Tổng số lượt xem trang

Thứ Bảy, 7 tháng 1, 2012

TRẦN HOÀI DƯƠNG - CHUYỆN GIỜ MỚI KỂ.



Sau khi đưa lên blog bài “Trần Hoài Dương- chuyện chưa biết” của Huy Thắng, nhiều viewer gọi điện tới yêu cầu còn chuyện gì chưa biết về Trần Hoài Dương thì kể nốt ra. Vậy thì " tôi xin kể nốt…không phải “chuyện con voi” trong bài đồng dao “con vỏi con voi…” mà kể nốt…chuyện Trần Hoài Dương.
Những năm đầu 1970 ở Hà Nội, Trần Hoài Dương thân với Hoàng Hưng đến mức hai người tiễn tôi đi B tại ga Hàng Cỏ cùng đội mũ tai bèo, cùng mặc quần áo mầu xanh rêu vào buổi tối ngày 23 tháng 9 năm 1973 , ngày mà người ta vẫn hát “ mùa thu này…ngày 23…ta ra đi…”. Sau này, tôi cứ nhớ mãi hình ảnh đôi bạn thân tình vào đêm Hànội vào đầu thu lành lạnh đó.
Hai năm sau, Hoàng Hưng chuyển vào Sàigòn ngay sau năm 1975, tôi mãi 1980, Trần Hoài Dương vào sau cùng năm 1982. Một hôm Trần Hoài Dương bổ đến tôi , rụng rời :
“ Hoàng Hưng bị bắt ngoài Hà Nội…”
Tôi ngớ người :
“ Bắt Hoàng Hưng ? Bắt về tội gì ?”
Phản động à ? Không phải, Hoàng Hưng làm thơ tránh rất xa chuyện thời thế. Cùng lắm là bóng gió xa xôi như bài thơ “ Chờ đợi gió thu…” gợi ra sự chờ đợi vô vọng trong không khí oi  bức. Đó là “tán rộng” ra thôi, chứ bài thơ khá hay này chẳng có ẩn ý chính trị gì . Vậy Hoàng Hưng bị bắt về tội gì ? Trần Hoài Dương lắc đầu :
“ Chịu…mình cũng chẳng biết. Thôi, tốt nhất là hai thằng kéo tới nhà Hoàng Hưng lục lọi xem có tài liệu gì “phản động” thì cất đi , thế nào vài bữa nữa nữa công an cũng tới khám nhà…”
Thế là tôi và Trần Hoài Dương tức tốc phi ngay tới nhà Hoàng Hưng lục tìm trong giá sách, tủ sách, tuy nhiên chẳng có một tờ giấy nào ghi tới một chữ gọi là “phản động”. Ít lâu sau, Trần Hoài Dương gặp tôi báo tin :
“ Hoá ra Hoàng Hưng bị bắt vì cầm bản thảo tập thơ “Về kinh Bắc” của Hoàng Cầm sau khi đi Hải Phòng tìm mua sách cũ trở về Hà Nội…”
Tôi chợt kêu lên :
“ Thôi chết rồi…sinh ư nghệ…tử ư nghệ thật rồi…”
Trần Hoài Dương ngớ người :
“ Cậu nói thế là sao ?”
Tôi thong thả cắt nghĩa :
“ Hoàng Hưng vốn có tài … đi buôn chẳng kém gì làm thơ. Mới vào Sàigòn đã buôn máy ảnh, giấy ảnh, máy Akai, thùng loa rồi tự điển, sách cũ. Kỳ này ra Hà Nội , đi Hải phòng tìm mua bộ tự điển Britanica. Từ buôn sách cũ dấn lên buôn bản thảo khác gì buôn hàng quốc cấm nên mới chết …”
Trần Hoài Dương gật gù :
“ Chắc cậu muốn đưa tập thơ “ Về kinh Bắc” của Hoàng Cầm ra nước ngoài in. Thảo nào thuê cả cụ Văn Cao vẽ bìa. Hoá ra Hoàng Hưng bị bắt không phải do làm thơ “phản động” hoặc hoạt động chính trị mà do đi buôn bản thảo ? Thế mà mình cứ sợ , chưa chi đã chạy đến nhà hắn lục lọi coi có viết gì “phản động” không ?”
Sau này nghe nói vào tù Hoàng Hưng “thành khẩn” vượt yêu cầu nên “ưu tiên” được làm Trưởng đại diện tù nhân, chuyên ngồi trình bày báo tường, sau Hoàng Hưng đến lượt Phan Đan “xộ khám” và khi ra tù Hoàng Hưng hỏi tôi một câu bất ngờ :
“ Tớ vào đó cứ chờ cậu…tưởng thế nào cậu cũng vào …”
Ôi chết cha…mình có viết lách gì “phản động” đâu nhỉ ? Chắc cha này khai báo ghê gớm lắm nên chắc mẩm mình phải vào theo hắn.
Hai tháng sau ngày Hoàng Hưng bị bắt, Trần Hoài Dương tới tôi nhăn nhó :
“ Chẳng biết Hoàng Hưng khai gì về mình mà công an văn hoá có giấy triệu tập tớ lên trụ sở ở Nguyễn Trãi này…”
Tôi cười cười :
“ Cả tớ cũng có giấy triệu tập mời ông Nhật Tuấn đây…thì cứ lên coi sao !”
Hai năm sau ngày Hoàng Hưng ra tù, Trần Hoài Dương hình như giận Hoàng Hưng sao đó, đến tôi ca cẩm :
“ Cậu Hưng có phải tù chính trị quái đâu, bởi vậy giờ được đưa lên làm Trưởng ban văn hoá văn nghệ báo Lao động chủ nhật kìa…”
Tôi gật gù :
“ Hồi này nhà thơ Hoàng Hưng ký tên Thuận Thiên viết xã luận “ hồ hởi phấn khởi “lắm, như Nô-en mới rồi, cậu viết  “nô en là no ấm yên lành..hồi chuông vang vang…no ấm yên lành, no ấm yên lành…”
Cả tôi và Trần Hoài Dương cùng cười ha ha.
Hồi còn “hàn vi” ngoài Hà Nội, Trần Hoài Dương cũng thân với nhạc sĩ Dương Thụ lắm. Vài tháng trước khi mất, Trần Hoài Dương tới nhậu ở nhà tôi, tâm sự :
“ Dương Thụ nó mở quán “Càphê Mưa” thỉnh thoảng tụ tập văn nghệ sĩ và kỳ nào cũng mời mình tới dự …”
Tôi tấm tắc :
“ Vậy nó quý cậu lắm đấy. Chẳng bù cho tớ, chẳng bao giờ nó mời…”
Trần Hoài Dương cười khì  khì :
“ Mời Nhật Tuấn có mà nó dẹp tiệm. Nó phải chọn  toàn “văn nghệ sĩ”,”trí thức” quốc doanh thôi chớ. Ngay cả tớ giờ nó cũng cho ra rìa , không mời nữa rồi..”
Tôi ngạc nhiên :
“ Trần Hoài Dương mà không mời thì còn mời ai ?”
Trần Hoài Dương cười cười :
“ Chắc tại tớ chửi nghị sĩ Dương Trung Quốc ngay trong nhà hàng Lotus của thằng Lân kính, rồi lại chẹn họng đồng chí Ba Đua , Phó Bí thư thành uỷ trong cuộc họp với các nhà văn trước khi đi đại hội nên nó sợ…”
Tôi bật cười :
“ Vậy thì đúng rồi. Chẳng hạn khi Dương Thụ mời nhà thơ Hữu Thỉnh, nhà văn Nguyễn Quang Sáng hay nhà lý luận  Lê Quang Trang tới quán, ông lại nổi máu điên đốp vào mặt người ta một câu nổ đom đóm mắt thì nó …chết đứng. “ Cà phê Mưa” là nơi làm ăn của nó mà…”
Trần Hoài Dương không nói gì, mặt hơi buồn. Đang uống rượu, bất chợt anh gục mặt xuống bàn, lát sau mởi ngẩng đầu lên. Tôi hoảng sợ :
“ Hoài Dương có sao không ?”
“ Không sao đâu. Thỉnh thoảng mình cứ thấy chóng mặt rồi xung quanh cứ quay tròn, quay tròn…”
Tôi kêu lên :
“ Ấy chết …Hoài Dương phải đi khám coi nó là cái bệnh gì…”
Hoài Dương lắc đầu :
“ Mình hay bị thế lắm  nên quen rồi, khám làm gì, tốn tiền…”
Thật không ngờ nó là dấu hiệu báo trước sự ra đi đột ngột của anh chỉ vài tháng sau.


