Tổng số lượt xem trang

Chủ Nhật, 4 tháng 11, 2012

CÁNH CỬA TỐI ÁM - Vũ Huy Quang (kỳ 3)


                                  (tiếp theo)

Trần cho rằng, sau thế chiến, đế quốc vẫn còn. Lại nữa, chúng còn tiến lên giai đoạn mới, trong thế lưỡng cực. Nếu Đồng Minh thắng, Anh và Mỹ trở thành hai siêu cường, thành lãnh đạo của hai lực lượng đối đầu với Liên bang Xô viết là trái độn. Hai cực quyền này, ai thắng còn thuộc vào cuộc đối đầu mới. Nếu phe Trục thắng, tương lai thế giới tùy thuộc vào Đức với Hitler, và Mỹ. Như thế, Nhật sẽ là trái độn. Dù Đức hay Mỹ thắng, phe mạnh sẽ quyết định trận chiến mới. Còn không như thế, Nhật và Xô viết cũng không làm gì được. Vì họ què quặt ngay trong kinh tế lẫn kỹ nghệ. (23). Tóm lại, bất cứ phe nào thắng, tư bản cũng không cũng không bỏ tính độc quyền chế ngự về kinh tế và chính trị trên những nước nghèo; tuy nhiên, cấu trúc đế quốc về quyền lực cũng phải tiết chế. Sẽ có hai phe kinh tế đế quốc đối đầu nhau thay vì một. Những nước yếu sẽ phải theo một trong hai phe.(24)
Trong những điều kiện trên, Trần cho rằng công cuộc giải phóng các nước bị áp bức chỉ hoàn tất, nếu phong trào giải phóng dân tộc bị áp bức hiệp đồng với phong trào nổi lên từ trong các nước đế quốc, tạo thành cao trào thế giới. (25) Nói cách khác, trước sự thay đổi lớn trên toàn cầu thời hậu chiến, phong trào giải phóng của một nước riêng lẻ sẽ xảy ra vì hai lẽ. Thứ nhất, bất cứ chiến tranh nào, kể cả giải phóng đất nước, sẽ tạo ra vết đau kinh tế cùng những hậu quả nội tại quốc gia đó, làm nước đó đã hậu tiến còn hậu tiến thêm. Thứ hai, giải phóng quốc gia trong nước hậu tiến chỉ thành công với trợ giúp của một đế quốc; vì thế, nước hậu tiến không bao giờ được hoàn toàn độc lập.
Theo Trần, hi vọng cuối của dân tộc bị áp bức cùng các nước kém mở mang là phải liên kết nhau, cùng nỗ lực với nhau để lật ách đế quốc một lần một. Rồi, khó khăn kinh tế quốc gia tự nhiên được giải quyết trong hệ xã hội chủ nghĩa quốc tế mà với nguyên tắc lao động mới, thay thế cái cũ trong sự vận dụng nhu cầu con người. (26) Cách nhìn của Trần khác Mao về chiến tranh nhân dân, là Trần kêu gọi dân tộc toàn thế giới cùng tháo ách đế quốc. Và cũng làm dậy ra việc cách mạng Trung quốc đã nêu gương là chuyển từ cách mạng quốc gia sang cách mạng xã hội chủ nghĩa, dưới lãnh đạo của giai cấp vô sản.(27)
Trong bài phân tích cuối cùng, Trần cho rằng để giải quyết xung đột đế quốc là lật sức mạnh đế quốc, cùng giải phóng dân tộc bị áp bức. Tư tưởng này, hẳn là bắt nguồn từ cách mạng Nga, đã sinh ra sự bình đẳng trong các hiệp ước giữa các quốc gia bị áp bức dưới triều Sa Hoàng trước đó. Ông nhìn nhận sự kiện đó, là một thành qủa lớn trong lịch sử loài người. Trần tin rằng, từ đó, các nước nhỏ yếu đã nhìn Nga như ngọn hải đăng, một đầu não cho cách mạng thế giới. (28) Rất không may, là các lãnh đạo Nga xét lại chính sách khi phải đương đầu với đế quỗc, quay sang việc đặt trọng tâm vào quyền lợi nước Nga lên trên hết. Nên Liên bang Xôviết trở thành một đế quốc mới – không còn là nước lãnh đạo phong trào giải phóng các dân tộc bị áp bức nữa.
Mao Trạch Đông và các đồng chí cũng có nhãn quan tương tự như vậy đối với chính sách xét lại của Nga. Sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung quốc lãnh chịu sự cay đắng về thay đổi chính sách, phe xét lại của Krushchev bị tố cáo:
“Khuynh hướng xét lại của Krushchev bây giờ đang hướng tới chuyện xã hội chủ nghĩa có thể xây dựng được không cần tới vô sản và không có đảng cách mạng chân chính được trang bị bằng lý thuyết cách mạng, họ quăng bỏ hết lý thuyết Mác-Lênin ra gió tứ phương  Mục đích phe xét lại chỉ là lái những nước bị áp bức ra khỏi cuộc đấu tranh họ chống đế quốc của họ và phá họai cuộc cách mạng quốc gia-dân chủ của họ, tất cả, để chiều ý đế quốc.”(29)
Không nghi ngờ mấy về Trần Độc Tú nhìn thấy quy luật mới của quốc tế xã hội chủ nghĩa là một thực thể của dân chủ cần duy trì, và tất cả các dân tộc bị áp bức phải đồng lòng kết hợp trong việc chống đế quốc tư bản. Để hoàn thành sứ mạng, Trần bỏ ra công sức lớn lao kêu gọi các dân tộc bất kể màu da, tiếng nói, văn hóa khác biệt, để kết hợp trên nền móng phát triển kinh tế và dân chủ. Ông nhìn ra đúng sự việc trên phương diện chính trị tương lai, nhưng không đúng khi tham dự vào trào lưu quốc tế, vì sau đại chiến, chủ nghĩa quốc gia vẫn là yếu tố nan giải vĩ đại.
Trần qua đời ngày 27 tháng Năm 1942 – qúa sớm để thấy cảnh tượng hậu chiến khác biết bao nhiêu so với lúc ông tham dự sinh họat chính trị. Thời gian, như dòng nước sông, chảy đi, không biết đi đâu. Con người có thể làm chủ tình thế trong một lúc nào đó, nhưng không thể kiểm soát được tương lai. Nhưng cũng may cho ông, không phải chứng kiến những vấn nạn mà quốc gia ông phải đương đầu.
Tin Trần qua đời tới Đảng CSTQ và Chính phủ quốc gia chỉ là sự im lặng hoàn toàn, hậu quả của sự ẩn dật bốn năm trời của ông, đã không tham dự sinh hoạt chính trị nào. (*) Chỉ có người con trai thứ ba (30) là Tống-niên cùng vài bạn thân đưa tiễn. Các bạn mới như Đặng San Cửu, Tôn Mạnh Chí ở Thường Xuân có lẽ là những người tiếc thương ông nhất. Cụ Đặng hiến tặng hoa viên của cụ để làm chi phí lễ tang, ông Tôn hứa sẽ xây nhà lưu niệm Trần Độc Tú trong khuôn viên Ngũ Đài học hiệu. Dân Trung quốc không được thông báo đúng mức về sự qua đời của người anh hùng đầy bi kịch của họ. Đại Công Báo phát biểu một bài phân ưu ngắn, nhan đề “Thương tiếc Trần Độc Tú tiên sinh”, và bài của Cao Dư Hàn, “Thương tiếc trong lễ tang Trần tiên sinh”, cũng nói lên phần nào phản hồi của trí thức Trung quốc đối với ông. Cẩn thận tránh chuyện chính trị, Đại Công Báo bình luận rằng toàn thể Trung quốc buồn bã khi nghe tin Trần Độc Tú qua đời - người đã đảm trách vị trí lạ thường trong giới trí thức và trong giới chính trị. Nếu các sử gia không căn cứ trên sự thành bại mà luận anh hùng, phải nhận ông là người đã đóng góp có giá trị nhất. Ông và bạn ông, Hồ Thích, đã phát động Phong Trào Ngũ Tứ, ông thành lập, chỉ huy đảng Cộng sản trong nhiều năm, đóng góp đường lối cách mạng lớn lao cho Trung quốc. Không may, thành quả này lại ít được nhận chân. Đại Công Báo tỏ ý đặc biệt thương tiếc, vì hai con ông cũng đã bỏ mình cho cách mạng. Bản thân ông bị gán tội Trốtkít sau khi ông đã không sinh họat chính trị nữa. Đó cũng là điều “thêm ai oán trong thương tiếc”.(31)
Bài của Cao Dư Hàn (32) có ba điểm. Ông ta nhìn nhận công lao Trần Độc Tú đóng góp cho trí thức, cho nguyên tắc kháng Nhật – giải phóng quốc gia, dân chủ, kỹ nghệ hóa – là những then chốt từ Ngũ Tứ Vận Động mà có. Tác gỉa còn nhấn mạnh về thành qủa của Ngũ Tứ vẫn là căn bản cho kiến thiết quốc gia. Và tác gỉa bày tỏ sự ngưỡng mộ Trần Đọc Tú một cách đặc biệt, là ông coi thường tiện nghi vật chất, - nhận rằng đó là cá tính cao thượng nhất của Trần Độc Tú.
Khi biên tập báo và ông Cao nêu ra vài điểm chính về Trần, họ cùng bỏ qua không nhắc đến  quan điểm và những sinh hoạt chính trị của ông, là những điểm chính yếu. Điểu thiếu sót ấy, vì sự kiểm duyệt chính trị. Trong nghiên cứu sơ sài này của tôi (33), tôi hi vọng rằng nói được phần nào sự thật về công sức cho cách mạng Trung quốc vốn rất phức tạp, bi thương và Trần Độc Tú thực là một người khổng lồ của cách mạng, một chiến sĩ thương tâm, xuất hiện không chỉ để cứu vớt dân Trung quốc, mà cho cả loài người nói chung.
                       
