc nhiên và vui mừng khi được biết đã có nhiều nhóm thiện chí ở nhiều nơi khác nhau đang nỗ lực phục hồi những công trình ấn loát đồ sộ và giá trị của thế kỷ trước bằng cách “số hóa” những bộ báo giá trị như Nam Phong, Tri Tân, Thanh Nghị, Phong Hóa, Ngày Nay, Tập San Sử Địa,  và ngay cả bộ Văn Hóa Ngày Nay thời hậu chiến.
Thế rồi, những nỗ lực ấy, dù xuất xứ từ bất cứ nhóm nào, tất cả cũng đều được hoàn tất. Các bộ báo kể trên vốn chỉ nằm trong thư viện hay trong các bộ sưu tập cá nhân với những trang giấy nhiều khi đã ố mầu thời gian thì nay được chuyển thành từng trang báo đọc được rất rõ ràng, và ai ngồi ở nhà cũng có thể vào Internet coi được qua dạng thức mà vi tính gọi là PDF tức tên gọi tắt của Portable Document Format ( Định dạng Tài liệu Di động)
Riêng công việc số hóa toàn bộ 2 tờ Phong Hóa - Ngày Nay, vì có tài liệu trên Internet nên người đọc mới có thể biết được nhóm thực hiện, trước hết là bà Phạm Thảo Nguyên (nhũ danh Phạm Thị Thảo), con dâu của nhà thơ Thế Lữ - một trong những thành viên chủ chốt của Tự Lực Văn Đoàn. Kế đó là ông Nguyễn Trọng Hiền, quý nam của họa sĩ Cát Tường (1912-1946). Họa sĩ Cát Tường trên tờ Ngày Nay còn lấy biệt danh là Lơ-muya  (theo tiếng Pháp thì Le mûr là bức tường), khi đó đã tham gia việc trình bầy và minh họa cho 2 tờ báo cùng các họa sĩ khác như Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, và cả Nhất Linh ký bút hiệu Đông Sơn
 Vốn là một nhà nhiếp ảnh nghệ thuật, Ông Nguyễn Trọng Hiền đã bỏ nhiều công trình cho việc ứng dụng kỹ thuật nhiếp ảnh cho toàn bộ bản số hóa này với sự góp sức về kỹ thuật của các vị như Lê Thành Tôn, Đỗ Thị Kim Dung, Lê HuyềnThanh.
Ngoài ra, trong công trình sưu tập còn có thể kể các vị khác như Martina Nguyễn Thục Nhi, Đỗ Tuấn Khanh, nhà văn Vu Gia (trong nước) và đặc biệt, có ông Nguyễn Tường Thiết, quý nam nhà văn Nhất Linh, người đã chia sẻ một tư liệu vô cùng quý giá. Đó là Di cảo viết tay “Đời làm báo” của Nhất Linh.
Khi Bộ báo đã được số hóa, coi như tài liệu đã sẵn sàng rồi, thì việc nghiên cứu nội dung của nó trên bình diện chính trị, văn hóa, xã hội cùng vai trò của nó trong thời kỳ ấy là một việc rất nên làm nếu không muốn nói là rất cần thiết.
Nhà văn Phạm Xuân Đài cùng nhóm thân hữu của ông đứng ra tổ chức một tuần lễ triển lãm Phong Hóa Ngày Nay cùng một số bài tham luận đọc trong dịp này đã là một công trình khởi đầu cho công cuộc nghiên cứu lâu dài kể trên.
Do nhã ý của ban Tổ chức, tôi được mời tham dự một bài phát biểu về Bộ báo Phong Hóa-Ngày Nay này. Tuy nhiên, vì chỉ chuyên việc sáng tác và không có sở trường trong vấn đề nghiên cứu những công trình văn hóa nên tôi chỉ xin được đóng góp phần nhỏ bé của mình dưới một đề tài khác, tuy không đi  hẳn vào chủ đề chính  nhưng cũng liên quan ít nhiều đến người chủ chốt của hai tạp chí Phong Hóa và Ngày Nay. Đó là nhà văn Nhất Linh khi ông ở vào giai đoạn sau Phong Hóa Ngày Nay, tức những sinh hoạt văn học nghệ thuật thời kỳ cuối đời của ông, qua hai hoạt động văn hóa:  Hội Bút Việt và Giai Phẩm Văn Hóa Ngày Nay.

