Tổng số lượt xem trang

Thứ Tư, 8 tháng 2, 2012

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN (KỲ 12 - KỲ CUỐI)

             
                NHÀ THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM                        
                                                  
                                              (kỳ cuối)

Hẳn ai cũng biết, những cây bút “quốc doanh” đặc biệt lý luận phê bình cả đời chỉ quyết làm cháu ngoan bác Mao, sống chết với tinh thần văn nghệ Diên An chẳng mấy thiện cảm với nhà văn Nguyễn Huy Thiệp  - người cứ thích nói ngược những gì thiên hạ nói xuôi.
Trong con mắt các lý luận gia mác xít hơn cả cộng sản như Mai Quốc Liên, Trần Trọng Đăng Đàn, Trần Thanh Đạm…Nguyễn Huy Thiệp như một kẻ có tội, một con chiên ghẻ cần rút phép thông công, một kẻ “ngoại tình” cần ném đá, một tên “ăn cơm cộng sản thờ ma Việt kiều”…
Vì sao Thiệp trở thành “phần tử nổi cộm”, cái gai trong con mắt giới lý luận bảo thủ cực đoan như vậy ?
Thưa rằng xưa nay Thiệp vốn “ăn lộc” tối đa của Nhà nước, suốt một thời đổi mới cho đến nhiều năm sau, cả bộ máy tuyên truyền của Đảng “bốc thơm” Nguyễn Huy Thiệp lên mây xanh, trao ‘cây bút vàng” cho Thiệp trên khắp các mặt báo chí, sách, điện ảnh, truyền hình làm lu mờ cả những giá trị văn chương “cây đa cây đề “   . Ăn “lộc Đảng” nhiều  vậy mà xem ra Thiệp không chịu ca ngợi Đảng lấy một câu gọi là ghi nhận  mình cũng từ cái nôi văn hoá xã hội chủ nghĩa chui ra.
Đã không “trả nghĩa” cho Đảng thì chớ, Thiệp ngày càng ngoa ngoắt xỏ xiên . Bỏ qua những lỗi bôi bác lịch sử hoặc bôi đen xã hội như chuyện con dâu ông tướng hưu nhét cả thai nhi nấu cho chó ăn, trong vở kịch “ Suối nguồn êm dịu”  vốn được bà Thuỵ Khuê ở đài RFI “tôn vinh” là “nhà thạch học”, tức sử gia không viết lên giấy mà khắc vào đá, Thiệp đã chơi lại cái mẹo “biểu tượng hai mặt’ của Nhân Văn ngày trước, bôi bác  nhân vật lãnh tụ trong một xã hội “toàn trị” và bóng gió đề cao “Ông 2000” dễ thấy là biểu tượng của “ông” “Hiến chương năm 2000” mấy năm trước được phát động rầm rộ ở Paris đòi dân chủ, đa nguyên .
 Không kể chuyện “đánh võ mồm” như trả lời phỏng vấn ở Pháp “ói mửa vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước”, trong truyện vừa “Tuổi 20 yêu  dấu” , ông Thiệp chửi tuốt luốt cả từ nhà trường tới quốc hội, và  trong “Chuyện trò với hoa thuỷ tiên” , Thiệp  gọi đám nhà văn trong nước là bọn “giặc già” vừa bất tài, vừa tham lam vừa thất học…
Bị chửi ông chửi cha vậy mà Hội nhà văn Việt Nam vẫn im thin thít, ngay cả Tổng thư ký Hội Hữu Thỉnh vào những dịp đăng đàn diễn thuyết cũng…”ngó lơ”. Tình trạng nuông chiều , e nể Nguyễn Huy Thiệp  làm các phê bình lý luận gia mao ít ngồi đầy trong các Viện nghiên cứu và các trường Đại học tức lộn ruột chỉ mong một ngày “hoàng đạo” nào đó sẽ tay dao tay thước xúm vào đánh đòn hội chợ. Nào ngờ, ngày ấy chưa đến, đã thấy Nguyễn Huy Thiệp chơi  luôn một tiểu phẩm “ Mổ xẻ nhà văn”  xỏ xiên các nhà phê bình chỉ muốn tiến thân bằng xác các nhà văn. Hành động đổ dầu vào lửa của Nguyễn Huy Thiệp càng nung nấu thêm “lòng căm thù” của giới lý luận “mác xít tới bến” chỉ chờ cấp trên gật đầu là xúm vào “bề hội đồng ”.
Vậy mà có ai ngờ, đồng chí Trưởng ban văn hoá tư tưởng Nguyễn Khoa Điềm chẳng những không phát lệnh “giết chết thằng Thiệp”   lại còn khen ngợi Thiệp thì còn trời đất nào nữa hở …trung ương Đảng ?
Lẽ ra là người cầm cân nảy mực giữ gìn, bảo vệ tư tưởng của Đảng, ông Nguyễn Khoa Điềm phải nghiêm khắc “lên án” và vạch ra những tội lỗi của Thiệp, đằng này ngược lại đưa ra những luận điểm khá mới mẻ so với cái vốn có của Đảng  khi khen ngợi và có ý “tha bổng” Thiệp :
” Có người đã nói anh Thiệp đã viết những điều trước nay chưa ai viết . Tôi thấy điều ấy không quan trọng lắm. Về mặt nội dung, có những điều anh Thiệp sai  nhưng về mặt đổi mới ngôn ngữ nghệ thuật thì anh Thiệp lại có nhiều đóng góp…Ở vào thời điểm mang tính chuyển đổi thì nhiều lúc hình thức lại mang tính cách mạng của nó…”
Vậy là những điều Nguyễn Huy Thiệp viết dù xưa nay chưa ai dám viết cũng chẳng là cái gì phải làm ầm ĩ lên, cái chính là Thiệp đổi mới ngôn ngữ nghệ thuật. Ông trùm văn hoá đã nói vậy tức đã “tha bổng” Thiệp. Lập tức Trần Thanh Đạm dám xổ toẹt quan điểm của  đồng chí Trưởng ban tư tưởng  :
“ Không cần phải là nhà lý luận uyên thâm gì cũng có thể thấy nhận định của tác giả về Nguyễn Huy Thiệp là không chính xác, là tách rời nội dung với hình thức, tách rời ngôn ngữ nghệ thuật với tư tưởng nghệ thuật…”
Và to gan lớn tiếng mắng mỏ ông Ủy viên Bọ chính trị dốt lý luận :
“ Có lẽ do chưa nhận thức rõ về mặt lý luận cũng như thực tiễn nên diễn giả đã tiếp cận các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp một cách siêu hình , tách rời máy móc nội dung và hình thức…”
Rôi bằng một giọng đay nghiến, khinh khỉnh hoàn toàn ngược với giọng  cấp dưới với cấp trên, Trần Thanh Đạm tuôn ra liên hồi những lời lẽ đả phá mạnh mẽ ý kiến của Nguyễn Khoa Điềm :
“ Há rằng “ phi anh hùng hoá “ một ông tướng về hưu , “ phi thần tượng hoá một anh hùng dân tộc vv…chỉ là đổi mới và đóng góp cho ngôn ngữ nghệ thuật hay sao ? “
Táo tợn hơn , đây là lần đầu tiên trong lịch sử  Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, một ông Trưởng ban văn hoá tư tưởng bị kết tội công khai  trên báo :
“ Trong khi một số nhà văn, nhà phê bình lên án những ngôn luận xằng bậy của anh Thiệp đối với các văn hữu trong Hội nhà văn thông qua các bài như : Hoa thuỷ tiên, Mổ nhà văn, Tuổi 20 yêu dấu v…v…thậm chí xúc phạm đến cuộc kháng chiến dân tộc thì  đồng chí Nguyễn Khoa Điềm  hình như có ý muốn che chắn cho Nguyễn Huy Thiệp …”
Hơn thế nữa ông Nguyễn Khoa Điềm còn có một bước tiến đổi mới khá xa so với những người tiền nhiệm khi ông phát biểu :