          Rạng ngày 8-1-2012





Thứ Sáu, 6 tháng 1, 2012

HÀNỘI...HỒI ẤY (34)

                            (tiếp theo)   


 13

   Bức chân dung nàng của họa sĩ Ngời đã vẽ xong. Vào một buổi sáng bước vào phòng, tôi nhìn thấy nó dựng ngay cạnh nàng như sự đối chiếu giữa nghệ thuật và thực thể. Nếu cảm hứng bao trùm trong những bức tranh tôi được thấy trong “ xưởng họa” nhằm diễn tả sự méo mó, biến dạng của con người thì ở đây, trong bức tranh này, dường như họa sĩ Ngời đã làm ngược lại, khắc họa vẻ đẹp siêu việt, trác tuyệt của người con gái nơi trần thế. Quả thực cái đầu đầy những phân tích, luận lý của tôi không thể nào phân biệt nổi sự khác biệt giữa nàng trong tranh và nàng ở ngoài đời, chỉ biết khi vừa được thấy, ngay tức khắc một niềm cảm phục, sung sướng đến ngây ngất đã choáng ngợp khiến tôi cứ đứng ngẩn trên đôi chân mỗi lúc một khuỵu xuống như một con chiên trước phép lạ của Đức Chúa Trời.
- Anh ta vẽ đẹp thật… mà lạ lạ thế nào ấy.
 Ông Đ.vào phòng từ lúc nào, sờ vào người tôi thì thào. Ngay cả ông nữa, người “duy vật” trước bức tranh cũng trở nên thành kính, trang nghiêm như mỗi lúc ông thắp hương trước bàn thờ nhỏ ông mới đặt góc buồng sau ngày con gái lâm bệnh. Ông kể với tôi sau khi vẽ xong họa sĩ thu dọn dụng cụ, ngồi rất lâu dưới chân giường cô gái, lúc về chỉ dặn khi nào cô ấy tỉnh cần quan sát kỹ thái độ của cô ấy khi nhìn thấy bức tranh. Tôi ngạc nhiên.
- Vậy hắn không mang đi ư ?
- Không, anh ấy bảo để lại tặng em nó đấy.
 Tôi nhìn nàng đau nhói, chừng nào nàng hết bệnh để được thấy bức chân dung tuyệt tác vẽ chính mình ? Tôi không dám tưởng tượng quá xa nhưng một mai nếu điều thần kỳ ấy xảy ra, tôi sẽ cưới nàng và treo bức tranh ấy trong phòng ngủ để được sống với nàng cả ở ngoài đời lẫn trong nghệ thuật.
Rời nhà nàng tôi bổ đi tìm họa sĩ Ngời và gặp hắn ở quán “ Nghệ sĩ”. Tôi vồn vã chào hỏi, kéo ghế ngồi cạnh, trầm trồ khen ngợi tài năng hắn trong bức chân dung nàng, thế rồi bốc máu lên, tôi cứ nói đi nói lại rằng cái mạnh của hắn chính là vẽ về cái đẹp, cái cao thượng của con người, từ nay cứ cái nguồn ấy mà khơi chớ nên động tới sự xấu xa, sự biến dạng, sự sa đọa vốn không hợp với tạng hắn. Hắn vừa uống vừa nghe tôi nói, chẳng ra phản đối cũng chẳng ra phụ họa, sau cùng khi tôi đã dứt lời hắn mới thủng thẳng :
- Xin lỗi cậu nhé, tớ đang mệt, cút mẹ cậu đi chỗ khác.
 Nói xong chẳng thèm nhìn xem tôi phản ứng ra sao, hắn lại cắm mặt vào chén rượu với vẻ lừ đừ rất cô hồn. Tôi đứng phắt dậy, vừa tức vừa nhục, nhưng không lẽ đánh nhau với thằng say, đành lếch thếch ra khỏi quán, bụng thề rằng từ nay dứt khoát không bắt chuỵện với thằng họa sĩ điên kia nữa, và nói chung, cả những thằng vẫn ngồi trong cái quán gọi là “ nghệ sĩ” này, tôi cũng sẽ “kính nhi viễn chi” cái lũ rồ ấy ra, trò chuyện với các ông Trưởng phòng, Bí thư Chi bộ, Công đoàn phòng bao giờ cũng dễ dàng, khoan khoái hơn, chẳng bao giờ các ông ấy nói chuyện viển vông con người là ai, con người đi về đâu, các ông ấy chỉ nói rặt những chuyện thiết thực lên lương lên chức, cùng lắm là chuyện sáp nhập Bộ dôi ra các Cục Vụ Viện thì các thủ trưởng sẽ đi đâu thôi. Vậy mới đúng là nền “văn minh cán bộ”. Bởi thế cái chuyện tôi “chạy” thiệp cưới cho ông Viện trưởng vốn là chuyện “nội bộ” giữa tôi và ông Trưởng phòng chẳng hiểu sao lọt ra ngoài và thế là suốt tuần, đề tài bên các bàn trà cơ quan chỉ xoay quanh mỗi đám cưới cô Cẩm Lai và tương lai ông Viện trưởng. Và cả tôi nữa, bỗng dưng trở thành trung tâm chú ý của toàn cơ quan, chỉ cần bước vào cổng, qua sân là hàng trăm cặp mắt từ ông thường trực, bác lao công cho tới các ông trưởng phòng, Ban, Ngành, đoàn thể đều đổ dồn vào cái túi xách tay của tôi cứ y như là trong đó đã có sẵn cái thiệp cưới mời ông Viện trưởng rồi.
