Tổng số lượt xem trang

Thứ Năm, 8 tháng 11, 2012

CÁNH CỬA TỐI ÁM - VŨ HUY QUANG (KỲ CUỐI)




                                                     Phụ Đính

Sách của Thomas C. Kuo, xuất bản 1975  thu thập những tài liệu về Trần Độc Tú từ ngả HongKong, Đài Loan…có gía trị chi tiết sinh họat cuối đời của Trần, khi ông sống trong vùng Quốc Dân Đảng, bề ngòai không tham gia chính trị, từ bỏ chủ nghĩa Mác-lênin, theo nhận xét của T.C. Kuo
 Nhưng theo những đồng chí thân cận nhất của ông, thì khác.
Để rộng đường nhận định về nhân vật lịch sử bí ẩn này, chúng tôi dịch bài viết của Trịnh Siêu Lân, người Trốtkít kỳ cựu, thế hệ đầu của những đảng viên Đảng CSTQ.
Trịnh thông thạo tíếng Nga, Anh, Pháp, Đức, Ý…ngòai chuyện ông là nhà lý thuyết xuất sắc, ông cũng uyên thâm Hán văn.

Trần Độc Tú có phải là Trốtkít hay không?

(Chúng tôi dịch từ trang 197-202, bài của Trịnh Siêu Lân trong cuốn China’s Urban Revolutionaries của Gregor Benton. Sách xuất bản năm 1996.)


…Đây là câu hỏi khó nhất cho sinh viên nghiên cứu lịch sử Trung quốc cận đại và cho cả những ai tìm hiểu chính trị đương thời của Trung quốc. Địa vị của Trần Độc Tú trong chính trị Trung quốc và thế giới không thể xóa được. Những phỉ báng về ông không thể được lượng thứ.

Cứ thử tưởng tượng những vu cáo về ông mà vài thế hệ đã dùng để phác họa hình ảnh ông! Một người cơ hội chôn vùi cuộc cách mạng vĩ đại, một kẻ phản đảng, một gián điệp cho Quốc Dân Đảng, kẻ phản quốc vân vân. Người sáng lập Đảng Cộng Sản, được bầu 5 lần liên tiếp vào chức Tổng Bí thư, phải chăng là người như thế? Thế mà vẫn còn có người còn dám bảo, lãnh tụ Ngũ Tứ Vận Động năm 1919 lại không phải ông, mà là ai khác kia!
Chuyện xảy ra năm 1979, kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông, và kỷ niệm 60 năm Cách mạng Ngũ Tứ, tòan thể báo giới bắt đầu cùng nhìn nhận sự lãnh đạo của ông. Từ 1 tháng Bảy, đến 1 tháng Mười cùng năm, báo giới cùng thấy rõ địa vị ông trong việc thành lập Đảng Cộng sản. Viện Bảo Tàng Cách mạng ở Bắc Kinh đã phải trưng chân dung ông, cùng lúc phá bỏ những cấm kị bấy lâu là không được nhắc về liên hệ QTCS và Đảng CSTQ. Các sử gia bắt đầu nghiêm chỉnh nghiên cứu những dữ kiện lịch sử cận đại. Nhiều biên bản lưu hành nội bộ Đảng nhắc chuyện năm 1923, khi Trần tuyên bố là cách mạng tư sản, phải để tư sản lãnh đạo, đã xác định, lại chỉ là để trình bày đường lối của chính QTCS; và từ 1926-27, chính đảng CS theo đường lối phiêu lưu, cũng là theo chính sách QTCS. Và theo Tín Hoa Nhật Báo đòi cáo Trần cùng Lâu Hán thỏa thuận với Đặng Yên Nhân để nhận 300 Mỹ Kim một tháng, bây giờ mói rõ chỉ là sự bôi nhục. Trong quá khứ, khi người ta trưng ra ba bức thư của ông về “Vấn đề Xe lửa Miền Đông” làm cớ cho việc ông phản cách mạng, thì nay việc sáng tỏ, là ban Trung Ương sai, mà ông đúng. Còn chuyện ông làm tay sai cho QDĐ, nhận tiền của Tưởng Giới Thạch, thi rất nhiều, rất nhiều người…chỉ ra được sự sai trái trong chuyện này.

Sau cùng, là chuyện về những người Trốtkít. Sự cấm kị bàn về QTCS nay không còn, nhưng chuyện cấm kị nói về Trốtkít thì vẫn còn. Người ta cùng đua nhau nói cả nhiều thập niên rồi, rằng Trốtkít thế giới và Trung quốc đều là bọn phản cách mạng. Thế thì sao Trần Độc Tú, người sáng lập Đảng Cộng Sản, lại thành kẻ phản cách mạng?

-Người bảo, Trần bị ảnh hưởng tư tưởng của Trốtki, nhưng không gia nhập nhóm.
-Người bảo có gia nhập Trốtkít, nhưng bỏ sau khi bị Quốc Dân Đảng cho vào tù.
-Người bảo, sau khi ra tù, ông đọan tuyệt với tổ chức Trốtkít, tuyên bố không dính dáng gì nữa.
-Người bảo sau khi gia nhập Trốtkít, Trần thấy vấn đề của họ là đi ngược với quần chúng, khi thấy họ chỉ là bọn sát nhân côn đồ, bọn gián điệp quốc tế nên ông bỏ hàng ngũ.
-Người bảo, ông từ bỏ chỉ vài năm trước khi mất…
Và nhiều, nhiều nữa.

Dĩ nhiên cũng có những người biết rõ, rằng người Trốtkít muốn là gì thì là, nhưng không thể nào là phản cách mạng được, và Trần Độc Tú chuyển thành Trốtkít cùng là thành viên tổ chức này là điều mặc nhiên đối với sự khai mở trí tuệ chính trị của ông. Những người biết chắc như thế, lại là những người không dám nói thẳng ra trước công luận..


Theo tôi, tôi thấy không cần bào chữa những vu cáo mà người ta gán cho ông nữa. Tôi chỉ giản dị đưa ra những dữ kiện cùng ý nghĩa thực về sự liên hệ của ông với những người Trốtkít, để nói rằng cứ đưa cáo buộc mà lờ thực tế đi, thì không khác gì những kẻ “bịt tai trộm chuông”, ăn cắp chuông mà mong không ai nghe tíếng chuông.