“ Người nghệ sĩ có tư chất và thẩm quyền của họ , không nên buộc họ lệ thuộc quá nhiều vào thực tại…”
Nghĩa là không nên ép uổng nhà văn viết “người thực việc thực”,”người tốt việc tốt”, không nên bắt buộc nhà văn phải “đi thực tế”  dựng nên “bức tranh hào hùng về cuộc sống sản xuất và chiến  đấu của nhân dân ta “ . Vậy là Đảng đã “cởi trói’ cái nghĩa vụ “phi sáng tạo “ cho nhà văn, đồng thời còn thừa nhận “thẩm quyền” của người cầm bút.
Vớ được câu này, Trần Thanh Đạm mừng rỡ chẳng khác hải quan khám ra hàng lậu. Lẽ ra mang danh nhà nghiên cứu, Trần Thanh Đạm phải nhiệt liệt ủng hộ những tín hiệu đổi mới của ông Nguyễn Khoa Điềm, ngược lại đưa ra những phản đối cũ rích :
“ Người nghệ sĩ không phải lệ thuộc quá nhiều vào thực tại , song tôi nghĩ người nghệ sĩ chân chính nào cũng quan tâm đến con người và cuộc sống, có trách nhiệm với thực tại chứ không chỉ biết có tư chất và thẩm quyền của mình…”
nghĩa là Trần Thanh Đạm vẫn đề cao cái “nghĩa vụ xã hội” , cái trách nhiệm  “tổ chức quần chúng của Đảng” vốn là tôn chỉ của Hội nhà văn Việt nam. Nguy hiểm cho ông Nguyễn Khoa Điềm hơn nữa khi ông nói :
“ cần tránh khuynh hướng cực đoan khi xem xét văn học chỉ như một sáng tạo nghệ thuật thuần tuý và văn học chỉ như một vũ khí chính trị …”
ngay lập tức, Trần Thanh Đạm mang cả “lời Bác dậy” để dằn mặt :
“ Văn hoá nghệ thuật không ở ngoài mà ở trong kinh tế và chính trị”.
Vậy đừng có tơ lơ mơ, chính trị bao giờ cũng là ‘thống soái” ,thế là  Trần Thanh Đạm tiếp tục tiến lên, tiến lên ta quyết tiến lên, tiến lên ta gọi cấp trên bằng...thằng. Tuy Đạm chưa dám gọi đồng chí Nguyễn Khoa Điềm bằng thằng nhưng đã lớn tiếng mắng mỏ  :
“ chưa bao giờ văn học và chính trị rời xa nhau nửa bước, chỉ những kẻ tự lừa dối mình hoặc lừa dối người khác mới không trông thấy hoặc giả vờ không trông thấy …”
Rồi đao to búa lớn, Đạm khẳng định lại cái “vòng kim cô” vẫn úp trên đầu các nhà văn :
“Khẩu hiệu của Hội nhà văn Việt Nam và của báo Văn Nghệ là :” Vì Tổ quốc , vì Chủ nghĩa xã hội” là một cam kết chính trị trung thực , thẳng thắn và đẹp đẽ. Theo tôi đó là ngọn cờ chính trị và chính nghĩa của văn học Việt Nam hiện đại…”
Và sau hết Đạm nổi còi báo động :
“ Mưu mô “diễn biến hoà bình “ khởi đầu từ trận địa văn hoá tư tưởng  trong đó có văn học nghệ thuật , truyền bá và thẩm thấu các các quan niệm sai trái về nghệ thuật , nhân danh cái đẹp mơ hồ , trừu tượng để nguỵ trang sự lừa dối , cái ác , cái xấu , nhằm làm hủ bại đạo đức tư tưởng của chúng ta và con cái chúng ta…”
Suốt bài viết Đạm không hề nhắc tới chức vụ Uy viên Bộ chính trị, Trưởng ban tư tưởng văn hoá của Đảng của ông Nguyễn Khoa Điềm làm người ta không thể không đặt  câu hỏi :
” Ai đang đứng sau Trần Thanh Đạm và tạp chí Văn của Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh , nhất trong hình hình cuộc đấu đá ngày càng gay cấn khi Đại hội Đảng đang tới gần ?”
Tất nhiên nếu đồng chí Trưởng ban tư tưởng văn hóa Nguyễn Khoa Điềm vẫn ngồi vững trên ghế ngay cả khóa sau thì Trần Thanh Đạm có uống cả ký “mật gấu” cũng không dám “mó dái ngựa” . Cả cái tạp chí “Văn” của Hội nhà văn TP Hồ Chí Minh cũng vậy, nếu không đánh hơi thấy sếp cũ sắp đi, sếp mới sắp về thì dù có lệnh của tuyên huấn thành ủy cũng không dám “cãi cấp trên” vốn là điều tối kỵ trong “sổ tay phóng viên”.
Vì sao đồng chí Trưởng ban tư tưởng văn hóa Nguyễn Khoa Điềm lại “đốc chứng” vậy ngay khi còn tại vị ? Ngày nay trong kinh tế người ta hay nói tới thuật ngữ “tái cấu trúc” tức là sắp xếp, tổ chức lại để xí xóa mọi chuyện tham ô, tham nhũng.  Các nhà văn, nhà lý luận văn học vào cuối đời cũng có mốt “tái nhận thức “ kiểu như Chế Lan Viên với “ Bánh vẽ”, Nguyễn Khải với “ Đi tìm cái tôi đã mất”, Nguyễn Dình Thi với “bài thơ gửi lại “…có tính cách “phản tỉnh”, “nghĩ lại những điều đã nghĩ”.
 Khác với họ, Nguyễn Khoa Điềm sớm “tái nhận thức” vào cuối nhiệm kỳ và chắc cũng đã biết ngày trở về cố đô Huế cũng sắp tới.
Qua trường hợp Nguyễn Khoa Điềm, người ta thấy được cái khó của các “nhà lãnh đạo tư tưởng “ Việt Nam . Giữa một biển cán bộ mênh mông, ý thức hệ còn sặc mùi mao-ít, ông Nguyễn Khoa Điềm có muốn đổi mới, rũ bỏ những cái cũ kỹ và lỗi thời, thực sự ông phải đương đầu với cơn bão bảo thủ ghê gớm cả trong Đảng lẫn ngoài xã hội, đòi hỏi ở ông lòng dũng cảm và tâm huyết thật sự vì dân vì nước là cái chưa thấy ở ông .
Từ dạo quay về làm dân ở Huế, tuy nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm - sống rất lặng lẽ và kín tiếng. “Bây giờ tôi chỉ còn chường cái mặt tôi ra trong thơ”, nhưng dường như ông vẫn tiếp tục “tái nhận thức”. Tháng 6 -2011, trả lời phóng viên báo Lao Động, ông nói những câu khối anh phải giật mình :
“ Bài trừ tất cả các loại văn hoá liên quan tới phong kiến, thực dân... chúng ta đã cắt đứt quá khứ, cắt đứt sâu chừng nào thì được cho là có quan điểm lập trường tốt chừng đó. Đó là một thái độ rất nguy hại.”
“ Thơ thì phải nói thật lòng mình, không thể giấu mình, không thể nói dối... Việt Nam chúng ta lại quan niệm văn học là đạo lý, trách nhiệm... nên gò bó sự sáng tạo cũng như hạn chế sự thổ lộ. Trong khi văn chương phải thể hiện cái đẹp nội tâm của con người
“Vì vậy tôi đã nghỉ hưu, nhưng nhiều người lãnh đạo mong tôi phải thế này thế kia, phải làm thơ ngợi ca, phải hô hào tiến lên... Vừa rồi khi tôi công bố một số bài thơ trên báo sau khi về Huế, có rất nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí có người chê trách tôi “đổi giọng”, nhưng tôi không quan tâm...
Tuy nhà thơ không quan tâm nhưng chắc độc giả thì chờ đợi ông tiếp tục “đổi giọng” như thế. Nhà thơ Xuân Sách dường như chưa nhận ra quá trình “tái nhận thức” của Nguyễn Khoa Điềm nên viết chân dung khá đơn giản :
Một mặt đường khát vọng
 Cuộc chiến tranh đi qua
 Rồi trở lại ngôi nhà
 Đốt lên ngọn lửa ấm
 Ngủ ngoan A kai ơi
 Ngủ ngoan A kai ời...