Càng gần tới ngày cưới Cẩm Lai, sự chờ đợi càng căng thẳng, chuông điện thoại réo liên tục trên bàn ông Trưởng phòng khiến ông lo xanh lè cả mặt, chẳng biết làm gì hơn là trút nó sang tôi bằng những lời thúc giục, khẩn khoản, vừa như ra lệnh lại vừa như van nài.Trong mấy ngày liền,tôi thấy bộ máy lạnh đạo Phòng hội ý liên tục và rồi một buổi tối, ông Công đoàn bỗng dưng lại quá bộ tìm tới tận nhà tôi. Khác với lần trước tới “ làm công tác tư tưởng” cho tôi khỏi bị quan yếm thế trong việc cắt đứt quan hệ với ái nữ đồng chí cán bộ cấp cao, lần này ông tới chẳng hiểu vì chuyện gì mà trong tay cắp hẳn một cân đường trắng tinh, với thái độ ưu ái chưa từng thấy kể từ khi ông được bầu vào chức Công đoàn.
Ông mở lời thật cảm động :
- Lẽ ra tôi có trách nhiệm tới thăm cậu ngay sau ngày cậu được tha trong cái vụ… cái vụ ấy ấy…
 Ông tìm mãi chẳng ra chữ, tức mình buông luôn sang chuyện khác :
- Cậu đi vắng ít nắm được tình hình, phòng ta bây giờ gay lắm, hai chuyên đề VLDK1 và VLDK2 phiêu lưu quá, tiêu tốn cả chục triệu mà kết quả chưa thấy đâu, ngoài mặt ông Trưởng phòng ra vẻ cứng vậy thôi, trong bụng núng lắm rồi. Tôi đang tính có nên họp Đại hội công nhân viên chức kiến nghị lên trên bỏ hai cái chuyên đề ấy không ?
 Chao ôi, tôi nằm mơ chăng, có phải đúng ông thư ký công đoàn phòng đang nói đấy chăng ? Quả thực từ hồi cha sinh mẹ đẻ tới giờ chưa bao giờ tôi được nghe những lời báng bổ cấp trên đến như thế ? Ông Công đoàn định tổ chức phái đối lập ngay trong phòng và đang lôi kéo tôi chăng ? Ấy chớ, chớ dính dáng tới chuyện chính trị kẻo bị chết giữa các phe phái. Sau khi bắt tôi thề sống thề chết, cam kết câu chuyện ông sắp nói đây chỉ là chuyện giữa “ chúng ta”, tuyệt đối không được sang tai một người thứ ba, ông mới bắt đầu bài thuyết trình dài hơn nửa tiếng đồng hồ về tình hình trong nước, ngoài nước, trong cơ quan, ngoài cơ quan, chức năng nhiệm vụ của từng người… làm tôi ù cả tai, mãi sau mới hiểu được rằng ông Trưởng phòng và quan thầy là ông Viện trưởng đều là những người chưa “đổi mới tư duy” chưa thích hợp với bước ngoặt của cách mạng, bởi vậy cần làm cho cấp trên thấy rõ lớp cán bộ mới như đồng chí Bí thư Chi bộ,đồng chí Viện phó kiêm Trưởng phòng tổ chức, đồng chí Thường vụ Đảng uỷ kiêm Trưởng ban thi đua… mới là những người đảm đương nổi cái chức vụ quan trọng trong tình hình sáp nhập Bộ và các Cục, Vụ, Viện sắp tới… Nghe ông trình bày xong, tôi hoảng hồn :
- Vậy cái đó có liên quan gì tới tôi ?
- Có chứ, trong chuyện này cậu là người rất quan trọng.
 Ông nói long trọng và dừng lại để tôi có thời gian tiêu được những điều giật gân ông đang nhồi nhét, tuy nhiên tôi vẫn chối đây đẩy :
- Chịu thôi, tôi chịu thôi, ông nói vậy tôi cũng biết vậy, tôi chẳng dính dáng vào chuyện mấy ông, tôi tài hèn sức yếu, không làm được những chuyện tày đình như thế đâu.
 Lúc này ông mới nở nụ cười rất tươi :
- Ô hay, tôi có bắt cậu làm chuyện gì ghê gớm lắm đâu, tôi chỉ đề nghị cậu mỗi việc là thôi, không xin cho đồng chí Viện Trưởng cái thiệp mời cưới ấy nữa, cho đồng chí ấy hết cửa để “ chạy”, tạo dễ dàng cho cấp trên… sắp xếp lại tổ chức.
      
                                        (còn tiếp)

Thứ Năm, 5 tháng 1, 2012

TRẦN HOÀI DƯƠNG - CHUYỆN CHƯA BIẾT



                                                                HUY THẮNG
                                               Huy Thắng và Trần Hoài Dương 

           Trần Hoài Dương nhiều bạn bè. Rất nhiều.  Sau cái chết  của anh thì càng rõ, nhiều đến ngạc nhiên.

           Ngay sau khi Trần Hoài Dương đột ngột qua đời, hầu như trên tất cả báo chí ra hàng ngày hay hàng tuần, hàng tháng, rồi trên mạng Lê thiếu Nhơn, Trần Nhương… và trên  blog của các nhà văn ,nhà thơ, nhà báo…khắp cả nước, liên tiếp trong nhiều ngày liền liên tục tải bài viết của các cơ quan ngôn luận, nhất là của bạn bè, nhà văn, nhà thơ, nhà báo nói về sự ra đi của anh, gợi lại những kỉ niệm với anh, cảm nhận về những tình cảm , lòng yêu quí, kính trọng , thương yêu với anh, sự hụt hẫng khi thiếu vắng anh.