Không thể nào không nhìn nhận Trần là thành viên của tổ chức Trốtkít, không thể nào không nhìn nhận rằng ngay cả khi ông trong tù, ông vẫn họat động cho Trốtkít, qua những đường dây mật để chỉ đạo họat động. Chúng tôi có đủ tài liệu chuyện này. Tuyên bố của ông sau khi ra tù, là không họat động chính trị, thuần là lời nói ngọai giao cho qua chuyện. Thời kỳ ấy ông còn muốn kết nạp những người tranh đấu cho dân chủ với đủ mọi thành phần, ngòai đảng Cộng sản, ngòai Quốc Dân Đảng… để cùng chống Nhật, nên tránh chuyện nhắc đến Trốtkít. Đã vậy, lúc ấy Bành Thuật Chi đang là lãnh tụ mặt nổi của Trốtkít, ông càng không muốn nói gì thêm. Nhưng rõ là với các tài liệu đương đại còn rành rành, ông không bao giờ bỏ các tổ chức Trốtkít Trung quốc. Trong thư gửi Trần Qúy Chung và đồng chí năm 1938, thư ấy nay vẫn còn lưu, ông vẫn coi tổ chức là của ông lãnh đạo, và ông tin cậy ở Lỗ Thư Phàn, Trần Quý Chung, Triệu Nghi, Hàn Khuông là các cán bộ mà ông tin tưởng, khi ông phê bình gay gắt họ, chỉ vì ông theo dõi họ chăm chút. Cuối 1938 tổ chức Trốtkít giao cho Trần Quý Chung đi từ Thượng Hải đến Giang Tây để gặp Trần Độc Tú, trao tay thư riêng của Trốtki khuyên ông nên rời nước đi lánh nạn. Ông viết trả lời Trốtki, nội dung trong thư, ông coi tổ chức Trốtkít nay là do ông trách nhiệm; lời lẽ rõ ràng nói là ông xem tổ chức này qúy như sinh mạng. Tôi xin trích lại ít câu:

“Cán bộ Đảng Cộng Sản nay vượt xa sộ lượng cán bộ chúng tôi, nhưng họ chỉ là các cán bộ có võ trang cùng các trí thức nhưng không có cơ sở nào nền tảng của giai cấp lao động. Chúng tôi chỉ có số ít năm mươi thành viên ở Thượng Hải và Hongkong, cộng thêm khỏang trăm người rải rác trên tòan quốc.
Cũng nói thêm là chúng tôi không hề ảo tưởng là sẽ tăng trưởng số lượng mau chóng trong tình trạng chiến tranh hiện nay, nhưng nếu chúng tôi theo chiến thuật đúng, chúng tôi sẽ ra khỏi tình trạng yếu kém lực lượng như bây giờ. Ngay khởi đầu chúng tôi ở trên vị trí cực Tả…Một cánh cửa đóng kín trước tổ chức cực Tả kiểu này sẽ không hi vọng gì thu hút thêm thành viên mới, mà dù có, cũng vẫn là trở ngại cho cách mạng Trung quốc……
Chúng tôi sẽ ghi nhớ mãi chuyện chớ ảo tưởng gì về việc chỉ khởi sự lại các họat động sau khi hồi phục các cứ điểm nay đang bị quân Nhật chiếm đóng. Ngay bây giờ, khi quân Nhật còn chiếm đóng nhiều miền trên đất nước, chúng tôi phải khởi sự tiến hành từ những vùng mới, trong vùng hạn hẹp còn sót lại cho chúng tôi…
Nếu cánh cực Tả cứ tách xa quần chúng cùng xa cuộc chiến đâu hiện nay…tiếp tục huyênh hoang đóng vai lãnh vĩ đại, lo tổ chức cấp lãnh đạo không có thực lực gì, để lập vương quốc con con cho mình sau cánh cửa đóng kín, dựa trên danh nghĩa Đệ Tứ Quốc Tế, họ chẳng hòan thành được gì ngòai việc làm tàn lụi danh nghĩa Đệ Tứ Quốc Tế tại Trung quốc.”

Xin qúy vị tự hỏi, lời lẽ trên đây có phải lời lẽ của người đứng ngòai tổ chức Trốtkít Trung quốc?

Ngay sau khi Hòa Ước Hitler-Stalin ký kết, Trần Độc Tú thành nổi giận đến mức ông viết thư cho bạn với lời lẽ không kềm được, nhưng không vì thế mà bảo ông tan vỡ liên hệ với những người Trốtkít.
Tôi có trong tay bài viết của ông ngày 13 tháng Năm 1942, chỉ vài đêm trước khi ông qua đời. Nhan đề là,”Tương lai của giới bị áp bức”, chứng tỏ ông là Trốtkít cho đế cuối đời. Đây là chứng cớ,

“Cho nên theo tôi, trong thế giới đế quốc tư bản, không một dân tộc nào có thể hi vọng gì vào tương lai một khi cứ trong những cánh cửa đóng kín, chỉ dựa vào sức yếu ớt của mình họ, hòng chống được thực tế từ sự gây hấn của đế quốc. Sự hi vọng độc nhất phải nằm trong tay tòan thể các dân tộc bị áp bức. Vấn đề quốc gia chỉ tự nhiện được giải quyết nếu các dân tộc hậu tiến bị áp bức cùng kết hợp khắp nơi lại với nhau, lật đổ đế quốc khắp nơi, thay thế giới cũ bằng thế giới mới căn cứ trên thỏa thuận cùng tạo ra một thế giới mới, xã hội chủ nghĩa quốc tế mà lực lượng lao động thế giới giúp đỡ lẫn nhau.” –Trần Độc Tú, Những bài viết cuối cùng, 13 tháng Năm 1942.

Những dòng trên chứng tỏ Trần Độc Tú trước khi chết tiếp tục cùng quan điểm với Trốtki về cách mạng thế giới, bác bỏ đường lối Xã hội chủ nghĩa trong một xứ của Stalin.
Bài viết có đọan,

“Những người hân hoan với Liên bang Xô viết trong giai đọan đầu, điều đó chúng tôi ủng hộ; những người khác tâng bốc Xô viết trong giai đọan sau, điều đó chúng tôi phản đối. Có sự khác biệt lớn giữa hai giai đọan. Giai đọan trước, Liên bang Xô viết hỗ trợ cho cách mạng Thế giới; giai đọan sau, chỉ cho quyền lợi quốc gia Nga. Từ đó các lãnh tụ Xô viết tự phản bội lý tưởng mình, bỏ rơi  chính sách đưa cách mạng thế giới tiến lên, thay vào chỉ là quyền lợi quốc gia, làm những người có suy nghĩ khắp thế giới phải thấy ngày một nghi ngờ và chán nản; trong khi có người còn hi vọng về Nga Xô cho tương lai nhân lọai, rồi thực tế thì thấy Nga Xô chỉ dần trở thành một đế quốc mới. Người nào coi đó là xã hội chủ nghĩa, chỉ là sự bôi nhọ chữ xã hội chủ nghĩa.”

