Tổng số lượt xem trang

Chủ Nhật, 22 tháng 1, 2012

TẾT Ở NHÀ ÔNG CHỦ TỊCH HUYỆN

                                    

  “ Chào anh Hai ạ…í chết mẹ, tết nhất tới nơi rồi anh Hai còn lặn lội cơ sở nào mà quần áo, mặt mày lấm lem vậy cà ?”
Ong Chủ tịch huyện Hai Đô vừa nhảy xuống từ chiếc xe Ford  mới cáu cạnh, bụi đất đỏ bám đầy nhận ra Lề Phải  đứng chờ trước cổng tư gia, trợn mắt :
“ Lại tưởng thằng dân oan nào đứng chờ đưa đơn khiếu nại chớ ? Hoá ra thằng Lề Phải , vào đi, vào đi, hên cho mày, tao vừa bắn được con heo rừng…vào đi…”
Chiếc cổng sắt nặng nề, cao nghệu trên uốn hai con rồng chầu được động cơ điện kéo ra hai bên làm Lề Phải  trố cả mắt :
“ Í trời ơi, cổng nhà anh Hai còn hiện đại hơn cả dinh Độc Lập…”
“ Chuyện nhỏ…sao lâu không thấy mặt mày cứ tưởng ăn đạn hoa cải của dân oan bị cưỡng chế giải tỏa rồi...”
“ Í chết...em là nhà báo đâu có thù oán gì với dân oan đâu ?”
Ông Hai Đô cười hềnh hệch :
“ Nhà báo nói láo ăn tiền...cứ lớn  miệng bênh mấy thằng cướp đất sẽ có ngày dân oan nó vả vào miệng...”
Ông Hai Đô nói xong  chẳng cần nghe Lề Phải  trả lời móc ngay “a lô cầm tay” quát vào đó một tràng tưởng vỡ tan con dế Nokia nhỏ xíu. Chị Hai chạy ra – một người đàn bà ngót nghét 1 tạ, thoạt nhìn cứ tưởng má mì trong quán karaoke Sàigòn, hoá ra là phu nhân Chủ tịch huyện :
“ Thằng Tám Minh bên công an mới đem cho chai  “Uýt” ông khỏi kêu tụi nó mang tới…”
Ong Hai Đô tháo cái đồng hồ Rolex đưa cho vợ cất, thấy Lề Phải  cứ nhìn đăm đăm , ông cười lớn :
“ Mày chưa thấy bao giờ phải không ? Mười lăm ngàn đô la đấy, tao mua trong lúc quá cảnh ở sân bay gì bên Thuỵ Sĩ đó …”
Vào tới phòng khách, chị Hai đang mở cải lương trên chiếc màn hình LCD 100 inches theo anh Hai nó trị giá… 30 ngàn USD :
“ Tao móc tiền túi ra mua hết, đ…thèm nhận biếu của thằng nào hết…”
Lề Phải  nổi máu tò mò :
“ Tiền đâu ra mà lắm vậy ? Lương Chủ tịch huyện thì có bao nhiêu ?”
“ Lương bổng là cái…đ…gì, không đủ tiền đổ xăng cho chị Hai mày đi chợ ?”
Nhìn vẻ mặt ngẩn ra như ngỗng ỉa  của Lề Phải , ông Chủ tịch huyện phá ra cười :
“ Mày yên trí đi, tao đ…thèm tham ô, tham nhũng của Nhà nước lấy một cắc.. Em út trong huyện cho cây thuốc, chai rượu thì được, còn mang phong bì tới là tao…đuổi…”
“ Thế còn các nhà đầu tư nước ngoài, vào được  điạ bàn huyện của anh Hai chắc cũng phải lót tay không nhiều thì ít chớ ?”
Anh Hai Đô trợn mắt :
“ Ngu gì tao ăn của ba thằng đó. Cứ mở toang cho nó nó vào thoải mái, không sách nhiễu gì hết, thậm chí còn dắt tay nó vào kìa, cứ nộp đơn sau ba ngày là có giấy phép . Đợi cho nó ăn cho thiệt mập ra, tới lúc đó  mình mới tính chuyện làm thịt nó…”
“ Nó ăn gì mà mau mập vậy anh Hai ?”
“ An sức lao động dân ta chứ ăn gì nữa. Mày coi trên thế gian này có nơi nào lao động kỹ thuật lương có 3 USD/ngày không ? Rồi thì nó quỵt tiền bảo hiểm, trốn thuế bằng hai hệ thống sổ sách, chuyển ngân lậu thoải mái ra nước ngoài…”
Lề Phải  la lên :
“ í trời ơi…ông là nhà cầm quyền, ông có biết chuyện đó không ?”
“ Biết chớ sao không ? Biết hết nhưng thà bói rẻ còn hơn ngồi ngáp, không cho nó vào thì thất nghiệp cả làng chính quyền nào lo được ?”
Rồi ông Chủ tịch huyện cười hà hà :
“ Mày đã đi thăm vườn trái Lái Thiêu chưa ? Tụi nó dùng thuyền đưa khách vào vườn với giá rất rẻ, vé đi ra đi vô có 4 ngàn thôi, chưa đủ  tiền xăng nhớt. Nhưng bù lại khi vào tới vườn rồi tụi nó mới “chém” . Một ghế bố hai người ngồi 150 ngàn, một đĩa dưa hấu  50 ngàn, sầu riêng 300 ngàn …lúc thanh toán tiền nhiều anh chị muốn té xỉu…Đó, tụi nó học “mánh” của Nhà nước đó, các nhà đầu tư, xin mời vào thoải mái, tiền thuê đất, phí thủ tục…rẻ rề, làm ăn được vài năm lời bộn bạc rồi mới biết nhau, tao bóp cho lòi…đô la ra tưởng dễ ăn được người Việt Nam hả ?”
Lề Phải  cười cười :
“ Quan niệm như ông thì nước ta có mà đến …mùa quýt cũng chẳng hóa Rồng...”
”Rồng là cái con củ gì ? Tao chỉ cần rắn thơi. Rắn hổ mang, rắn hổ hành...cứ bằm ra xào xả ớt là lên mây  rồi. Mà chuyện quốc kế dân sinh cứ mặc mẹ mấy   cha ngoài Hà Nội lo, còn ở đây ngân sách cứ nhằm vào mấy cụm công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là sống ung dung rồi…”
Mâm nhậu được dọn ra ở thuỷ đình – đó là một cái hồ nhân tạo ở giữa vườn, có nhà thuỷ tạ, có cầu gỗ bắc qua mặt hồ. Ong Chủ tịch huyện quả là người có đầu óc biết tận hưởng những niềm vui trần thế. Vườn nhà ông rộng hơn một héc ta , đào suối cho nước chảy vòng quanh, tạo cả thác nước rới trắng xoá ngay sát nhà thuỷ tạ để khách ngồi nhậu có thể hít thở những giọt nước nhỏ li ti mát lạnh do máy tạo sương làm ra, rồi bên tai còn nghe tiếng nước réo khiến cho khách tưởng lạc bước vào bồng lai tiên cảnh. Ong Chủ tịch huyện giới thiệu :
‘ Tao phải thuê một thằng kiến trúc sư ngoài Hà Nội vào thiết kế với giá 15 ngàn USD đó. Giá cắt cổ thiệt nhưng mà tiền nào của đó. Mày coi nó bố trí cái vườn này có thua gì Suối Tiên không ?”
Món heo rừng nướng và xào đã được  bưng lên, ông Chủ tịch huyện khui chai rượu Whisky, cụng ly cái rốp :
“ Yên trí, cứ nhậu tới bến đi, bữa nay tao kêu  mày tới chẳng phải nhờ cậy việc báo chí gì đâu. Mẹ kiếp, báo chí bây giờ tao cũng đ…sợ. Ơ cái tỉnh này báo chí địa phương thì bên văn hoá tư tưởng nó bịt hết rồi, còn thằng báo trung ương nào vào đây là cho ăn đạn hết. Đó cái vụ thằng Viện phó Việm kiểm sát tỉnh chơi gái vị thành niên mấy năm trước đó. Một vài tờ báo trung ương tưởng bở nhảy vô tính đôn lên thành chuyện lớn. Vậy mà nó “chạy”  ngoài Hà Nội bịt đi cái một. Còn báo tỉnh thì khỏi nói, anh Tám bên văn hoá tư tưởng chỉ ho một cái là tụi nó vãi đái…”
Lề Phải  nghe ông Chủ tịch chửi bới báo chí đầy cả tai mà phát ngượng :
“ Vậy anh Hai nhắn  tôi tới để có việc gì ?”
“ Tết nhất tao gọi mày tới để nhậu chơi thôi đâu có  việc gì đâu ? À mà nghe tụi nó nói mày giỏi tử vi tướng số  lắm ?”
“ Dạ...cũng tạm tạm...”