8-2-2012

Thứ Hai, 6 tháng 2, 2012

VỀ MỘT THỜI...HÀ NỘI (5)




(tiếp theo)

Tôi và anh về tới căn hộ tầng một khu tập thể của chúng tôi khi ánh nắng đã chuyển sang buổi trưa dọi thốc vào cửa sổ làm héo cả những giò lan anh treo trên đó. Mảng thiên nhiên anh cố tạo chẳng làm tươi mát được căn buồng lủng củng đồ đạc, lọt thỏm giữa một rừng nhà cao tầng xi măng cốt sắt. Anh mất cả tháng tạo bức tường cây đó chẳng qua chiều ý tôi chứ  với anh, sự cách biệt hoàn toàn với thiên nhiên không gây chút khó chịu nào . Ngoài những lo toan đời sống , anh hoàn toàn sống yên ổn trong thế giới trừu tượng của anh gồm toàn những hình và số, những ký hiệu và những phép biến đổi lôgích.
 Lẽ ra những công trình vượt sông rất có hiệu quả trong chiến tranh phải đưa anh tiến xa hơn chức Trưởng phòng hiện nay như bạn bè cùng lứa, nhưng bản tính rụt rè, ngại bon chen, đòi hỏi đã làm vuột mất nhiều cơ hội có thể lên lương, lên chức. Người ta có thể trách cứ anh thiếu tinh thần đấu tranh chống tiêu cực , nhưng không ai có thể phàn nàn anh điều gì trong những công trình được giao thiết kế.
Cái máu “công chức” cha anh truyền lại khiến anh làm việc cần mẫn, bền bỉ như cái đồng hồ làm tôi ngạc nhiên nhớ ra rằng bữa nay anh về sớm hơn thường lệ những hơn một tiếng đồng hồ.
“Chắc là có chuyện gì rồi phải không?” – tôi hỏi.
“ Không, không có chuyện gì - anh trả lời, anh về sớm cho em làm cá kẻo ươn.”
 Tôi nhìn anh lăng xăng trong bếp lấy cho tôi chai nước mắm, lọ tiêu, tiếc  không “đọc được ý nghĩ” như đôi khi anh làm với tôi để biết anh đã dấu tôi điều gì mà linh cảm cứ buộc tôi phải nghĩ tới.
      -Kìa dào...
      Anh nhảy bổ tới mở vung nồi canh tôi bỏ quên trên bếp dầu. Mùi khói khét thoảng lên trong căn bếp hẹp cái nóng buổi trưa đang biến nó thành cái lò hơi.
      - Mình uống cút rượu với cá rán nhé ? Chiều nay anh ở nhà.
      - Ừ thì uống, đã nóng cho nóng luôn xem sao.
      Tôi dốc ngược cả ly ruợu anh đưa, cái nóng buổi trưa cúp điện cộng với cái nóng của rượu muốn nung chảy tôi , biến hết mọi thứ nước giải khát thành mồ hôi túa ra khắp người. Anh chịu đựng giỏi hơn tôi, vừa nhấm nháp, vừa vui vẻ nói lại câu chuyện lúc nãy ở dưới bếp.
      - Ngày trước, đồ án thiết kế chưa ráo mực, công trình đã thi công ngay lập tức, còn bây giờ, em biết không, những chiếc cầu anh tính toán toàn là xếp xó trên giấy tờ cả thôi. Vật tư, kinh phí đâu ra.
      - Phòng anh không kiếm được việc khác sao?
      - Không được, nhiệm vụ của phòng anh là thiết kế cầu, không vẽ ra việc làm thì không có kinh phí, không có kinh phí thì không có lương. Rút cuộc đành phải sống bằng những “chiếc cầu chỉ được vẽ trên mặt giấy”.
Tôi bật cười :
 -Thảo nào, cơ quan anh đóng ở phố Cầu Giấy .
      Anh cười nhếch miệng . Để tránh câu chuyện buồn phiền trong buổi trưa đã quá oi bức, tôi cụng ly chúc anh mai kia những chiếc “cầu giấy” của anh sẽ được người ta xây trên đất, tôi  lại còn an ủi anh rằng ngay ở cơ quan tôi, người ta vẫn cho xuất bản nhiều cuốn sách mà ai cũng biết trước chẳng ma nào đọc và chắc chắn sẽ bị chôn trên giá sách thư viện. Anh trừng mắt :
      -Vậy ai có lỗi trong những chuyện đó ?
      Anh hỏi cứ như thể tôi là Tổng bí thư chịu trách nhiệm về vận mệnh đất nước. Tôi tiếc đã cho anh uống quá chén khiến lời lẽ cứ tuôn rào rào quanh đề tài “chống quan liêu bao cấp” đang là câu chuyện cửa miệng của mọi người ở khắp nơi khắp chốn.
      -Anh say rồi, lên giường ngủ đi.
      -Rút cuộc lỗi ở anh, ở em, ở tất cả những người hèn nhát ngậm miệng ăn tiền…”
      Anh cố vớt vát chưa hết câu nói , giấc ngủ đã lôi tuột anh vào tiếng ngáy và hơi rượu nồng nặc khắp căn phòng nóng bức. Tôi nhảy vội vào buồng tắm vặn vòi nước chảy tràn khắp nguời và cứ đứng im như thế tưởng tượng ra dòng suối mát mình đang được vùng vẫy thỏa thuê. Tại sao tôi không đi xa một chuyến , ra khỏi căn buồng, ra khỏi thành phố trong những ngày hè oi ngộp tạm đổi đi nếp sống cứ loay hoay mãi trong những câu chuyện thường nhật quá quen thuộc.
Hoặc ra Đồ Sơn nhảy sóng, hoặc lên Tam Đảo thở gió núi... đi đâu cũng được miễn đi khỏi đây. Nhưng đi sao được khi chiếc tivi mới mua còn chưa trả hết nợ, hai vợ chồng gộp hết cả lương lại cũng chỉ đủ sống tằn tiện trong khi giá cả leo thang đến chóng mặt. Rõ oái ăm, bà vợ ông giám đốc xí nghiệp may mặc tầng dưới, quanh năm chỉ muốn ở nhà thì lại bị ông chồng thỉnh thoảng lôi đi nghỉ mát Nha Trang, Đà Lạt... mỗi lần về lại leo lên phòng tôi than thở về nỗi mệt nhọc dọc đường. Tôi chẳng mong đổi lấy địa vị của bà, ôi làm vợ cái người đàn ông mặt đầy thịt, bụng kềnh càng như bụng đàn bà chửa ấy thà ở không còn hơn. Mỗi lần chạm mặt ông ở cầu thang (vào những ngày nghỉ sao tôi hay gặp ông ta thế, cứ như là ông ta rình chờ tôi vậy), ánh mắt ông lại cháy rực lên, cái nhìn sỗ sàng, hau háu như con chó đói. Chính ông ta gạ bán cho chồng tôi chiếc tivi, trả trước một nửa, còn lại cho trả góp hàng tháng. Tôi gạt phắt cái “lòng tốt” báo hiệu chẳng mấy tốt đẹp đó, bán nhẫn cưới vay mượn thêm cho đủ tiền đưa chồng bắt mang trả bằng hết.Tôi càu nhàu :
 “Không thèm nợ nần gì cái lão béo ấy”.
“Em cứ hay thành kiến với những ông Giám đốc, chồng tôi phàn nàn, anh thấy ông ta cũng tử tế, ít ra là với vợ chồng mình. “
Tôi cười vào mũi cái ngây thơ của anh. Thôi, với những ông đó, xin cứ  “kính nhi viễn chi” là hơn. Vậy mà rồi chiếc tivi suốt một thời gian dài cũng vẫn trở thành một cái cớ để mỗi lần gặp ông ta lại xán đến tôi hỏi han “hình có rõ không, âm thanh có rè không”, khi nào máy hỏng ông sẵn sàng gọi thợ đến sửa giúp.
      Tôi dọn dẹp, tắm táp xong, bước ra ngoài phòng, mừng ơi là mừng, đã có điện, chiếc quạt lớn trong góc quay vù vù làm tung cả giấy tờ trên bàn viết. Giá như đức ông chồng không chiếm hết chiếc giường để kéo bễ, chắc tôi cũng đã ngả lưng làm một giấc đến chiều. Thôi đành ra bàn ngồi đọc sách vậy. Tôi lục lọi trên giá và bỗng nhìn thấy cuốn truyện Biên Cương tặng tôi từ mấy tháng trước. Hình ảnh ông Giám đốc trong tiểu thuyết của anh giống cái ông ở tầng dưới, chỉ khác một điều nhân vật của anh bị thanh tra, mất chức còn cái ông ngoài đời kia thì vẫn sống khơi khơi chắc đến ngày ông ta về hưu. Dẫu sao cuốn sách cũng hấp dẫn tôi đọc một mạch cho đến trang cuối cùng. Quả thực Biên Cương viết khá hơn thời tôi còn đi học, vậy nhưng tiểu thuyết của anh cũng chẳng tránh cho tôi cái thói đọc lướt những đoạn rườm rà, đọc chéo những trang người viết phải rào đón để người đọc và nhà phê bình khỏi suy diễn, hiểu lầm. Thói quen này đôi khi làm hại tôi trong công việc biên tập, bỏ sót những chi tiết phi lý trong bản thảo của những tác giả bốc lên cho một anh công nhân vận hành máy phát hiện ra cả sai lầm về thuật toán trong chương trình chạy máy tính điện tử của một nhà khoa học nổi tiếng, hoặc một chị đánh máy giữa cuộc họp đứng ra phê phán luận chứng kinh tế kỹ thuật của cả một công trình lớn do một tập thể kỹ sư và chuyên gia lập nên...
      Rất may ở cuối dây chuyền xuất bản còn có bộ lọc sau chót là ông Trưởng phòng biên tập nên những sai sót kiểu đó thường do ông phát hiện, người viết đỡ bị nhà phê bình bắt giò, còn tôi được một buổi nâng cao tay nghề do đích thân ông Trưởng phòng dạy bảo. Quả nhiên mới đi làm được hơn một năm, tôi đã tiến bộ trông thấy từ chỗ chỉ được đọc và viết  nhận xét bản thảo lai cảo, người viết tự gửi tới, cầm chắc nằm chết trong tử lưu hồ sơ, tôi đã tiến bộ tới mức được ông Trưởng phòng cho phép tiếp và trả lời các cộng tác viên, đương nhiên gồm toàn những cây bút trẻ rất ít hy vọng được xuất hiện ở các nhà xuất bản lớn chỉ in sách hay này.
Vậy mà có lần tôi được cử ra tiếp hẳn một... ông lớn đương kim Ủy viên Bộ chính trị. Ông nhà thơ này lớn tới mức tôi không dám nêu tên, ngay đến ông Trưởng phòng biên tập, ông Tổng biên tập , ông Giám đốc cũng ngán không dám ra mặt trả lại ông bản thảo tập thơ mà hễ bất kỳ ai có gan đọc từ đầu đến cuối cũng phải thừa nhận một khi in ra sẽ làm hại trước hết  là uy tín của chính người viết. Điều đáng lo nhất là làm cách nào ông không nổi giận khi được báo cái tin sét đánh đó. Ong Giám đốc ủy thác nhiệm vụ cho ông Tổng biên tập, ông Tổng biên tập đùn cho ông Trưởng phòng, ông Trưởng phòng không đẩy cho ai được ngoài tôi ra, một con bé mới vào nghề “điếc không sợ súng”.
      Buổi sáng hôm hẹn ông nhà thơ tới, phòng biên tập vắng như chùa bà Đanh, ông Tổng biên tập, ông Trưởng phòng và các ông biên tập viên đều trốn sạch, trơ mỗi mình tôi ngồi ở bàn với chồng bản thảo  dày cộp. Tiếng xe Vonga rồ máy dưới sân, tiếng đóng cửa xe oai vệ, tiếng giày cồm cộp trên  cầu thang gỗ... tất cả đều gõ vào quả tim đang nảy thon thót của tôi. Tội nghiệp nó, làm sao tránh khỏi bắn ra ngoài lồng ngực khi lát nữa ông nhà thơ đấm tay xuống mặt bàn, gầm lên đòi phải chỉ ra đích danh kẻ nào dám từ chối bản thảo của ông.
May thay, khi tôi vừa mới cầm lên tay chồng bản thảo, miệng lắp bắp:
“Thưa bác... dạ thưa bác...”, ông nhà thơ đã cười nhạt:
“Không in phải không, không in thì trả lại tôi...”.
Ông nhét bản thảo vào cặp , biến khỏi phòng cũng nhanh như khi ông bước vào, bỏ mặc tôi ngồi ngơ ngẩn, trong đầu còn đầy những điều dự định trình bày về giá trị nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật của cuốn sách tuy rất cao nhưng rất tiếc vì thứ nhất... thứ hai... và vân vân mà ông Trưởng phòng đã dày công chuẩn bị cho tôi suốt cả buổi chiều hôm qua.
Như có phép màu, không đầy năm phút sau khi xe Vonga của ông nhà thơ chạy khỏi cửa, tất cả mọi người trong phòng biên tập không biết từ đâu đã tề tựu đông đủ kể từ ông Trưởng phòng cho tới anh cán bộ tập sự.
      - Sao? Thái độ đồng chí ấy ra sao? ý kiến thế nào?
      Tất cả mọi người đều nhao nhao, nóng ruột chờ ở tôi một bài tường thuật đầy gây cấn và hấp dẫn, có ông không kìm nổi đã tuôn ra những lời sôi nổi chẳng kém gì phóng viên thể thao tường thuật bóng đá. Sau cùng, ông Trưởng phòng phải lên tiếng lập lại trật tự:
      - Tất cả im lặng, cô Vân trình bày lại đầy đủ mọi ý kiến của đồng chí ấy coi sao.
      - Thưa chú, ông ấy nói không in thì trả lại bản thảo.
      - Còn gì nữa?
      - Hết ạ.
      Mọi người tiu nghỉu. Một ông nóng nảy:
      - Sao lại hết ạ. Đồng chí ấy phải nói gì nữa chứ ?
      - Dạ không, ông ấy chỉ nói có thế thôi.
      Ông Trưởng phòng cau mặt, suy nghĩ:
      - Thái độ đồng chí ấy ra sao?
      - Bình thường thôi ạ.
      - Có quát tháo không?
      - Dạ không.
      - Có đập bàn không?
      - Dạ không.
      Đó, thái độ thế mới đáng sợ, thà rằng đồng chí ấy vặn vẹo đủ điều, lớn tiếng yêu cầu trực tiếp gặp Giám đốc, Tổng biên tập hoặc chí ít cũng Trưởng phòng biên tập, đằng này không, cứ lạnh băng đi như thế mới bỏ mẹ, mai kia chỉ cần đồng chí phảy tay cái là ông Giám đốc,Tổng biên tập lẫn cả ông Trưởng phòng biên tập bay mất ghế.
Mặc cho các ông tha hồ bàn luận phán đoán, tôi lẻn khỏi phòng, chuồn mất sau khi cảm thấy mình đã “hết vai trò lịch sử”, chẳng ai còn cần tới cái thứ mình.
      Sau hôm đó, mọi người trong phòng nhìn tôi không bằng nửa con mắt  nữa, tôi đã trả được bản thảo cho một ông nhà thơ tầm cỡ lớn thế, thử hỏi mấy ông làm được như tôi? Tuy nhiên hào quang đó chẳng sáng được lâu, trong sổ lương mỗi người phải ký nhằm ngày đầu tháng, mấy ông đó vẫn chót vót bậc cao chuyên viên, còn tôi lè tè cán sự, cái nhìn thứ bậc lại trở về với thói quen hàng ngày, nhưng từ đó tôi hiểu thêm ra một điều : quyền lực là cái bất kỳ ai cũng phải nể, nhất là khi nó tác động trực tiếp tới chính mình.