Đọan này, như vậy, cũng tỏ ra sự đồng tình với Trốtki, chống Stalin. Sự khác biệt, là Trốtki coi “Liên bang Xô viết trong giai đọan sau” là “Nhà nước lao động thối nát”, trong khi Trần Độc Tú gạt hẳn đi, coi là một “cường quốc thế giới”. Có nghĩa, là “Liên bang Xô viết trong giai đọan sau” đã thối nát đến mức thành “Đế quốc –Xã hội”; tức là đã thối nát khởi từ khi có Stalin về sau.
Như vậy, Trần Độc Tú nguyên vẹn là Trốtkít cho đến chết, trên cả việc hành động của tổ chức cũng như trên nhận định lý thuyết.

Bây giờ nhìn lại, những “bất công, dàn dựng, lỗi lầm” mà có trong các vụ án Mátcơva thập niên 1930, thực ra đã quét sạch cả một thế hệ cách mạng. Ngay thời này, tên tuổi  những nạn nhân vẫn còn bị coi rẻ. Việc đầu tiên, là phải rửa tiếng cho họ.
Không cần phải nói, tôi không đứng trên khía cạnh pháp lý. Chỉ chính ngay trong Xô viết, trong chế độ của Đảng Cộng Sản, phải rửa tiếng cho họ. Cho những người bị gọi là Trốtkít, là Zinoviev-vít, là Bukharin-nít…tức là chính là các nạn nhân. Tôi nói đây là theo dữ kiện lịch sử. Trên chuyện lịch sử, nghĩa là, trên cách nhìn của đại đa số những người hiểu biết trên thế giới, các nạn nhân này đã được rửa tiếng. Mới đây, Giáo Hòang John Paul II rửa tiếng cho Galileo, nhưng đã hàng trăm năm trong qúa khứ, và trong thời gian dài ấy, đâu còn ai thắc mắc chuyện ông bị kết án đúng hay không nữa. Ngày nay, cũng chỉ có nhúm người là mới còn tin vào bản án dành cho người Trốtkít của Mátcơva.
Trong “Mao tuyển”, có chú thích trích lời Stalin như sau, (vol 1, 177, fn. 31) chú thích này biến mất trong ấn bản mới,

“ Trong qúa khứ, bảy hoặc tám năm trước, chủ nghĩa Trốtki là một dạng chính trị trong giai cấp lao động, dạng chính trị chống chủ nghĩa Lênin, đó là sự thật, cho nên chúng sai lầm sâu sắc, tuy cũng là một dạng chính trị…Ngày nay, chủ nghĩa Trốtki không còn là trào lưu gì trong giai cấp lao động nữa, chỉ là một bọn không nguyên tắc gì, không tư tưởng gì, bọn phá họai và chia rẽ, họat động tình báo, gián điệp, sát nhân, bọn là kẻ thù chính của giai cấp lao động, làm việc cho tụi tình báo ngọai quốc.”

Stalin nói những điều trên năm 1937, thời kỳ vụ án Mátcơva. Nhưng trên cơ sở nào để bảo người Trốtkít là “gián điệp, tay sai, sát nhân”? Đúng, là Vishkinsky, người đứng đầu vụ điều tra, mang ra hàng lố những tội ác, nhưng chứng cớ hiển nhiên của họ, bị Ủy ban Dewey gạt bỏ. Ủy ban này công bố hai Bộ hồ sơ rồi chỉ có kết luận là mọi cáo buộc đều không cơ sở, bạch hóa Trốtki là không có tội.. Bỏ Dewey ra, tôi muốn nói chuyện hàng hai, ba chục năm nay mà tôi biết.
Thứ nhất là vụ ám sát Kirov. Ngay cả khi Trốtki đưa ra chứng cớ Stalin giết Kirov rồi đổ thừa cho Đối Lập, nhưng chứng cớ này chưa đủ. Trên hai mươi năm sau, Kútxép người kế chức Stalin, trong Đại Hội Hai Mươi Hai của Liên Xô, xác nhận chính Stalin giết Kirov. Mới đây, trên 20 bức thư của Svetlana, con gái Stalin, thanh minh là chính Beria mới giết Kirov. Vậy thì, không còn ai trên thế giới, kể cả ở Nga, cũng không còn tin Trốtki hay Zinoviev đã giết Kirov.
Stalin cũng giết Tukhashevski, Blucher, cùng hai tướng Nga khác vào tội đã thông đồng với Nazi để phản bội Xô viết. Nhưng cũng tại Đại Hội Đảng trên, Kútxép tuyên bố rằng, đó cũng là sự mạo hóa của Stalin. Stalin ngụy tạo tài liệu, gỉa vờ lọt ra cho Tổng thống Tiệp là Benes. Benes tưởng thật, báo ngược lại cho Stalin, làm thành án tử hình cho các nạn nhân.
Đây chỉ là một trong những “tang chứng”. Sau Thế chiến, khối Đồng Minh mở phiên tòa Nuremberg xử tội phạm chiến tranh Nazi, đã được nhân vật có tiếng là H.G.Wells gửi thư tới Tòa, xin được cung cấp tài liệu vụ Trốtkít cộng tác với Nazi. Không ai cung cấp được điều gì.
Nay tôi xin giới hạn vào 3 điều. Hàng núi hồ sơ đòi làm tang chứng vụ án Mátcơva, đều không có cơ sở, và cả Hồ sơ chất đống của Dewey cũng không mang ra được gì. Ngày nay, ai muốn điều tra kỹ lưỡng thêm vụ Trốtki cộng tác với Nazi thì cứ việc.
Nói về tổ chức Trốtkít Trung quốc, qúa nhiều chứng cứ để tỏ rằng danh tiếng Trốtkít phải được phục hồi. Nay đã rõ, Trần Độc Tú cùng Lâu Hàn đều không dính gì đến vụ Đặng Yên Nhân sắp xếp cho nhận tiền Nhật để họat động gián điệp nữa, điều kỳ cục mà đến nay còn người tin. Đã chứng cớ rằng Trần Độc Tú không hề là tay sai cho Quốc Dân Đảng, hay chó săn cho Tưởng Giới Thạch bao giờ, nhưng vẫn có người tin Trốtkít Trung quốc đã làm chuyện ấy. Mọi cáo buộc cho Trần Độc Tú đã không đứng vững được dưới sự khảo sát tỉ mỉ. Nhưng còn chứng cứ nào để cáo buộc những tổ chức Trốtkít Trung quốc? Liệu có đứng vững được không?