                         (còn phần phụ đính)                           

-Vũ Huy Quang dịch
11-VIII-2012

(Bế mạc Olympic London)

(24)      Trần Độc Tú, “Tương lai các dân tộc bị áp bức”, tr.47-8.
(25)       Như trên .
(26)                  Như trên.
(27)                  Như trên.
(28)                  Như trên.
(29)                  Lâm Bưu, “Hoan hô cách mạng Nhân dân thắng lợi” Bắc Kinh, 1966, tr.42-53
(30)                  Trần Diên Niên (1899-27) và Trần Kiều Niên (1901-28) - cùng thời Cù Thu Bạch, Trịnh Siêu Lân, Trương Quốc Đào, Chu Ân Lai, Thái Hòa Sâm, Di Khoan…- là hai lãnh tụ cộng sản xuất sắc, con của Trần Độc Tú, đều bị Tưởng giết: Người ở Thượng Hải, người ở Giang Tô. Tống Niên là con út, sinh năm 1903. (chú thích ng.d)
(31)                  Đại Công Báo, tháng Năm, 1942.
(32)                  Cao Dư Hàn, tr.3.
(33)                  Thomas C. Kuo
(34)                  (*) Thomas C.Kuo chỉ để ý đến những bạn địa phương của Trần Độc Tú nên không biết, trong lúc Trần di dưỡng, ông vẫn tiếp xúc với các đồng chí cũ của ông, như Hoàng Phần Du, sau khi ra tù 1937 ở Nam Kinh, đã đến ở nhà ông. Cũng có Lỗ Hán, thi hành chỉ thị của ông. Ngay khi trong tù ở Nam Kinh, Lưu Kính Chân vẫn chuyển tin tức từ ngoài vào, đem bút tích Trần Độc Tú từ trong tù ra. Vì việc này, Kính Chân cũng bị chế độ Mao cho đi tù, 1952, cùng chồng là Trịnh Siêu Lân. (chú thích ng.d)