                      (còn tiếp)

Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2012

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN (KỲ 12 - TIẾP THEO))

                    NGUYỄN KHOA ĐIỀM (TIẾP THEO)


                                                (tiếp theo)

   Sang năm 2003 lại một vụ “cấm sách” dưới triều ông Nguyễn Khoa Điềm. Lần này động trời hơn vì  tác giả bị cấm lại là ông nhà văn nổi tiếng ca ngợi cách mạng :  Nguyễn Khải, lúc đó là Phó Chủ tịch Hội nhà văn VN, đại biểu quốc hội khóa 8. Hơn thế , cuốn sách đã đăng nhiều kỳ trên tạp chí Nhà văn, nhưng đến khi in thành sách thì lại …cấm phát hành. Thực ra cuốn “Thượng đế thì cười” chẳng chửi Đảng cũng không bôi đen chế độ, nó chỉ có mỗi tội kể chuyện đại biểu quốc hội …ngủ gật.
Chương 22, Nguyễn Khải  huỵch toẹt chuyện quốc hội :           
“Trong suốt một nhiệm kỳ Quốc hội khoá 8 hắn chỉ phát biểu có một lần về những điều bổ sung cho Luật Báo chí. Hắn đề nghị Quốc hội xem xét cho ra báo tư nhân và nhà xuất bản tư nhân để đảm bảo quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản của một xã hội văn minh. Hắn vừa ngồi xuống thì bà T. cũng là đại biểu của thành phố Hồ Chí Minh, nguyên là một nữ luật sư danh tiếng của Sài Gòn trước đây, một thượng nghị sĩ trong phe đối lập với chính quyền Thiệu, đứng lên phản đối liền. Bà nói, đại ý, rằng hắn chưa từng sống trong xã hội tư bản nên mới ngộ nhận là ở đó có tự do báo chí! Không có đâu! Danh nghĩa là báo của tư nhân nhưng nguồn tài trợ thường xuyên để nuôi sống nó luôn luôn là của các tổ chức chính trị, tôn giáo, nghề nghiệp đầy quyền lực. … Bà vừa dứt lời tiếng vỗ tay đã vỡ ra vang dội và kéo dài khắp hội trường.  Ông chủ quyền lực bắt đầu ghét hắn từ ngày ấy, đã muốn đuổi hắn ra khỏi cơ quan quyền lực từ ngày ấy. Rồi hắn lại ngủ gật nữa. Trong những phiên họp tranh cãi sôi nổi về một từ, một câu trong những điều luật bổ sung của Bộ luật Hình sự, thì hắn ngủ gục, đầu vẫn ngay, lưng vẫn thẳng nhưng đầu óc đã trống rỗng, mờ mịt, người ngồi cạnh phải hích nhẹ hắn mới bừng tỉnh. Một ông nghị gật như các báo vẫn chế giễu các ông nghị bản xứ thời Pháp thuộc. …”

Sách in xong bị cấm phát hành nhưng cũng còn may không bị đốt  như “Chuyện kể năm 2000” của Bùi Ngọc Tấn, sau một năm nằm kho, cấp trên mới ra điều kiện muốn “giải tỏa” cuốn sách thì phải cắt bỏ cái đoạn “đại biếu quốc hội ngủ gật” .
Nguyễn Khải tâm sự :
“Tôi thấy đoạn kể chuyện ngủ gật ở Quốc hội cũng chỉ là chuyện nói vui, còn nhiều chuyện khác có ý nghĩa hơn, chỉ vì đoạn này mà cuốn sách không thể tới được tay bạn đọc thì cũng tiếc nên tôi đồng ý cắt một trang. Anh em bảo thế là không hay, cái ông Khải này lúc nào cũng nhân nhượng. Thật sự tôi thấy điều ấy cũng không phải là quan trọng nhất, cắt bỏ đi cũng chả ảnh hưởng gì đến quyển sách.”
Trong mấy ngày giáp tết Ất Dậu, ông Nguyễn Khoa Điềm làm một việc  xưa nay một ông Trưởng ban văn hoá tư tưởng của Đảng chưa bao giờ làm là tới tận nhà riêng chúc tết một số… nhà báo. Và cũng  trong một cuộc Hội thảo về công tác phê bình lý luận , tháng 11 năm 2004 tại Hà Nội ông Nguyễn Khoa Điềm có những phát biểu mới mẻ  xưa nay các ông Trưởng ban văn hoá tư tưởng của Đảng chưa  dám nói bao giờ .
Nói thế nào thì nói, qua những hành động đó người ta thấy một sự cải thiện hình ảnh ông trùm văn hoá văn nghệ Việt Nam xưa nay vốn vẫn bị  coi là một “ông kẹ” luôn luôn cầm roi uốn nắn tư tưởng khắp bàn dân thiên hạ.
Ấy vậy rồi xảy ra một việc động trời chưa từng thấy “trên mặt trận văn hoá và tư tưởng “. Một nhà “phê bình lý luận “ nổi tiếng Mao-ít ở TP Hồ Chí Minh là Giáo sư  Trần Thanh Đạm, trên tạp chí “Văn” số Tết Ất  Dậu của Hội nhà văn TP Hồ Chí Minh đã viết một bài nảy lửa đả phá một số quan điểm mới mẻ của ông Nguyễn Khoa Điềm làm người đọc bật ngửa về sự mạo phạm cấp trên, cả gan vuốt râu hùm, công khai phê phán lãnh đạo Đảng ngay trong dịp kỷ niệm 75 năm ngày thành lập Đảng.
Ngay trong phần mở đầu dài dòng đầy những nguyên tắc mácxít cứng nhắc , ông Trần Thanh Đạm đã khen xỏ đồng chí Trưởng ban văn hoá tư tưởng :
”Diễn giả (tức NKĐ) không chỉ nói lên các ý kiến của mình với tư cách một nhà thơ, một người nghệ sĩ, ngoài các tư tưởng có tính cách chỉ đạo , còn có những ý tưởng riêng có tính cách cá nhân…làm bài phát biểu bớt đi tính áp đặt mà tăng thêm tính gợi mở , khuyến khích suy nghĩ và thảo luận…”
Thực ra đã là lãnh đạo Đảng trên bất cứ trận địa nào, khi phát biểu trước quần  chúng lúc nào cũng phải mang tính cách huấn thị và chỉ được nói những quan điểm của Đảng mà thôi, sao “đồng chí” dám phá lệ gài “ý kiến cá nhân” vào đó ? Thật là một câu phê bình chết người đối với lãnh tụ Đảng và chính vì lo cho Đảng, vì “bảo vệ Đảng” nên một quần chúng cách mạng như Giáo sư Trần Thanh Đạm phải “thí mạng cùi” nhảy ra vạch trần “ những ý kiến cá nhân sai trái” của đồng chí Trưởng ban tư tưởng văn hoá để bảo vệ đường lối mác xít của Đảng. Tinh thần của Giáo sư Trần Thanh Đạm thật  dũng cảm ghê gớm chưa ?
Trong bài phát biểu của mình, ông Nguyễn Khoa Điềm thẳng thắn thừa nhận :
“ Đúng là lý luận văn học của ta còn nhiều bất cập và thiếu hụt . Do hệ thống lý luận văn học này được sản sinh trong môi trường của các nước xã hội chủ nghĩa trước đây…”
Trần Thanh Đạm cãi lại thủ trưởng :
“ Đúng là lý luận văn học của chúng ta trước đây chịu ảnh hưởng của các thành tựu lý luận văn học từ các nước xã hội chủ nghĩa ( trước hết là Liên xô)…song nói rằng lý luận văn học của ta sản sinh ra trong môi trường đó thì chỉ đúng có một phần…”
Rồi ộng ta cho rằng :
“ Nền lý luận văn học của ta…sản sinh ra từ đường lối lý luận và thực tiễn của cách mạng dân tộc , dân chủ và xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam từ 1930 và sớm hơn, từ đầu thế kỷ 20, thể hiện trong các văn kiện của Đảng : Trường Chinh , Lê Duẩn,, Phạm văn Đồng, Tố Hữu qua các đại hội văn nghệ và đại hội nhà văn , các tác phẩm lý luận của các nhà văn, nhà thơ lớn của chúng ta trong thế kỷ 20 như : Hải Triều, Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Chế Lan Viên, Đặng Thai Mai, Hoài Thanh…và các nhà lý luận ưu tú khác …”
Trưng ra các cây đa cây đề trong “ nền phê bình lý luận cách mạng” theo cái lối mang ngoáo ộp ra doạ con nít , Trần Thanh Đạm có ý hạch tội rằng nói như Nguyễn Khoa Điềm thì còn đâu là tính sáng tạo và tính độc lập tự chủ của Đảng ta xưa nay vẫn được tuyên truyền rầm rĩ ra cả thế giới nữa.
Sau khi trưng ra ý kiến phát biểu của Nguyễn Khoa Điềm về lý luận văn học :
“ Hệ thống lý luận văn học của ta do phải tập trung cho thắng lợi của chủ nghĩa xã hội mà phần nào bỏ quên hoặc tránh đi những đặc trưng văn học, những vấn đề rộng lớn của văn chương và của con người …”
Ông Trần Thanh Đạm dám lên giọng “xách mé” :
“  Có lẽ khó quan niệm một chủ nghĩa xã hội gì mà văn học lại bỏ quên hoặc tránh né các vấn đề rộng lớn của văn chương và con người ?… Một chủ nghĩa xã hội như vậy còn xứng đáng được gọi là chủ nghĩa xã hội được hay không ?…Thực tế nước ta mới quá độ lên chủ nghĩa xã hội, còn phải “ tập trung cho giải phóng dân tộc, đánh thắng đế quốc xâm lược “ không thể phát triển và xây dựng một nền văn học như trong hoà bình”…thế nhưng nói rằng chúng ta né tránh hoặc bỏ quên các vấn đề đó thì không đúng…”
 Táo tợn hơn, Trần Thanh Đạm phê phán  sếp lớn :
“ Tôi cho rằng lý giải các yếu kém thiếu hụt của lý luận văn học chúng ta như diễn giả đã làm là có phần hời hợt , sơ lược, chủ quan , không trên cơ  sở một nhận thức lịch sử thật chu đáo , thận trọng…” 
rồi cả doạ nạt :
“ Kết cục của diễn biến hoà bình trong lĩnh vực tư tưởng văn hoá là bạo loạn lật đổ trên lĩnh vực chính trị xã hội. Những người cầm cờ , cầm lái không thể mơ hồ trong nhận thức của mình…”
Quả thực xưa nay , chưa ai dám công khai dạy dỗ “lãnh đạo Đảng “ trên phương tiện báo chí của Đảng nặng nề thế này. Trong bài phát biểu của Nguyễn Khoa Điềm có một luận điểm khá mạnh dạn, mới mẻ :
“ Lâu nay trong quan hệ giữa nội dung và hình thức chúng ta chỉ chú trọng những mặt nội dung mà xem nhẹ yếu tố hình thức , như vậy là chúng ta mới đề cập mặt xã hội của văn chương mà chưa thấy yếu tính của văn học là ngôn ngữ nghệ thuật …”
Sự thực, đây là một sự thừa nhận rất đáng biểu dương đối với một nhà lãnh đạo văn hoá văn nghệ cộng sản . Tuy nhiên đối với các lý luận gia “mác xít đến chiều” như Trần Thanh Đạm thì sự thừa nhận đó là đi chệch đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng cần kéo còi báo động :
“ Diễn giả đã “vơ đũa cả nắm” khi dùng đại từ “chúng ta “ ở đây, nếu nói “một số người trong chúng ta “ thì còn nghe được. Đó là những kẻ cơ hội, giáo điều , thậm chí ngu dốt trong văn học nghệ thuật  …”
Ô hô, nói vậy khác nào chửi sếp lớn là cơ hội, giáo điều, ngu dốt ?