“ Tạm tạm cũng được rồi, tao đâu có tin ba cái chuyện đó, mình là người duy vật mà, có điều chị Hai mày tin dữ lắm, bả cứ đòi vời cho được thằng Lề Phải  tới coi cho sấp nhỏ của bả đặng sang năm có hướng đào tạo cho mỗi đứa....”
Nói rồi ông Chủ tịch huyện quát vào máy intercom gọi :
“ Thằng Ruật đâu, ra ngoài này coi...”
Ruật là cậu cả, năm nay chừng 17 tuổi, mặt đầy mụn, mắt ti hí, cặp môi mỏng dính thâm sì, mới nhìn qua đã thấy ghê cả người, Lề Phải  nhìn ngó chán chê rồi khoát tay cho cậu lui. Ong Chủ tịch nóng ruột :
“ Sao ? Thàng này  tương lai tiền đồ sao ? Ngày xưa hồi thôi nôi, má nó để đủ thứ mà nó chộp ngay cây viết có ghê không ? Nội nó bảo vậy thằng này  tương lai sẽ theo nghề bàn giấy...”
Lề Phải  lắc đầu :
“ Anh Hai có muốn nghe tôi nói thiệt không ?”
Ơng Chủ tịch trợn mắt :
“ Nghe nói thiệt chớ, nói ba láp ba xàm tao mời mày làm gì ?”
“ Vậy tôi nói thiệt nha, thằng này sau này chỉ cho đi làm nghề...công an là hợp nhất...”
Ong Chủ tịch huyện đập bàn cái rầm :
“ Í trời ơi, mày nói trúng phóc, tao cũng muốn cho nó đi công an sau này nó còn nối nghiệp cha nó...”
“ Vậy ngày xưa anh Hai cũng là công an ?”
“ Thì hồi mới giải phóng  tao là công an xóm chứ đâu ? “
“ í trời ơi vậy bây giờ đã là Chủ tịch huyện ?”
Ong Hai Đô trợn mắt :
“ Vậy là tao thiệt thòi đó. Lẽ ra giờ phải là Giám đốc công an tỉnh rồi. Nhưng tao thích ở lại huyện hơn, đầu gà hơn đuôi trâu mà…”
Em thằng Ruật là Ron – con trai thứ hai của ông chủ tịch. Nó đang ngồi trước máy vi tính “chit, chat” hay làm gì đó thì bị mẹ lôi tới bàn nhậu để coi tướng. Nom nó lờ đờ như người mộng du,  chắc nó chưa ra khỏi thế giới ảo của cơn bão game online. Quả nhiên khi ông Chủ tịch bảo nó chào chú đi lập tức nó nhoài người đâm cả cánh tay về phía trước miệng quát tướng  :
“ Gươm rồng đây… ta quyết giết ngươi …”
Thì ra nó đang cầm trong tay vũ khí ảo của game mua được ở trên NET với giá một triệu  đồng. Ong Chủ tịch  cười khà khà :
“ Thằng này nó mê chơi “ghêm” đến quên cả đi học. Nhưng thày giáo bảo không lo, chỉ số thông minh của nó cao lắm nên mới mê chơi “ghêm” vậy…”
Lề Phải  bấm bụng cười thầm, không hiểu thày nào mà “nịnh” khéo vậy, trí thông minh của thằng bé này chưa thấy đâu chỉ biết cứ thả cho nó chơi game suốt ngày vậy chẳng bao lâu nữa nó lên cơn thần kinh. Chàng Lề Phải  chưa kịp coi tướng cho thằng Ron  nó nên theo cái nghề gì, bà vợ ông Chủ tịch đã chạy vào hớt hải :
“ Nguy rồi, nguy rồi ông ơi,xe chở đất nhà mình do thằng Phi lái vừa cán chết một con nhỏ mới tan học kìa…”
Ong Chủ tịch huyện cau mặt :
“Lại gây tai nạn nữa à ? Mới tháng trước thằng Tâm đã tông xe lên vỉa hè đè chết một bà bầu rồi giờ lại đến cái thằng Phi này, ĐM, làm ăn vậy bằng giết tao …”
Rồi ông móc điện thoại di động quát như bắn súng :
“ Tám Minh đó hả ? ĐM lái xe tao nó lại mới cán chết một con nhỏ vừa đi học về…Sao ? Xác vẫn kẹt dưới gầm xe à ? mày bảo tụi nó đưa ngay xe cẩu tới nhấc xe lên mà lấy xác con nhỏ ra cho lẹ.  Nhớ bảo thằng Bảy bên cảnh sát giao thông làm biên bản sao cho êm nghen. Có thằng nhà báo nào mon men tới mày cứ đuổi thẳng  cổ cho tao… “
Nói xong ông quay sang Lề Phải thở dài đánh sượt :
“ ĐM, làm ăn bây giờ khó vậy đó. Đoàn xe này đứng tên chị Hai, chuyên chở đất,cát, đá bán cho tụi xây dựng…”
Lề Phải  kêu lên :
“ Thảo nào người ta bảo đoàn xe của chị Hai là hung thần xa lộ. Tài xế ỉ i cảnh sát giao thông không dám đụng tới nên cứ chạy bạt mạng…”
Ong Chủ tịch huyện cau mày :
“ Thì phải chạy lẹ để còn tăng chuyến chớ…”
Hoá ra trong tay anh Hai có cả trăm mẫu cao su, có hai xưởng mủ, có đoàn xe vận chuyển, có tàu móc cát dưới sông, có xe cạp đất ; hàng ngày trừ các khoản, anh Hai đút túi không dưới 500 triệu . Ay là chưa kể tiền xuất cao su sống đi các nước chảy vào  túi anh Hai không biết bao nhiêu mà kể. Thảo nào anh Hai không thèm nhận phong bì, không thèm  ăn phết phẩy các dự án. Bởi vậy anh Hai mới cao giọng :
“ Tao thách thằng thanh tra nào làm gì được tao đó…”
Lề Phải  rụt rè :
“ Nhưng mà…cả trăm héc ta cao su cũng là của Nhà nước sang tay anh Hai chứ còn gì nữa ?”
Ong Chủ tịch trợn mắt :
“ Hồi đó Đảng chủ trương giao đất giao rừng cho người trồng rừng, ai cũng được giao hết. Chỉ có điều nhận xong không tiền mua cây giống, phân bón phải  bỏ hoang,  bán rẻ đi, tao bỏ tiền ra mua hết. Được cái anh em họ …thương, thằng giao thông cho làm đường nhựa tới tận rẫy của tao, thằng nông trường thì cho công nhân tới làm cỏ, bón phân, ngày cạo được mủ lại huy động công nhân sang làm giúp. Họ thương anh Hai mà. Có tiền bán mủ tao lại dùng để mua đất. Đất hồi đó rẻ rề chứ chẳng đắt như bây giờ đâu. Vài triệu là có thể mua được một héc ta cao su rồi. Thế là có tiền tao mua tất. Cứ mua tới đâu thì “anh em” nó lại giúp mình làm đường nhựa tới đó. Bây giờ thì tao khỏi cần nữa, dư sức bỏ tiền thuê nhân công rồi.”
“ Vậy  anh Hai có sang tên cho chị Hai hoặc là hai thằng Ruật và Ròn không ?”
Ong Chủ tịch cười nhạt :
“ Có phải tham ô của Nhà nước mà phải tẩu tán tài sản. Tiền của tao làm ra bằng mồ hôi nước mắt mình chứ có tham ô, tham nhũng gì đâu mà lo. Phải công khai tài sản hả ? Tao đ…sợ. Tài sản của tao nếu phải kê khai, tao giải trình được  hết, chẳng có chuyện gì phải lo…”
Nói rồi ông gọi vợ  :
“ Bà nó đâu rồi, chuẩn bị tiền đến tối mang tới đưa cho bố mẹ con nhỏ , coi như đền bù cho nó…”
Lề Phải  tò mò :
“ Bao nhiêu vậy anh ?”
“ Năm trăm ngàn thôi chứ mấy ?”
Lề Phải giật mình :
“ Một mạng người có 500 ngàn tức có  25 đô la Mỹ thôi sao ?”
Ong Chủ tịch trợn mắt :
“ Vậy còn đòi bao nhiêu? Tháng trước cán chết con mẹ bầu tức hai mạng người mà tao cũng chỉ đưa cho thằng chồng nó 1 triệu  thôi  kìa. “
Nói rồi ông dốc ngược ly rượu  vào cổ họng khà lên một cái thật khoan khoái :
“ Kỳ này đại hội Đảng bộ huyện tao lại trúng thường vụ là cái chắc…Nào...Mừng Đảng, mừng Xuân...cụng ly cái nữa ...dzô...dzô...”