Hội Bút Việt

Theo nhà biên khảo Đoàn Thêm (1915-2005), tác giả bộ sách Hai Mươi Năm Qua (1945-1964), việc từng ngày thì Hội Văn Bút Việt Nam được chính thức thành lập ở Sài Gòn vào ngày 21-10-1957.
Và đáng ngạc nhiên thay, cũng theo tác giả Đoàn Thêm thì Hội Văn Bút Việt Nam đã xin gia nhập và được Hội Văn Bút Quốc Tế chấp nhận trong Đại hội Văn Bút QuốcTế lần thứ 29 tại Tokyo (Nhật Bản) ngày 2-9-1957, tức là trước ngày chính thức thành lập ở VN tới gần 2 tháng !
Ta có thể lý giải sự kiện tréo cẳng ngỗng này như sau : “ Một nhóm nhà văn, nhà báo vào thời kỳ đó đã tự động ngồi lại với nhau, lập thành một nhóm cầm bút để xin gia nhập Tổ chức Văn Bút Quốc Tế (tên gọi chính thức hồi đó là PEN Club International, với ý nghĩa PEN  là cây bút, mà cũng là chữ mang 3 mẫu tự đầu liên quan đến giới cầm bút, như P = Poetes, Playwrights, E= Essayists, Editors, N=Novelists).
Hẳn cũng vì muốn dịch chữ PEN trong tên gọi mà Nhóm lấy tên là Hội Bút Việt.
Rồi sau khi được sự chấp thuận của Văn Bút Quốc Tế, Hội Bút Việt mới xin giấy phép hoạt động ở trong nước và do đó mới có ngày chính thức thành lập trễ gần 2 tháng như tác giả Đoàn Thêm đã ghi lại.
Văn nghệ sĩ thành lập Nhóm Bút Việt bao gồm nhiều cây bút lão thành. Có thể kể : Nhất Linh, Đỗ Đức Thu, Vũ Hoàng Chương, Vi Huyền Đắc, Đông Hồ Lâm Tấn Phác, Đào Đăng Vỹ, Nguyễn Hoạt, Mặc Thu, Nguyễn Thiệu Lâu, Bùi Xuân Uyên, Lê văn Siêu, Mai Lâm Nguyễn Đắc Lộc, Phạm Việt Tuyền, Nghiêm Xuân Việt, Lê văn Hoàn…v..v…
Nhóm tự nhận mình là “Một cây cầu vòng nối hai chân trời”, đó là chân trời văn hóa dân tộc với chân trời thế giới. Trong bài nhận định đăng trên Kỷ Yếu Bút Việt (mà Văn Hóa Ngày Nay in lại), trong có đoạn nói:
“ Chiến tranh thứ hai chấm dứt. Những chân trời mới đã mở rộng ra cho những con người văn hóa chúng ta. Thế giới tự do đã dần dần tiến tới cuộc sinh hoạt cộng đồng về mọi mặt, vậy không có lý gì chúng ta chỉ thiên trọng phần tìm hiểu mà sao lãng phần tự giới thiệu. Chính vì mục đích đó  mà Trung Tâm Bút Việt  của tổ chức Văn Bút Quốc Tế  được thành lập”.
Khi thành lập, Nhóm  Bút Việt  tuyên bố :
“ Nhóm không phải là một tổ chức có hệ thống chặt chẽ, có chủ trương cương lĩnh hoặc đường lối nhất định nào hết. Nó không phải là một văn đoàn, văn phái. Cũng không phải là  một hội ái hữu.  Bút Việt chỉ là một câu lạc bộ của các nhà cầm bút muốn gặp nhau để trao đổi ý kiến về sáng tác, về công phu tìm hiểu cũng như công phu giới thiệu”.
Như vậy trong buổi khởi đầu, Nhóm Bút Việt đã hình thành trong một ý niệm hết sức rộng rãi và tự do. Các thành viên của Bút Việt sinh hoạt như một Câu lạc bộ và không có sự bầu bán nào. Mọi chức vụ điều hành hầu như chỉ theo cung cách phân công. Theo nhà báo Hiếu Chân Nguyễn Hoạt thì nhà văn Nhất Linh nhận chức vụ Cố vấn theo lời thỉnh cầu của nhiều người và chức vụ Chủ Tịch đầu tiên của Bút Việt là nhà văn Đỗ Đức Thu. Qua năm 1959, Bút Việt đã tham dự Hội Nghị Văn Bút Quốc Tế lần thứ 30, họp tại  Francfurt (Tây Đức). Phái đoàn Việt Nam gồm có Chủ tịch  Đỗ Đức Thu và một hội viên là nhà biên khảo Lê văn Siêu.    
Nhân nói đến nhà văn Đỗ Đức Thu, Chủ tịch đầu tiên của Văn Bút, tôi muốn nêu lại sự kiện rằng đã có một thời, văn giới đặt nghi vấn ông có phải là một thành viên của Tự Lực văn Đoàn hay không ?
Nhà văn quá cố Đặng Trần Huân (1929-2003) trong tác phẩm “Những Người Thích Dấu Huyền” do nhà xuất bản Văn Mới in năm 1988, đã khẳng định : “Đỗ Đức Thu không phải thành viên của Tự Lực Văn Đoàn”.
Ông nêu lý do :
1) Theo nhà văn Nguyễn Thạch Kiên viết trong cuốn “Về Những Kỷ Niệm Quê Hương” do Phượng Hoàng ấn hành năm 1996, thì Tự Lực Văn Đoàn có mời Đỗ Đức Thu gia nhập nhưng thời gian đó ông không ở Hà Nội mà đang làm cho Sở Khí Tượng ở Quảng Châu, Trung quốc, kể như việc gia nhập không thành.
2) Ông Đặng Trần Huân cũng cho biết ông chưa hề thấy tác phẩm nào của Đỗ Đức Thu có in dòng chữ “trong Tự Lực Văn Đoàn” dưới tên tác giả, cho dù nhà văn Duy Lam lại nói chính ông đã thấy tác phẩm Đứa Con của Đỗ Đức Thu có in mấy dòng chữ này ở ngoài bìa. Nhưng vì Duy Lam không có cuốn sách trong tay để làm bằng chứng nên cũng kể như Đỗ Đức Thu chưa có chân trong TLVĐ.
Vào thời gian nẩy sinh ra những nghi vấn đó (1988), sự phát triển của ngành tin học chưa được bao nhiêu. Việc truy cập tài liệu trên Internet còn rất phôi thai và chậm chạp. Nhưng ở thời điểm này (2013), việc truy tầm tài liệu để tìm giải đáp cho một nghi vấn thì không mấy khó khăn gì. Riêng trong vụ này, tôi đã có 2 bằng chứng để có lời giải đáp:
1) Trong Văn Hóa Ngày Nay số ra mắt, Nhất Linh đã chọn in một truyện ngắn của Đỗ Đức Thu, tựa đề là  “Cúng Cơm” và ghi dưới tên tác giả dòng chữ “trong Tự Lực Văn Đoàn”.
2)  Tôi lại cũng đã tìm thấy phóng ảnh tấm bìa tác phẩm Đứa Con của Đỗ Đức Thu, dưới tên tác giả cũng ghi rõ “trong Tự Lực Văn Đoàn” đúng như nhà văn Duy Lam đã nói. Tác phẩm này do nhà Phượng Giang ấn hành năm 1953.  (nguồn: sachxua.net)




Như vậy, đích thực “Nhà văn Đỗ Đức Thu, Chủ tịch đầu tiên của Văn Bút Việt Nam từ năm 1957, cũng đã là một thành viên của Tự Lực Văn Đoàn”.

                                           (còn tiếp)

YÊU THỜI ĐỒ ĐỂU ( KỲ 73 )




                                        (tiếp theo)




Lão lại kêu lên :

“ Í chết mẹ…lại  ”cây sầu riêng trổ bông” , tao nghe giọng mày sặc mùi cải lương vậy là yên tâm rồi. Thôi cứ đi cho bà ta chờ đợi mỏi mòn…”

Thế là hai người dắt díu nhau đi không nhắn nhe lại một câu làm bà Phu nhân như người chết đứng trước cửa khách sạn. Bao nhiêu háo hức, hồi hộp biến sạch , lúc này Phu nhân rũ ra như tàu lá úa, trời đất quay cuồng, mắt tối sầm, sau cùng đành vẫy taxi trở về nhà. Bà vừa đặt chân vào nhà, người muốn xỉu, cô Kim Anh vội  chạy ra cuống quít :

“ Má làm sao ? Má  trúng gió hả ?”

Bà lắc đầu không nói, mặc  cô tiểu thư dìu vào buồng, cuống quýt cạo gió rồi gọi điện cho ông Chủ tịch :

“ Ba ơi, ba về ngay…má bị trúng gió sao đó, ngất xỉu rồi nè…”

Ông Chủ tịch đang phổ biến nghị quyết Uỷ ban về tăng cường quản lý các nhà hàng karaoke đang có nguy cơ biến thành động mãi dâm trá hình ở những nơi ven đường quốc lộ vắng vẻ, nghe con gái báo tin , sầm mặt :

“ Ba đang quán triệt chỉ thị của Uỷ ban cho khối cán bộ trật tự trị an và quản lý thị trường; về sao được.”

Kim Anh quát lớn :

“ Quán triệt ? Quán triệt cái con khỉ , lúc nào cũng “quán triệt”, “chỉ đạo” với cả “chỉ tiêu”. Vứt cha ba cái đó đi về với má…”

Ông Chủ tịch nổi giận, láo, con này láo, toàn nhưng việc thuộc chủ trương lớn của đảng mà nó dám bảo “cái con khỉ”. Các đồng chí trong thường vụ nghe thấy còn coi ông ra gì ? |Sợ thế nên ông Chủ tịch dịu giọng :.

“ Không được , việc Nhà nước coi bộ giỡn sao ? Nếu má con cảm nhẹ thì cạo gió cho bả rồi theo dõi coi sao, cùng lắm mới gọi xe cấp cứu nghe ?”