                                                                                      (còn nữa)

Thứ Sáu, 3 tháng 2, 2012

VỀ MỘT THỜI...HÀ NỘI (4)


                                      (tiếp theo)

Tôi chia tay Biên Cương cũng tại “con ma” đó. Vài ngày sau, anh  tới tôi “giảng hòa” và hí hửng đọc bài thơ anh làm hôm tôi trốn học đến anh. Thì ra anh đã đánh đổi cả một buổi chiều đẹp như vậy lấy bài dở đến thế ư ? Thơ thế này cần gì phải đóng chặt cửa phòng cho tâm hồn bay bổng chín tầng mây như tôi đã tưởng. Lẽ ra tôi có thể “góp ý” nhẹ nhàng hơn, nhưng không may cơn giận vì uổng phí một buổi chiều trốn học làm “con ma” trong tôi nhảy xổ ra.
Ấy, tôi đã nói gì ấy nhỉ? Tôi nói rằng bài thơ “Trái tim người thợ” chào mừng ngày “quốc tế lao động” này không phải thơ, và nếu anh cứ nhắm các ngày lễ, ngày kỷ niệm để  “sản xuất” thế này thì tốt hơn hết nên chọn nghề khác có ích hơn.
Đến lượt anh, không phải một con ma như tôi mà hẳn một “con quỷ”, vâng, “một con quỷ” trong anh xồ ra xé nát tôi bằng lời lẽ sắc bén gấp mấy lần cả thơ anh. Khi hai chúng tôi bừng tỉnh cơn sốt “ngôn từ”, hai đứa đã ở hai bờ vực không một kiểu cầu nào bắc qua được nữa.
 Hôm cưới tôi Biên Cương có tới tặng phong bì, bên trong không phải  bài thơ mà tờ... năm chục. Mấy năm nay anh vào một tỉnh phía Nam làm báo địa phương. Anh khoe đã chuyển sang  văn xuôi, đặc biệt truyện các vụ án và tiểu thuyết đề tài tiêu cực. Lúc này tôi đã ra trường, đã xin được chân biên tập viên  ở một Nhà xuất bản mà ông giám đốc nói rằng ở đây chỉ toàn …in sách hay, đã “khôn lớn” hơn  hồi còn sinh viên cãi nhau với anh, bởi vậy vài tháng sau ngày cưới, Biên Cương tìm gặp tôi ở cơ quan, tôi nói năng đã biết cách giữ gìn tới mức anh phải kêu lên:
      - Sao bây giờ Vân khác ghê thế?
      - Già đi nhiều hả?
      - Không phải, trẻ hơn xưa nữa kia, có điều nói năng như một... biên tập viên vậy. Anh có định gửi bản thảo cho em đâu.
      Tôi cảm thấy mặt mình đỏ bừng, đưa mắt nhìn quanh căn phòng cho đỡ lúng túng. Không, tôi không coi anh như một cộng tác viên, nhà văn cỡ “cây bút trẻ” như anh chưa tới lượt đến đây. Để được đóng dấu ấn của Nhà xuất bản này, ít ra anh phải nổi tiếng tới mức người ta sẵn sàng... kết nạp anh vào Hội nhà văn. Ôi ! “đường xa nghĩ nỗi này mà kinh”, chắc anh thừa hiểu điều đó chứ?
      - Vân đọc sách anh tặng hôm anh mới ra chưa?
      Đôi mắt của anh khiến tôi không dám trả lời rằng “chưa” cho dù tôi chỉ mới lướt qua vài trang đầu và bây giờ đến cái tên sách tôi có moi óc cũng chẳng nhớ nổi.
      - Lấy chồng xong chắc em bận lắm hả?
      - Không, bận gì đâu, sách của anh em đọc rồi. Nói chung... anh viết được, hơn hẳn ngày trước...
      - Ngày trước là ngày nào? Đây là cuốn tiểu thuyết đầu tay của anh mà...
      - À... em định nói hồi anh còn làm thơ ở ngoài này ấy?
      Anh cười nhếch miệng:
      - Thôi, anh hiểu rồi. Bây giờ em chỉ đọc các nhà văn lớn thôi, tép riu như anh là cái gì?
      “Con ma” trong tôi ngày trước không còn sẵn sàng nhảy xổ ra nữa và “con quỷ” trong anh có lẽ cũng thế. Chúng tôi chia tay hẹn viết thư và gặp lại cho có lệ, quay trở lại bàn với chồng bản thảo cộng tác viên, tôi thấy nhẹ người.
Mở quạt thật mạnh xua cho hết oi bức buổi chiều hè và cả ám ảnh nặng nề cuộc chuyện vừa nãy, tôi cố tập trung vào những dòng chữ bò dài trên trang giấy.
 “Đêm hôm đó, chị nằm né đầu xa ra khỏi anh và thấy hối đã không nấu mớ bồ kết vẫn gác trên bếp để gội mớ tóc hẳn giờ đã sặc mùi phân lợn...”.
Tôi vớ bút gạch chéo ngoài lề trang giấy. Cái chị chủ nhiệm hợp tác xã này, mải mê công việc tới mức quên cả tắm gội khi chồng công tác xa về phép đột xuất. Chao ôi, viết thế này là ca ngợi hay hạ thấp con người?
Tôi mang chồng bản thảo sang phòng ông Trưởng phòng biên tập. Ông nghe tôi hăng hái trình bày, ngước lên đôi kính dày và cái nhìn đờ đẫn như đang buồn ngủ. Khi lật tên sách và tên tác giả, ông tỉnh hẳn ra, la lên :
 “Ấy chớ, chớ có động vào ông này. Cắt của ông dòng nào ông ấy làm ầm lên thì chết. Tốt nhất cô cứ đọc coi có chỗ nào sai lỗi chính tả hoặc thiếu chấm, phẩy thôi”.
 Tôi thở hắt ra:
“Thưa chú, vậy sao gọi là biên tập ? “
Ông Trưởng phòng nhìn tôi như thể xem tôi có ốm đau gì không? Ông vốn là nhà văn rất nổi tiếng từ thời chống Pháp với cả chục cuốn sách và từ khi ngồi ghế trường phổ thông, tôi đã phải học văn của ông rồi, làm sao tôi cãi nổi, nhất ông lại là thủ trưởng.
Tuy nhiên, trước lúc rút lui, tôi cũng yếu ớt nèo được một câu, thưa chú, cháu thấy nó … giả giả thế nào ấy. Ông Trưởng phòng bật cười, hình như ông khoái nhận xét của tôi về đồng nghiệp của ông.
Tiếp xúc nhiều với các bậc cha chú trong làng văn, tôi không lạ gì mấy ông, rất dễ bộc lộ khi nói về các tác phẩm nhất là của chính mình. Bởi vậy ông Trưởng phòng bỗng dưng trở nên vui vẻ và cởi mở. Ông khoe với tôi vừa viết xong chương mở đầu bộ tiểu thuyết trường thiên về thời thanh niên sôi nổi , qua đó ông muốn dựng lại mấy giai đoạn cách mạng từ thời  phong kiến thực dân, chống Pháp, chống Mỹ, chống Trung Quốc cho tới tận bây giờ. Ông hứa sẽ trao cho tôi cái vinh dự được biên tập cuốn tiểu thuyết tương lai đó một khi nó được viết xong.
“Thưa chú, vậy chắc cháu cũng lại sẽ chỉ đọc coi có chỗ nào phạm lỗi chính tả hoặc giả chỗ nào thiếu dấu chấm phảy thôi, kiểu như với tập này này. “
Tôi đập tay lên chồng bản thảo của nhà văn mà ông Trưởng phòng vừa mới bàn tới một cách rất sôi nổi và hào hứng.
“Ồ không, với chú thì cháu cứ phát biểu thẳng thắn, chú rất thích được nghe ý kiến mọi người. “
“Dạ vâng, nếu chú thích, cháu rất sẵn sàng. Nhưng cái chính là... chú phải viết xong đi đã….”
 Tôi biết, khi hăng lên ông hẹn phứa vậy thôi, chứ thực ra  ông sẽ viết vào cái lúc nào? Ôi, lẽ ra tôi không nên về cái Nhà xuất bản này để giữ được lòng ái mộ mấy ông kể từ ngày còn cắp sách tới trường đã mê đọc truyện.
      Tôi trở lại phòng , bàn làm việc của mấy ông biên tập đã vắng hết. Còn quá sớm đảo ra chợ mua thức ăn nấu cơm cho chồng và cũng đã muộn ghé qua thư viện mượn đọc cuốn truyện dịch mới ra, nghe đồn rất hay. Tôi biết  làm gì tiêu đi cả tiếng đồng hồ thừa thãi này? Tôi không thể “tiêu” nó như những người khác trong cơ quan: chuyện phiếm, dịch tài liệu kiếm ngoài, la cà mậu dịch tìm hàng giá rẻ... Tôi cứ ngồi thừ ở bàn cố cưỡng trạng thái ngưng đọng của suy nghĩ đang có chiều hướng làm tôi gục đầu lên bàn, mắt nhắm lại.
Vậy nhưng tôi chẳng buồn ngủ tí nào, bên tai rõ mồn một tiếng quát tháo từ phòng Giám đốc vẳng tới. Khiếp, gần bạc hết cả đầu, các vị  còn cãi cọ, tranh cãi cuốn này in trước, cuốn kia in sau đến là ghê. Ước gì giá trị tác phẩm văn học là thứ có thể cho vào máy cân đo được, chắc hẳn Ban giám đốc sẽ bớt họp hành.
Tôi ngồi tưởng tượng ra một cái cân thật lớn, nó sẽ cân không phải trọng lượng của cuốn sách mà là chất lượng của nó, ông nhà văn nào mang bản thảo tới xin cứ mời đặt lên đĩa, cuốn nào nặng ký in ngay, nhẹ quá xin cầm về, đỡ kiện cáo lôi thôi.