          Rất hiếm trường hợp một con người bình thường khi ra đi  đã  để lại biết bao tình cám sâu sắc, xúc động và yêu thương thực lòng của rất nhiều người đến vậy . Cảm giác những ai ít nhiều quen biết anh nhân đây cũng muốn được một lần nói lên những cảm nghĩ tốt đẹp về anh . Mới rõ Trần Hoài Dương có một vị trí  như thế nào trong lòng bạn bè, những người thân quen..

          Vì sao Trần Hoài Dương có được những tình cảm ấy, đặc biệt là trong giới văn chương, vốn thường khá khắt khe, thận trọng  khi nói về nhau.?

        Trước hết người ta trọng anh ở nhân cách. Ai thân thiết với Trần Hoài Dương thường biết tính anh đôi khi bất thường. Đang vui đấy, đang chuyện trò đậm đà đông vui đấy nhưng thấy có  một câu nói, một cử chỉ nào đó lố bịch , khó chịu, thì lập tức anh  nổi giận , tỏ thái độ , thậm chí không ngại buông ra những lời lẽ rất mạnh, rất phũ, rất thẳng, cho dù người được nói tới có là quan chức, tên tuổi gì đi chăng nữa.  Hẳn nhiều người còn nhớ hôm ở nhà hàng Lotus đường  Nguyễn Đình Chiểu, thành phố Hồ Chí Minh, trước một vị đại biểu quốc hội nhiều khoá, vốn nổi tiếng khôn khéo , hay trong cuộc gặp mặt các nhà văn thành phố Hồ Chí Minh chuẩn bị lên đường ra Hà nội họp đại hội nhà văn Việt Nam trước rất nhiều  chức sắc . Anh rất ghét  thói giả dối, ba hoa đạo đức, lên mặt dạy đời của những kẻ xu thời,nịnh bợ, ăn theo, nói leo.  Nhiều người có mặt  khi đó cũng có chung ý nghĩ như anh nhưng thường chỉ dè dặt tỏ thái độ bằng sự im lặng.  Trần Hoài Dương không thế. Những trường hợp này anh thường  quyết liệt, không thoả hiệp.
 
         Bản tính của Trần Hoài Dương là anh không bao giờ phân biệt người này người khác.Ai anh cũng rất trân trọng, nếu  xứng đáng. Dù là một tên tuổi lớn, một quan chức chính quyền hay một người bình thường khi đã là bạn thì anh ứng xử đều như nhau. Có lần anh bảo, một cô “ ca ve “  còn nhân cách hơn khối quan chức thoái hoá biến chất chưa lộ mặt.  Không quan trọng hoá bất cứ việc gì nhưng anh cũng không bao giờ có một cử chỉ, lời ăn tiếng nói buông tuồng. Khi nào cũng rất nghiêm túc,từ cử chỉ, nói năng. Trần Hoài Dương có điều này hình như hơi”cứng”. Anh yêu bạn  nhưng  vì quá yêu nên cũng đôi khi  hờn giận bạn một cách bất thường. Nhiều bạn bè thân thiết, con chấy cắn đôi,  có không ít gắn bó trong tình cảm nhiều năm với anh mà tôi biết như nhà văn N.T, nhà thơ H.C., nhà thơ H.H., nhà thơ T.T., ..vậy mà có lúc tưởng đã không nhìn mặt nhau.  Cũng không ít người quen đang cùng anh vui vẻ, bỗng dưng thấy anh tự nhiên lạnh nhạt, không quan hệ, chẳng hiểu sao. Sau vỡ lẽ, cũng chỉ vì một câu nói , một cử chỉ , có khi chỉ là bạn vô tình, sơ ý. Hiểu anh và hiểu những  bạn bè thân thiết của anh, lại biết câu chuyện nên  đôi khi tôi cũng trung gian  làm rõ sự việc. Cũng may là chỉ một thời gian ngắn ngay sau đấy hiểu ra, liền quên giận  Họ trở về bình thường, thắm thiết như xưa. Xin kể lại một chuyện. Cách đây mấy năm, một lần có việc ra Hà nội, chưa kịp cả về nhà, nhớ đến bạn. anh liền gọi điện mời nhà thơ T.T.và không quên nhờ mời thêm cả vợ con nhà thơ cùng đi ăn cơm chiều. Dương mời gia đình bạn ra một nhà hàng khá sang trọng, ăn uống ngon lành, chuyện trò vui vẻ. Lúc ăn xong còn đang ngồi uống nước thì trên ti vi phát chương trình bóng đá quốc tế.  T.T. vốn mê môn thể thao vua  nên chẳng thể đừng,  bỏ ra ngồi trước màn hình. Không  thấy T.T. quay lại dù Dương gọi, vợ nhắn nhưng T.T. lí do, coi bóng đá cũng là một cách đi thực tế. Chờ lâu quá, cuối cùng Dương  đành đứng lên thanh toán rồi cùng vợ con T.T. về trước.  Qua chuyện ấy Dương rất giận ,cho như thế là không tôn trọng bạn,tôn trọng vợ con. Thế nhưng khi nghe tin T.T. ngã bệnh  Dương đã bay ra lần mò  tìm bằng được tới ngôi nhà mới của bạn xây ở ngoài đê sông Hồng. Thế đấy, dù đôi khi có giận hờn nhưng thẳm sâu là đầy ắp những tình yêu, kỉ niệm bạn bè làm sao anh có thể dễ dàng. quên đi được? Cách một ngày trước khi anh mất, tôi có nhâm nhi cùng Trần Hoài Dương , anh tâm sự đang giận Nhật Tuấn, nhưng rồi anh lại nói : “Giận thì giận nhưng luôn nhớ. Ở Sài gòn bây giờ mình thường chỉ  nói chuyện nhiều với Phan Đan và Nhật Tuấn”. Anh nói thơ Phan Đan ít đăng báo nhưng rất hay. Anh  bảo Nhật Tuấn viết văn xuôi cực kì hấp dẫn.