Thứ Sáu, 20 tháng 1, 2012

GIAO THỪA CỬA PHẬT






                                                                   

       Trời đổ mưa làm khách thập phương rạt vào cửa chùa. Lạy Phật, nước đâu lắm thế, cứ như bao nhiêu nước trên trời phải đổ hết trong đêm nay, đêm cuối cùng của năm cũ không cho sang năm mới .
Cũng may cửa chùa mới sửa , mái hiên cơi rộng, mưa ít tạt, phía trong gần tượng Di Lặc còn khô nguyên, ấm áp như trong nhà . Ngồi chỗ “hạng nhất” nơi cửa Phật ấy là một cô gái trạc 17 tuổi. Cô vừa đi “thi” trên tỉnh , diễu qua diễu lại cả chục lần trong bộ đồ tắm mà chẳng lọt mắt tân lang xứ Hàn , coi như trượt vỏ chuối, đành xách túi về quê vĩnh biệt giấc mơ lên máy bay đi xây dựng quê hương mới.
 Trời mưa mau đói bụng, cô gái rút bánh mì trong túi ra nhai. Anh con trai ngồi bên , thoáng nhìn rồi cúi vội xuống. Luồng gió ào tới làm cô ngây mặt. Cùng cảnh  tránh mưa trước cửa Phật trong tiết lạnh chiều ba mươi tết, người ta dễ xích gần nhau. Cô ngần ngừ  rồi rút chiếc bánh mì ấn vào tay anh con trai.
“ Ăn đi…đói lắm hả …sau giao thừa nhà chùa mới phát cơm thí kìa…” .
Anh con trai trợn tròn mắt, cho hả, chuyện xưa nay hiếm, nhưng mà cho thì ăn, anh lặng lẽ bẻ đôi chiếc bánh nhét túi một nửa, đưa lên miệng một nửa. Anh ăn chậm rãi, nhẫn nại, thành kính như người hành lễ vậy.
“Sao không ăn nốt nửa kia ?”.
 “Để mai dằn bụng làm việc…”
 “ Ghê nhỉ, cũng biết lo kìa. Quê tận đâu ?”
“ Mãi ngoài Trung …”.
” Làm nghề gì ?”
“ Thợ hồ…”.
Trò chuyện rấm rẳn y như trả lời phỏng vấn xin việc, rõ chán, cô gái quay ra  nhìn mưa. Chắc má đang mong lắm đây. Hẹn về từ mấy hôm nay mà cứ nấn ná, thôi kệ, ráng kiếm một món, ít nhiều cũng được miễn là có cầm về cho má vui .
Anh thợ hồ đã ăn xong nửa cái bánh mì lại nhặt đâu được mẩu thuốc châm lửa hút phì phèo. Nom  chàng đã hết vẻ lừ đừ lúc mới đụt mưa. Ái chà, lại còn gợi chuyện nữa kìa.
“Nhà còn xa không ?”
“ Hơn năm chục kilômếch lận…”
“ Vậy giao thừa cửa Phật rồi. Chắc nhiều lộc …”
Cô gái lầm rầm :
“ Lậy Phật phù hộ cho con kiếm được món tiền về đưa má…”
Anh con trai ngơ ngẩn :
“ Cầu xin gì vậy ?”
Cô gái bật cười :
“ Cầu cho anh sáng mồng Một dzô mánh …”
Chàng thợ hồ như mới nghĩ ra điều gì đó :   
“ Giờ chỉ mong có ngay  50 ngàn…”
“ Í trời ơi, sao nhiều  dữ , góp hụi  xã hội đen hả ?”
Anh con trai lắc đầu , nhìn hai cánh cửa chùa vẫn  đóng kín vẻ sốt ruột. Cô gái hỏi gặng :
“ Anh cần 50 ngàn làm cái chi ?”
Anh thợ hồ  ngập ngừng :
 “ Mời em ăn sáng và mua gói mứt tết cho em mang về biếu má…”
Cô gái trố mắt nhìn, rồi bật cười sằng sặc cố giấu đi hai giọt nước mắt cứ chực trào ra trên má. Anh con trai không hay biết gì vẫn hăng hái :
“ Anh nói thực đấy , nói riêng em biết thôi, chiều nay anh đã gặp sư bà rồi, lát nữa anh sẽ lên chùa gánh nước thuê, mỗi gánh 1 ngàn,  50 gánh là 50 ngàn…”
“ A…hoá ra không phải anh đụt mưa mà chờ làm mướn ?”
“ Thì cũng là nương nhờ cửa Phật cả thôi…”
Cô gái nhỏ giọng :
“ Còn cái  ông già ngồi đằng kia chẳng biết đụt mưa hay cũng ngồi chờ xin việc ?”
“ Chắc đụt mưa thôi, già cả ốm yếu thế còn làm được gì ?”
“ Nhưng hết mưa rồi sao ổng còn ngồi đó ?”
Anh thợ hồ ra vẻ hiểu biết :
“ Chắc muốn nhờ sư bà bắt mạch bốc thuốc…nghe nói sư bà chữa được cho nhiều người bệnh nặng lắm đó…”
Mưa đã ngớt hẳn, cánh cửa chùa chợt mở hé vẳng ra tiếng chuông, tiếng mõ, tiếng tụng kinh. Một ni cô bước ra :
“ A di đà Phật ….thí chủ nào nhận gánh nước mướn xin vào chùa …”
Anh thợ hồ kêu rõ to “ có tôi”, rồi quay sang cô gái :
“ Em cứ ngồi đây chờ nhé, gánh đủ 50 gánh anh sẽ quay ra.”
Bỗng nhiên khắp bốn xung quanh râm ran tiếng chuông, tiếng trống, tiếng mõ báo hiệu thời gian đã đi vào vùng thiêng nhất trong năm , ranh giới của cũ và mới : giao thừa…giao thừa….
Anh thợ hồ đã vào trong chùa, đứng bên giếng nước, quàng lên vai đôi thùng trĩu cong cả hai đầu đòn gánh. Chẳng ngon ăn lắm đâu, đường lên chùa dốc ngược , mưa làm những hòn đá đầu sư lát dọc đường trơn như quét mỡ, gánh cho đủ 50 gánh  chắc phải gãy tới 3 cái đòn gánh. Mặc kệ, cứ phải cố  thôi…
Cửa chùa sau lúc mở ra cho anh thợ hồ bước vào lại khép kín. Cô gái bước tới đá  nhẹ vào cánh cổng càu nhàu :
“ Chùa chiền gì đóng cửa kín mít không cho ai vào lễ ? Sợ trộm hả ?”
“ Không phải, lỗi tại tôi…lỗi tại tôi…”
Tiếng ông già chợt vang lên làm cô gái giật mình quay lại  :
“ Ông nói chi vậy ? Ông có lỗi gì ?”
“ Không, tôi không  nói gì …”
Cô gái đi tới chỗ ông già đang ngồi theo kiểu toạ thiền.
 “ Rõ ràng ông vừa nói mà…”
Cô gái cúi xuống nhòm kỹ vào khuôn mặt ông già lúc này mắt đã nhắm nghiền  như người chết rồi. Lạ thực , mới  nói đó đã im thít như tượng rồi. Ông này chắc thần kinh quá, khi không cứ ngồi như bụt mọc giữa đêm giao thừa ? Thôi mặc kệ ổng, ở đây là cửa chùa, có công an cảnh sát gì đâu , ai muốn làm gì làm . Cô trở lại ngồi bên tượng Di Lặc lôi kẹo ra nhấm nháp. Ngồi chưa nóng chỗ, cô đã thấy sốt ruột , lại đứng dậy đi tới chỗ ông già
“ Ông ơi, mời ông ăn kẹo nè…”
Ông già vẫn ngồi im phắc . Hay ổng chết rồi ? Cô gái đánh liều  giơ tay sát mũi ông già. Bất chợt ông hắt hơi một cái rõ to khiến cô gái bật ngửa . Biết ngay giả đò , người tỉnh như sáo vậy mà hỏi không thèm trả lời.
“ Này ông, ông sao vậy ?”
Sau cùng ông già cũng phải lên tiếng :
“ Sao cô phá tôi hoài vậy ?”
“ Tôi đâu có phá, tôi mời ông ăn kẹo thôi chớ…”
“ Cảm ơn , tôi không ăn…”
“ Vợ con đâu sao ngồi đây ?”
Ông già buồn rầu đưa mắt nhìn vào trong chùa
“ Vợ tôi trong đó…”
Cô gái ngạc nhiên :
“ ủa …vậy sao ? Bả vô đó làm gì ?”
Ông già thở dài :
“Đi tu chứ còn làm gì ? Nộp mình vào cửa Phật rồi…”
“Hèn chi ông cứ ngồi đây …ông muốn lôi bà về nhà hả ?”
“ Không không, còn nhà đâu nữa mà lôi bả về…tôi chỉ muốn gặp mặt bả  lần cuối cùng thôi…”
“ Dễ ợt…ông cứ gõ cửa chùa xưng tên xin gặp đoàng hoàng . ?”
“ Tôi đã làm vậy nhưng bả tránh mặt, tôi đã chạy bừa vào chùa kêu toáng lên cũng không xong…”
“ Vậy chắc ông ác với bả lắm…”
“ Không, tôi không ác với bả, tôi chỉ…tôi chỉ…”
Cô gái hỏi gặng :
“ Ông chỉ sao ?”
“ Tôi chỉ ..tôi chỉ ác với mọi người thôi…”
“ Ông - giết - người à ?”
“ Không , tôi không giết người . ..”
Ông già chợt bưng mặt, co rúm cả người lại, run rẩy :
“  Tôi đã ra lệnh bắt nhiều người, đã ký giấy cưỡng chế thu hồi đất, đã đuổi nhiều nhà, đã làm tan vỡ nhiều gia đình…để được sống phè phỡn tôi đã trung thành với cấp trên như một con chó … vậy mà có ai ngờ…khi lâm nguy…chúng bán đứng tôi… mai mốt tôi sẽ phải ra toà lãnh án tù…”
Cô gái đứng bật dậy, tránh xa ông già như tránh người đang mắc bệnh SIDA vậy. Bất chợt cửa chùa hé mở, một ni cô bước ra với giỏ cơm trong tay :
“ Mời các thí chủ dùng lộc chay của chùa …”
Ông già mắt sáng lên :
“ Phải sư bà gửi cơm cho tôi không ?”
Ni cô lắc đầu :
“ Không, không  ai gửi riêng cho thí chủ cả, đây là lộc nơi cửa Phật, ai tới cũng được nhận…”
Vừa lúc đó, chàng thợ hồ bước ra, thở hồng hộc, mồ hôi ướt sũng từ đầu tới chân, chỉ đôi mắt là sáng rỡ. Sức mạnh của mùa Xuân , của tuổi trẻ và của cả tình yêu mới nở cũng không giúp được anh gánh cho đủ 50 gánh như đã định. May thay, khi anh không còn gượng nổi , sư bà gọi anh vào :
“ Con mới gánh được 45 gánh, sư bà vẫn tính tròn 50 ngàn , coi như năm mới nhà chùa lì xì …”
Anh chắp tay “A di dà Phật” miệng rối rít cảm ơn nhưng bụng vẫn để ngoài cửa chùa. Kia rồi, cô gái đang đứng đợi , mắt dán vào cánh cửa gỗ sơn son thếp vàng. Rồi cô ôm chầm lấy anh, hôn thật lâu bất chấp cả hai còn đang đứng ngay cửa chùa.
Chợt qua vai chàng thợ hồ , cô nhìn thấy ông già vẫn ngồi như hoá đá trước cánh cửa chùa đã đóng kín, bên cạnh giỏ cơm ông không đụng tới.
Từ trong chùa chợt vẳng đưa ra tiếng chuông và tiếng tụng kinh đều đều “ Nam mô a di đà Phật….Nam mô a di đà Phật….” - chắc tiếng của người đàn bà bỏ chồng khi ông ta lao vào giành giật mồ hôi nước mắt của  dân đen như một  lũ chó đói.