Liệu con người có thể phát minh ra cái máy cân như thế không ? Rất có thể lắm chứ, này nhé, vốn từ, cú pháp, nhân vật, cốt truyện, vấn đề... cứ phân loại hết ra mà đưa vào máy tính điện tử, chỉ tiếc tôi không phải là một nhà toán học.
      - Đọc cái gì mà cười một mình thế ?
      Tôi giật mình, nhìn lên, chồng tôi đã lù lù trước mặt. Khi chưa lấy nhau, anh rất ít đến phòng tôi làm việc , thường gọi điện và tôi sẽ lẻn ra quán nước đầu phố đợi anh. Những hôm trời rét, trong tay có chén chè nóng bốc khói , trên đầu lưỡi có vị ngọt kẹo bạc hà, bên cạnh là anh chồng tương lai luôn luôn nhìn mình đăm đăm với ánh mắt tình tứ. Ôi, thử hỏi có niềm vui nào cao hơn thế , bởi vậy suốt một thời gian dài ngồi ngẩn ngơ trước bàn làm việc, tai tôi cứ ngong ngóng chờ tiếng chuông điện thoại anh gọi tới.
Bây giờ, cái thú đó không còn nữa, đi qua đấy, cả tôi lẫn anh không ai còn nảy ra ý định ghé uống chén chè, nhấm nháp thanh kẹo lạc, riêng bữa nay, anh còn giục tôi về mau kẻo con cá chép anh vừa mua được ở cơ quan không làm ngay sợ  ươn mất.
 Trên đường anh phác ra cả một chương trình: đầu cá nấu dấm với dọc mùng và thìa là, khúc giữa rán lên cho anh nhấm rượu, còn cái đuôi ắt hẳn là phải kho với nước hàng .
 Tôi cũng rất bằng lòng như vậy, chỉ còn phân vân một điều là canh dấm cá phải có mẻ mới ngon. Nhưng bây giờ kiếm đâu ra cái thứ cơm nguội  lên men, chua chua đó ? Tôi thở dài và dường như nỗi buồn vì thiếu mẻ lan sang cả anh làm anh cũng thở dài luôn. Tôi thoáng nhớ tới một tựa sách của Hairich Bơn * và kêu lên khe khẽ : “Mẻ ơi, mày ở đâu”.

                         (còn tiếp)

* Nhà văn Đức, tác giả tiểu thuyết “Adam, người ở đâu?”


Thứ Năm, 2 tháng 2, 2012

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN (KỲ 12)

   NHÀ THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM


      
Vào những ngày Đại hội nhà văn VN lần thứ 7, tháng 4 năm 2005 tại Hà Nội, trong các cuộc nhậu có nhà thơ , nhà văn Trần Ninh Hồ, Nguyễn Hồ, Trần Công Tấn, Mường Mán…thường “buôn chuyện” về nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm khi đó đang là Trưởng ban tư tưởng văn hóa trung ương.
Chuyện “buôn” rằng đồng chí Nguyễn Khoa Điềm thông minh dĩnh ngộ từ nhỏ. Hồi năm 7 tuổi, trong bếp có “trách” * cá nục kho. Bé Điềm thèm quá, đành ăn vụng, sau sợ bị mắng nên rắc vài mẩu cá từ chỗ để cái “trách” tới gầm trạn để vu cho…con mèo ăn vụng cá. Dựng “ hiện trường giả” từ tuổi nhi đồng vậy, quả nhiên sau này làm nên nghiệp lớn.
Chuyện “buôn rằng” hồi chiến tranh chống Mỹ ở trên rẫy A Sầu, A Lưới mọi thứ đều thiếu thốn, cán bộ đói lắm , nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm thường cùng nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đốt rẫy bắt con “rít” ( rết) nướng ăn , ngon không thua gì ..tôm nướng. Một hôm hai đồng chí phát hiện ra cái…hang chuột. Eureka…một bữa chuột nướng tuyệt vời . Thế là nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tương quạt lửa hun khói một đầu hang, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm lăm lăm cầm con rựa ( dao) đứng chờ cuối hang, chuột chạy ra là…chém.  Hai nhà bác cứ chờ, chờ mãi chẳng thấy con chuột nào chạy ra. Sau cùng một ông già Vân Kiều đi qua vỗ vai Nguyễn Khoa Điềm :
“ Họ đi rồi…họ còn ở đó thì không tìm được nhà của “họ” đâu…”
Ý cụ muốn nói chuột đã chạy rồi, nếu còn ở đó thì không phát hiện được ra hang của nó đâu. Chuyện này có lẽ ám vào đồng chí Nguyễn Khoa Điềm khiến suốt cả thời kỳ giữ chức Trưởng ban văn hóa tư tưởng đồng chí chẳng chém được con “chuột” nào, chúng nó lẩn hết đâu mất.
Thời nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm làm trùm tư tưởng văn hóa, không khí sáng tác không được “hồ hởi, phấn khởi” lắm, khiến ngay trong Đại Hội Nhà Văn Việt Nam lần thứ VII , tại Hội Trường Ba Đình - Hà Nội chiều ngày 23-4-2005, nhà thơ Trần Mạnh Hảo  nhảy lên diễn đàn than thở :
“ Vâng, tự do sáng tác là khi ngồi trước trang giấy, nhà nghệ sĩ là Chúa Trời sáng thế. Anh tuyệt nhiên không được phép để một ám ảnh sợ hãi nào quấy nhiễu mình. Ví như anh còn phải day dứt viết thế này, viết thế nọ mới được duyệt in; rằng đang có bao nhiêu đôi mắt soi mói vô hình kiểm duyệt anh từ xa ví như viết xong một câu văn là cứ phải mắc bệnh tương tư, nhớ đến anh Khổng Minh Dụ ( thiếu tướng công an- Cục trưởng Cục Bảo vệ tư tưởng văn hoá ( A 25 Bộ Công An),  Đỗ Kim Cuông ( Vụ trưởng Vụ Văn Nghệ Ban tư tưởng văn hoá Trung Ương), Trịnh Đình Khôi ( chuyên viên cao cấp Ban Tư tưởng Văn Hoá Trung Ương phụ trách theo dõi Hội Nhà Văn VN), Nguyễn Đình Nhã ( Cục trưởng Cục xuất bản – Bộ Văn hoá Thông tin),  Vũ Duy Thông ( Cục trưởng Cục báo chí Ban Tư Tưởng Văn hoá Trung Ương) , nhớ mấy anh canh cửa phê bình, nhớ anh giám đốc duyệt bài, anh biên tập viên cầm hai tay hai cái kéo, nhớ anh duyệt lưu chiểu hồi này với máy dò câu chữ nghe đồn còn kỹ hơn máy dò hành lý hải quan; thì than ôi, bằng ấy cơ chế kiểm duyệt đè nặng lên tâm lý sáng tạo của anh, nên “vừa viết vừa run” như thế; nghĩa là anh vừa viết vừa tự thiến đứa con tinh thầm của mình,  cho khi ra đời nó không được có cơ hội cuồng lên vì phát dục, xóa hết bản năng sinh tồn bùng sôi của nó đi, đẽo gọt chân nó sao cho vừa với đôi giày “chính trị” đi, thì nhà văn ơi, tự do sáng tác ơi, ta chào mi, vì mi quá nhiêu khê, quá rách việc, quá nhiều cơ quan và nhiều cá nhân quyết định việc sống còn của ngòi bút mi theo kiểu nhiều cha con khó lấy chồng. Quá nhiều người gác cửa, có thể bất cứ lúc nào vui thì cho anh qua, buồn thì giữ anh lại khám xét, lục vấn, xử lý cấm cản tuỳ tiện vô nguyên tắc như từng thô bạo xử lý bao nhiêu nhà văn, bao nhiêu tác phẩm chết oan vì vừa ra đời đã bị bóp mũi.”
Một tổng kết về “tự do sáng tác” như vậy hẳn rát mặt ngài trưởng ban tư tưởng văn hóa. Vào khoảng  năm 1994 , tôi cùng ông anh ruột sống ở Sàigòn trước 1975 nay định cư ở Mỹ, nhà văn Nhật Tiến “hưởng ứng chủ trương hòa giải hòa hợp hợp dân tộc” ra chung tập truyện ngắn “Quê nhà, quê người” – Nhật Tiến viết phần “Quê người”, tôi viết “Quê nhà”. Bản thảo gửi NXB Văn Học, trầy trật mãi không xin được giấy phép. Nghe nói có ông lãnh đạo chửi “ Mẹ nó, thằng Việt kiều ( ý nói Nhật Tiến) thì viết y như Việt cộng, còn thằng Việt cộng ( ám chỉ tôi) thì lại viết như…Việt kiều (!)". Cuốn sách tưởng bế tắc, không xuất bản được. Sau  nghe nói đồng chí Nguyễn Khoa Điềm có ý kiến sao đó, cuốn sách lại có giấy phép tuy nhiên kèm theo yêu cầu là sách được xuất bản nhưng cấm không được tuyên truyền trên các báo. Báo hại phóng viên một số tờ báo sửa soạn phỏng vấn nhà văn Nhật Tiến đều phải rụt lại hết.
Thế rồi sang năm 2000, khi Nguyễn Khoa Điềm trúng cử Ủy viên Bộ chính trị , Trưởng ban tư tưởng văn hóa thì liền sau đó cuốn “Chuyện kể năm 2000” của Bùi Ngọc Tấn bị cấm, phải xay thành giấy vụn.
Cùng lúc với “Chuyện kể năm 2000” của Bùi Ngọc Tấn, một cuốn sách khác cũng bị dìm chết tức tưởi khi mới xuất xưởng in mà dư luận dường như không hề biết tới : cuốn “Những người con của đất” – NXB Văn học của Đỗ Bàn.