Chúng tôi thưởng niệm ông Trần Độc Tú, khuôn mặt vĩ đại của chính trị Trung quốc và thế giới. Khi tưởng niệm ông, những người Trốtkít chúng tôi tưởng nhớ ông sâu sắc hơn những người khác. Chúng tôi nhớ lại thời ông là Tổng Bí thư cho tổ chức chúng tôi. Chúng tôi coi đó là điều vinh dự.


-Vũ Huy Quang,
(dịch xong ngày 30 tháng Mười, 2012.)

























Thứ Tư, 7 tháng 11, 2012

YÊU THỜI ...ĐỒ ĐỂU (KỲ 8)





                                      (tiếp theo)

  Vừa tới nhà, bà te tái chạy tới phòng con gái. Ôi chao , cảnh tượng làm bà rú lên kinh hãi. Ối con ơi,  con làm sao thế này ? Thôi chết rồi, nó uống thuốc ngủ tự tử , ly với thuốc còn văng ra đây này….Cấp cứu, cấp cứu rửa ruột ngay….bà cuống quýt. Không đầy 5 phút sau, tiểu thư đã được bế xốc lên cáng, đẩy lên xe, rú còi chạy tuốt vào bệnh viện.
Trong lúc này ông Chủ tịch đang tiếp đoàn doanh nhân Đài Loan xin mở nhà máy gốm sứ. Gốm sứ à ? Tỉnh có tới 3,4 xí nghiệp rồi, cho ba thằng tàu này mở thêm bóp chết “công nghiệp địa phương”.
Nhưng mà anh thư ký đã gỉ tai ông, quà của đoàn Đài Loan tặng Chủ tịch ngoài chục mét gấm Thượng Hải cho bà còn đồng hồ Omega trị giá cả chục ngàn đôla cho ông, chưa kể các khoản khác một khi nhà máy  hoạt động. À, vậy thì khác. Thường vụ có chủ trương rồi, phải thu hút vốn nước ngoài, trải chiếu cho nhà đầu tư, vừa tăng GDP cho tỉnh vừa tạo việc làm cho người lao động.
Bởi vậy hôm sau, khi ông Giám đốc Sở kế hoạch đầu tư lưu ý  gốm sứ tàu sẽ bóp chết ta, ông mắng át đi :
” Nghị quyết tỉnh uỷ nói rồi, tranh thủ thời cơ thu hút vốn đầu tư. Mày quên à ? Cứ cho nó vào. Thời buổi cạnh tranh, thằng nào không đứng được cho chết luôn…”.
Rồi tới ông Giám đốc Sở Khoa học công nghệ và môi trường lưu ý vị trí nhà máy Đài Loan xin mở gần sông quá, mai mốt nó xả chất thải xuống sông chết hết cá, ông Chủ tịch gạt đi :
” Lo gì chuyện đó, nó  xả xuống sông khắc  trôi ra biển,nhằm nhò gì…”.
Thế là vài hôm sau, trong lễ trọng thể, bản ghi nhớ đã được ký kết . Đúng lúc ông Chủ tịch cụng ly với ngài Trưởng đoàn doanh nhân Đài Loan anh thư ký tới ghé tai :
” Thưa chú, thím Hai vừa báo cô Kim Anh đi cấp cứu vì uống thuốc ngủ tự tử …”.
Ong Chủ tịch gắt khẽ :
” Tự tử ? Chuyện tào lao…”
” Nhưng thím Hai đã đưa cổ đi cấp cứu bệnh viện rồi ạ…”
” Chết cha , thật đúng con mẹ điên, mày xuống ngay bệnh viện gặp thằng Tư Giám đốc bảo nó ghi bệnh án là “trúng thực”  nghe chưa ? Nhớ dặn nó tuyệt đối bí mật, lộ ra mất hết uy tín lãnh đạo nghe chưa ?”  .
Anh thư ký chạy vụt đi. Thoắt cái, ông Chủ tịch trở lại  đường bệ và vui vẻ chúc ngài Trưởng đoàn Đài Loan “sớm hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ khánh thành nhà máy gốm sứ góp phần xây dựng tình hữu nghị thắm thiết giữa hai dân tộc ”. Anh phiên dịch, kiêm cán bộ ngoại giao lại dịch xéo sang thành :” Chúc ngài an khang và làm ăn thịnh vượng”.
Cũng may trong bàn tiệc phía Việt Nam chẳng ai biết anh xì xồ những gì và nếu có  thì cũng ngầm hiểu nhiệm vụ phải thế, chứ dịch nguyên xi phát biểu của các quan thì đến ông cố nội phía đối tác cũng chẳng hiểu cái chi chi.
  Uống chưa hết ly rượu, ông Chủ tịch đã cáo từ vì còn “bận họp thường vụ tỉnh uỷ”. Xe vừa ra khỏi Uỷ ban tỉnh, ông Chủ tịch đã lệnh cho tài xế chạy thẳng tới bệnh viện. Ong Tư  Giám đốc bệnh viện ra tận cổng đón, luýnh quýnh mời “đồng chí chủ tịch vào phòng riêng”. Không bận tâm tới ly trà sâm bà Phó Giám đốc cung kính bưng tới , ông Chủ tịch hất hàm :
“ Nó sao rồi ?”
 Ong Giám đốc bệnh viện líu cả lưỡi :
 “ Dạ, thưa anh Hai cổ không sao cả. Hiện cổ đã uống liền hai ly sữa và đang nằm phòng đặc biệt…”
 Vừa lúc đó ông Giám đốc Sở y tế xăng xái đi vào :
 “ Chào anh Hai, nghe tin anh Hai bận tiếp phái đoàn, em phải xuống ngay bệnh viện…”
  Ong Chủ tịch cau mày :
 “ Sao biết mà xuống ?”
  Ong Giám đốc Sở y tế vội vàng :
 “ Dạ ngay khi chị Hai báo tin cho chú Tư, chú Tư  đã điện liền  cho em, lập tức em đã có ý kiến chỉ đạo bệnh viện phải tập trung lực lượng và phương tiện tốt nhất để cấp cứu…”
 Ong Chủ tịch nổi cáu :
 “ Nó có sao mà phải cấp cứu. Chuyện này loang ra ngoài bọn bay chết với tau…”
    Ong Giám đốc Sở cuống quýt :
   “ Dạ không, anh Hai khỏi lo, em đã chỉ thị phong toả ngay phòng cô Kim Anh nằm, nội bất xuất ngoại bất nhập …”
   Ong Giám đốc bệnh viện cướp lời :
   “ Dạ thực hiện chỉ thị của anh Hai em đích thân ghi bệnh án là trúng thực  rồi ạ…”
    Ong Chủ tịch dịu giọng :
   “ Thôi được , mọi chuyện cứ thế, có thằng nhà báo nào mon men tới tụi bay đuổi thẳng cổ cho tao. “
   Nói rồi ông Chủ tịch đứng dậy, ông Giám đốc bệnh viện lại cuống quít :
“ Dạ thưa anh Hai , để cổ tiếp tục nằm ở đây hay đưa cổ về nhà ạ…”
“ Nó có sao mà phải nằm Viện, điện cho má nó đón nó về nhà…”
 Nói xong ông Chủ tịch hầm hầm ra xe. Anh lái xe lễ phép :
“ Chú Hai đi đâu ạ…”
 Ong Chủ tịch phảy tay :
“ Về  cơ quan chứ đi đâu ?”
    Rồi khi xe chạy tới gần Uỷ ban tỉnh , ông lại đổi ý :
“ Mày đưa tao sang  tỉnh uỷ …”