Thứ Năm, 19 tháng 1, 2012

HÀNỘI...HỒI ẤY (37)



                            (tiếp theo)

Tôi nói thật đấy…tôi chạy thục mạng , chạy trối chết khỏi các Phòng, các Ban , các đoàn thể trong đó nhung nhúc người đang cười nói, la hét, phùng má trợn mắt diễn kịch với nhau…Đúng đấy, tôi chạy cho nhanh khỏi cái nền văn minh chưa hề có trong 4000 ngàn năm lịch sử : “nền văn minh cán bộ” . Giờ tôi đã hiểu chính nó chứ không phải cái chuồng chồ cạnh phòng tôi đã  biến tôi thành con bọ hung. Tôi chạy cho nhanh khỏi cộng đồng đó để trở về với nhân loại của tôi,  văn minh của tôi : NÀNG.

14.

Phép lạ xảy ra đúng vào đêm trăng tròn, thưa đúng thế, tôi lại được nhìn thấy nàng không phải trong giấc ngủ, cũng không phải mộng du trên mái nhà mà ngay trên giường khi qua cửa sổ mở toang, ánh trăng vàng kỳ diệu làm mắt nàng hấp háy, mở ra và nàng ngồi dậy nở ra một nụ cười tuyệt điệu.
Tôi muốn hét to lên, bế bổng nàng chạy bay ra bờ sông nơi hai đứa đã ngồi nhỏ to suốt một buổi tối trước ngày tai họa nhưng ông bà Đ. đã xô cửa chạy vào, vây quanh nàng khóc lóc, mừng mừng tủi tủi.
- Con ơi, con tỉnh lại, trò chuyện nói năng với bố đi, bố ăn năn, cắn rứt vì tội lỗi bố đã gây ra bây giờ con phải gánh chịu, con sống lại đi không bố đến chết theo con mất thôi…
 Ông Đ. bật khóc và kể lể làm bà vợ phải gạt ra, quát khẽ :
- Ô hay, con nó tỉnh rồi sao ông nói năng gở miệng thế, ông xích ra tôi cho nó uống cốc sữa.
 Nàng ngoan ngoãn uống hết và chẳng nói năng gì, nàng gạt mọi người, lặng lẽ đi tới cửa sổ đăm đăm nhìn lên trời như chờ đợi một cái gi ở trên ấy. Tôi ra hiệu cho ông bà Đ. lui khỏi phòng và tôi bước tới ôm lấy nàng, thủ thỉ bên tai, van nài nàng hãy nói đi, nói đi dù chỉ là một tiếng thôi. Nàng ngoan ngoãn ngả đầu lên vai tôi vòng đôi tay mềm mại lên cổ tôi, nhìn sâu vào mắt tôi với vẻ dịu dàng, thân thiết như xưa nhưng tuyệt nhiên nàng vẫn không thốt lên một lời. Tôi lại van nài nàng nói đi và rồi chẳng cần biết nàng có nghe hay không, tôi thì thầm kể lể bên tai nàng về những gian truân tôi trải qua, về nỗi thương nhớ nàng, về dự định làm đám cưới mai sau khi nàng lành bệnh… Tôi cố nói thật rõ ràng, rành rọt, tuy thế, chẳng có vẻ gì là nghe được, nàng vẫn mơ màng nhìn tôi, miệng he hé và cứ đứng nguyên vậy cho tới lúc trăng tàn nàng lại ngủ thiếp đi trên vai tôi và tôi hiểu rằng nàng lại chìm đắm vào cõi mộng mơ của riêng nàng cho tới tối mai khi trăng lên. Tôi bước ra phòng ngoài bắt gặp ánh mắt tuyệt vọng của ông bà Đ. và hiểu ngay rằng cả hai đã không bỏ sót một hình ảnh nào giữa hai chúng tôi trong suốt lúc còn trăng.
- Em nó lại ngủ rồi hả ?
- Dạ vâng.
- Nó có nói được câu gì không ?
 Câu hỏi tuyệt vọng của ông Đ. đâm nhói trong tôi, tôi không nỡ dối ông và cũng không dám để ông biết sự thực, đành im lặng, nắm lấy đôi tay gầy guộc :
- Bác yên tâm, cháu tin chắc dần dà cô ấy sẽ khỏi bệnh.
 Ông Đ. nhìn tôi trừng mắt :
- Nhưng nó mắc cái bệnh gì ? Chẳng phải cái bệnh gì hết, đúng không ? Chẳng qua trời quả báo đấy thôi…
 Ông lại rền rĩ kể lể làm bà vợ phải gắt lên lặp lại cảnh bấy nay thường diễn ra từ sau ngày nàng lâm bệnh. Tôi chẳng biết sao đành ngồi hút thuốc, im lặng chờ đôi vợ chồng già qua được cơn dằn vặt. Càng ngày tôi càng nhận ra cả hai ông bà đều có những dấu hiệu khủng hoảng thần kinh mà chắc chắn chỉ sự hồi phục của cô con gái mới chữa được cho họ.
 Tuần trăng qua nhanh với những đêm hạnh phúc bên nàng dẫu rằng sự giao cảm giữa hai chúng tôi không vượt quá ánh mắt và nụ cười. Bây giờ, khi mặt trăng đã khuất phía bên kia địa cầu, dường như nàng cũng bỏ tôi đi theo tới đó để lại cái phần xác chìm đắm trong giấc ngủ.
Trong những đêm như thế, tôi bỗng trở nên thừa thãi thời gian và một tối sau khi đã lang thang chán chê trong các phố quen nhẵn, tôi ghé quán cà phê vợ chồng bác sĩ Trịnh.
- Đàn bà là  mật ngữ lớn nhất của nhân loại..
 Hắn thở vào tai tôi và sợ rằng tôi chưa rõ, hắn cắt nghĩa :
- Nàng không cho tớ nghỉ một đêm nào cả, không phải nàng cần tới mức thế đâu, cái chính nàng không muốn tớ đem “ của nhà” đi cho “ Thiên hạ”. Nàng ghen kinh khủng, ghen cả với thời tớ sống với vợ cũ nữa có vô lý không ? Ấy thế mà chính nàng…
 Hắn im bặt khi nàng “ ngựa vía” khệ nệ bước tới, tôi hoa cả mắt không hiểu mình có nhìn nhầm chăng, trước tôi là một bà chủ loè loẹt son phấn, bệ vệ trong chiếc áo bầu, thoắt quát người làm, thoắt lại cười cợt :
- Lâu lắm anh không tới thăm tụi em. Anh Trịnh ra phụ với chúng nó khiêng cây đá vào đi. Nhà em bây giờ càng ngày càng lười nhác anh ạ, ngồi đâu cứ muốn ngồi chết đấy, em thì chạy ngược chạy xuôi, lúc đông khách phải phụ cả bưng bê nữa, ấy thế mà ông chồng cứ ngồi nhấm nháp cà phê mọc rễ ra ở ghế. Anh bảo thời buổi này kiếm được đồng tiền có dễ đâu. Mai kia em còn phải nằm chỗ nữa chẳng hiểu rồi xoay xở ra sao…
 Tôi rùng mình nghĩ tới cái giá Trịnh phải trả khi nghỉ ăn 70 phần trăm lương cơ quan, nằm nhà ăn… 100 phần trăm lương vợ. Trên đời chắc hiếm có người vợ giàu có nào lại nuôi chồng một cách vô tư,  nàng “ ngựa vía” và cả nàng Ánh Tuyết mà Cẩm  Lai cứ khăng khăng bắt tôi phải lấy, dứt khoát nằm trong số đó. Ôi chao ôi , thà ăn cơm muối của mình còn hơn gặm cái đùi gà vợ cho với thân phận "tri ân" như anh chàng Trịnh . Lạy trời đã giun giủi tôi tới thăm vợ chồng này để tỉnh táo tránh xa nàng Ánh Tuyết với viễn ảnh như thế một khi tôi vẫn chỉ có mức thu nhập còm của một anh chàng kỹ sư bàn giấy. Nàng “ ngựa vía” chẳng hề biết tôi nghĩ gì, cứ hể hả kể lể chiếc kính gọng vàng đã sắm cho “anh Trịnh em”, bình rượu rắn đủ bộ ngũ xà mới ngâm, chiếc áo pull những non nửa chỉ mới may cho “anh ấy”.
Chẳng còn thiếu gì, sướng gấp mười lần so với thời vợ cũ, ấy thế mà mặt mũi lúc nào cũng rầu như dưa mới lạ. Không, không phải anh ấy luyến tiếc vợ cũ đâu, thoát được nó anh ấy đổi đời mà, chính miệng anh ấy nói thế. Em mới hỏi thẳng vậy thì anh buồn vì cái nỗi gì, anh ấy chỉ cười hề hề : không, buồn gì đâu, anh đang vui như tết đây này. Đàn ông các anh lạ thực.