          .Trần Hoài Dương  rất quan tâm, năng đi lại  tới những người anh kính trọng, yêu quí..Không lần nào ra Hà nội mà anh không đến thăm nhà văn Tô Hoài, người mà theo anh nói, đã có ảnh hưởng lớn giúp anh bước vào con đường văn chương..  Tôi cũng đã cùng anh nhiều lần tìm đến thăm nhà văn Đào Vũ, nhà thơ Phạm Hổ, nhà văn Triều Dương, nhà thơ Băng Sơn, nhà văn Nghiêm Đa Văn… khi các anh đau yếu, nằm viện.  Và không chỉ một lần.  Rồi cả khi các anh qua đời.  Sau khi Triều Dương mất, vợ con chuyển nhà không thông báo nên mỗi lần ra Hà nội anh đều nhờ người tìm địa chỉ mới của bạn mà không được nên cứ băn khoăn làm sao có thông tin,  chỉ để thêm một lần được thắp  nén hương trước ban thờ của bạn. Nhớ hôm vào bệnh viện Bạch Mai thăm Nghiêm Đa Văn đang  nằm chạy thận Thấy Văn bủng beo, đờ đẫn, Trần Hoài Dương sốt ruột dục thử tìm chạy chữa thêm đông y. Rồi bỏ tiền thuê taxi đưa lén đưa Văn đi khám và mua thuốc nam của một lương y tận huyện Hoài Đức. Mà tiền xe đi về và mua thuốc đâu có ít.

         .Tình cảm đối với bạn bè, anh không nhiều lời mà thường bằng việc làm. 

     Trần Hoài Dương  rộng tính.  Ai có khó khăn gì cần sự giúp đỡ của anh,nếu trong khả năng có thể làm được thường không bao giờ anh từ chối.Cả tinh thần và vật chất. Hứa hẹn với ai điều gì thì thực hiện bằng được. Khi anh còn đi làm cơ quan  có lương lại viết khoẻ không nói làm gì, nhưng sau này ra biên chế, ra Đảng thì không phải cuộc sống của anh  không có lúc gặp khó khăn. Nhưng mỗi lần ra Bắc, gặp bạn bè hay những khi bạn bè từ Bắc vào, được tin  thường anh hay chủ động đến thăm, mời đến ăn ở chỗ anh và  đi lai rai. Và gần như bao giờ Trần Hoài Dương cũng   là người chủ động đứng lên thanh toán. Rồi để cho bạn đỡ áy náy, anh hay thủ thỉ nửa đùa nưả thật: “ Em báo cáo thật với bác , em vừa  đi bán được ít máu nên đang có tiền. Bác cứ yên tâm, chứ thảo dân như chúng em bây giờ biết đục khoét, tham nhũng vào đâu”. Anh nói phải đi bán máu, có người tin và còn  thêm  , anh đã  bán máu để nuôi cháu Quỳnh đi học và   thêm tiền sinh sống. Nhưng  về chuyện này  biết anh lâu,tôi thực sự không tin lắm. Tôi từng nghe Trần Hoài Dương tâm sự,  có lần phải đi bán máu, nhưng ngày đó đã lâu lắm rồi,tại Hà nội, từ khi anh còn chưa lập gia đình, Đó là lần anh cần tiền để giúp ngừơi bạn gái chữa bệnh. Chuyện bán máu nuôi con đi học, tôi chắc không có nên  chẳng có lần chị Trinh , vợ anh, từng khổ tâm khi nói ra trên công luận đó sao ?   Thi thoảng  thường thấy anh nói với bạn này bạn khác chuyện anh bán máu, nhưng tôi cho là  anh nói cho vui thôi, chứ ai mà không biết sức vóc anh thế nào. Nhìn thân hình gày gò, lòng khòng, ẻo lả , nước da lúc nào cũng mai mái như người hậu sản, thì đâu có nhân viên y tế nào  dám đang tâm  đưa kim tiêm vào thân thể để hút máu của anh ?

     Hồi Trần Hoài Dương làm biên tập văn xuôi ở  báo Văn Nghệ đã có nhiều tâm sức giúp đỡ, chăm sóc cho rất nhiều tên tuối văn học xa lạ trở nên gần gũi, quen thuộc với công chúng.  Nhà văn Nhật Tuấn có lần viết trên Văn Nghệ rằng, chính Trần Hoài Dương và tuần báo Văn Nghệ đã  “dắt “  anh vào văn học. Không phải chỉ một trường hợp Nhật Tuấn mà còn biết bao nhà văn khác đã nổi lên trên văn đàn từ những năm bẩy mươi của thế kỉ trước từng biết ơn anh như là một bà đỡ tận tâm, vô tư và tinh tế để có được những đưá con tinh thần mang lại tự hào cho văn học. Theo tôi cho đến nay, hình như hiếm gặp người biên tập văn nghệ nào có trách nhiệm, tận tâm hết lòng một cách  trong sáng với các cộng tác viên  như Trần Hoài Dương. Đáng nói hơn, hầu hết những cộng tác viên này trước đó,chưa một lần anh từng gặp. Phải chăng  bạn bè văn chương yêu mến, trọng nể anh vì như vậy ?

       Ai cũng biểt Trần Hoài Dương có nhiều sách. Tủ sách riêng của anh đồ sộ,có lẽ còn nhiều hơn bất cứ một thư viện cỡ tỉnh huyện nào ở nươc ta nếu xét riêng về sách văn học được xuất bản ở nước ta trong khoảng trên 60 năm qua. Sách bạn bè tặng, sách biếu, sách mua. Anh yêu và giữ sách như đối với một người thân. Nhưng cũng có khi hơi thái quá.Cách đây hai ba năm anh bắt gặp một bộ sách mĩ thuật cổ Trung hoa mà anh rất thích nhưng giá của bộ sách đắt quá sức anh nên chỉ thỉnh thoảng đảo qua nhìn cho đỡ nhớ. Sau anh ốm phải nằm viện. Cháu Quỳnh gửi nhanh về cho bố 300 bảng Anh ,đổi sang tiền Việt đâu đươc hơn 10 triệu để bố chữa bệnh vì nay anh đã là phó thường dân , đâu có lương, có bảo hiểm y tế. May bệnh tình không đến nỗi nào, viện phí chỉ mất hơn một triệu. Còn lại chín triệu định mang về tằn tiện ít bữa  nhưng thế nào chân anh lại tìm ra đúng hiệu sách có bày bán bộ sách quí hiếm kia. Giá đâu lên tới hơn tám triệu. Ngẩn ngơ đi đi lại lại mấy lần sau anh liều quyết định đếm tiền trả để lấy bộ sách. Vậy là chỉ còn gần triệu bạc đem về mua mấy thùng mì ăn liền thay cơm.