Thứ Bảy, 3 tháng 11, 2012

YÊU THỜI...ĐỒ ĐỂU (KỲ 7)



                                 (tiếp theo)

Trong lúc phu nhân ngồi xe lên tỉnh cấp báo Chủ tịch thì tiểu thư lẻn xuống bếp mở tủ lạnh ôm một đống đồ ăn tót về phòng. Mới nhịn một bữa mà…chao ôi, ruột gan lục sục như ai bỏ vào đó cục vôi sống, tay chân rời rã như đi mượn . Thế mà thày cô vẫn bốc phét các mẹ , các chị trong tù tuyệt thực  cả tháng vẫn hô khẩu hiệu ào ào. Tiểu thư chỉ nghĩ tới đó, cục giăm bông đã nằm gọn trong bao tử, rồi đến lượt  con cua hấp bia và con mực nhồi thịt. Sau cùng súc miệng nửa hộp sữa tươi và kết thúc bằng trái táo Pháp, nỗi buồn thất tình mới trở lại. Oi chao, nhớ anh quá, loạn hết cả các cơ quan đoàn thể trong người , rối rít tít mù như thanh tra về đột xuất, anh giờ ở nơi đâu.
 Bao lần điện bà thủ thư mà cứ nghe “ em nó ra Bắc ở nhà ông chú “, “nhà ông chú ở đâu”, bả cứ ỡm ờ “ xa lắm, tận ngoài Cao Bằng lận”. Cô biết thừa cậu Cả ra đi là do bố xếp đặt . Trái ý đồng chí Chủ tịch thì đến thành hoàng thổ địa cũng phải khăn gói quả mướp ra đi. Còn nhớ mùa lụt năm ngoái ,chú Chín , Giám đốc Sở thương binh xã hội chẳng hiểu phát tiền cứu trợ cách nào, vài tháng sau thấy con trai chú nghễu nghện chiếc DREAM  mới đập hộp . Bạn bè xúm vào khen nức nở. Vừa lúc đó tiểu thư cưỡi “A còng” chạy qua. Một thằng bạn kích đểu sao ba mày không mua như của Kim Anh  kìa, thằng con chú Chín vọt miệng :” Dream hay A “còng” cũng đều là tiền bão lụt cả thôi. Tao là con Giám đốc Sở bì sao được với con Chủ tịch tỉnh……”.
Ngay chiều hôm đó chuyện tới tai chú Chín, chú vò đầu bứt tai :
” Thôi con giết ba rồi con ơi…”.
Lập tức chú chạy sang uỷ ban xin gặp Chủ tịch. Anh thư ký ngăn lại bảo ổng mới đi huyện kiểm tra “xoá đói giảm nghèo”. Ong Giám đốc Sở Thương binh xã hội biết chuyện chẳng lành, dò hỏi thư ký hắn cứ lắc quày quạy :
” Không có gì, không có gì ?”.
Không có gì, không có gì mà tránh mặt ? Cái xe Mẹcxêđéc của ông còn đậu góc sân , ông đi huyện hồi nào ? Thôi đúng rồi, trăm phần trăm chuyện đã tới tai ông và ông đã tỏ thái độ.
Tối hôm đó , cho tay chân  dò xét, biết chắc Chủ tịch đang mở tiệc chiêu đãi phái đoàn Bộ nông nghiệp & phát triển nông thôn vào kiểm tra dự án “ xây nhà trên cột”  cho dân “chung sống với lũ”, ông Giám đốc Sở nhét 10 vé vào bì thư sai vợ lẻn tới lót tay vợ Chủ tịch.
Nhìn thấy bì  thư có xấp đôla, bà phu nhân mặt như cái tủ lạnh bỗng chốc cười xoe xoé như trúng số. Bà kéo thốc vợ ông Giám đốc vào buồng ngủ :
” Lại tiền hỗ trợ dân xây nhà chống lũ phải không ? Sao lẹ quá vậy ? ”.
Thím Chín, vợ ông Giám đốc Sở lúng túng :
“Dạ … em chẳng biết tiền gì, chỉ thấy ông xã bảo mang sang nộp chị…”.
Phu nhân nở nang mặt mày :
” Vậy đúng rồi, tối hôm nay ông nhà tôi chiêu đãi phái đoàn  trung ương mà.”
Bà vợ Giám đốc Sở xin phép về nhưng phu nhân Chủ tịch tỉnh cứ giữ lại mời uống nước yến hộp và hỏi han có bệnh tật gì không để bà chữa bằng nhân điện. Bà Giám đốc đã “hoàn thành nhiệm vụ chồng giao”, chợt thấy mình cũng thuộc loại thượng lưu tỉnh nhà chớ đâu phải loại  Trưởng phòng nhì nhằng, việc  gì phải khúm núm con mẻ mập như heo này, thế là bà cũng bốc lên than mấy bữa rầy  như có giun bò trong mấy lóng xương, cũng may ông Giám đốc đi chỉ đạo xây dựng nghĩa trang liệt sĩ vùng cao, mấy chú dưới huyện biếu lạng cao hổ cốt về ngâm rượu uống cũng đỡ.
Phu nhân nguýt cái  rõ dài :
”Ấy chớ, chớ uống mấy thứ đó, ba cái xương heo, xương chó nó bỏ vào chảo nấu chứ có xương hổ xương cọp gì đâu. Uống vào thêm bệnh. Thím coi nè…”.