Phải rồi, phải gặp ngay đồng chí Bí thư, tiếng là báo cáo việc cho Đài Loan mở nhà máy gốm sứ nhưng chính là thăm dò coi chuyện con gái ông “tự tử” bay tới tai đồng chí Bí thư chưa ? Ong Chủ tịch nghiến răng ken két, mẹ kiếp, vợ  con hư đốn thế thì thôi, kỳ này phải giải quyết dứt điểm không “ tụi nó” lợi dụng chuyện bé xé ra to nguy hiểm cái ghế của ông.
     Đồng chí Bí thư tỉnh uỷ đang tiếp ông  Chủ tịch Hội nông dân tập thể, nhác thấy Chủ tịch tỉnh đi vào, liền vồn vã :
“ Có việc gì đồng chí Chủ tịch tan tiệc sớm vậy ? Nghe nói lễ ký bản ghi nhớ tiệc tùng lớn lắm ?”
“ Dạ không, báo cáo đồng chí Bí thư , cũng chỉ có chén rượu với vài món ăn chơi, mà chi phí do phía đối tác chịu hết…”
Đồng chí Bí thư như chợt nhớ ra , kêu to :
“ ủa ... nghe nói cháu Kim Anh đi cấp cứu, đồng chí Chủ tịch ghé thăm chưa mà vội tới đây…”
 Có cái gì đó đâm nhói lòng ông Chủ tịch, mẹ kiếp, đứa nào nhanh mồm nhanh miệng thế không biết, xẹt cái đã tới tai “cha nội” rồi. Ong quýnh quáng :
“ Báo cáo anh, cháu nó khoẻ rồi ạ, mẹ cháu vừa đưa cháu về nhà…”
“ Vậy tốt, mà nó bệnh gì thế ?”
“ Báo cáo anh…nó ăn bậy rồi bị trúng thực thôi ạ…”
Đồng chí Bí thư nhìn mặt ông Chủ tịch cười  nhạt :    
“ An uống lúc này phải cẩn thận. Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm đang trở  thành nổi cộm trong tỉnh ta …”
“ Dạ vâng, dạ vâng … Uỷ ban đang có kế hoạch tổ chức Hội nghị chuyên đề  vấn đề này đấy ạ. “
Đồng chí Bí thư quay sang hỏi chuyện ông Chủ tịch Hội nông dân tập thể, ông Chủ tịch tỉnh cáo từ .
“ Ô kìa…vừa sang đã về . Có chuyện gì không ?”
“ Báo cáo đồng chí Bí thư, tính sang báo cáo đồng chí vụ Đài Loan mở nhà máy sứ nhưng đồng chí có khách nên để lúc khác…”
Đồng chí Bí thư cười cười, gật gật :
“ Lúc nào sang nhớ báo trước cho thư ký lên kế hoạch nhá…”
Ra khỏi trụ sở tỉnh uỷ, chui vào xe sập cửa cái rầm, ông Chủ tịch nhăn nhó như người đau răng. Mẹ kiếp, hôm nay ra ngõ gặp gái bụng bầu sao lắm chuyện bực mình ? Lại thằng cha Bí thư tỉnh ủy nữa, ĐM đồng chí, sao được mật báo sớm vậy ? Không biết chuyện con Kim Anh tự tử  đã tới tai  chưa mà mặt đồng chí cứ như  cái tủ lạnh . Còn hơn một năm nữa đại hội tỉnh đảng bộ, quay đi quay lại đã 3 năm rồi, nhanh vậy, kỳ này rớt thường vụ thì mất ghế Chủ tịch là cái chắc. Mẹ kiếp, mật ít ruồi nhiều, có mỗi cái  ghế quan đầu tỉnh mà cả chục thằng nhòm ngó, thằng nào cũng lăm le đút tiền tỷ, không chạy đua  ngay từ giờ thì hưu sớm. Còn mải nghĩ, xe đã đưa ông Chủ tịch chạy qua sân rải sỏi, ghé bậc tam cấp. Bà phu nhân chạy ra hớn hở :
 “ Kim Anh nó tỉnh lại rồi ông ạ…”
 Ong gắt :
“ Nó có ngất bao giờ mà tỉnh lại ? Sao bà ngu lâu thế ?”
Bà phu nhân chưng hửng, tính cãi lại, nhưng nhìn mặt ông lúc này tái xạm như cái mặt nạ bằng sáp bà lại im thít, cun cút chạy theo ông vào phòng khách. Ong buông mình trên ghế salon, thượt ra nghĩ ngợi trong lúc bà lăng xăng mở máy lạnh, pha ly sâm mát rồi bẽn lẽn ngồi bên ông như có lỗi. Bất chợt ông lệnh :
“ Bà gọi thằng Ba tới gặp tôi ngay…”
“ Sao bảo trưa nay chú ấy đi với đoàn Đài Loan…”
“ Bảo nó bỏ đó về giải quyết vụ con Kim Anh…”
Không đầy mười phút sau, xe hơi Giám đốc Sở công an tỉnh đã lăn bánh vào sân. Ong là cánh tay phải của Chủ tịch, bất cứ việc gì phức tạp đến mấy, tới tay ông đều êm xuôi. Có lần một đồng chí cấp cao về thăm tỉnh . Xe đang bon bon đưa đồng chí về nhà khách  Uỷ ban thì không biết từ đâu một con mẻ nhảy xổ vào mũi xe, may anh tài không thắng kịp thì nát sọ rồi. Xe dừng, con mẻ quỳ ngay giữa đường , đầu đội lá đơn. Đồng chí cấp cao ngó ra :
“ Chuyện chi đó hỉ ?”
Ong Chủ tịch tái mặt :
“ Báo cáo đồng chí con mẻ điên đó…”
“ Dừng xe coi…”
Chỉ trong chớp mắt, ông Chủ tịch nhận ra chú Ba xẹt qua đường như tia chớp và loáng có bóng người giằng co. Lúc này đồng chí cấp cao vẫn còn loay hoay xoay trở thân hình kềnh càng , mãi mới  bước xuống xe đi tới  chỗ người đàn bà đang quỳ . Đồng chỉ cất giọng hỏi :
“ Bà có chuyện chi  cần khiếu kiện…”
Người  đàn bà cất tiếng khóc hu hu :
“ Oan con lắm cán bộ ơi, oan con lắm…”
“ Oan ra răng ? Mà đừng quỳ nữa chớ. Đứng lên nói nghe coi…”
Người đàn bà càng khóc lớn nhưng mắt vẫn ráo hoảnh :
“ Con mới sanh được hai tháng nay. Nhưng thằng chồng nghi không phải con nó đuổi con đi…Chính con nó chứ con ai, oan con lắm …”
Đồng chí cấp cao bật cười :
“ Vậy đưa cha con nó  đi thử máu khắc biết liền…”
Ông Chủ tịch tỉnh thở ra khoan khoái. Ông biết có một con mẹ cả năm nay khiếu kiện khắp các Ban, ngành, đoàn thể vì công an bắt nhầm chồng mụ đi tù trong khi anh ta có bằng chứng ngoại phạm trong một vụ giết người cướp của. Hoá ra người đàn bà này không phải con mẻ thí mạng cùi lúc nãy.  Thằng Ba Gíam đốc công an chớp mắt tạo được “hình nhân thế mạng” vậy khá thiệt ! Ông Chủ tịch đi tới cười hể hả :
“ Tưởng chuyện gì, chị cứ về , đưa đơn đây sáng mai lên Uỷ ban giải quyết…”  
Đồng chí cấp cao lắc đầu :
“ Có vầy cũng đòi khiếu kiện”.             
Ông Chủ tịch than vãn :
“ Báo cáo anh, nhân dân toàn tỉnh rất tin tưởng cán bộ , việc lớn việc nhỏ đều gõ cửa Chủ tịch tỉnh…”
“ Vậy rất tốt, chính quyền ta là từ dân, do dân, vì dân, mất dân là mất hết…”
Nói rồi đồng chí lên xe rập cửa cái rầm.