        Khác với nhiều người mua sách,thích bầy sách để làm sang,  Trần Hoài Dương  đọc nhiều và rất nhớ. Đến mấy chục năm qua đi mà khi cần anh vẫn có thể đọc lầu lầu cả mấy trang trong cuốn “Ruôi Trâu “ hay “ Thép đã tôi thế đâý”mà anh đọc từ cuối những năm 50, đầu những năm 60 của thế kỉ trước. Việc này giúp anh  nhiều trong công tác biên tập, tránh được tình trạng có biên tập viên vì lười đọc, cho in cả những bài của các tác giả đã “đạo”trắng trợn của tác giả khác chỉ  in trước đó không lâu. Việc đọc nhiều còn giúp anh tìm thấy nhiều  truyện hay của các tác giả trong và cả ngoài nước, và giúp anh cho ra đời được các bộ sách biên soạn giá trị như :”Tuyển tập truyện ngắn hay thế giới viết cho thiếu nhi”,”Tuyển tập truyện ngắn hay Việt Nam viết cho thiếu nhi”,bộ sách giới thiệu những áng văn thơ hay của các tác giả đông tây kim cổ nói về thời tiết “Bốn mùa”…mỗi bộ gồm nhiều tập,  vài ngàn trang.  Có thêm một cử chỉ rất đẹp ở Trần Hoài Dương. Lần tái bản bộ”Tuyển tập truyện ngắn hay Việt nam viết cho thiếu nhi”vào dịp giáp Tết Nguyên đán. Đến  hỏi hộ các tác giả nhuận bút nhưng vì nhà xuất bản có nhiều việc phải chi gấp nên nói chưa có, lập tức anh đã mượn bảng nhuận bút từ Nhà xuất bản rồi chủ động bỏ tiền cá nhân ứng trước gửi tới những tác giả mà anh biết có khó khăn. Chính anh đã nhờ tôi giúp chuyển sách biếu và nhuận bút tới một vài nhà văn quen biết với lời giải thích: Têt nhất đến nơi, tuy số tiền cũng chẳng đáng bao nhiêu nhưng  gọi là một chút quà cho vui”.Thế đấy, tuy nhỏ thôi nhưng mấy ai đã  có được cái tâm lí và việc làm tinh tế như vậy ?

    Nửa cuối cuộc đời mình, Trần Hoài Dương gặp khá nhiều trắc trở. Nhưng bất ngờ ở chỗ,  đọc những tác phẩm của anh, nó vẫn lóng lánh những đẹp đẽ mê hoặc.    Nghiệt ngã cuộc đời từng lấy đi của anh gần như tất cả, niềm tin, tình yêu , lí tưởng mà cả một thời trai trẻ anh từng đặt hết vào những mơ mộng đó.  Dẫu vậy anh vẫn luôn dành những trang viết  của mình cho các em nhỏ và cả những ai từng đánh mất tuổi thơ của mình, gửi gắm những tâm huyết, mong tất cả hãy cứ sống hết mình vì cái đích của cuộc đời là  cái đẹp và cái thiện và lòng nhân ái.

                                 H.T.
       .
         


Thứ Tư, 4 tháng 1, 2012

HÀNỘI...HỒI ẤY (33)



 
                    (tiếp theo)



 Chao ôi, nếu tôi biết trước nàng nổi đoá lên thế này, chắc chắn tôi rút lui cái “ phi vụ” làm ăn với ông Trưởng phòng. Nàng la lên rằng cái con Cẩm Lai kia là cái “con phản bạn”, nàng mới buông tôi ra hôm trước hôm sau nó đã tới mồi chài, chính “ nó đã xui em chớ có lấy anh cho phí đời con gái”, “ bố nó” có là ông lớn đi nữa nàng cũng cóc cần, từ nay nàng cấm cửa… Cơn giận của nàng khiến tôi ngờ rằng nó có liên quan đến cái đêm Cẩm Lai tới phòng tôi “ đền bù” cho tôi, bởi vậy tôi đành để cho nàng “ xả xúpáp” cho thật hết, mới từ tốn kể nàng nghe từ thắc mắc của ông Trưởng phòng sao đồng chí Viện trưởng không nhận được thiệp mời, tới nỗi lo của ông không khéo kỳ này Ngài giận gì đồng chí chăng mà không thấy quan tâm, càng đáng lo hơn khi nghe nói sắp tới sẽ sáp nhập Bộ nên Cục Vụ Viện thừa ra nhiều lắm. Nàng Ánh Tuyết chừng đã sốt ruột về câu chuỵên đượm mùi “ tổ chức nhân sự” nên cắt ngang :

- Thôi thôi, chuyện đó dính dáng quái gì tới em ?

- Có chứ, em đóng vai trò rất lớn trong vụ này, chỉ cần em tới nói với Cẩm Lai xin một cái thiệp mời dự cưới ghi đích danh ông Viện trưởng là anh lên một bậc lương .

 Nàng Ánh Tuyết bật cười :

- Một bậc lương kia à ? Ghê nhỉ, cái thiệp mời cưới của con ông cháu cha có giá trị thế đấy, nhưng nói thực với anh, em chúa ghét cái loại đi bằng đầu gối.

 Tôi hoảng hồn :

- Anh cũng ghét lắm nhưng một bậc lương lại… đáng yêu hơn.

 Nàng lườm tôi, lại đập tay vào người làm tôi hiểu rằng nàng đã nhận lời. Tôi sung sướng quá, nâng bàn tay nàng lên hôn rối rít, chẳng ngờ nàng hiểu lầm ý tôi, rút phắt lại :

- Thôi anh, em còn chưa cúng một trăm ngày, chồng em nó vật chết anh …

 Nàng dặn tôi cứ ở nhà đợi nàng phóng xe tới Cẩm Lai, tiện thể ghé chợ mua đồ nấu cơm tôi ăn. Nàng khoá trái cửa nhốt tôi bên trong, tôi đành nằm dài ra giường cố đọc cuốn truyện nàng để dưới gối và chưa được chục trang mắt tôi đã ríu lại. Thế rồi lúc đang dở thức dở ngủ tôi nghe có tiếng mở khoá lách cách, cửa mở hé ra và một người lách vào, tôi vừa nhỏm dậy đã thấy ông nguyên đại tá nhìn tôi tròn xoe cả mắt :

- Anh … anh tới đây hồi nào ?