Nói rồi bà mở tủ lấy ra cái mật gấu to bằng nửa bàn tay, khô quắt và đen xì , xởi lởi :
“ Đây này, đau nhức xương cốt phải uống cái thứ nè nè…mật gấu ngựa chính hiệu, chú Mười hạt kiểm lâm mới mang lên cho ông nhà tôi . Đau lưng, nhức mỏi thoa một tý là hết luôn. Mà này thím, cái nòi mật gấu này lạ lắm, trị cả ung thư kia đấy, nghe nói quốc tế người ta đang nghiên cứu làm thuốc trị bệnh SIDA nữa kìa…”.
Hai bà còn đang tíu tít, chợt có chuông điện thoại. Bà phu nhân cầm ống nghe mặt cứ ngẩn ra vâng dạ rối rít. Đặt máy xuống, bà đổi ngay thái độ :
” Tôi quên mất tối nay phải đưa cô Kim Anh đi cạo cao răng. Thôi này, thím cứ cầm về nói ông xã lên Uỷ ban gặp ông nhà tôi nha…”.
Bà nhét  bì thư vào túi bà Giám đốc Sở vội vàng tiễn ra cổng, không quên dặn với :
” Của thím có nhiêu tờ vẫn còn nguyên đó nghen…”.
Đêm đó phu nhân bị đức ông chồng quạt cho một trận tơi bời vì nhận phong bì không qua ý kiến ông. Bà cãi bướng :
  “ Thì tháng trước thím ấy tới trao tiền lũ lụt ông vẫn cho tôi nhận đấy thôi…”.
 Đồng chí Chủ tịch trừng mắt :
“Tháng trước khác, tháng này khác…”.
  Bà phu nhân chẳng hiểu chuyện gì, một tháng sau, nghe tin ông Giám đốc Sở thương binh xã hội được cử đi chuyên tu trường Nguyễn Ai Quốc mãi tận …Hà Nội, chỉ non nửa năm sau , trình độ quá thấp bị trả về thì đã có người ngồi mất ghế . Ông đành ngậm ngùi cầm sổ hưu về nhà…trông cháu ,“hạ cánh an toàn”.
      Những chuyện vậy, tiểu thư biết rất nhiều, bởi thế cô  rất lo cho “cậu Cả”, đang tuổi măng tơ cắp sách đến trường, cậu như con gà nhỏ chiêm chiếp trong vuốt  sắc con cáo già là…ba cô. Cô thừa biết cái trò “ tuyệt thực “ này chỉ qua mặt được mẹ, còn với ông Chủ tịch tỉnh thì …đừng hòng, có gan cóc tía cũng chẳng thi được với ông. Chao ôi, rõ đúng là Rômêô, Juliét và…bóng tối. Có ai ngờ bóng tối lại chính là đấng sinh thành ra cô.
    Cả đêm hôm đó cô cứ ôm gối lật qua lật lại mãi chẳng ngủ được. Cô nhớ cậu Cả thắt ruột thắt gan, bây  giờ biết cậu ở đâu, nhất định cô sẽ bỏ hết mọi thứ tìm tới. Cả hai sẽ đưa nhau đi trốn tới vùng núi thật xa, xa hẳn cái tỉnh ba cô đương chức Chủ  tịch , trốn khỏi sự truy bắt của đám tay chân ông, xây tổ ấm trong … khách sạn bằng số tiền lớn mà trước khi đi tiểu thư sẽ khoắng một mẻ trong két của mẹ . Khỏi tiền Việt , cứ vơ sạch đôla là no rồi. Nếu thấy hạt xoàn thì khỏi nói, chỉ cần một hột bằng hạt đậu nành cũng đủ cùng cậu cả chơi bời thoải mái. Thế còn chiếc Spâyxỳ - nhất định phải mang theo để vi vu  .Trí tưởng tượng chỉ cho tiểu thư bay bổng đến đó rồi thiếp đi và nằm mơ thấy đang nhai con tôm hùm nướng khổng lồ.
    Sáng hôm sau nắng bò vào màn tiểu thư mới dậy. Ý nghĩ đầu tiên là chiều qua mẹ đã chất thêm gì trong tủ lạnh. Thế  là chờ lúc cầm chắc ông bà già đi khỏi, cô rón rén mở cửa buồng, lẻn vào phòng ăn.
Oi chao ôi, bàn ghế, bát đĩa, bếp núc sang trọng thế mà không thứ gì bỏ bụng. Mở tủ lạnh cô muốn té xỉu vì trống trơn . Nào đâu cua hấp bia, tôm hùm nướng ? Nào đâu giăm bông, batê…mọi ngày  vẫn chất đầy  ? Bây giờ sạch sành sanh như đũa mụ phù thuỷ vừa gõ vào đó. Dạ dầy tiểu thư chợt thở dài . Thế là thế nào nhỉ ?  Cô cuống cuồng chạy khắp nhà. Cửa phòng nào cũng khoá kín mới chết. Quay về buồng riêng nằm vật xuống giường , ôm lấy chiếc gối chẹn ngang bụng cho khỏi sôi ùng ục.
Đúng “ông già” lệnh  “bà già” chơi khăm đây. Đòn đầu tiên ông giáng xuống chưa phải cậu cả mà chính tiểu thư, con gái của ông. A không nha, không đời nào cô đầu hàng dễ dàng. Nghĩ vậy cô cầm cái ly, tự ngã lăn ra trên sàn gạch bông, mắt nhắm nghiền, hệt như vừa uống liều thuốc ngủ …tự tử vậy…