  
Cuốn sách viết về thời kỳ đổi mới những năm tám chín mươi ở một  tỉnh miền núi nghèo đói. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN  đã gây nên tình trạng đấu đá tranh giành quyền lực trong Đảng. Ông Duy đại diện cho phái tân tiến, có học, cần phải đổi mới gấp, chịu làm, năng động muốn phá vỡ cơ chế hiện tại. Ông Bí thư Tỉnh phái ôn hoà, làm hay không làm cũng chưa chết ai, cứ đợi đấy. Ông Trịnh Giám đốc công an Tỉnh ở phái bảo thủ cơ hội, chờ thời tiêu diệt những người coi thường mình.
“Tao vô học nhưng tao phải là tao, chúng mày thích “tự cởi trói cho mình trước khi trời trói”, thì hãy đợi đấy !
Một xã hội lùng nhùng, một nền kinh tế lùng nhùng, chỉ có thằng nói không có thằng dám làm ? Nghị quyết, chỉ thị, nghị định, quy chế… chỉ là những văn bản cho bọn cơ hội bóp chết người trung thực dám làm và dám chịu trách nhiệm. Văn bản chỉ thị của Tỉnh  thay đổi xoành xoạch : bắt dân phá rau, hoa, chè, cà phê trồng khoai lang, cao lương… khi thất bại đành  bán rừng đổi gạo cứu đói  và một loạt sai phạm đó lại dội vào đầu những  người thực hiện.
Trong một thời gian ngắn, Giám đốc công an Trịnh đã bắt ngót trăm  giám đốc của các đơn vị kinh tế trong tỉnh, từ ngành chè, cà phê, lâm nghiệp, thương nghiệp…có người đáng bậc cha chú, đàn anh của mình, có người đồng chí trong những  ngày Trịnh truy quét Fulrô… bắt và bắt làm cho cả tỉnh rúm ró lại. Những người như ông Duy chỉ còn biết thở dài ngao ngán, còn ông bí thư thì như bù nhìn “rằm cũng ừ mười tư cũng gật”. Một xã hội  công an trị đến ngộp thở, bị bưng bít tới cùng đường thì còn gì là cuộc sống.
          “Những người con của đất “ là tiếng nói cảnh tỉnh của những con người trung thực thẳng thắn, sống hết mình vì nhân dân, đã bị  hào quang của đảng qua những kẻ dối trá làm mờ mắt mà hy sinh tính mạng  một cách vô ích. Nhưng đất vẫn là đất, ai cũng phải sống rồi chết trên mảnh đất này, những kẻ độc ác, cơ hội, tham lam rồi sẽ bị đất huỷ hoại  không thương tiếc.
          Khi cuốn sách được phát hành cùng thời với cuốn “ Chuyện kể năm 2000” của nhà văn Bùi Ngọc Tấn,Giám đốc Trịnh đã tìm mọi cách cấm phát hành, làm việc với các ngành pháp luật của tỉnh để truy tố người viết… Lúc đó tôi là Trưởng Chi nhánh phía Nam Nhà xuất bản Văn Học, đành phải im lặng tiến hành thủ tục “thu hồi sách”. Sách bị giam cầm, người viết như tù giam lỏng trong thời ông Nguyễn Khoa Điềm ngồi chót vót trong ngành văn hóa tư tưởng.

( còn tiếp)

* trách : một loại niêu đất .

VỀ MỘT THỜI...HÀ NỘI (3)

                                       

                                                            2.