Ong Chủ tịch đặt máy cái cốp vào tai Kim Anh khiến cô chán ngán và rã rời hết cả người. Bố cô lại còn lo đến uy tín Chủ tịch tỉnh nên mới không cho gọi xe cấp cứu đấy mà. “Uy tín  lãnh đạo đảng” là cái đéo gì mà to hơn cả tính mạng vợ ? Đúng là một lũ bất nhân.  Cô chạy vào buồng sờ chân tay bà Phu nhân vẫn thấy lạnh toát, lay gọi mấy lần bà mới hé mắt rồi lại thiếp đi. Cô đành ngồi bên giường ngắm nhìn gương mặt mẹ lúc này vàng khè như nặn bằng sáp, mắt nhắm nghiền và hình như đang có hai giọt nước mắt nằm ở mi sắp trào ra trên má.

Cô bỗng thấy trào lên thương mẹ. Dẫu thế nào bà cũng là cột trụ gia đình , một tay lo toan biết bao việc từ mua sắm bất động sản, xây cất nhà cửa, nhận tiền hối lộ và tiền ăn chia của Chủ tịch tỉnh. …Bà có làm sao  nhất định cái nhà này tan tác, lúc đó ba cô thế nào cũng rước vợ kế về. Cô bỗng thấy thương mẹ, oán cha. Suy cho cùng, những cuộc phiêu lưu tình ái của mẹ cô cũng đều do sự mải mê công việc cơ quan, mải lo đấu đá giữ ghế đến mức bố chẳng còn tâm trí và thời gian để  quan tâm , săn sóc mẹ.

Bất chợt lại có chuông điện thoại , ông Chủ tịch tỉnh đã quán triệt xong nghị quyết cho cấp dưới nên gọi về :

“ Má con sao rồi ? Khoẻ lại chưa ?”

Kim Anh rấm rẳn :

“ Bả chết rồi, ba còn hỏi làm chi ?”

“ Tầm bậy, giờ ba mới họp xong, thôi để ba về vậy…”

Ong Chủ tịch vừa thu xếp tài liệu trên mặt bàn định  gọi xe đưa ông về, gã thư ký đã hớt hải chạy vào :

“ Chú Hai, bà Giám đốc Sương Mai đến xin gặp kìa ?”

“ Ua vậy hả ? Có việc gì vậy ?”

“ Bả nói bả chỉ gặp riêng chú thôi. Bả có việc rất cần…”

Ong Chủ tịch cau mày :

“ Mày xuống bảo bả tao đang họp thường trực Uỷ ban, có gì cứ trình bày với mày là được rồi. Tao phải về coi ở nhà bà Hai bị trúng gió ra sao ?”

“ Nhưng bả nói việc khẩn cấp lắm, liên quan tới dự án xây khách sạn Khu trung tâm…”

Ong Chủ tịch ngần ngừ rồi hình ảnh mơn mởn và tươi  mát của bà Giám đốc thoáng hiện ra làm ông tắc lưỡi :

“ Thôi được . Mày cho bả lên đây tao tiếp riêng . Còn mày lấy xe tao chạy ngay về nhà coi thím Hai ra sao, nếu cần thì đưa bả đi cấp cứu….”

Gã thư ký đưa bà Sương Mai lên phòng ông Chủ tịch rồi phóng xe hơi về nhà ông. Cô Kim Anh chạy ra đón :

“ ủa, vậy ba em đâu ? Sao ba nói về liền kia mà ?”

“ Ong tính về rồi nhưng lại mắc kẹt tiếp đoàn cán bộ Ban nội chính ngoài Hà Nội vào, bỏ đi đâu có được …”

Kim Anh gắt :

“ Nội chính ngoại chính con mẹ gì cũng vứt hết mà về coi vợ sống chết ra sao ? Sao kỳ vậy ? Để tôi vào gọi điện cho ba tôi…”

Gã thư ký vội vàng gạt đi :

“ Ấy chớ… ông đang tiếp khách quan trọng về sao được ? Thôi để tôi vào coi thím Hai sao , nếu cần đã có sẵn xe đưa thím Hai đi cấp cứu rồi kìa…”

Lúc này Bà Phu nhân đã tỉnh lại và đang khóc rấm rứt về nỗi khổ quá lớn do việc mất tích đột xuất của anh Bành Trọc . Nhìn thấy nước mắt mẹ rơi lã chã, cô tiểu thư hốt hoảng :

“ Mèn ôi, có chuyện gì má khóc vậy ?”

Bà Phu nhân được hỏi tới lại càng khóc lớn hơn nhưng nhất định không hé răng nói nửa lời chỉ đưa tay ra hiệu đuổi cả cô tiểu thư lẫn gã thư ký ra khỏi phòng . Kim Anh an ủi :

“ Con đã gọi điện cho ba về nhưng ba bận họp má ạ…”

Gã thứ ký cũng vội vàng :

“ Thưa đúng vậy, chú Hai đang quán triệt nghị quyết của Uỷ ban tỉnh cho khối cán bộ trật tự trị an và quản lý thị trường nên cử con mang xe ô tô về đưa thím đi cấp cứu đây.”

Bất ngờ bà Phu nhân nổi giận đùng đùng. Bà quát đuổi gã thư ký cút đi ngay với cái xe ô tô của gã và về Uỷ ban  nói với ông Chủ tịch khỏi về; cứ ở lại cơ quan mà họp hành, chỉ đạo, chỉ lồ…  đừng có vác cái mặt chó về nhà. Ôi chao ôi, giả tỉ đồng chí Sáu Bí thơ tỉnh ủy kính mến nghe được chắc đồng chí cũng nhảy nhổm lên chửi nhau tay đôi với con mẹ này không thua gì hàng cá chửi nhau với hàng thịt ngoài chợ.

Quát xong bà lại vùi đầu xuống gối khóc rưng rức. Cô tiểu thư đưa gã thư ký ra phòng ngoài, lo lắng :

“ Không hiểu má em có chuyện gì mà khóc dữ vậy ?”

Gã thư ký cười cười :

“ Ở nhà má cô có thường hay khóc thế này không ?”