                              (còn nữa)

                    

Thứ Ba, 6 tháng 11, 2012

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN (KỲ 91) : Con nai …vờ ngơ ngác…



                          
                                                           Nhà thơ Lưu Trọng Lư
                                                            

     Ngay sau khi giành được chính quyền ở Sàigòn, đảng ta tổ chức “một khoá học tập gọi là khoá bồi dưỡng chính trị dành cho văn nghệ sĩ Sàigòn ”, cấp tốc đưa từ Hà Nội vào những cây đa,cây đề trong giới văn học miền Bắc như Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Bảo Định Giang...v..v...”
Dịp này nhà thơ Lưu Trọng Lư  “đã kể lại con đường phục vụ "cách mạng" của mình và kêu gọi văn nghệ sĩ  miền Nam hãy mạnh dạn đi theo con đường mà ông đã trải qua. “.
Thực ra chẳng phải chờ tới “khoá bồi dưỡng chính trị” này, ngay sau ngày Huế rơi vào tay “bộ đội giải phóng”, đứng trước cảnh nhà cháy, người chết, gia đình ly tán,  nhà thơ Lưu Trọng Lư  đã “kể lại con đường của mình” bằng những lời sảng khoái, mừng rỡ trong bài thơ “Đường ta đi thế đấy bạn lòng ơi “ :
                        “ Đất này không phải xứ sở của thần tiên,
                        Người với người thôi , sao mà đẹp vậy…
                        Đường ta đi thế đấy
                        Đường ta đi thế đấy bạn lòng ơi…”
Ba ngày sau khi tiếng súng đã tắt trên cố đô, đặt chân trên đường phố Huế, nhà thơ Lưu Trọng Lư đã bịt tai che mắt sao mà không nhìn thấy những dấu tích máu còn lại , những thảm trạng người với người giết nhau, giành giật nhau cơ hội sống trong trốn chạy, tưởng như “Thượng đế đã chết trong thành phố”, vậy mà trái tim thi nhân của nhà thơ vẫn reo vui :
                        “ Người với người thôi, sao mà đẹp vậy…”
Phải đặt câu thơ vào thời khắc của lịch sử , người đời sau mới thấy hết được trái tim đen của thi nhân, ngòi bút của ông ta đã chấm vào mực hay máu để mà cười vui trước nỗi đau của dân tộc ?
                        “Như con ngựa đường trường
                        Ta về đây gõ móng
                        Trời cao đất rộng
                        Mở phanh vạt áo của hồn ta…”
Tháng  Tư 1975, từ biệt thự cơ quan Hội nghệ sĩ sân khấu 51 Trần Hưng Đạo Hà Nội , “con ngựa đường trường “ Lưu Trọng Lư đã phi thẳng tới “ cố đô Huế “hỗn loạn để …gõ móng . Ông gõ vào ai vậy ? Tất nhiên không phải vào “Ban quân quản thành phố”, không phải “đoàn quân chiến thắng xạm màu súng đạn”, cũng không phải  Đại Nội rợp trời cờ đỏ ? Vậy thì nó chỉ còn gõ móng vào nỗi đau của đồng loại trong “mùa hè đỏ lửa” trên “đại lộ kinh hoàng” và liệu ông có coi những mẹ, những em, những nỗi đau “bọt bèo số phận” là “đồng loại” không ? Chắc là không ? Đồng loại của nhà thơ phải là những “mũ tai bèo đôi cánh đang bay”, những “em băng trong lửa đạn chiến hào , tóc nữ sinh cuốn theo vành mũ vải…”
Vô cảm với nỗi đau con người trong loạn lạc, Lưu Trọng Lư lại còn tự đấm ngực, bứt tóc, rên rỉ, gào rú cho thân phận của chính mình trước ngày ông có Đảng :
                        “ Ôi bé bỏng một tấm thân người
                        Một chiếc thuyền nan bồng bềnh giữa hai bờ sống chết
                        Có nỗi thương của Giêdu, có nước mắt của Phật
                        Và trên tay áo này,
                        Trên tay áo này
                        Những giọt đau !
                        Những giọt đau !
                        …Trong cõi lạnh hư vô
                        Một con đò, ôi một con đò…”
Viện cả đức Chúa Giêsu và đức Phật Thích ca để “phản tỉnh con người cũ” liệu có lôi kéo được ông Nguyễn Khắc Viện ( người được Lưu Trọng Lư tặng bài thơ này” đi theo “ Đường ta đi thế đấy…”  :
                        “Ta một giang hồ thi sĩ
                        Dừng nghe tiếng gọi từ xoáy hồn ta
                        Hay tiếng gọi từ một bến bờ xa
                        Tiếng gọi từ một bến bờ xa
                        Tiếng gọi từ một bến bờ quang đãng
                        Trận gió Thu và những ngày Tháng Tám
                        Đắng cay sực tỉnh, mình lạnh mồ hôi…”
Đó, một “giang hồ thi sĩ” lớn như  Lưu Trọng Lư  còn đi theo Cách mạng Tháng Tám, huống hồ nhà viết sách “học làm người” như Nguyễn Khắc Viện còn chần chừ làm chi ? Thôi thôi hãy cùng nhà thơ lên đường :
                        “ Rồi với kẻ cùng đi