      Thức giấc trong đêm đầu tiên làm vợ, tôi bỗng xấu hổ, hoảng hốt mặc nhanh quần áo và nhảy xuống giường. Chưa quen thế, tôi vội quay mặt đi, không dám nhìn anh đang ngáy say sưa, len lén bước ra ngoài ban công như con ăn trộm. Trời tối và thấp làm những tàng cây cao hai bên hè đường  chìm khuất trong bóng đêm trên thành phố. Tôi chẳng còn biết đặt con mắt vào đâu ngoài con đường vắng chạy hun hút qua hai dãy nhà đang ngủ im trong làn sương mờ.
Nỗi buồn vĩnh biệt thời con gái làm ứa ra những giọt nước mắt tủi hờn. Than ôi, tôi đã thành một người đàn bà, cái mốc phân cách rất rõ ràng ấy chỉ diễn ra trong khoảnh khắc vậy mà đã trở thành lằn ranh vĩnh viễn  không trở lui được nữa. Hệt như một người đã sang sông, cây cầu đã gãy gục, mọi hoa trái thời con gái đã nằm lại bờ bên kia, tôi vẫn còn ngẩn ngơ chưa muốn bước tiếp vào miền đất lạ của đời sống vợ chồng mà người đời vẫn cho rằng  quả ngọt cũng nhiều và gai góc cũng lắm.
Tôi bỗng nhớ căn buồng nhỏ của tôi ở đằng nhà mẹ, thế giới riêng bất khả xâm phạm, ở đó mọi thứ đã chung sống với tôi từ thời mới lớn, cái tủ con đặt đủ thứ vặt vãnh, con búp bê ngồi trên bàn viết, cái kệ sách chứa từ A đến Z những cuốn tôi gom góp được suốt từ hồi tôi còn làm kế hoạch nhỏ trong Đội thiếu nhi. Mấy ngày trước khi cưới, tôi khăng khăng không cho đứa em dọn lên ở và chẳng hiểu sao lại bật ra một câu làm kinh ngạc cả nhà: “Chị sẽ còn quay lại”. Lúc đó mẹ tôi cười, mắng yêu con gái gở miệng, chưa kịp về nhà chồng đã tính chuyện bỏ đi. Lập tức tôi nổ ra một cơn giận rất vô lý, bỏ vào buồng nằm, đóng chặt cửa, đến bữa nhất định không chịu chường mặt ra ăn cơm với cả nhà. Than ôi, bây giờ những cái đó đã qua đi hết, trong căn nhà mới này từ nay tôi phải bắt đầu một đời sống khác, một tư cách khác.
      Anh đã thức giấc, gọi tôi với giọng hoảng hốt. Từ từ, đừng có dục nhắng lên thế, rồi tôi sẽ quay trở vào, anh sẽ lại vạch sâu thêm cái lằn phân cách kia, xóa bỏ một cách hả hê mọi dấu vết thời con gái còn sót lại...
      “Em làm sao thế?”
      “Không, chẳng sao cả”.
     “Anh biết rồi, lạ nhà không ngủ được phải không?”
      Tôi đẩy bật anh ra:
      “Em hỏi thực nhé, phải anh đọc được ý nghĩ của em không?”
      Anh cười bí mật:
      “Vậy càng tốt chứ sao? Vợ chồng càng dễ hiểu nhau”
      “Hiểu nhau kiểu đó, em bỏ anh liền”.
      “Đùa đấy, anh đùa đấy, làm gì có chuyện đó”.
      Tôi yên tâm và lại để anh lôi tuột vào cuộc triệt phá đời con gái  trong giấc ngủ  đứt đoạn và mối nghi hoặc khiến tôi cố xóa trắng đi mọi ý nghĩ để gần gũi anh có thể đoán chúng. Sáng hôm sau, anh hỏi giọng buồn buồn:
      - Em có điều gì không bằng lòng phải không?
      - Sao anh hỏi vậy?
      - Em cứ lành lạnh làm sao ấy.
      - Vậy anh muốn em phải thế nào?
      Anh nhún vai quay đi không trả lời. Tôi cũng im luôn, không, trong chuyện này tôi chẳng có lỗi gì hết, cho nó qua luôn, chẳng hơi đâu phanh phui mệt xác.
Hôm sau anh đưa tôi trở về ăn “nhị hỉ”. Để anh ngồi trong phòng khách trò chuyện với cả nhà, tôi tót lên gác mở khóa bước vào phòng của tôi. Con búp bê trên bàn viết vẫn chìa ra đôi tay như mọi ngày, đám sách trên giá vẫn phô ra những chiếc gáy quen thuộc, tôi nằm lăn trên giường cá nhân dang chân dang tay sung sướng như người đi xa mới trở về.
 Bây giờ tha hồ nghĩ lung tung đủ mọi chuyện khỏi lo ông chồng đọc được ý nghĩ. Trước hết phải kiến nghị với bà bô dứt khoát giữ lại căn buồng để thỉnh thoảng giận nhau với chồng còn có chỗ lẻn về và biết đâu, phải biết đâu mai kia nhỡ ra cơm chẳng lành canh chẳng ngọt, sống không nổi với nhau, khỏi phải phiền anh ngăn đôi căn buồng như khối cặp vợ chồng bỏ nhau nhan nhản quanh tôi. Khỉ thật, mới lấy chồng chưa được một ngày đã nghĩ tới chuyện chia tay, tôi cười thầm mình lẩm cẩm và rồi lại thấy buồn nhói lên, biết đâu cái số tôi chẳng vậy và linh cảm điều  đó đã sớm đến với tôi.
Tôi ngồi nhỏm dậy mở ngăn kéo rút cuốn nhật ký ghi lại những ý nghĩ này mai kia... nghiệm coi có đúng không? Trong cuốn sổ  dày cộp của tôi có ghi tới dăm trường hợp “linh nghiệm” như thế. Chẳng hạn như với Biên Cương, nhà thơ trẻ, tôi gặp hồi còn năm thứ ba. Nhớ lại tình yêu không thành đó, tôi phải cảm ơn anh về những điều tôi học được ở anh vào cái tuổi “con nai vàng ngơ ngác” thủa ấy.
Anh đã tặng tôi nhiều thứ, một quả thông khô trong chuyến anh đi thực tế Đà Lạt, một chiếc lá be bé nhặt được ở thôn Nấm Lư vào một chiều nỗi nhớ tôi làm anh phát cuồng và tất nhiên là cả những bài thơ viết cho tôi anh đọc vào những buổi tối hai đứa ngồi bên đê sông Hồng ngắm trăng treo trên dòng nước ngầu đục phù sa.
Tôi hòa hợp được với anh mọi thứ, riêng mỗi một điều : Tôi không chịu xếp thứ hai sau Nàng Thơ của anh, và anh cũng chẳng chịu chiều tôi dẹp nàng ta lại, tạm dời những vần thơ lai láng để đưa tôi đi đâu đó.
Có lần, vào buổi học lý luận “xưa như trái đất”, tôi bỏ lớp nhảy tàu về với anh. Chao ôi, tôi muốn té xỉu, giận muốn điên lên khi trước cửa buồng đóng im ỉm có treo một cái bảng “miễn gõ cửa - bất kỳ ai”.
Tôi biết anh đang lên cơn sốt ngôn từ, đang bị “chữ nghĩa nó sai khiến”, đang như con chiên quì trước thánh đường thơ ca, tôi thừa biết trạng thái tâm hồn anh lúc đó, nhưng nỗi tự ái khiến tôi bất chấp cứ gõ như phát cuồng lên cánh cửa. Trong buồng có tiếng đấm mạnh xuống bàn, tiếng kéo ghế và cái đầu bù xù của anh ló ra.
Bỗng dưng trong tôi tiêu tan hết - “tính cách điển hình của nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình, biết rồi, khổ lắm dạy mãi, ôi thôi xin chào thày em lặn...” đoàn tàu điện  trông xa  như một con sâu  khổng lồ  màu đỏ,  gió lộng lên se se lạnh từ những cánh đồng mênh mông gốc rạ đánh vào hai bên tai lùng bùng, “bắt lấy nó, bắt lấy nó”, tiếng con nhỏ bạn hét lên bên cổng trường ngổn ngang những mẹt ngô nướng, bánh rán, bánh giò, tôi cắm đầu chạy  như tên kẻ trộm bị đuổi bắt trong phim trinh thám, “đưa tay đây, đưa tay đây”, anh chàng bán vé tàu điện nhe ra chiếc răng vàng gọi rối rít, hấp, tôi nắm lấy cái tay vịn nhảy lên tàu và vẫn thấy mặt đường vẫn trôi vùn vụt dưới chân.
“Lần sau đừng có liều mạng thế, về bờ Hồ hay chợ Mơ đây, cô em?” về - với - anh, về - với - anh, tiếng lịch kịch của đoàn tàu chạy trên đường ray reo lên trong tôi bao nhiêu là vui vẻ, bồn chồn, náo nức những chuyện dự định kể với anh cho bõ vất vả, hiểm nguy lúc nãy.
Bỗng dưng tất cả những thứ đó tiêu tan hết khi anh sẵng giọng hỏi “Chuyện - gì - thế?”. Không, chẳng có chuyện gì cả, chiều nay được nghỉ, tiện thể ghé anh thôi. Em định kiểm tra đột xuất phải không? Xin lỗi anh, suy diễn nhỏ nhen thế mà cũng đòi bay bổng chín tầng mây tìm vần thơ...
Lúc đó, mặt anh nhăn lại, vẻ mặt đầy khó chịu và kinh tởm cái đứa con gái chanh chua đang đập phá thế giới mộng mơ thơ mộng anh đang thả hồn trong đó.
Không đếm xỉa tới chuyện đó, tôi cứ mặc kệ cho nỗi bực bội, tức tối ào ào tuôn ra trong những lời lẽ chính tôi cũng cảm thấy vô lý cho tới lúc cánh cửa buồng anh đóng sập lại trước mặt tôi. Ê chề, nhục nhã, giận giữ, tởm cả chính mình... ngần ấy thứ cảm xúc bùng ra trong tôi nỗi kinh hoàng của đổ vỡ khiến tôi đứng đực trước cánh cửa đóng kín, tròn xoe mắt, kinh ngạc chẳng hiểu tại sao bỗng dưng  rơi vào thảm trạng thế này.
Tôi cứ khư khư ôm cặp sách, thất thểu đi dọc phố, lần ra mãi tận  hồ Hoàn Kiếm  từ  lúc  nào chả biết.  Cầu Thê Húc,  đền  Ngọc Sơn và... tháp Rùa. Cả trăm cả ngàn lần những hình ảnh quen thuộc đó lướt qua mắt tôi, chỉ tới bây giờ, nỗi buồn bơ vơ đẩy bật tôi ra khỏi cái hàng ngày bận rộn, còn lại một mình trên chiếc ghế đá lạnh, tôi mới ngắm nhìn cái tháp cổ kính, thán phục vẻ đẹp vĩnh cửu của nó.
Chiều xuống rất nhanh, màu xanh của nước hồ đã nhuộm biếc, những ngọn đèn rực rỡ ở nhà Thủy Tạ phía bên kia đã hắt xuống  mặt hồ một vùng sáng. Chuông nhà thờ lớn ngân nga lạc lõng trong mớ âm thanh hỗn độn của tiếng còi ô tô, tiếng nổ xe máy và tiếng tàu điện cập keng trôi trên phố.
Hết một ngày rồi đó, tôi đã bỏ ba tiết “lý luận văn học”, nổ ra một trận to tiếng với Biên Cương mà linh cảm báo hiệu một cuộc chia tay để rồi ngồi như một con ngớ ngẩn trên ghế đá bờ Hồ suốt cả một buổi chiều trống rỗng.
Vậy nhưng tất cả những trục trặc ngoài dự định đó lại giúp tôi khoảnh khắc tách mình khỏi vòng quay hàng ngày, ngẫm nghĩ đôi chút về mình với cái nhìn quan sát. Tại sao tôi cứ thích vặn vẹo thầy giáo về những điều tôi biết thừa thầy sẽ giải thích bằng ngụy biện. Thưa thầy tại sao thơ tình của Xuân Diệu ngày trước lại hay hơn bây giờ? Thầy giảng  là thành tựu văn xuôi của ta rất lớn nhưng tại sao chưa thấy xuất hiện những điển hình sinh động như Xuân Tóc đỏ, Chí Phèo. chị Dậu? Tại sao tôi không chọn Puskin mà lại chọn Lamartine để viết chuyên đề gây rắc rối cho cả tôi lẫn cho thầy? Không biết ức chế sở thích để hùa theo trào lưu chung chẳng lẽ tôi ngu hơn “tụi bạn” chăng? Chẳng cần đợi đến Biên Cương khuyên nhủ, tôi cũng thừa biết cái mục tiêu cao hơn hết trong mấy năm ngồi ghế nhà trường là cái mảnh bằng. Khổ một nỗi trong tôi dường như có “con ma” nào đó, cứ nhảy bổ ra bẻ queo cả hành động chẳng đúng như cái đầu dự định.

                          (còn tiếp)