Kim Anh lắc đầu  quày quạy :

“ Không, má em là người cứng rắn, không bao giờ bả chịu khóc trước mặt mọi người . Lạ thật, không hiểu có chuyện gì ? Chắc là chuyện nghiêm trọng lắm đây. Em phải gọi điện cho ba về ngay…”

Gã thư ký nghĩ tới cảnh đồng chí  Chủ tịch tỉnh đang “quán triệt”  bà Giám đốc Sương Mai ở cơ quan, vội vàng xua tay :

“ Ay chớ, chớ gọi điện , chú Hai đang mắc làm việc với nội chính trung ương quan trọng lắm. Xong việc chú sẽ gọi điện về, khỏi lo…”

Kim Anh xanh mặt :        

“ Vậy anh và xe phải ở lại đây chờ…nhỡ má em có chuyện gì  còn chở má đi ?”                                                        

Gã thư ký thở hắt ra. Cũng đành chờ thôi biết làm sao ? Mẹ khỉ, ông Chủ tịch tỉnh đã trút lên đầu gã cả đống công việc, bở cả hơi tai chưa xong, giờ lại còn phải làm cái việc chờ đợi ấm ớ này. Mà sao bà Phu nhân bỗng chốc nổi điên vậy ? Xưa nay bà rất ân cần và vui vẻ kià. Cái máy tính trong đầu gã lại nhoay nhoáy làm việc. Bà đang ghen với bà Giám đốc Sương Mai ? Bà phát hiện ra một khoản tiền ông Giám đốc “ăn phần trăm” qua mặt bà ? Hay bà vừa phát hiện chuyện gì đó có thể làm đức ông chồng mất ghế ? Không phải, những chuyện đó nếu có cũng chưa thể làm bà nổi điên  vậy được. Ngay cả khi chuyện con bé Gái vỡ lở , đức ông chồng dính đôi với nó ngay trước  mặt  bà cũng không khóc lóc, giận dữ  thế này . Còn chuyện cái ghế của ông Chủ tịch thì  cũng chưa có chuyện gì rõ ràng để có thể lo ông mất nó. Căn cứ vào những chuyển động âm thầm trong bộ máy làm công tác tổ chức của tỉnh uỷ, gã cảm thấy có đang án binh bất động giữa các quan đầu tỉnh, chưa xuất hiện nguy cơ nổ ra đấu đá quyết liệt để có thể dẫn tới việc ông Chủ tịch mất ghế.

Đại hội Đảng các cơ sở đang tới và tiến gần tới đại hội tỉnh Đảng bộ; mấy nhiệm kỳ trước, cuộc đấu đá đã diễn ra quyết liệt lắm rồi, chẳng hiểu sao lần này vẫn im ắng thế ?  Hay một sự lặng gió trước cơn bão ?  Không phải, theo kinh nghiệm của gã, cuộc đấu đá dù có quyết liệt tới đâu thì cũng không thể làm địa vị của các quan đổ bể theo dây chuyền được, khi cần, cùng lắm là một vài anh tép riu bị lôi ra làm vật tế, trấn an dư luận, chứ còn bộ máy của Đảng và Nhà nước bao giờ cũng phải cố giữ cho chạy đều dẫu rằng sự vận hành của nó có thể gây nên thiệt  hại lớn cho dân cũng mặc kệ. Nhãn tiền vụ bâuxit Tây Nguyên kìa. Lỗ cả ngàn tỉ đồng vẫn làm. Chủ trương lớn của đảng mà !

 Một lần vui chuyện, ông Chủ tịch nói với gã :” Mày đừng lo, bộ máy của Đảng , Nhà nước lúc này như con thuyền gặp sóng lớn. Bởi vậy phương châm công tác tổ chức là “ anh nào ngồi đâu cứ ngồi yên đó”, cấm xáo trộn, cấm gây lộn xộn làm thuyền tròng trành dẫn tới chìm nghỉm là chết  chùm ”. Bởi vậy dứt khoát chưa có chuyện ông Chủ tịch mất ghế khiến bà Phu nhân phải khóc lóc, giận dữ thế.

Ở trong phòng, lúc này bà Phu nhân mệt quá đã ngủ thiếp đi. Bà nằm mơ  thấy anh Bành Trọc đang quay về với bà. Biết ngay mà, bà đã dâng trọn con tim cho anh, anh đã hoàn toàn thuộc về bà, trời có sụp chăng nữa cũng không thể nào có chuyện bỏ rơi bà. Nỗi sung sướng làm thân thể bà nhẹ bỗng như có thể bay ngay tới anh, sà vào vòng tay lực lưỡng của anh trút vào đó biết bao hờn dỗi, nhớ thương, bao vui mừng, khao khát. Ay thế rồi khi anh tới gần, anh không ôm chầm lấy bà như  bà mong đợi, ngược hẳn lại anh quay mặt hướng tới một đứa con gái vừa xuất hiện. Ai kia nhỉ ? Oi trời đất ơi, bà muốn hét lên, đó chính là con bé Gái. Nó ôm chặt lấy anh bành Trọc, quay sang cười toe toét chọc giận bà. Không được, không thể nào như thế được, con chết băm chết vằm, mày cướp tình yêu của tao, tao phải giết mày, tao phải giết mày. Còn thằng Sở Khanh kia, mới leo lẻo thề thốt , chỉ non hẹn biển, vậy mà thoắt cái đã trở mặt kiếm con  khác. Tao phải trừng phạt, tao phải trừng phạt  quân phản bội. Bà giãy giụa, la hét điên cuồng làm Kim Anh đang ở phòng ngoài nhảy bổ vào lay gọi mẹ :

“ Má…má làm sao vậy ? Sao la hét dữ dằn vậy ?”

Bà Phu nhân mở choàng mắt. Con bé Gái với nụ cười toe toét đã biến mất, lúc này trước mặt  là cô Kim Anh, con gái bà. Bà bỗng thấy nhẹ nhõm cả người, vậy ra bà nằm mơ, ôi chao ôi vậy mà cứ tưởng chàng Bành Trọc đã phản bội . Không , không phải, chẳng có con bé Gái nào cướp được chàng khỏi tay bà. Bà ân hận và xấu hổ quá, chưa chi đã mất lòng tin vào tình yêu, chưa chi đã nặng lời với chàng. Không, dù có đi tới tận chân trời góc bể, chàng vẫn mãi mãi là của bà. Ý nghĩ đó làm bà khoẻ khoắn , bình tĩnh lại. Một nỗi sung sướng mơ hồ lại chảy tràn trong bà, bà dịu giọng :

“ Không sao, má khoẻ rồi, con đừng lo…”



                                      (còn tiếp)

Thứ Bảy, 13 tháng 7, 2013

BÁC BAPHI ĐI THĂM MỸ ( 52 )


                                   (tiếp theo)