                        Với những tấm lòng theo nhau vào trận đánh
                        Thế thôi !mà sao vất vả rộn ràng…
                        Một ngày qua nhanh, tiếc ngẩn…”
Lời rủ rê này chẳng  riêng gửi bác Nguyễn Khắc Viện mà cho cả trên 400 văn nghệ sĩ Sàigòn trong “khoá học chính trị “ ngày đó. Các quý vị còn chần chừ gì nữa, hãy “theo nhau vào trận đánh”, chậm một ngày tiếc ngẩn một ngày, đơn giản thế thôi mà sao cứ “vất vả” chần chừ mãi thế ? Tiếc thay, bỏ ngoài tai lời kêu gọi của nhà thơ, chỉ vài năm sau , gần 400 văn nghệ sĩ này đã bỏ của chạy lấy người, rủ nhau vượt biển, biến sạch ra…hải ngoại.
Làm thơ chưa đã, Lưu Trọng Thư  còn diễn dịch ra 80 trang văn xuôi “Đường  ta đi thế đó bạn lòng ơi…” để “giác ngộ thanh niên Huế”.
“ Sau khi Huế giải phóng dược vài hôm, giữa phố Paul Bert cũ , tôi đã gặp mấy thanh niên…Cũng không hiểu sao, họ đã nhận ra tôi và điều đầu tiên là họ muốn biết từ Tiếng thu những bước đi của tôi như thế nào ?”
Và nhà thơ hãnh diện trả lời :
“ Còn thế nào nữa ?
Tôi ngày nay đã là một người cộng sản. Với những người bạn trẻ ở miền Nam vừa được giải phóng, những bạn đã từ một đêm dài trở lại với ánh sáng, hôm nay tôi muốn có đôi lời gửi gắm…”
Nào các bạn thanh niên miền Nam vừa từ “đêm dài” trở lại “ánh sáng”, sắp được rời thành phố lên rừng đi kinh tế mới, sắp được khăn gói đi học tập cải tạo, sắp  được bước vào công cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, hợp tác hoá nông nghiệp trên toàn miền Nam, các bạn hãy lắng nghe nhà thơ “Tiếng thu” ngày xưa , “cộng sản” ngày nay gửi gắm những lời lẽ gì ?
Sau khi nhắc lại hình ảnh ông là chiếc thuyền nhỏ bé đi giữa hai bờ sống chết, nhà thơ tâm sự : “ Câu thơ này thật ra có thể tổng kết cả một thời trai trẻ của tôi , nói lên cả một chân lý cuộc đời tôi…Thật là lênh đênh giữa hai bờ sống chết. Không phải thân thế tôi chỉ “giang hồ “ trong cuộc sống , mà tâm tư tôi còn “phiêu bạt” trong cõi đất trời mông lung mà tôi không hiểu nổi…”
Trong cả chục triệu thanh niên miền Nam trước 1975, liệu có được bao nhiêu người “lênh đênh giữa hai bờ sống chết”,” giang hồ” trong cuộc sống”,  “tâm tư phiêu bạt trong trời  đất” như nhà thơ ? Khéo lắm chỉ có đám đâm thuê chém mướn, “đá cá lăn dưa” ở chợ Cầu Muối mới có cùng tâm trạng với ông, còn tuyệt đại đa số thanh niên miền Nam vốn chí thú làm ăn và coi gia đình là gốc,  vậy lời “gửi gắm” của ông còn có tác dụng gì? Vậy nhưng ông vẫn kiên trì kể lể :
“ Tôi có thể nói từ thủa nhỏ, từ nhà tôi, một nhà quan cũng như từ cung vua của Thái tử đi ra tám hướng, hướng nào cũng ngập những nỗi khổ đau của con người…Tôi đi tới phương nào cũng gặp những nối khổ đau của con người. Nào tôi đã làm gì để giảm nhẹ , để xoá bỏ nỗi đau khổ của con người ?”
“ Đời là bể khổ” mà, Phật đã dậy rồi. Vậy là mang lý tưởng của Đức  Như Lai, cậu bé Lưu Trọng Lư  lên đường để “xoá bỏ nỗi đau khổ của con người”. Ôi cao quý thay…Vậy cậu đã làm gì ?
“ Cũng chỉ đến đổ nước mắt thôi!Chỉ có nước mắt thôi , không cứu nổi con người đâu …”
Vậy thì cái gì cứu nổi con người. Chẳng vòng vo gì nhiều, ông nhà thơ huỵch toẹt :
“Sau này khi tôi có bài thơ nói về Đảng của tôi, trong đó có câu :
                        “ Mẹ không cho nhiều nước mắt Như Lai…”
Là ý nghĩa như thế, Đảng trân trọng những gịọt nước mắt nhưng Đảng không khuyên con người cứ chết chìm trong nước mắt. Niệm một nghìn lần câu “ Đời là bể khổ” cũng không cứu đời ra bể khổ…”.
Vậy là đã rõ, đứng trước mọi khổ đau của kiếp người cho dù bố đi cải tạo, mẹ vất vả thăm nuôi, chị gái ra đứng đường, em gái liếm lá ngoài chợ… thì cũng không nên “ chết chìm trong nước mắt”. Vậy phải làm gì ? Ông nhà thơ đã vạch cho tuổi trẻ  miền Nam một lối thoát : tin yêu vào cuộc sống .
“ Sự tin yêu cuộc sống đã cho tôi sức trẻ…Trong thơ văn tôi đã nhắc nhiều lần đến hai chữ “hồi sinh”. Trong bài thơ “Tiếng thu II” tôi có câu :
                        “ Những kiếp người tất tả hồi sinh”
Vậy “hồi sinh” tôi hiểu thế nào ? Là từ bỏ những gì vẩn đục , đen tối xấu xa để chuyển tới một cuộc đời trong sáng hơn, cao đẹp hơn…” 
Rất chí lý, hàng triệu thanh niên miền Nam đã thực hiện y như lời gửi gắm của nhà thơ Lưu Trọng Lư, họ cũng từ bỏ những gì vẩn đục, đen tối, xấu xa để chuyển tới một cuộc đời trong sáng hơn, cao đẹp hơn, chỉ tiếc rằng họ “hồi sinh” bằng “đôi chân” chạy trốn khỏi cái xứ sở thời đó mà đến cái cột đèn nếu có chân cũng phải bỏ đi…