              (còn tiếp)

Thứ Hai, 16 tháng 1, 2012

TƯ CÁCH CÔNG DÂN CỦA HỘI NHÀ VĂN VN ?

                               



 Trong những ngày này, cả nước sôi sục vụ chính quyền huyện Tiên Lãng , Hải Phòng đem cả lực lượng hùng hậu quân đội, công an tới  cưỡng chế giải tỏa đầm nuôi tôm của anh Đoàn Văn Vươn khiến các đảng viên lão thành ở huyện cũng phải lên tiếng bênh vực anh , ông tướng về hưu Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, nguyên Tư lệnh Quân khu 4, đại biểu Quốc hội khóa IX, X, XI cũng thừa nhận :"Vụ Tiên Lãng là một tổn thất chính trị lớn", TS Đinh Xuân Thảo, Viện trưởng Nghiên cứu lập pháp Quốc hội cũng khẳng định, do nhận thức không đầy đủ về luật pháp hoặc nghĩ dân không nắm được luật nên chính quyền đã làm ẩu, thu hồi đất sai luật, phải bồi thường và làm rõ trách nhiệm người ra quyết định phá nhà anh Vươn. Đặc biệt TS Nguyễn Xuân Diện đã tổ chức quyên góp hỗ trợ  gia đình anh  hàng trăm triệu đồng…
Tình hình trong nước, ngoài nước sôi sục như thế, vậy mà sáng nay, 17-1-2012, đọc bài tường thuật  “ Chi hội nhà văn VN tại Hải Phòng gặp gỡ đầu Xuân” trên Trannhuong.com mà…não cả ruột.
 Nào là đến nay, Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Hải Phòng có 27 hội viên, nhà văn Đình Kính - Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Hải Phòng thay mặt toàn thể Chi hội tặng hoa chúc mừng 2 hội viên mới trong sự đầm ấm, thân mật của tình đồng nghiệp, khẳng định thành tích nhà thơ Mai Văn Phấn và nhà văn Đình Kính đều đoạt Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2010 và 2011. Nào là các quan chức như  nhà văn Đình Kính, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, Trưởng Ban công tác Nhà văn khu vực các tỉnh, thành phố phía Bắc và Bắc miền Trung, nhà thơ Thi Hoàng , Ủy viên Hội đồng Thơ, nhà văn Bão Vũ , Ủy viên Hội đồng Văn xuôi đều tích cực  hoạt động văn học . Ngoài ra chung vui còn có nhà biên kịch Tô Hoàng Vũ - Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hải Phòng. Sau cùng, buổi trưa cùng ngày, diễn ra bữa tiệc liên hoan thân mật và mỗi hội viên nhận một…túi qùa Tết…
Đọc đi đọc lại rách cả mắt cũng không tìm thấy một chữ “Tiên Lãng” nào trong bài tường thuật. Ô hay, 26 ông bà Hội viên Hội nhà văn VN ở  Hải Phòng lẽ nào không nghe, không biết tại địa phương vừa nổ ra một sự kiện kinh thiên động địa sao cứ im re, không ông nào há miệng lấy một từ “Tiên Lãng” trong cuộc gặp mặt ?
Sau chi hội nhà văn Hải Phòng lại tới Hội nhà văn VN kết nạp Hội viên mới và mừng xuân Nhâm Thìn. Các vị lão tướng Nguyễn Xuân Sanh, Vũ Tú Nam, Nguyễn Xuân Khánh, Hồ Phương…đã đến chung vui. Các hội viên mới cùng gia đình bạn bè mang theo bạt ngàn hoa tươi.
Chủ tịch Hữu Thỉnh báo cáo công việc Hội năm 2011, bao nhiêu là việc từ hội nghị văn trẻ đến các chuyến đi thực tế đến được mùa giải thưởng. Chủ tịch Hội đứng trên bục đỏ, các hội viên mới lần lượt được gọi lên nhận quyết định và hoa từ tay Chủ tịch. Các chú lính mới vui tươi, ánh mắt long lanh ngước lên nhìn Chủ tịch…
Nhà văn Trần Nhương  tếu táo :”  Sau lễ trao giải thưởng tưng bừng là một bữa tát niên vui vẻ. các văn nhân nâng li rượu chúc nhau năm con Rồng văn chương bút lực như Rồng nhả ngọc phun châu…”
Châu ngọc chưa thấy đâu nhưng trong cuộc họp từ miệng tất cả các quan chức, các hội viên mới cũ tuyệt nhiên không thấy nhả ra một từ  “TIÊN LÃNG” .
Lẽ ra nhân vụ nổ Đoàn Văn Vươn, Hội nhà văn VN phải ra một nghị quyết bày tỏ thái độ của mình đối với an nguy của người dân trước sự cưỡng  chiếm đất tàn bạo, trắng trợn của bọn cường hào mới. Còn nhớ hai năm trước đây, khi dư luận cả nước sục sôi yêu cầu dừng ngay việc khai thác bauxite Tây Nguyên thì báo Văn Nghệ “lội ngược dòng” đăng ngay một bài của gã  Lã Thanh Tùng nào đó , ăn theo TKV hết lòng ca ngợi và ủng hộ việc rước Tàu vào tàn phá Tây Nguyên khai thác bauxite, gây nguy hại cho dân tộc.
Ai cũng biết Hội nhà văn VN xây dựng cửa cao nhà rộng, thăm thú nước ngoài, tổ chức hội hè, thù tạc vui chơi…tất cả đều là từ túi tiền của  dân . Ăn của dân thì phải lo lắng cho dân , đứng về phía dân  chứ không chỉ tâng bốc, nịnh hót chính quyền.
Khoan hãy nói đến những chuyện xa xỉ, nào là “lương tâm thời đại”, “thư ký thời đại”, “bộ phận nhạy cảm nhất  của dân tộc”, chỉ xin nói tới cái tối thiểu : tư cách công dân.
Đã đến lúc đặt câu hỏi : Hội nhà văn Việt Nam có phẩm chất “ quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”  hay nôm na có “tư cách công dân”  không , hay chỉ  có tư cách “lễ tân cung đình” véo von ca ngợi nhà cầm quyền cho dù ngày nay tiếng oan đã rậy đất, tiếng oán đã “lòa mây” ?
Trước mắt, Hội nhà văn VN cần lên án vụ vi phạm pháp luật của chính quyền huyện Tiên Lãng khi cưỡng chế và phá nhà của anh nông dân Đoàn Văn Vươn để thấy Hội nhà văn VN hiện đang đứng về phía dân hay phía cường hào ác bá ? Không lẽ quan chức Hội nhà văn VN cũng bắt chước đồng chí Trần Đình Long, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội khi được hỏi về vụ Tiên Lãng : “Tôi không theo dõi vụ việc này...”.
Mong và lo lắm thay!