Câu chuyện của “lão già” làm bát phở trở nên đắng ngắt , bác Ba Phi buông đũa xuống kêu lên :
“ Chèn đéc ôi...thiệt vậy sao ? Làm gì có chuyện đó ?”
“ Lão già” trợn mắt :
“ Sao không có ? Chuyện đó bố ai dám bịa ...có điều chuyện chẳng ra làm sao nên gia đình đó giấu kín không cho ai biết...”
Chị Kelly Thi chép miệng :
“ Cũng tại ông già đó câu nệ, chấp nhặt quá, biết con cháu đang ăn uống vui vẻ thì tự ra mà ăn việc gì phải đợi mời mới ra ...”
Bác Ba Phi lắc đầu :
“ Khổ nỗi người Việt mình vẫn cứ coi trọng “lời chào cao hơn mâm cỗ “ mới chết chớ ? Ngay cả con cháu trong nhà cũng vậy thôi, nếu không mời thì bố mẹ nào dám tự ngồi vào mâm ?”
Chị Kelly Thi kêu lên :
“ Lạc hậu ... sao người Việt mình đến giờ vẫn còn lạc hậu đến thế ?”
“Lão già” chen ngang :
“ Không phải lạc hậu mà đầy mặc cảm .... bản thân chẳng có mẹ gì mà lúc nào cũng sợ mất “uy tín”. Như ong già này chẳng hạn , nếu như người ta cứ hồn nhiên ra ăn uống vui vẻ với con cái thì đâu có chuyện gì, nhưng bố lại sợ “mất uy tín”, mang tiếng  tham ăn khát uống nên phải đợi mời mới chịu ra ăn ...”
Bác Ba Phi thở di :
“ Thì con cái cũng nên mời bố mẹ một câu có mất mát gì đâu ...”
Mâu thuẫn trong câu chuyện giữa ba người làm bữa ăn mất vui. Chị Kelly Thi ra quâỳ trả tiền, “lão già” để lại trên mặt bàn vài tờ đô lẻ rồi cả ba kéo nhau ra xe.
Xe chạy qua khu thương xá, bác Ba Phi chợt nảy ra ý muốn gọi điện về nhà cho vợ chồng thằng Đậu. Chẳng hiểu sao bác lại bức xúc đột xuất đến vậy ? Bỗng dưng bác thèm được nghe cái giọng éo éo đầy tính cách miệt vườn của tụi nó. Nói chuyện về nhà có thể vui buồn, có thể nổi giận đùng đùng , có thể cười ha hả hoặc la hét, chửi bới nhưng bao giờ cũng thoải mái, dễ chịu, bao giờ cũng có thể nói huỵch toẹt ra đủ thứ chuyện trong đầu mà chẳng phải uốn lưỡi, tìm câu tìm chữ. 
“ Chị cho tôi ghé bưu điện gọi về Việt Nam cho tụi nó “ – bác Ba Phi kéo tay chị Keely Thi.
“ Bác chịu khó chờ về nhà gọi điện thoại bàn được không ?” – Chị đáp.
Bác Ba Phi lắc quày quạy :
“ Không được, không được, tôi có việc cần, chị cho tôi nói ngay...”
“ Lão già “ lên tiếng :
“ Chị ghé tiệm gửi tiền cho bác ấy mua thẻ gọi về Việt Nam...”.
Chị Kelly Thi đành nghe lời ghé xe vào tiệm bán thẻ gọi điện. Nhìn vẻ mặt bần thần của bác, chị  biết ngay bác chưa biết sử dụng. Chị vội cào số, nhập vào cell phone cho bác và bấm số gọi về Việt Nam. Bác Ba Phi đưa máy lên tai, nghe ù ù, lạo xạo rồi như từ phía bên kia thế giới bác nghe thấy tiếng con gái léo nhéo :
“ Ai đó...ai đó....hỏi ai ?”
Í mèn ôi..đúng tiếng vợ thằng Đậu rồi...tiếng nó chua loen loét , nói năng trống không , lắm lúc chỏng lỏn nhưng sao lúc này bác Ba Phi thấy gần gũi và thân thiết quá. Cứ như không phải bác đang ở cách nửa vòng trái đất trên nước Mỹ xa xôi mà ở ngay cái xóm quê trên đất Tây Ninh của bác. Thế rồi bác Ba Phi mới mở miệng “ con Hai đó hả”, bác đã nghe giọng nó tru tréo :
“ Nội đó phải không ? Chèn déc ôi sao nội đi lâu dữ vậy ? Nội về...”
Tiếng nói con vợ thằng Đậu bị cắt ngang, thay vào đó là tiếng thằng Đậu, hẳn thằng này đã giật lấy máy, nói liến thoắng :
“ Nội ơi, nội có khoẻ không ? Nội có vui không ? Sao nội ở bển lâu quá vậy ?”
Rồi nó hỏi tới tấp khiến bác Ba Phi cứ ngẩn ra mà nghe chẳng hiểu nó nói cái chuyện gì. Sau cùng bác quát :
“ Mày nói gì tao đâu có nghe thấy. Mày đưa máy cho con vợ mày nói đi may ra nội nghe được ...”
Quả nhiên con vợ thằøng Đậu nói xoe xoé :
“ Nội ơi...sổ đỏ nội cất chỗ nào ?”
Bác Ba Phi ngớ ra :
“ Sổ đỏ ? Mày hỏi sổ đỏ làm gì ?”
Con vợ thằng Đậu liến láu :
“ Ảnh cần sổ đỏ để vay tiền ngân hàng nội ơi...Vay cả sáu chục triệu lận...”
Bác Ba Phi tá hoả :
“ Chèn déc ôi...bộ tụi bay mới thua bạc sao mà vay dữ vậy ?”
“ Hổng phải thua bạc. Ảnh vay để mua thức ăn cho cá đó nội...”