                                  (còn tiếp)

Thứ Hai, 5 tháng 11, 2012

HẺM “BUÔN” CHUYỆN (KỲ 34) :Điện xăng tăng giá…trí thức xuống giá .




            

Sáng nay cả quán coi cải lương “cây sầu riêng trổ bông”, thằng Bảy xe ôm chạy về nhăn nhở :
“ Chị Phượng, chị đeo lót ngực nhãn gì vậy ?”
Cô Phượng cave ré lên :
“ Thằng quỷ, mày hỏi gì kỳ vậy ?”
Thằng Bảy xe ôm nghiêm giọng :
“ Tôi hỏi thiệt, không giỡn đâu. Chị mặc đồ Trung Quốc là nguy …nó bỏ thuốc độc trong đó…”
Cô Phượng cave thở hắt ra :
“ Trời đất ơi…tưởng chuyện gì…chuyện đó đăng đầy trên báo rồi kìa…”
Ông Tư Gà nướng càm ràm :
“ Bây giờ cái gì mà chẳng lên báo…ca sĩ xoạc chân quá cỡ cũng lên báo …”
Gã Ký Quèn cười hề hề :
“ Vậy mà khối tin cố nội thằng nhà báo không dám đăng . Tỷ như tin  144 nhân sĩ trí thức viết thư gửi Chủ tịch nước đề nghị trả tự do cho cô bé Phương Uyên kìa…”
Chị Gái hủ tíu lè lưỡi :
“ Í trời…sao mấy ông lớn gan quá vậy ?”
Ông đại tá hưu trợn mắt :
“ Ba cái thằng trí thức dở hơi, biết gì mà kiến nghị kiến ngò, chỉ làm  rối chuyện…”
Chị Gái hủ tíu thắc mắc :
“ Vậy ông Chủ tịch nước có chấp nhận kiến nghị của mấy ông trí thức  không ?”
Ông đại tá hưu dài giọng :
“ Sức mấy…ba cái thằng trí thức là cái đinh gì…đời nào đảng nhà nước nghe theo tụi nó…”
Ong Tư Gà nướng  gật gù :
“ Ông đại tá hưu nói đúng đó. Tui còn nhớ hồi cộng sản mới vô miền Nam, đoàn cán bộ cấp cao vào khảo sát trồng lúa . Khốn nạn có ông nào biết cây lúa miền Nam ngang ngửa ra sao, ngồi trên máy bay chỉ thấy toàn những tràm là tràm. Các đồng chí  “cười” nông dân miền Nam không biết sử dụng đất, lệnh cho chặt hết tràm, xây dựng hẳn 15.000 ha trồng lúa, dùng cả máy bay gieo hạt. Báo hại mấy ông, lúa lèo tèo chẳng chịu lên . Hoá ra từ thượng cổ, chỗ nào tràm cứ tràm, lúa cứ lúa, tự nhiên “xếp đặt” vậy, chỉ mấy ông cộng sản mới có gan “thay trời chặt tràm trồng lúa” vậy thôi. Hồi đó ông Giáo sư Võ Tòng Xuân biết thừa cái ngu của mấy ổng, nhưng ông mà “kiến nghị ” thì nó cho ông vác dao đi chặt tràm, bởi thế mãi 6 năm sau, khi cây lúa đã chịu chào thua cây tràm , Giáo sư mới dám lên tiếng phản đối phá rừng tràm.”
Gã Ký Quèn gật gật :
“Sau vụ trồng tràm, đảng lại ra lệnh đắp đê quanh Cà Mâu  ngăn mặn, trồng lúa dài cả trăm cây số, tốn kém mấy ngàn tỉ. Báo hại , đê chưa kịp “rửa ngọt”, lúa chưa trồng được cây nào, dân đói quá phá đê lấy nước mặn vào đồng nuôi tôm. Đảng cáu lắm nhưng đành tảng lờ. Sang năm 1993, đảng lại chủ trương cả nước trồng lúa xuất khẩu, Giáo sư Võ Tòng Xuân mới lên diễn đàn quốc hội can :” Ấy chớ, miền nam và đồng bằng Bắc bộ mới trồng lúa còn vùng cao thì trồng khoai tây, chỗ nào trồng được nhãn, vải thiều…thì cứ trồng”. Ngay lập tức đại biểu Cao Bằng nổi giận :” Chúng ta là người Việt , phải ăn cơm chứ không ăn quả. Dứt khoát không trồng quả gì cả, phải trồng lúa, trồng lúa…” Rút cuộc mấy ông vùng cao trồng lúa dân đói nhăn răng. Vậy là trí thức có góp ý cũng chịu thua “chủ trương của đảng”.
Cô Phượng cave cũng hùa theo :
“ Thì ngay việc cho Trung Quốc vào Tây Nguyên khai thác bauxite, bao nhiêu nhân sĩ, trí thức kiến nghị phản đối, ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ phán :” đây là chủ trương lớn của đảng” là tắt tiếng  hết…”
Thằng Bảy xe ôm láu táu :
“ Hồi bắt ông Cù Huy Hà Vũ cũng vậy, trí thức cũng viết kiến nghị đòi trả tự do mà có nhằm nhò mẹ gì. Vụ kiến nghị đòi trả tự do cho Phương Uyên rồi bị tảng lờ thôi…”
Ông Tư Gà nướng  cười như mếu :
“ Vậy mới nói thời nay điện xăng đều tăng giá hết, chỉ trí thức là xuống giá . Như vậy có phải chủ trương lớn của đảng không chú Ba ?”
Ông đại tá hưu không trả lời, hầm hầm ra khỏi quán.


5-11-2012