 Tôi giải thích cho ông và bằng vào cái vẻ lén lút, sợ sệt tôi đoán ông phải trốn con nợ và nhân con gái đi vắng ông lẻn về khuân đồ đem bán. Quả nhiên, ông dặn tôi nếu có ai hỏi bảo ông đã dọn đi ở chỗ khác, rồi chẳng kịp uống hết chén nước, ông gật đầu chào, lẩn vào buồng trong. Quả thật từ ngày chàng rể chết đi, ông mất chỗ bấu víu, đành trượt dài xuống con dốc nợ nần, càng thua càng vay càng nợ và bây giờ nom ông còn gầy guộc thảm hại hơn cả lúc còn ở trong tù. Tôi đang ngẩn ngơ nghĩ ngợi về con ma đỏ đen bao năm nay ám ông, ông đã trở ra, ngó trước ngó sau rồi ngồi ghé xuống bên tôi :

- Anh có tiền đó không ? Tôi mượn anh năm chục ngàn chuộc cái nhẫn cưới cho con Ánh Tuyết.

 Tôi vét cả túi trên lẫn túi dưới mới được một phần mười cái số ông cần vậy nhưng ông vẫn cứ nhét túi và căn dặn chớ cho con gái ông biết không thì lại đến khổ với nó. Tôi hỏi ông bao nhiêu đồ đạc trong nhà đã bán đi vẫn chưa đủ trả nợ sao còn cầm cả nhẫn cưới của con gái. Ông cúi xuống, buông một tiếng thở dài :

- Khổ lắm, tại anh không đa mang vào cái nghiệp này anh không biết, tôi hỏi anh sống còn lý thú gì nữa nếu cái máu đỏ đen trong người mình không được thoả mãn, còn hơn cả người nghiện thuốc phiện nữa kia, tôi đã thử cai nhiều lần rồi nhưng không được. Ít tiền thì ngồi quán nước vỉa hè đánh cá số xe ô tô, mua số đề, tiền rủng rẻng thì nhất định phải “ xóc đĩa” mới đã anh ạ. Nói thực với anh khi cơn đỏ đen bốc lên thì ngay đến cả con gái cũng sẵn sàng đem cầm huống hồ cái nhẫn của nó.

 Càng nói hai đốm lửa trong mắt ông càng bùng cháy, và rồi nó đốt nóng toàn thân làm ông run rảy hệt như lúc ông ngồi trước chiếu bạc chờ mở bát.

- Bất kỳ ai cũng có một cái gì đó để mà chờ  - ông nguyên đại tá hét lên - ông quân sự chờ chiến thắng trong trận đánh, ông chính trị chờ lá phiếu trong bầu cử, còn chúng tôi những người cờ bạc, chúng tôi chờ kết quả của những dự đoán…

 Tôi há miệng :

- Những dự đoán ?

- Phải, những dự đoán, chẳng hạn bằng linh cảm chứ không phải bằng giấc mơ, tôi dự đoán chiều nay đề sẽ về số “mười hai” và thế là tôi lao vào cuộc. Đó là một nghệ thuật hẳn hoi, chẳng hạn các nhà mác xít dự đoán sự sụp đổ của chế độ tư bản, các nhà khoa học dự đoán sự trương nở của vũ trụ… Họ phải chờ hàng vài chục năm, có khi hàng trăm năm mới có được kết quả, còn chúng tôi, hạnh phúc thay, có ngay trong chốc lát ở một lần mở số, một vòng quay và thế là cuộc đời chỉ toàn được dệt bằng hạnh phúc của những cuộc chờ đợi, số tiền đặt cọc càng cao, hạnh phúc càng lớn.

 Và một lần nữa ông lại reo lên :

- Bất hạnh thay cho những ai chẳng có gì để mà chờ đợi…

 Mắt sáng ngời, mặt rạng rỡ, ngực ưỡn ra, ông nguyên đại tá dõng dạc bước ra cửa và sập vào đánh rầm. Âm hưởng của bài ca đỏ đen ông mới rót vào tai làm tôi bàng hoàng, hoá ra một khi ông đã đặt “ nghệ thuật” lên trên cả đạo đức thì quả thực rất có thể một ngày nào đó ông mang cả con gái đi cầm chứ chẳng riêng gì cái nhẫn của nó.

Nàng Ánh Tuyết trở lại với vẻ mặt hầm hầm :

- Lão ấy mới quay về phải không ?

Tôi ngớ người :

- Ai kia ?

- Lại còn ai nữa, bố em chứ ai…

 Và nàng rít lên :

- Tại sao anh để cho lão ấy vào ? Có lấy cái gì đi không ? Trời ơi, sao tôi khổ thế này ? Bố gì mà lột của con cả cái quần mang đi đánh bạc…

 Tôi phải vội trấn an nàng rằng ông ấy có về thực nhưng chỉ ngồi uống chén nước, nói chuyện thời cuộc rồi đi ngay chứ tuyệt đối không lấy cái gì. Nàng Ánh Tuyết đi khắp quanh nhà làm một cuộc kiểm kê, mở cả tủ ra xem xét, đếm lại cả mấy cái áo treo trong góc, chắc không thấy mất gì mới quay lại dịu giọng :

- Anh thông cảm, thật không thể tưởng tượng được một con người đã từng vào sinh ra tử, leo lên được tới chức đại tá quân đội bây giờ lại sa đọa đến thế…

 Tôi an ủi nàng rằng người ta ai cũng có số cả, nếu bố nàng không leo lên được cấp tướng thì cũng chẳng phải tại ông, và ông ấy có tụt xuống hạng người cờ bạc thì chẳng qua cũng tại cái số thế thôi. Ánh Tuyết nghe tôi lải nhải mãi phải phì cười :

- Vậy từ nay anh đừng oán trách em bỏ anh nữa nhé, tại cái số anh không lấy được em chứ chẳng phải tại em.

 Tôi buông giọng ỡm ờ :

- Biết đâu đấy, đời còn dài…

 Nàng lườm tôi đến lệch cả người :

- Thôi ông, tán vừa vừa chứ, chồng em nó hiện về bóp cổ chết tươi.

 Tôi chợt thấy hồi hộp chẳng phải vì thái độ ngày càng thân mật như xưa của nàng mà vì không hiểu trong cái ví xách tay kia hiện đã có cái… thiệp mời cưới cho đồng chí Viện trưởng của tôi chưa ? Không biết nàng có hiểu được cái nỗi sốt ruột ấy không, nàng cứ lờ đi, mãi sau bữa cơm, ngồi uống nước xỉa răng, nàng mới buông giọng nửa nạc nửa mỡ :

- Cái việc của anh tưởng là dễ mà lại hoá khó.

 Tôi thót cả tim :

- Vậy là sao?

Em cứ tưởng nói với Cẩm Lai một tiếng là nó rút bút ra ghi tên ông Viện trưởng vào tờ thiệp đưa em cầm về, ai ngờ nó đắn đo mãi, sau cùng nó bảo phải hỏi bố nó đã.