  Trong lúc đó, bà phu nhân vừa đi Sàigòn sắm đồ siêu thị trở về. Sốt ruột  con gái “tuyệt thực” bà không la cà mấy ông bạn trong hội “nhân điện" như mọi lần , mua xong chai rượu tây, hộp cá hồi, nấm Linh Chi…bà lên Mẹcxêđéc về tỉnh luôn. Tưởng sớm, ai dè thằng lái quệt phải một gã xe máy. Nhìn chiếc xe sang trọng, bên trong  một bà cũng sang trọng , gã xe máy lăn đùng ngã ngửa ngay mũi xe hơi, ôm bụng kêu đau như cháy đồi. Nó ăn vạ đấy, cũng may xe đã chạy vào địa phận tỉnh nhà, bà phu nhân móc ngay di động gọi chú Tám Phòng cảnh sát giao thông tỉnh, không đầy 10 phút sau đã có xe rú còi chạy tới. Gã xe máy bị túm cả chân lẫn tay liệng lên xe thùng chẳng khác gì ném con heo . Rồi đích thân chú Tám cảnh sát đứng ra cầm cây gậy trắng dẹp đám đông tò mò lấy đường cho xe bà phu nhân chạy tiếp về tỉnh.

                            (còn tiếp)
         

Thứ Sáu, 2 tháng 11, 2012

SỰ SUY ĐỒI CỦA VĂN HỌC NGHỆ THUẬT



                                                  Nhà văn NGUYỄN ĐÌNH CHÍNH



Có nhiều cách giải thích. Và đây là một ý kiến của tôi.
Sau năm 1975, Đời sống VHNT trên mảnh đất này  thở hít  chủ yếu  một hồn vía  tâm trạng kiêu ngạo hung hăng đắc ý  nhưng cũng rụt dè chỉ muốn tôn vinh bảo vệ những gì mà đã có. Hồn vía Tâm trạng này  tin rằng trên nền  tảng cái đã có đó sẽ nẩy nở phát triển cái sẽ có khá hơn cái cũ
Cái đã có này rất có khả năng tự sướng với những dục vọng ôn hòa, nó cũng rất ưa thích chiều chuộng (một cách tế nhị ) những cảm xúc bình thường  của đám đông  vừa ra khỏi những cơn lên  đồng kì quặc  đang cố dãy dụa để thức tỉnh. Cái đã  có này đặt nền móng  mĩ học đồng nghĩa với những tảng đá đạo đức đã lên rêu mốc meo . Cái đã có này trung thành với những tình cảm  chính trị như lòng yêu nước, yêu dân tộc lâu nay nẩy nở trên mảnh đất của  những chuẩn mực mà cái vỏ của nó rất hào nhoáng sạch sẽ nghiêm trang nhưng cái lõi của nó lại thô sơ ,bẩn thỉu, giả dối đến vô liêm sỉ
Nhưng có điều trớ trêu là thực tiễn đời sống xã hội mấy chục năm qua đã đánh manh vào cái hồn vía tâm trạng này  của những người làm văn nghệ khiến họ cứ chầm chậm  rơi vào khủng hoảng làm thức giậy những cảm xúc  mạnh mẽ  Người làm văn nghệ hoảng sợ sức mạnh cảm xúc này của ngay chính bản thân họ . Và phần lớn đã chạy trốn cái sức mạnh này.
Và cũng vì thế họ chọn cho mình một cach làm văn  nghệ vừa lòng cái đã có.
Bản chất của cái cách làm văn nghệ này là là một nghệ thuật làm thỏa mãn, dễ thương.
Sản phẩm  của loại văn  nghệ này dứt khoát phải là loại  thức ăn khoái  khẩu  cho một xã hội  có thể tiêu hóa được  và nó cũng phải  là liều thuốc kich thích  khả năng  tự sướng trong những cơn mộng du hoang tưởng .
Đời sống VHNT tồn tai với  một hồn vía tâm trạng như thế thì đã hội đủ điều kiện một đời sống VHNT đang suy đồi
Một tâm trạng VHNT như thế này lại đồng hành với  Một xã hội thì xã hội đó cũng đang suy đồi

( Tác giả gửi đăng) .