Hoá ra cá nuôi trong hầm  nhà bác Ba Phi  đã quá lứa mà vẫn chưa bán được  vì   các xí nghiệp chế biến bị cúp điện nên không mua. Cá hạ giá thê thảm mà cũng không bán được . Giữ lại thì hàng ngày phải chi cả mấy trăm ngàn tiền thức ăn cho cá. Thằng Đậu đã vay mượn tứ tung cả nửa tháng nay, giờ nó phải tính đến chuyện thế chấp sổ đỏ để vay ngân hàng. Nghĩ tới chuyện vay ngân hàng bác Ba Phi sợ toát mồ hôi. Lần trước cách nay vài năm bác cũng thế chấp vay ngân hàng ngót trăm triệu để trồng giống mới . Đất đai trồng tiêu với điều mãi giá cả cứ lên xuống liên tục lúc chưa thu hoạch thì giá lên đùng đùng, thu hoạch về nhà thì giá lại rớt thê thảm. Lúc đó mấy thằng cha phòng nông nghiệp huyện dỗ ngon dỗ ngọt bác chuyển đổi cơ cấu cây trồng nói nôm na ra là chặt tiêu với điều đi để trồng... nhãn. Trồng nhãn mau ăn trái, vốn đầu tư lại thấp, chỉ cần làm cỏ, đào hố đổ phân, trồng cây giống rồi cứ thế chờ thu hoạch mỗi ký nhãn sơ sơ cũng phải bán được 20 ngàn. Trừ chi phí mỗi mẫu nhãn cũng lãi vài trăm triệu. Thế là chẳng riêng gì bác Ba Phi, cả xóm bùi tai chặt hết cả tiêu với điều đi đua nhau trồng nhãn.
Sau mấy năm làm cỏ, tưới bón nhãn ra quả mùa đầu, cả xóm phấp phỏng chờ ngày thu hoạch. Ai cũng hy vọng kỳ này chắc thắng to, chẳng cần tới 20 ngàn một ký cứ 16 ngàn cũng lãi chán rồi. Ngờ đâu càng gần tới mua thu hoạch giá nhãn càng rớt thê thảm...15 ngàn...12 ngàn...8 ngàn...Rồi đến ngày chín rộ lái vào mua tận trong vườn trả giá có...2 ngàn một ký. Bác Ba Phi và bà con trong xóm uất muốn chết. Thôi thì đành nhắm mắt bán tống bán tháo để trả nợ ngân hàng không cứ để lãi mẹ đẻ lãi con thì mất vườn mất nhà như chơi. Đã một lần suýt kéo nhau đi ăn xin vì trả nợ ngân hàng, bác Ba Phi như con chim bị tên sợ cành cây cong, giờ nghe vợ chồng thằng Đậu lại mang sổ đỏ thế chấp ngân hàng nữa, bác chối đây đẩy :
“ Hổng được...hổng được...mang sổ đỏ thế chấp vay tiền rồi mai mốt nội trở về ở vào đâu ?”
Con vợ thằng Đậu léo nhéo :
“ Không vay được tiền mua thức ăn cho cá thì mất sạch cả hầm cá nội ơi...”
Bác Ba Phi ngập ngừng :
“ Mất cá còn hơn mất nhà...để nội tính lại coi...”
Thằng Đậu giằng lại máy từ con vợ nói oang oang :
“ Tính gì tính nội phải lẹ lẹ lên không cá đói đó nội...”
Bác Ba Phi gật lia lịa :
“ Được rồi...được rồi...để nội nói cô Út giật tạm vài ngàn đô gởi về cho bọn bay...”
Thằng Đậu cười  hề hề :
“ Vậy nội nói lẹ đi...cá nó đói nó đang chờ nội đó...”
Bác Ba Phi cúp máy. Chị Kelly Thi kiểm tra lại kêu trời :
“ Oh My God...bác nói một cú điện thoại hết gần 10 đô la rồi. Còn có vài phút thôi nè...”.
Bác ba Phi trố mắt :
“ Í trời ơi...nói có nhiêu đó mà đã hết cả 10 đô hai trăm ngàn rồi kia à ? Mẹ nó ... cắt cổ người ta ...”
Chị Kelly Thi cười lớn :
“ Gía bác nghe tôi về nhà gọi điện bác đỡ tốn tiền...”
Bác Ba Phi không trả lời . Bác đang mải nghĩ chuyện vay tiền cô Út  gửi  về vợ chồng thằng Đậu mua thức ăn cho cá. Năm nào cũng vậy cứ tới mùa khô, cạn nước mấy hồ thuỷ điện là y như rằng điện bị cúp. Ở nông thôn cúp điện sinh hoạt chẳng ăn nhằm gì , ban ngày gió mát khỏi xài quạt, ban đêm thắp đèn cày đâu có sao , nhưng nhà máy chế biến hải sản xuất khẩu bị cúp điện là y như rằng chậm trễ việc thu mua cá của bà con. Cá nuôi đã đến cữ phải bán để thu hồi vốn nhưng bộ phận thu mua của nhà máy cứ tảng lờ. Để chậm một ngày là tốn thêm một ngày tiền thức ăn cho cá, đó là chưa kể cá nuôi quá lứa sống tập trung dài ngày rất dễ bị dịch bệnh, chết hàng loạt làm người nuôi mất sạch vốn, trắng tay vỡ nợ. Nếu không vay được tiền cô Út chắc chắn bác phải để vợ chồng thằng Đậu cầm sổ đi thế chấp vay tiền ngân hàng. Mà có ít đâu... những 60 triệu tương đương 3000 đôla lận. Bác nghe nói ở bên Mỹ người ta ít giữ tiền mặt , toàn  gửi nhà băng, không hiểu cô Út có rút được tiền ra cho bác vay không ?
Cả “lão già” lẫn chị Kelly Thi đều không hiểu được tâm trạng bác, hai người cứ cười nói thản nhiên ghé xe vào một tiệm bán băng đĩa. “ Lão già” chỉ tay vào tờ quảng cáo ca nhạc :
“ Tối nay mình đi coi đi...Tôi lấy 3 vé mời cả hai người cùng đi coi nha ?”
Bác Ba Phi giãy nảy :
“ í trời ơi ....vé mắc vậy ....60...80...100 đô lận...coi làm gì phí tiền...”
Chị Kelly Thi cười cười :
“ Lão già này bỏ tiền ra mời, tội gì không đi...chương trình tối nay hay lắm đó...có cả ca sĩ Sàigòn sang biểu diễn lận ...”
Bùác Ba  Phi há miệng :
“ Ca sĩ Sàigòn sang đây ? Không sợ người bên này biểu tình sao ?”
Chị Kelly Thi lắc đầu :
“ Không không...ngày trước kìa...ngày trước bà con biểu tình chống phá dữ lắm. Mấy cô ca sĩ Sàigòn sợ xanh lè mặt trốn mất tiêu. Giờ khác lắm rồi...tiền cát xê của mấy cô có người còn cao hơn cả ca sĩ hải ngoại lận. Bởi vậy các cô mới lũ lượt kéo sang đây kiếm đô la. So với biểu diễn trong nước thì tiền catxê bên này gấp cả chục lần lận. Vậy mấy cô mới ham...”