17-1-2012



Thứ Bảy, 14 tháng 1, 2012

HÀNỘI...HỒI ẤY (36)

                 
                                     Hình trích trong Kama  Sutra
                   

                             (tiếp theo)
Tai tôi vểnh lên như mèo nghe thấy tiếng chuột chít chít. Ấy…nàng vừa nói gì ấy nhỉ ? Nàng bảo từ mai nàng mới quyết chí thờ chồng. Vậy  lúc này thì chưa…cứ “thoải” con gà mái đi cha ! Tôi qùy ngay xuống ôm lấy đôi chân trần no tròn và trắng nõn của nàng. Ôi chao ôi cả một miền đùi như cặp giò lụa thế này làm sao dứt ra cho được. Đến lượt nàng thở mạnh, tôi ghé mắt nhìn lên thấy đôi mắt nàng sáng rực. Em xin chết rồi, tôi thầm reo lên và thục cả mặt vào vùng nhạy cảm nhất của nàng. Bất chợt nàng đẩy đầu tôi ra,  hổn hển :
“ Anh ra…anh ra…khép cửa lại đi …”
Tôi bàng hoàng làm theo lệnh nàng.  Thế rồi nàng kéo tôi lại , hai tay nắm chặt lấy đầu tôi ép vào miền cực lạc của nàng. Tôi hối hả đổ xuống những chiếc hôn gấp gáp lên khắp vùng cỏ mượt. Tôi quên béng mất đang ở đâu, nàng là ai và tôi là thế nào, tôi hăng lên như một con bò tót nhìn thấy mảnh vải đỏ, mắt mờ đi, loáng thoáng chỉ còn thấy đôi chân trần của nàng giơ lên trên nền thảm xanh.Trong tôi bỗng trào lên một cảm giác tựa như lòng căm thù . Phải , phải…tôi đang đại diện cho giai cấp của tôi - những người cùng khổ như thằng móc cứt, nảng ngựa vía, họa sĩ Ngời, ông bà Đ….trả thù giai cấp của nàng - những kẻ đang ngồi chót vót trên cao như Ngài, bố của nàng , như ông Viện trưởng và rất nhiều kẻ đang  ngự trên những chiếc xe Vonga đen chạy dọc ngang khắp khu Ba Đình.
Cảm giác “trả thù giai cấp” làm tôi hung hăng như con trâu đực đè nàng bẹp gí từ đủ mọi phía làm nàng cuống cuồng hét lên như còi ô tô. 
Bất thình lình nàng đạp vào giá sách làm rơi xuống một cuốn dầy cộp bìa đỏ. Ối chết…Lênin toàn tập…tôi chưa kịp nhìn coi đó là  tập mấy, nàng đã chộp lấy cuống cuồng kê lên cặp mông của nàng đang nảy tưng tưng như bên dưới có cả một đàn kiến đang đốt.
Ôi chao ôi, mới xa nàng có mấy tháng, chẳng hiểu nàng đã học được ở đâu bao nhiêu là tư thế, bao nhiêu là động tác mà có tìm khắp 1250 bí kíp trong “dục lạc kinh” Kama Sutra cũng không thấy. Cứ theo như phân loại của ông thày Ấn Độ trong “kinh” này chia phụ nữ ra làm hai loại, tôi cũng không dám khẳng định nàng thuộc loại  Nai hay loại Voi , có khi nàng thuộc cả hai.
Thế rồi khi tôi rít lên như cái nồi hơi, nàng làm ngay một động tác lái gấp dòng dung nham cho nó tuôn thẳng vào miệng nàng. Lát sau nàng cười toe :
“ Đừng giận nhé, em phải biết rõ con em sau này bố nó là ai.”
Tôi như rơi xuống từ nóc nhà mười tầng, tiu nghỉu ngồi nhìn nàng mở túi xách lấy đồ trang điểm. Sau khi đã ngắm nghía mình chán chê, nàng cười toét miệng :
“ Anh cũng thuộc loại “đại sư phụ”, thế mà con Ánh Tuyết lại bỏ mới ngốc ?”
Rồi nàng nói tỉnh bơ như ông Trưởng phòng lúc phân công công tác :
“ Em đi lấy chồng rồi . Anh  sẽ trở lại với Ánh Tuyết.
Tôi trố mắt :
- Em không đùa đấy chứ ?
- Thực đấy, em nói chuyện với nó suốt tối qua, hoàn cảnh hai người thế, lấy nhau là tốt nhất, nó sẵn nhà cửa, kinh tế khá, anh lại chưa có nhà, lương không đủ hút thuốc, vả lại nó ân hận chuyện xưa và còn yêu anh lắm.
Tôi cười nhạt :
- Cái chính là anh còn yêu nó không ?
- Cứ ở với nhau rồi khắc yêu.
- Như em ấy hả ?
Nàng đỏ mặt :
- Không, em khác… em có thể sống hoà thuận với chồng không nhất thiết phải có tình yêu.
Tôi thở dài :
- Vậy rồi em sẽ khổ đấy.
Nàng cười nhạt :
- Anh có vẻ… thương em gớm nhỉ.
Tôi nhìn nàng không chớp :
-  Không phải chỉ có thương… cả yêu nữa chứ.
- Khoác, anh yêu gì em, mới ăn có trận đòn đã bỏ của chạy lấy người…
Nàng đưa cho tôi thiệp cưới mời ông Viện trưởng :
- Ánh Tuyết dặn em phải đưa tận tay anh để trao đổi quyết định lên lương với lão trưởng phòng.
Tôi cảm thấy chán hết sức, lẳng lặng cầm lấy và không muốn trả lời nàng. Nàng đứng dậy nhìn tôi suốt từ đầu tới chân :
- Em nói thực đấy, anh phải trở lại với Ánh Tuyết đi. Bây giờ anh ở lại đây, em ra trước, khỏi đưa em.
Nàng thoăn thoắt bước khỏi phòng không ngoái lại, mặc tôi ngồi ngẩn  như tượng gỗ, ngơ ngác bàng hoàng vì những gì vừa xảy ra, mãi tới khi bác lao công xách cái chổi bước vào tôi mới choàng tỉnh.
- Cậu đi ra đi cho tôi quét dọn.
   Bác ta phải nhắc tới lần thứ hai tôi mới hiểu ra, trố mắt nhìn cái chổi quét lia lịa trên mặt sàn rồi chẳng thèm nhìn lão già cau có tôi phóng khỏi “ phòng khách cơ quan”, thề từ nay không bao giờ đặt chân tới nữa, ông Trưởng phòng đón tôi từ xa khi tôi hầm hầm bước đi trong hành lang, vồ ngay lấy, rối rít :
- Xong rồi phải không ? Cô Cẩm Lai về rồi hả ?
 Tôi dằng ra, rút trong túi ra tờ thiệp cưới :
- Đấy, cầm lấy…
Ông vồ ngay lấy, reo to :
- Thực hả, có đúng là ghi tên đồng chí Viện trưởng không ?
 Cái vẻ mừng rỡ rất trẻ con của ông làm tôi phì cười, hết bực dọc, chờ ông xem xét kỹ càng tôi mới đứng nghiêm, ưỡn ngực :
- Báo cáo thủ trưởng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ.
- Tốt, tốt… phen này thì chúng mày chết, mẹ kiếp, giậu chưa đổ bìm đã tính leo lên rồi… phen này thì chúng mày chết…
 Ông chẳng thèm để ý tới tôi, cứ lẩm bẩm chuyện gì đó mà tôi chắc có liên quan đến phái “ đối lập” của ông Công đoàn, ông Bí thư Chi bộ, ông Viện phó, mãi tới lúc tôi bỏ đi ông mới sực tỉnh :
- Ơ này, khoan đã, cậu cầm lấy quyết định tăng lương này, cậu thấy không, tôi chơi rất đúng luật nhé…
 Bất chợt tôi nhận ra toàn bộ tính chất bỉ ổi của cuộc trao đổi, không, ông không có gì đáng trách cả khi ông tiến hành nó một cách hồn nhiên, không gợn chút áy náy là bởi vì trong cái cộng đồng cán bộ ấy ông cũng chỉ là một cái bánh răng, quay theo lực truyền của guồng máy, còn tôi… tôi vì cái gì cơ chứ, một bậc lương trong cái thị trường khốn nạn, mọi thứ đều mất giá này chăng ? Tôi phá ra cười :
- Luật lệ gì mấy ông, có luật rừng, luật mafia thì có, này thôi, ông cầm lấy, mấy đồng lương còm có đáng gì, tôi biếu không ông cái thiệp cưới ấy đấy…
 Tôi nhét vào tay ông tờ giấy rồi bước đi như chạy khỏi ông. Ngay lập tức, tôi muốn được nhìn thấy nàng, quỳ gối trong căn phòng có bức tranh kỳ ảo kia như một con chiên lánh hết việc đời tìm nơi thánh đường để quỳ trước Chúa. Tôi lao đầu trong hành lang qua các phòng trong đó mọi người đang cắm cúi trước những chồng giấy dày cộp, đập bàn đập ghế, chụm đầu vào nhau thì thào… tôi chạy thục mạng qua sân ngổn ngang ô tô, xe máy, vật liệu phế thải… tôi cắm cổ vọt qua phòng thường trực lố nhố người đứng ngồi, tiếng chuông điện thoại, tiếng người quát tháo xen lẫn tiếng cười lanh lảnh…

                          (còn tiếp)

Thứ Năm, 12 tháng 1, 2012

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN (KỲ11)