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN (KỲ 90)



                                      
                                                              (tiếp theo)

Như vậy đã thành một công thức trong “nghệ thuật xây dựng nhân vật tiểu thuyết” của Nguyễn Huy Tưởng : mọi chiến sĩ , dù là kinh hay thượng, dù là dân thường hay bộ đội, trước khi chết đều nhớ tới bác Hồ và Đảng. Sự thực ra sao chắc chỉ những “người trong cuộc” mới biết, chỉ tiếc họ đã ra người thiên cổ nên chẳng ai kiểm chứng được huyền thoại về những cái chết trong nỗi niềm thương nhớ Bác Đảng mà ông nhà văn đã tô vẽ.
Một điều khá đặc biệt nữa là hầu hết những người lính của Nguyễn Huy Tưởng đều có “dính dáng” tới cụ Hồ.
Thí dụ như Bảo, người lính cuối cùng trong trận chiến đấu bảo vệ Bắc bộ phủ “ là một thợ tiện tập sự của Sở máy nước đá . Ngày cách mạng , Bảo xin đi biểu tình , bố mẹ cấm vì Bảo còn nhỏ.Bảo trốn đi, theo anh em vào cướp dinh và được phát hai quả lựu đạn Nhật, một con dao găm. Một hôm có tin là cụ Hồ ở chiến khu về. Bảo hỏi một người đội viên Thổ “ Hồ Chủ tịch là gì ?  “Anh Thổ nói :” là đứng đầu nước, giữ độc lập cho dân…”. Buổi chiều , một ông già áo kaki, dép con hổ, đi với nhiều người vào. Thấy nhiều người hô muôn năm, Bảo cũng hô. Bảo đoán đấy là Hồ Chủ tịch vì anh em đã cho xem ảnh trước…Từ đấy , Bảo yên tâm ở bộ đội…”
Vậy đó, hình ảnh của cụ Hồ chẳng những ăn sâu trong tâm hồn những người lính của Nguyễn Huy Tưởng mà còn tràn lan trong những trang viết “Sống mãi với Thủ đô”.