                     (còn tiếp)




Thứ Sáu, 12 tháng 7, 2013

HÀNH TRÌNH CHỮ NGHĨA ( KỲ 5) - nhà văn NHẬT TIẾN


   
CHƯƠNG 3                  

                       Thời điểm Sài Gòn Tết Mậu Thân - 1968

Báo Bách Khoa, số 267, Tân Niên 1968, số đặc biệt về biến cố Mậu Thân)
NHỮNG MÓN NỢ TINH THẦN

                                                   NHẬT TIẾN
Trong những ngày Sài Gòn chìm trong khói lửa, quê hương ngụp lội trong thảm khốc điêu tàn, ngòi bút của tôi đã trở thành vô dụng. Tôi không sáng tác được gì, tập bản thảo truyện dài còn đang viết dở bỗng trở nên trơ trẽn, vô duyên lạ lùng. Còn sáng tác gì nữa khi mà biết bao nhiêu sự thật linh động cảm xúc gấp ngàn lần thế giới của tiểu thuyết đang xẩy ra đầy rẫy ở chung quanh mình. Chỉ cần chứng kiến, chụp bắt và viết lại một cách thành thực là có đầy đủ một tác phẩm có giá trị sâu xa về tất cả những khía cạnh tình cảm của con người : tình thương yêu, lòng hận thù, sự sợ hãi, đức tính kiên nhẫn, can đảm và mức chịu đựng đến không ai có thể ngờ nổi. Chính vì thế mà từ vị trí của một người viết, tôi trở thành một độc giả say mê của những cây bút phóng sự đăng đầy rẫy trên mặt báo trong suốt thời gian vừa qua. Họ đã lăn lưng vào nguy hiềm để hoàn tất những dòng chữ nóng hổi, chứa chan tình nước, tình người cho người đọc. ớ những giai đoạn biến chuyển đột ngột của đất nước, hiển nhiên các cây bút phóng sự đã đóng góp một phần không nhỏ vào guồng máy sinh hoạt của quốc gia. Ở vị trí của người đọc, tôi xin nhận ở các vị đó một món nợ tinh thần.
Trong một thiên phóng  sự viết ở vùng ven đô, một tác giả kể chuyện một đơn vị VC được lệnh phân tán mỏng vào nhà các dân chúng để kiếm đồ lương thực. Có ba anh cán binh vô nhà một đồng bào. Sau khi bị xách nhiễu để phải cho họ ăn uống no nê, chủ nhà vặn Ti-vi để theo dõi tình hình. Các chú VC bỏ cả súng một nơi để ngồi chồm hổm thưởng thức một trò giải trí tân kỳ mà từ thuở bé đến giờ chưa bao giờ được nhìn thấy. Hôm đó chương trình của đài lại có mục cải lương. Tên tuổi của đoàn Thanh Minh Thanh Nga vang dội ra tới tận mật khu mà lầân này các chú mới được chứng kiến. Thành ra người bàn tán om xòm, hoan hỉ cười nói ngả nghiêng nhiều nhất lại là các chú Việt Cộng. Bầu không khí nặng nề chết chóc bỗng trở thành bầu không khí ấm cúng của những gia đình miền Nam Tự Do. Thế rồi bên ngoài súng nổ, các đơn vị của cả hai bên lại lăn xả vào cuộc chiến để dành nhau từng tấc đất, từng mái nhà, từng khu phố. Nhung ít nhất là đã có ba kẻ dửng dưng đứng bên ngoài lề . Cải lương đã hấp dẫn hơn là chiến đấu trong một hàng ngũ phi chính nghĩa, phi nhân đạo. Và họ đã hồn nhiên rời bỏ cái hàng ngũ ấy như tâm hồn giản dị và hồn nhiên của họ. Mà không phải chỉ có ba người. Tôi tin là con số sẽ thật đông thật nhiều, nếu ai ai cũng có hoàn cảnh để được đánh thức khỏi giấc mơ hãi hùng mà từ bao lâu họ bị bịp bợm. Đối với người cầm bút ở xứ sở tự do thân yêu này, bổn phận của tất cả là phải giúp họ tỉnh dậy trong giấc mơ triền miên đó. Bằng những hình ảnh thật “người” như tác giả phóng sự ở trên đã làm. Bởi vì, đối.với những con người 1 bị mê hoặc ở bên kia hàng ngũ, chúng ta cũng đã mắc một món nợ tinh thần khi nhận lãnh sứ mạng của người cầm bút.
Một nhật báo đã diễn tả cái chết của Trung tá Thiết giáp như một vị anh hùng của dân tộc, hào sảng hùng tráng và bi thương hơn cái chết của Trần Bình Trọng. Điều đó không ngoa chút nào, và ngôn ngữ của chúng ta còn thiếu sót để diễn tả lại những mối cảm xúc sâu xa của mọi người khi được nghe kể lại trường hợp cái chết cửa toàn gia đình người quá cố.
Trong những ngày biến cố lớn lao của dân tộc, còn biết bao nhiêu cái chết hùng tráng, và thảm thương tương tự. Những anh chiến sĩ, những người cán bộ, những tu sĩ hiền lành, những ký giả, phóng viên, những bà mẹ, bà chị, người cha, người chồng... biết bao nhiêu kẻ đã ngã xuống, trong biển lửa ngùn ngụt bốc lên mù mịt quê huơng khốn khổ để bảo vệ xóm làng cứu giúp những người thân yêu, gìn giữ cho non sông này, cho đất nước này một đời sống đáng sống một lý tưởng tự do đáng tôn thờ. Còn những tâm hồn cao cả đó, còn những lòng hy sinh vô bờ, vô cùng vô tận đó, thì chúng ta còn, con cháu chúng ta còn nhìn thấy ánh sáng của một ngày mai tươi đẹp. Bởi vậy, đối với người cầm bút, bồn phận là phải đội lên những tấm gương chói lòa đề tất cả toàn dân chiêm ngưỡng, thắp sáng lên những ngọn đuốc của các anh lính, hào kiệt để mọi người cùng soi đường và hãy gìn giữ những tinh thần bất khuất ấy từ thế hệ này qua thế hệ khác để nuôi dỡng sức mạnh của dân tộc. Đó là một món nợ tinh thần mà người cầm bút phải trả cho quê hương xứ sở.
                                          **
Em ơi, không ở địa vị của em, làm sao tôi biết được em đau đớn ở những chỗ nào. Nhưng nhìn khuôn mặt thơ ngây vô tội của em, rúm ró lại vì chịu đựng, tôi thông cảm được nỗi đau đớn đang hành hạ trên thân thể của em. Dưới lần bông băng trắng toát là thịt vụn, là xương vỡ, là máu rỉ, là làn da yếu ớt run rẩy, quằn quại, tôi biết, tôi thấy  và lòng tôi quằn quại. Thưa mẹ, thưa chị, xin ngừng giọt lệ xót xa, tủi nhục. Nhà cửa mẹ tan nát làm sao, con cái chị chết đớn đau thế nào, tất cả mọi người, tất cả nhân dân thế giới đều đã chứng kiến và đã thổn thức chịu tang với mẹ, với chị ở trong. Và quanh đây, trên giải đất tan nát này, ở các trường học, các bãi đất trống, các nhà thờ, chùa chiền, hay lều tạm trú, còn biết bao trẻ thơ khác, các bà mẹ bà chị, những bô lão già nua khác cùng mang chung một thảm họa: đớn đau về tinh thần, thiếu thốn về thể xác. Ôi ! Kể làm sao cho xiết được sự tan nát, thê thảm, xót xa cùng cực mà dân tộc ta, đồng bào ta phải chịu đựng sau cơn khói lửa thảm khốc, điêu tàn.
Phải vẽ lại tất cả những hình ảnh ấy bằng tim óc và bằng nước mất. Để làm hành trang quí báu cho tất cả những ai muốn tìm đến ánh sáng của Tự Do. Để bồi dưỡng cho nửa phần đất bên này thêm phần tin tưởng ở chính nghĩa mà tất cả chúng ta đang cố gắng gìn giữ. Không làm được công việc đó, người cầm bút còn mắc một món nợ tinh thần, sau biến cố thê thảm vừa qua.
Thôi xin hãy làm và ngừng kể lể. Bởi vì tới giai đoạn cực kỳ nghiêm trọng này, không ai là không mắc nợ quê hương. Cầu xin cho tất cả đều sáng suốt, tất cả cùng một lòng để hàn gắn những đổ vỡ, xoa dịu những đau thương và xua tan đi bóng tối triền miên đang ngự trị trên xứ sở.
                                                                       Nhật Tiến
                                                  ( Báo Bách Khoa, số 267, Tân Niên 1968)