                                                                               
              NHÀ VĂN HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG

Hồi năm 1978, ông bạn họa sĩ Trịnh Tú, lúc đó là thư ký bác sĩ Tôn Thất Tùng, GĐ bệnh viện Phủ Doãn một hôm rủ tôi :
“ Tới thăm vợ chồng Hoàng Phủ Ngọc Tường đi !”
Tôi ngần ngại :
“ Có việc gì cần không ? Nếu không thì ngồi quán bà Dậu làm chén rượu chẳng hơn à ?’
Hồi đó tôi ở phố Ấu Triệu sát ngay bệnh viện Phủ Doãn nên Trịnh  Tú thưởng lẻn sang rủ tôi uống rượu ở quán bà Dậu ngay đầu phố tôi. Nguyên là ông bạn vàng này mới nhờ tôi đưa bồ hắn từ Sàigòn ra đi thăm nuôi chồng vốn là sĩ quan quân đội cộng hòa đang cải tạo mãi tại vùng rừng núi heo hút   Thanh Hóa. Vì không phải thân nhân nên tôi không được vào trại , phải ngủ rừng một đêm muỗi cắn gần chết. Sợ ông bạn lại “sai” việc nữa , tôi giao hẹn trước :
“ Tới chơi thôi, còn có việc thì thôi nhé !”
Trinh Tú cười cười :
“ Tới giúp bà Mỹ Dạ, vợ ông Tường đi khám bệnh…”
Tôi  gật gật:
“ Vậy thì được…”
Tôi tưởng vợ chồng nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường phải ở một căn hộ nào đó ở khu hồ Tây hoặc khu nghỉ dưỡng Quảng Bá, không ngờ Trịnh Tú đưa tôi lên đường đê La Thành vào trường viết văn Nguyễn Du tới một căn buồng  mái tranh, vách đất, trống huếch trống hoác, giữa nhà trải chiếc chiếu, một người đàn ông gày guộc, ngồi xệp, hai đầu gối qúa tai. Chắc đã hẹn trước, nhà văn vồn vã mời ngồi, còn chị vợ  - nhà thơ Lâm thị Mỹ Dạ thì xin phép vào bếp rang…lạc đãi khách. Trịnh Tú vội xua tay :
“ Thôi thôi…tôi tới coi sức khỏe chị sao ? Liệu có giúp được gì rồi phải  về ngay…”
Trong lúc Trịnh Tú hỏi chuyện chị vợ thì tôi ngắm nhà văn . Ôi chao ôi , người đàn ông gày  gò, ốm đói kìa lại là người viết ra bút ký “ Rất nhiều ánh lửa “đăng trang nhất báo Văn Nghệ ư ? Điều kiện sống tối tăm và ẩm thấp thế này ông lấy đâu ra lửa ?
Trên đường về tôi la oai oái. Thật không thể tưởng tượng được, một  “nhà văn viết bút ký hay nhất của văn học ta hiện nay” ( Nguyên Ngọc) ,  hồi Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968 ở Huế là tổng thư ký Liên minh các Lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hoà bình Thành phố Huế , soạn “Lời hiệu triệu” kêu gọi quần chúng nổi dậy, thu băng phát đi khắp các nẻo đường, phố phường Huế Tết Mậu Thân , có thành tich lớn trong phong trào “diệt ác, trừ gian”, theo đồn đại đã từng ngồi ghế Chủ tọa Tòa  án Nhân dân tại trường Gia Hội . Năm 1972 được điều ra làm Trưởng Ty Văn hoá tỉnh Quảng Trị ở Đông Hà  (vùng mới giải phóng của Mặt trận Giải phóng), 17 năm kiên trì làm “đối tượng Đảng” rồi được kết nạp…
Một người đã bỏ đô thị “lên xanh” theo cách mạng với thành tích lớn thế sao ra Bắc lại bị “đãi ngộ” nghèo nàn đến vậy.
Ra khỏi nhà Hoàng phủ Ngọc tường, tôi lo lắng hỏi bệnh tật chị Mỹ Dạ, Trịnh Tú gạt đí :
“Bệnh tật gì đâu…bệnh thiếu…protide ấy mà…ăn uống thiếu thốn, kham khổ nên sinh bệnh thế thôi.”
Tôi nổi cáu :
“ Một cặp nhà văn –nhà thơ có nhiều đóng góp cho cách mạng sao giờ lại đối xử vậy ?”
Trinh Tú cười hề hề :
“ Cậu đi hỏi mấy ông trên, sao hỏi tớ ? Thôi, ghé quán bà Dậu làm chén “cuốc lủi” , mặc mẹ sự đời .”
Sau này vợ chồng Hoàng Phủ Ngọc Tường rời Hà Nội trở về Huế và nghe nói được “đãi ngộ” khá hơn.  Ở Đại hội Nhà văn lần thứ V (1995), văn phòng Tổng Bí thư Đỗ Mười đưa xe đến mời nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường tới gặp riêng  Tổng bí thư. Dịp tết Ất Dậu, ông Đinh La Thăng, giờ là Bộ trưởng Bộ Giao Thông Vận Tải  nổi tiếng vụ “trảm tướng” sân bay Đà Nẵng, đòi đánh thuế cả xe máy dân nghèo, lúc đó là  Phó bí thư thường trực Tỉnh ủy đến tận nhà, tặng vợ chồng nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường một dàn máy tính xịn. 
Năm 1980-1981, được Giải thưởng Văn học Hội Nhà văn Việt Nam với tập “Rất nhiều ánh lửa” (1979). 
Năm 2007, được  Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, cùng đợt với vợ là nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ. 
Ông từng làm Tổng biên tập Tạp chí Sông Hương và Tạp chí Cửa Việt.
Tháng 7-1997, Hoàng Phủ Ngọc Tường sang thăm Paris. Khi được bà Thụy Khuê (RFI) hỏi :
“Nhìn từ phía những dữ kiện lịch sử mà anh nắm bắt được, diễn biến Mậu Thân đã xẩy ra trong một trình tự như thế nào"
Ông đã trả lời :
“  Điều quan trọng còn lại tôi xin ngỏ bầy ở đây, với tư cách là một đứa con của Huế, đã ra đi và trở về, ấy là nỗi thống thiết tận đáy lòng mỗi khi tôi nghĩ về những tang tóc thê thảm mà nhiều gia đình người Huế đã phải gánh chịu, do hành động giết oan của quân nổi dậy trên mặt trận Huế năm Mậu Thân. Đó là một sai lầm không thể nào biện bác được, nhìn từ lương tâm dân tộc, và nhìn trên quan điểm chiến tranh cách mạng…”
Phải chăng vì những oan hồn đó, sau này trên giường bệnh, ông làm những câu thơ đậm chất “tâm linh” :
Những chiều Bến Ngự dâng mưa
Chừng như ai đó mơ hồ gọi tôi
Tôi ra mở cửa đón người
Chỉ nghe tiếng gió thổi ngoài hành lang.
Hoặc :
         “Nợ người một khối u sầu
        Tìm người tôi trả ngày sau luân hồi ……”
Cũng trên giường bệnh, trả lời nhà báo, Hoàng Phủ Ngọc Tường thành thực :
“ Nhà văn phải nói lên sự thật…”
Qúa đúng, với ông , có lẽ trước hết là sự thật về cuộc Tổng tiến công nổi dậy năm Mậu Thân ở Huế.
Nhà thơ Xuân Sách có lẽ hiểu khá thấu đáo Hoàng Phủ Ngọc Tường nên đã hạ bút :
“Trăm năm ông phủ... Ngọc Tường ơi
Cái nợ lên xanh giũ sạch rồi
Cửa Việt tung hoành con sóng vỗ
Sông Hương lặng lẽ chiếc thuyền trôi
Sử thi thành cổ buồn nao dạ
Chuyện mới Đông hà tái nhợt môi
Từ biệt chốn xưa nhiều ánh lửa
Trăm năm ông phủ... Ngọc Tường ơi!”

( còn tiếp)



Thứ Ba, 10 tháng 1, 2012

HÀNỘI...HỒI ẤY (35)



                          (tiếp theo)  