Hầu như  tất cả các trận  đánh giữa ta và Pháp ở Hà Nội đều được tác giả  “Sống mãi với thủ đô” thuật lại. Nhà máy đèn, Bưu điện, Bắc bộ Phủ, Chủ tịch phủ, chợ Đồng Xuân, Nhà thờ lớn…nơi nào cũng có chung một tính chất , hết sức phổ biến là quân dân ta cực kỳ anh dũng, quân địch cực kỳ độc ác và hèn nhát. Tính đơn điệu và một chiều trong những nhân vật tự vệ thủ đô như Trần Văn, Thu Phong, Tân, Bảo, ông già Phùng Gia Lộc…những anh bộ đội người Thượng, những cô nữ sinh Hà Nội như Oanh, Quyên, những người cộng sản như Quốc Vinh , Bí thư…là  ở  chỗ cho dù họ mang những danh xưng khác nhau, tên tuổi khác nhau,  cho dù là nghệ sĩ, trí thức, tư sản, công nhân…nhưng họ giống nhau y hệt như những hạt đậu trong hũ. Cái mẫu số chung đã được quy đồng cho mọi nhân vật đó là sự bỏ quên cá nhân, quên gia đình, quên mọi thứ trên đời để toàn tâm toàn ý tập trung vào đánh giặc và trong lòng người nào cũng có một vị thánh sống là …”bác Hồ”. 
Tuy thế, trong cái bức tranh rực một mầu hồng đó, đôi khi cũng lộ hé cái bệnh “ độc đoán”,”độc quyền lãnh đạo” của những người cộng sản đủ để cho ta thấy song song với việc đánh Pháp, Đảng cộng sản đã ráo riết thâu tóm quyền hành thiết lập chế độ độc đảng ngay từ khi còn trứng nước như thế nào.
Nguyên ông Uỷ viên quân sự Văn Việt là người ngoài Đảng, chức quan trọng vậy nhưng không được họp nội bộ Đảng, không được biết những tin tức quan trọng, bởi vậy ông Uỷ viên quân sự này vẫn ấm ức về trò lén lén lút lút qua mặt ông của các đồng chí đảng viên. Khi nổ ra cuộc chiến đấu chống Pháp, ông Uỷ viên Văn Việt đưa lực lượng  tự vệ tới đánh chiếm nhà Xôva của hãng tàu thuỷ Pháp. Khí thế hăng hái lắm. “ Trong đêm tối, bộ đội và tự vệ vây lấy cái hãng , bắn súng và ném lựu đạn. Giặc không dám bắn ra. Đánh mãi, đánh mãi, đến nửa tiếng đồng hồ. Ta trèo vào trong sân , tiến tới sát cửa , đập cửa ầm ầm. Người ta xông vào trong nhà, hô chiến thắng vang lừng . Người  ở dưới nhà chạy lên gác, người trên gác chạy xuống dưới nhà , vào buồng này, sang buồng kia, gọi nhau í ới , ồn ào như vỡ chợ. Xục mãi không tìm được một tên giặc , không thu được một viên đạn….”
Sao lạ thế ? Quân Pháp đâu hết cả rồi ?
Thì ra họ đã rút từ tám đời, chi bộ Đảng biết điều đó nhưng lại không thông báo cho Văn Việt, vì anh ta là người ngoài Đảng. Bởi vậy khi có người hỏi : “Nó rút từ lúc nào ?” Văn Việt buông cả hai tay , cay đắng :”“ Mình là quần chúng, ai cho biết mà chủ động…”
Vậy đó, dù có là Uỷ viên quân sự đi nữa, nhưng không phải đảng viên thì cũng không được biết những “tin tức nội bộ”. Thực ra ông Uỷ viên muốn “đánh một trận ra trò , tiêu diệt hoàn toàn vị trí Xôva, để cho các ông đoàn thể – tức là Đảng, biết rằng dù bị thành kiến, một thằng quần chúng khi nhận nhiệm vụ , vẫn làm đâu vào đấy, vẫn cừ. Khi biết là đã đánh vào một vị trí không người, anh choáng đi, như bị sét đánh. Anh càng giận Quốc Vinh ( cán bộ Đảng đã dấu không cho biết chuyện Pháp đã rút khỏi nhà Xôva) . Giặc không tiêu diệt được, đoàn thể thành kiến, mất uy tín , không lập được công trong đêm đầu. Anh khóc vì tức vì xấu hổ…” . 
Thế rồi không chịu nổi đồng chí cấp uỷ Đảng chơi xỏ mình, ông Uỷ viên quân sự tìm tới tận trụ sở, xông lên phòng ông chính trị viên, “mặt tối sầm, giọng xẵng, lưỡi như rít lại :
“ Sao anh không cho tôi biết trước ? Anh coi tôi là người thế nào mà phải giấu tôi ? Tôi là Uỷ viên quân sự để làm vì à ?”
Đồng chí cấp uỷ “ đối với quần chúng bao giờ cũng giữ được cái lễ độ và mềm mỏng cần thiết :
“ Cứ bình tĩnh, anh ạ. Tôi nghĩ rằng việc thì có cái nói trước, có cái nói sau, người thì có người nói trước, có người nói sau…”
Ông Uỷ viên quân sự ngoài Đảng tức giận :
“ Thế nghĩa là chúng tôi là những người làm thì làm trước, biết thì biết sau chứ gì ? Anh giữ bí mật thế à ?”
Không kìm nổi tức giận, ông Uỷ viên quân sự ngoài Đảng “ giáng một cái tát vào một má hóp”  của ông cán bộ Đảng. Nếu  là người  bình thường thì ông bị ăn tát này đã nhảy xổ ra trả đũa rồi, nhưng ông cán bộ Đảng vốn cáo già về chính trị, ông chỉ “cau trán, loáng một ánh sáng nơi đuôi mắt “  rồi trở lại bình thường ngay :
“ Bây giờ anh đang nóng. Để một dịp khác ta sẽ nói với nhau về chuyện này. Còn chuyện gì khác nữa không , anh Văn Việt ?”
Ông cán bộ Đảng mềm mỏng nhưng mà dứt khoát, ông chỉ gọi ông Uỷ viên là “anh” thôi chứ không gọi “ đồng chí” . Vậy là ông  ngầm tỏ ý sẽ không tha cho cái “tát hỗn  xược “ ấy đâu, nhất định sẽ có ngày ông trả mối nhục này, nhất định sẽ có dịp cho ông “nói lại chuyện này.” Lúc đó ông sẽ phân tích trong cuộc họp nội bộ Đảng rằng quần  chúng mà dám giang tay tát cả Đảng thì còn gì là uy tín đoàn thể nữa, đây không  chỉ xúc phạm cá nhân mà xúc phạm cả tổ chức. Cánh cửa vào Đảng giành cho ông Uỷ viên quân sự như thế là vĩnh viễn đóng lại. Không phải đảng viên thì ông Uỷ viên quân sự cũng hết hy vọng thăng tiến theo con đường quan lộ, mai mốt leo được cái chức đại đội trưởng  cũng là kịch trần rồi.
Mấy trang cuối cùng của cuốn “ Sống mãi với thủ đô”, Nguyễn Huy Tưởng giành cho “chú bé Gavơrốt Việt Nam “, bé Thắng . Chú bé này mới 8 tuổi đã khăng khăng đòi mẹ theo các anh bộ đội đi đánh tây. Sau một trận đánh, lúc rút kinh nghiệm , bé Thắng cũng đòi … phê bình thủ trưởng :
“ Thắng đứng dậy, hai tay buông thẳng cứng cỏi như một chiến sĩ. Thắng nhìn thẳng vào Dân – chỉ huy, vênh mặt lên :
“ Báo cáo đồng chí . Đồng chí có một khuyết điểm . Sao đang chiến đấu , đồng chí lại đẩy tôi xuống hố…”
Thắng cau trán lườm mọi người, nét mặt nghiêm nghị , mắt quắc lên nhìn Dân bĩu môi . Một chị đẩy chén chè tới trước mặt chú bé. Thắng gạt đi giận dữ. Dân nói :
“ Tôi thấy đồng chí bò, tôi sợ nó bắn đồng chí  nên phải đẩy đồng chí xuống hố. Nhưng đồng chí phê bình thì tôi chịu…”
Quả thực khó mà tin được một chú bé đang tuổi nhi đồng mà lại hăng hái, coi thường cái chết một cách hỗn xược như vậy. Tính chất “giả” , bịa đặt theo yêu cầu tuyên truyền cứ bàng bạc trong suốt cuốn tiểu thuyết cho  tới tận dòng cuối cùng của cuốn sách. Năm 1961 “ Sống mãi với thủ đô” ra mắt bạn đọc, lập tức nó được  các nhà văn hàng đầu của cách mạng như Nguyễn Tuân , Nguyễn Khải, Tô Hoài …“bốc “ lên mây xanh dẫu rằng nó được viết theo cảm hứng chủ đạo là ca ngợi một chiều và vì thế  nó mang nặng giá trị tuyên truyền hơn là giá trị nghệ thuật.
Tổng kết về Nguyễn Huy Tưởng, nhà phê bình Phan Cự Đệ đã viết  trong cuốn “ Nhà văn Việt Nam 1945-1975” :
“ Nội dung tinh thần dân tộc trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng càng ngày càng sâu sắc trên cơ sở lập trường giai cấp được củng cố vững chắc hơn. Anh đã thấy được nội dung của hạt nhân dân tộc là lực lượng đông đảo quần chúng cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng…”
Sáng tác bám sát đường lối của Đảng vậy trách gì Nguyễn Huy Tưởng “Sống mãi trong lòng Hội nhà văn” chứ chẳng phải trong lòng độc giả.


                     HẾT CHÂN DUNG NGUYỄN HUY TƯỞNG

Thứ Năm, 1 tháng 11, 2012

HẺM..."BUÔN CHUYỆN" (KỲ 33) - Em yêu…con rận (!)