Quê Hương Tôi,  Đồng Bào Tôi
    
                                   ĐỖ PHƯƠNG KHANH

Tôi vẫn thích xem những phim chiến tranh để mà sợ chiến tranh hơn, thích đọc thơ phản chiến để mà mơ ước ngày quê hương im tiếng súng, thích nghe nhạc T.C.S. để mà thấy thêm yêu chuộng hòa bình.
Nhưng thật ra là dân đô thị tôi cũng chưa được thấu rõ chiến tranh. Đó đây trong trí nhớ cửa tôi chỉ thoảng qua một vài hình ảnh: Một người đàn bà đi buôn hàng chuyến dọc đường bị mìn. Cả khuôn mặt nát bấy còn lại vài cái hốc hay những mảng thịt bầy nhầy di động cố thì thào - Con tôi, các con ơi...
Hoặc bà mẹ trẻ bế con mới sinh chạy hớt hải, tới khi nhìn xuống tay thì chỉ còn lại mớ tã lót bọc trong cái chăn, con đã lọt đi từ lúc nào, bà ta chạy nguợc lại thì ra dòng người chen chúc xô đẩy đã vô tình dẫm nát đứa nhỏ. Chỉ vài ba hình ảnh vụn vặt với cái tầm kiến thức về hiểm họa chiến tranh rất nghèo nàn của tôi như thế cũng đã đủ làm tôi rùng mình ghê sợ không muốn nhớ tới nữa . Và, như những người thích thanh bần, tôi cũng không muốn dồi dào hiểu biết về mặt này. Nhưng với chiến tranh, tôi không còn có quyền muốn hay không. Nó tàn nhẫn dạy dỗ, nhồi nhét cho tôi được hiều biết. Tôi đã biết. Và tất cả dân đô thị đều đã biết, biết rõ ràng những đau đớn, thống khổ, tang tóc do chiến tranh gây ra. Bìết vào đúng lúc lòng đang phơi phới mừng xuân mới, biết vào lúc đang tung tăng trên đường đến chùa, đến nhà thờ, lúc đang điềm trang, đang nhận tìên lì xì và các cô cậu bé biết cả vào lúc đang nhí nhảnh trước gương làm điệu hiệp sĩ. Đổí lấy sự hiểu biết này bằng nhà tan cửa nát, bằng sinh mạng,bằng cánh tay, bằng cẳng chân, bằng máu, bằng bơ vơ xó chợ đầu đường ngay giữa ngày xuân.
Đây chiếc xe lam chở người đàn bà và đàn trẻ mặt mũi nhọ nhem, trong đó có một đứa mặt xanh ngắt, máu đỏ thẫm đã ngả đen bê bết trên chiếc áo sơ mi mới tinh. Một cánh tay còn nát bấy lèo nhèo thịt lẫn với vải rách. Bà mẹ mặt mày ngơ ngác kinh hoàng nhìn tai nạn chụp vào đứa con yêu quí, chỉ còn biết giữ chặt lấy cánh tay chết của con như ước mong có phép mầu gắn lại. Kia, một ông mặc complet vừa chạy vừa đẩy chiếc xe Scooter mồm la hét inh ỏi. ông ta quá sợ không giám dừng lại để đạp cho nổ máy.
Tất cả đều kinh hoảng tột độ. Họ chết, bị thương vào những giây phút bất ngờ nhất. Họ đã được yên tâm, được ru ngủ bằng lời hứa hẹn hưu chiến đầu năm. Họ đã được mời dự một bữa tiệc thịnh soạn, thiệp mời in long trọng trên giấy kim nhũ, yêu cầu thực khách mặc lễ phục, để được thết bằng một bữa tiệc có thuốc độc.
Suốt những ngày khói lửa, tôi vô dụng đối với đồng bào. Tôi không giúp được gì khi được tin chồng chị bạn tôi chết giữa ngày mồng hai Tết, sau khi từ biệt chì để vào trại chiến đấu cùng đồng đội. Chị mếu máo:
- Hôm qua tựi em hẹn nhau tối nay đến mừng tuổi anh chị. Thế mà anh ấy bỏ em rồi. Anh ấy mới còn ngáp đây mà đã chết rồi.
Tôi không làm được gì cho chị giúp việc cũ của tôi. Nhà chị cháy, chị cuống cuồng cắp hai đứa con ba và hai tuổi ra đường, chạy được vào để bế nốt con bé ba tháng thì mái nhà sập xuống. Chị tức tưởi:
- Cháu còn thấy nó dẫy trên võng. Tại đạn bắn rát quá nên mãi lúc cháy to cháu mới liều chạy ra. Cô ơi! Tội nghiệp nó quá, người nó teo lại bằng con gà quay mà bụng còn nguyên máu đỏ.
Tôi không thể làm vơi nỗi đau khổ của họ. Những lời an ủi đều vô nghĩa. Một mớ quần áo cũ, chút tiền cứu trợ có nghĩa gì với nỗi đau đớn tột cùng kia. Tất cả chỉ để cho họ được an tâm phần nào trong khi sự đau khổ đang gặm nhấm lòng họ. Nhưng cũng có những hành động đẹp như bát nước mưa mát rợi tới vào cõi lòng héo hắt của họ. Đó là những cụ già tóc bạc còn lặn lội đi hiến máu, những giọt máu của người già thật quí đối với họ, nó giữ gìn chút hơi tàn cuối đời mà cũng cố san sẻ để giúp nhân loại. Những cô cậu học sinh mò mẫm đi các trung tâm cứu trợ để giúp đỡ cho đồng bào tị nạn, các anh lái xe taxi, xe lam, xe honda, gắn máy ngược xuôi đi chở giúp những người bị nạn chạy xa chốn bom đạn và những anh lính chiến, len lỏi mò mẫm tìm đủ mọi cách tới được đơn vị, để chống giữ và đẩy lui những tang tóc đau thương đang tràn vào để chụp thêm lên đầu dân chúng.  Trong những ngày dài dặc lo âu và xúc động tôi thường nhìn những đứa nhỏ, trong trại tị nạn mà đã mất cả cha mẹ một sớm một chìêu - những đứa trẻ chẳng hiểu tang tóc đã đến, còn nhe răng cười khi thấy thằng bạn trợt chân - nhìn bà mẹ mất con mà phải dẹp đau đớn trong lòng, chen lấn để dành cho những đứa còn lại một chỗ nằm kín gió, nhìn ông già ngồi cạnh miệng cống đăm chiêu quấn điếu thuốc sâu kèn, để mà tự hỏi:
 “Liệu tôi có nghĩ đúng khi cho là chỉ cần buông súng xuống là có hòa bình hay không ? Và còn có đời sống tự do hay không? Hay sẽ là những cuộc thanh trừng tàn sát đẫm máu hơn nữa”. Tôi nghĩ..., tôi nghĩ...
                                                *
Tôi không còn muốn nghĩ gì nữa. Từ thuở bé, tôi được một ân huệ trời dành một nguồn hạnh phúc vô tận, là hằng đêm thường mơ thấy những giấc mộng đẹp. Tối lại tôi đi ngủ với hy vọng gặp mộng đẹp. Tuy nhiên, đôi khi tôi gặp ác mộng. Đại khái là một bà già hình dung cổ quái nhe răng nhìn tôi, rồi cánh tay bà vơn ra muốn chụp lấy tôi. Tôi cố chạy mà không thể được. Những cơn ác mộng của tôi thường được kết liễu bằng sự cố chạy mà không được, tôi sẽ tỉnh bằng tiếng la của chính tôi.
Cơn ác mộng đã đến với tất cả đô thị. Đến trong mùa xuân trong tiếng pháo nổ tưng bừng. Không ai có thể la để mong tỉnh lại. Chỉ còn ao ước ác mộng chóng qua gà những ngày thanh bình êm đềm cũ lại về.
Bây giờ, tôi thấu hiểu, sự an vui là của trời cho. Nhưng phải tranh đấu để giữ lấy quyền tự do thụ hưởng sau khi tang tóc đau thương chụp xuống đầu chúng ta rồi, tôi chỉ còn bìết tha thiết ước ao tất cả chúng ta, những người hiếu hòa, làm được chút gì để mà an ủi cho bao người bỏ mình vì nền tự do, bao người tàn tật, bao vợ góa con côi còn lại trên đời.
                                                                ĐỖ PHƯƠNG KHANH
                                                  ( Báo Bách Khoa, số 267, Tân Niên 1968)