Tôi sợ vã mồ hôi, sao bỗng dưng rơi vào giữa hai phe, bên này bảo xin, bên kia bảo thôi, sao dại dột thế, dính dấp tới ái nữ của Ngài  làm gì để ra cái nông nỗi này. Tôi cứ ngồi đực người chẳng biết nói năng sao khiến ông Công đoàn lại tưởng tôi đang đấu trang tư tưởng, bèn vứt thêm một vật vào đĩa cân bên phía ông:
- Công đoàn phòng vừa được phân phối vé nghỉ mát ngoài biển. Cậu hoàn thành việc này tôi thưởng cho cậu cái vé ấy đấy. Hồi này nom cậu yếu quá, đi nghỉ cho lại sức, lúc về chúng tôi vẫn có cách lên lương cho cậu.
 Vậy là cái giá ông đưa ra cao hơn của ông Trưởng phòng… một cái vé nghỉ mát, tôi lại chẳng phải làm gì, chỉ nói mỗi một câu với ông Trưởng phòng : “ Không xin được”, thế thôi, quá dễ.
Nhưng chính cái cách lôi kéo hoặc bên này hoặc bên kia không cho tôi được chọn một khả năng thứ ba làm tôi tức mình vọt miệng nói với ông rằng tôi không đứng về phe ông nào hết, tôi cũng cóc cần nghỉ mát với cả lên lương, tôi cứ mặc mẹ sự đời, cái thiệp ấy nó tới thì ông Viện trưởng hưởng, nó không tới thì các ông lợi, tôi chẳng dính dáng gì hết.
Ông Công đoàn tái mặt, run bắn lên tức giận, lắp bắp chửi tôi ngu, cơm không ăn lại muốn ăn cứt, rằng trên đời này chẳng có thằng nào đứng ngoài được các phe phái một khi đấu đá nổ ra…
Tôi đẩy bật ông ra cửa, miệng la lên rằng tôi tởm các thứ phe phái lắm, trí thức chó gì các ông, Giáo sư, Tiến sĩ, Viện trưởng…toàn một lũ chỉ giỏi bốc phét, ăn hại đái nát đáng tống cổ đi hết.
Ông Công đoàn hoảng lên, chắc tưởng tôi phát điên, nhảy vội lên xe cấm cổ đạp mất. Tôi quay vào căn phòng “tổ dế”, máu nóng vẫn còn bốc bừng bừng, co chân đạp phăng gói đường ông Công đoàn vứt lại, bụng chỉ muốn chạy sang buồng thằng nấu pháo lậu cho một mồi lửa nổ tung tất cả. Bất chợt gã ăn trộm cứt ghé vào cửa sổ nhe hàm răng cải mả, toe toét :
- Có chuyện gì anh làm om sòm ghê thế ?
Tôi dịu hẳn :
- Một thằng tới rủ rê tớ… đi buôn.
- Buôn cái gì ? Em tham gia được không ?
Buôn… quan. Chơi được không ?
Gã ăn trộm cứt lè lưỡi :
- Thôi thôi, hãi lắm, thất đức lắm, thà em đi móc cứt còn hơn.
Tôi cười phá , thưởng điếu thuốc thơm châm sẵn cắm vào mồm gã :
- Rồi cũng phải tính làm chuyện khác chớ, móc cứt cả đời sau ?
Gã đực mặt, thở dài đánh sượt :
- Biết làm gì bây giờ ? một thân một mình nó đi một nhẽ, đèo bòng vợ con vào phải lo cho hai bữa gạo, móc cứt chứ móc túi thiên hạ rồi cũng phải nhắm mắt làm chứ biết sao ?
May cho tôi chưa đèo bòng như gã, nếu không thì một khi “vợ réo con khóc” đòi gạo, tôi cũng sẵn sàng buôn   cả… quỷ.
Sáng hôm sau, ông trưởng phòng đón tôi với bộ mặt đông lạnh, cái vôn vã mọi ngày biến mất, ông vẫy tôi lại bàn, hất hàm :
- Ra sao rồi ? Tối qua cậu có đi hỏi chuyện đó không ?
Tôi phải cố kìm cái ý thích kể toẹt câu chuyện ông Công đoàn tới lôi kéo tôi chống lại ông cho rối tung mọi chuyện đành bịa rằng tối qua tôi đã nghe lời ông tới nhà cô Cẩm Lai, rủi thay dọc đường gặp bạn khăng khăng rủ đi uống rượu mãi khuya mới tới, nhà cô đã đóng cửa kín mít đành phải quay về…
 Tôi đang kể lể chợt chuông đện thoại ré lên, ông vồ ngay lấy và bằng vào thái độ cung kính bất chợt, tôi hiểu rằng ông đang nói chuyện với cấp trên.
- Dạ… dạ chưa ạ… dạ… dạ… vâng ạ…
Ông đặt nhẹ máy xuống, lấy khăn tay lau mặt, nhìn tôi hầm hè :
-    Cậu có biết hôm nay là ngày mấy rồi không ?
Tôi trả lời ông rằng vì kỳ lương tới còn xa lắm nên tôi chẳng quan tâm đến ngày tháng. Ông tím mặt, đập tay lên bàn, quát khẽ :
- Tối mai đã là lễ cưới cô Cẩm Lai rồi cậu biết chưa ? Cậu có định làm chuyện đó hay không ?
Và rồi chắc do tôi nhắc tới chuyện lương, ông nhỏ giọng :
- Quyết định lên lương của cậu đã ký rồi, nằm sẵn trong ngăn kéo đây, đưa thiệp cưới rồi lấy.
Tôi bảo ông rằng bây giờ có lên một bậc lương, tháng cũng chỉ thêm dăm bảy ngàn, bất quá được ký thịt , chẳng ăn thua gì, tôi chẳng ham. Ông tưởng tôi giở trò buôn, ép giá vội vàng chặn ngay :
- Này, những gì đã thống nhất rồi là không có thay đổi đâu nhé. Cậu cũng nên nể mặt cơ quan, tình nghĩa trước sau chớ
Tôi phì cười hỏi ông vậy cái tình nghĩa cơ quan đối với tôi mấy năm nay nó ra làm sao. Tôi tưởng ông sẽ qua loa vài lời thuyết lý, ngờ đâu ông mở ngăn kéo, lục ra cuốn sổ, đọc rành rọt :
- Ngày… tháng… năm 198… phòng cho anh mua phân phối một cái bếp dầu Trung Quốc, đến ngày… tháng… cùng năm lại một cái phích lít rưỡi. Ngày… tháng… năm 198… anh nghỉ ốm một tuần nằm nhà, Công đoàn tới thăm bồi dưỡng chục trứng và nữa cân đường Cuba…
Bản thống kê tình nghĩa của ông chắc còn dài nữa nếu không bị hồi chuông điện thoại cắt ngang. Ông nhắc máy lên và lập tức tôi hiểu ngay rằng ở bên kia đầu dây lại là đồng chí Viện trưởng.
- Dạ thưa anh đồng chí ấy đang ngồi ngay trước mặt tôi đây ạ… dạ… ngay lập tức ạ.
Tôi chưa kịp hết ngạc nhiên về “đồng chí” nào đó ngồi trước mặt ông, ông đã thoắt trở nên hết sức hồ hởi, mừng rỡ như thể chính tôi là người báo tin ông mới lên chức Viện phó :
- Đồng chí Viện trưởng vừa gọi điện mời anh sang phòng khách có người đang chờ.
- Chắc đồng chí ấy nhầm với ai rồi, khách của tôi mọi khi vẫn chờ ngoài phòng thường trực.
- Không, không nhầm, khách đặc biệt mà . Ái nữ đồng chí Ủy viên Bộ chính trị phụ trách tổ chức chứ có phải thường đâu…”
Ông chạy vòng quanh bàn, nâng người tôi dậy, dẫn đi, miệng vẫn luôn gữi nụ cười :
“Nào, mời anh sang đi, khách đang chờ…”.
Ra tới cửa, ông dừng lại, âu yếm nhìn theo tôi mãi tới lúc khuất sau hành lang. Lần đầu tiên trong đời tôi được đặt chân vào “phòng khách cơ quan” nằm sát phòng Viện trưởng, vốn chỉ đón khách nước ngoài và cấp trên, bởi vậy tôi cứ trố mắt vào bức tường phủ nhung đỏ treo la liệt những bằng khen, giấy khen, huy chương, huy hiệu, chùm đèn cơ man  bóng treo trên trần, một cái tủ kính sáng choang trong chứa toàn các bộ sách kinh điển Mác Leenin đóng bìa da, bộ xalông gụ khảm xà cừ mà cứ mỗi chiếc ghế lớn khách ngồi lại kèm một cái ghế nhỏ chắc để dành cho thư ký.
- Kìa, em đây cơ mà… sao cứ nhìn đi đâu thế ?
Tôi giật thót người nhận ra Cẩm Lai đang bắt chéo chân trong cái ghế bọc nhung . Dẫu đang bàng hoàng vì sự sang trọng của căn phòng, sự xuất hiện bất ngờ của Cẩm Lai, tôi cũng nhận ra rằng nàng có đôi chân tuyệt đẹp đang vung vẩy dưới chiếc váy quá ngắn. Tôi bỗng nóng bừng cả người, hồn vía như chui hết vào cái khe giữa cặp đùi phô nguyên cả bộ . Mầu sắc và khối lượng của nó làm tim tôi đập thình thịch. Quả thực cái kiểu ăn mặc nghèo vải thế kia chẳng hợp tý nào với căn phòng oai nghiêm, trang trọng ông Viện trưởng đã có nhã ý dành riêng cho nàng gặp tôi, và tôi cũng phải thú thực rằng nếu lúc này nàng muốn tôi cũng sẵn sàng tặng ngay cho đức ông chồng của nàng một cặp sừng tại cái phòng khách oai nghiêm này dẫu việc đó có nguy hiểm chết người.
- Anh khoẻ không ? Sao cứ nhìn em chằm chằm thế ?
Tôi như tỉnh cơn mơ, vội nói rằng tôi rất khỏe và không ngờ nàng còn hạ cố tới tận cơ quan gặp tôi thế này, quả thực phiền cho nàng quá. Cẩm Lai kéo tôi ngồi bên, dài giọng :
-               - Dẹp kiểu nói của anh đi, em chỉ tới anh lần này nữa thôi, từ  sau tối mai…em  quyết chí thờ chồng.

(còn tiếp)