                                    
                       

Hẻm tôi cái gì cũng…trả tiền trừ coi tivi, tất nhiên coi qua ăng ten chứ không qua cáp. Cũng không phải ông lãnh đạo nào cũng “coi mặt , tắt tivi”. Tối nay có ông đang chém gió quốc hội, chị Gái hủ tíu tắt cái phụt, cô Phượng cave la toáng :
“ Ấy ấy đừng tắt…cứ để coi ổng nói gì ?”
Thằng Bảy xe ôm cười hì hì :
“ Phải ông này trẻ tuổi,  đẹp trai chị Phượng khoái không ?”
Cô Phượng cave bực bội :
“ Đẹp con mẹ gì ? Cha này trên mặt có mụn cóc to tổ chảng nom như ruồi bu mới gọi là Bình “ruồi”. Để yên nghe cha bốc phét chuyện huy động vàng trong dân coi sao …”
Chị Gái hủ tíu cau mặt :
“ Huy động vàng là sao ?”
Gã Ký Quèn giải thích :
“ Hiện nay Nhà nước hết  tiền, trong dân có tới 400 tấn vàng chôn chặt trong túi, bởi vậy Nhà nước muốn huy  động số vàng đó giải quyết nợ xấu …”
Bà Năm củ cải lên tiếng :
“ Phải như ngày xưa bác Hồ tổ chức tuần lễ vàng quyên góp nhân dân không ?”
Gã Ký Quèn gật gật :
“ Đúng đó…hôm rồi bà Bộ trưởng Nguyễn Kim Tiến nhắc lại chuyện đó kêu gọi dân góp vàng cho Nhà nước…”
Thằng Bảy xe ôm văng tục :
“ Góp cái con cặc. Ngày xưa góp vàng đánh Pháp nghe còn có lý, nay góp vàng nuôi béo bọn tham nhũng ai mà góp ?”
Ông đại tá hưu đập bàn quát :
“ Thằng Bảy xe ôm nói láo. Sao mày dám bảo góp cái…góp cái con…hả ?”
Ông đại tá hưu không dám nhắc lại lời thằng Bảy xe ôm , cứ cà lăm làm bà con bò ra cười.Chị Gái hủ tíu thắc mắc :
“ Vừa nãy anh Ký Quèn bảo Nhà nước gom vàng của dân trả nợ xấu. Nợ xấu là cái quỷ gì ?”
Gã Ký Quèn giảng giải :
“ Giả tỉ chị có cái xe máy mang tới tiệm cầm đồ vay tiền. Chị mang đi đánh đề, mất trắng không trả nợ được, đó gọi là nợ xấu. Ngân hàng Nhà nước ngày nay cũng là thứ tiệm cầm đồ , ba thằng đại gia vay tiền thế chấp miếng đất  giá 1 tỷ nhưng tụi nó ngoặc nhau nâng  thành 5 tỉ để được vay 3 tỉ. Thằng đại gia ôm tiền kinh doanh chứng khoán, lỗ sặc gạch, mảnh đất bán tháo được có vài trăm triệu,thế là ngân hàng ôm cục nợ xấu, nợ không đòi được…”
Chị Gái la làng :
“ Vậy phải bắt chúng nó ói ra chớ ? Sao lại bắt dân nộp vàng trả nợ cho tụi nó. Vậy là ăn cướp của dân à ?”
Cô Phượng cave cười cười :
“ Không phải ăn cướp mà là huy động…”
Bà Năm củ cải càm ràm :
“ Dù ít dù nhiều, ai chẳng có chút xíu dắt lưng phòng hờ. Tui cũng có 2 chỉ này, giờ bắt tui nộp cho Nhà nước nuôi béo đám hút máu hút mủ dân à ? Không đời nào ?”
Ông đại tá hưu đập bàn quát :
“ Bà Năm củ cải ăn nói phản động. Bà bảo ai hút máu hút mủ ?”
Cô Phượng cave cười hắc hắc :
“ Để con kể chú Ba nghe . Hổm rồi chú cán bộ Hà Nội vào kể có thằng con trai học lớp hai. Cô giáo ra đề văn em yêu nhất ai. Bà con biết thằng nhỏ đó viết sao không ?”
Thằng Bảy xe ôm vội vã :
“ Chắc lại em yêu nhất bác Hồ…?”
Gã Ký Quèn cướp lời :
“ Không không, chắc nó viết “ em yêu chú bộ đội đánh Mỹ tài ghê” ?”
Cô Phượng cave cười lớn :
“ Sai hết…sai hết…”
Ông Tư Gà nướng lên tiếng :
“ Con nít thì chỉ yêu nhất bố mẹ, ông bà chứ còn ai ?”
Cô Phượng cave cười rú :
“ Không không, nó viết :” em yêu nhất … con rận. “
Thằng Bảy xe ôm há hốc miệng :
“ Yêu…con rận ?”
Gã Ký Quèn cười hô hố :
“ Sao kỳ vậy…nó là con ông cháu cha, con nhà giàu…  biết con rận là con gì ?”
Cô Phượng cave lại cười :
“  Bởi vậy …tại nó hay bị bạn bè chửi bố mày là con rận hút máu hút mủ nhân dân mà. Nó yêu nhất bố nó, bởi vậy nó yêu nhất con rận ….he he…”
Ông đại tá hưu hầm hầm bước khỏi quán. Cô Phượng cave nhìn theo :
“ Đó… một con rận đó…”
Cả quán cười vui vẻ.

    1-11-2012