 Tôi trợn mắt :

- Quan trọng đến thế kia ư ?

- Chứ không ư ? Mời ai không mời ai đều phải tính toán sách lược tổ chức cả đấy, toàn những Chủ tịch, Bí thư với Uỷ viên Trung Ương thôi. Cái thứ Viện trưởng tép riu nhà anh mà cũng đòi chơi trèo.

 Tôi thở dài ảo não.

- Thế là mất mẹ nó cơ hội lên lương ?

 Nàng Ánh Tuyết phì cười :

- Chưa, hãy còn tí ti hy vọng, Cẩm Lai bảo để nó hỏi bố nó đã mà. Nếu được, nó sẽ cầm ngay đến cơ quan cho anh. Nhưng mà cẩn thận nhé, chồng nó cũng là con ông lớn, chỉ cần giơ một ngón tay cũng đủ bắn anh sang… thế giới bên kia.

 Tôi phải khăng khăng thề rằng giữa tôi và Cẩm Lai tuyệt đối chẳng có cái gì, quen biết sơ sơ vậy thôi, nàng mới vui vẻ tiễn tôi ra cửa dặn rằng không bao giờ nàng đặt chân tới cái phòng “ oan nghiệt” của tôi nữa đâu, tốt hơn hết thỉnh thoảng tôi ghé thăm nàng. Tôi rùng mình khi nàng rơm rớm nước mắt :

- Bố em đã thế rồi… bây giờ em chẳng còn ai nữa…



(còn tiếp)




Thứ Hai, 2 tháng 1, 2012

BẤT NGỜ…GIẢI THƯỞNG HỘI NHÀ VĂN


Xưa nay không gì “mau quên” bằng tác phẩm trúng giải Hội Nhà văn. Phàm những gì xuất hiện trên Tạp chí NHÀ VĂN , báo VĂN NGHỆ và được giới phê bình “quốc doanh” xúm vào tâng bốc thì phần lớn…chết sớm. Một lẽ rất đơn giản : nó là những “giả sản phẩm” mà người tiêu dùng lại  có thói quen chỉ dùng hàng “thiệt”. Tiếc thay, Hội Nhà văn chọn giải thưởng lại cứ nhăm nhăm vào cái thị trường “hàng rởm” đó, bỏ qua biết bao “hàng thiệt” nên năm nào các “quan khảo thí” cũng làm trò cười cho độc giả. Một số bác “đầu nậu” định thừa gió bẻ măng, ăn theo Hội Nhà văn, vội vàng tái bản số lượng lớn sách được giải nhưng đều ăn quả đắng lỗ nặng.
Riêng giải năm nay 2011 – nhìn vào danh sách Giải thưởng Hội nhà văn, chợt giật mình : các bác Hội đồng giải đã uống thuốc “liều” dám chọn “hàng thiệt”, một tác phẩm lọt ra ngoài tiêu chí ” Vì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội” của Hội Nhà văn, chẳng dính dáng gì tới những chuẩn tắc truyền thống vẫn úp lên văn học giống như cái vòng kim cô Đức Phật Tổ Như Lai chụp lên đầu Tôn Ngộ Không khiến cuốn sách ra đời gây ồn ào trên mạng còn các bác phê bình” quốc doanh” cứ im thít, tảng lờ mà lẽ ra các bác  phải tổ chức hội thảo trên báo Văn Nghệ để khẳng định giá trị thiệt của nó : Tập truyện ngắn “Lỏng và tuột” của Trần Đức Tiến.


“ Lỏng và tuột” – giọng điệu mới của Trần Đức Tiến.





Lâu nay, các nhà văn thành danh dường như… tắc tị. Cho dù họ vẫn viết, mài miệt viết, nhưng… chẳng ra làm sao, chẳng khác trước, chẳng vượt qua được những gì đã viết. Tất nhiên, họ tắc tị không phải vì vốn sống – cái đó thừa. Cũng chẳng phải sợ cấm đoán, kiểm duyệt. Bằng vào những gì nhiều ông phát biểu, viết lách trên các diễn đàn, blog, web ngay trong nước, cho thấy họ chẳng còn sợ quái gì ai. Mà thời bây giờ, không in ấn tại các nhà xuất bản trong nước thì tung nó lên web chỉ bằng một cái click chuột.

Vậy mà vẫn tắc tị. Vì sao vậy?

Sang thời hội nhập, bằng vào cả một kho khổng lồ các tác phẩm đã xuất bản, người ta đã nhận ra viết theo cái lối phản ánh hiện thực sao cho “hùng hồn”, cho “chân thực”, cho “nóng hổi hơi thở thời đại”… xem ra “không ăn” nữa.

Các nhà văn đã bắt đầu chú ý tới phương cách sáng tác mới, tới thay đổi giọng điệu, thay đổi cách viết… Nói cho sang, đã bắt đầu có ý thức cách tân, tìm tòi thi pháp mới của tiểu thuyết . 


 Thực ra, chuyện đó trên thế giới người ta làm từ tám đời. Nào là “dòng ý thức”, “chữ tự động”, “chữ đẻ ra chữ”, “hiện thực huyền ảo”… Thiên hạ làm chán ra rồi. Nhưng ở ta, ý thức cách tân về thi pháp cũng chỉ mới bộc lộ ở một số người viết trẻ. Trần Đức Tiến tuy không còn trẻ, nhưng tập truyện ngắn Lỏng và tuột vừa ra mắt bạn đọc cho thấy anh đang nỗ lực tìm tòi cho mình một giọng điệu mới .

“Đột nhiên muốn về hưu trước tuổi. Đột nhiên muốn đập cái nhà đang ở đi xây nhà mới. Đột nhiên thèm uống rượu. Đột nhiên nửa đêm vùng dậy…” và rồi đột nhiên đi tới đảo Q. (“Mù tăm”).

Những thứ “đột nhiên” đó, những hành động bất ngờ của nhân vật Cầm trong “Mù tăm” gợi nhớ “hành động vô căn” (action gratuite) của nhân vật Meursault trong Kẻ xa lạ của Albert Camus xuất bản từ mãi năm 1942. Và cả khi “ gã đàn ông” tách ra khỏi ông Cầm để “đối thoại tay đôi” cũng gợi ra kỹ thuật phân thân (dedoublement) của văn học dạo trước. Tuy nhiên “Mù tăm” không bất ngờ ở chỗ đọc tới lúc ông Cầm tới đảo Q., căn cứ vào loạt truyện của Trần Đức Tiến, người ta đoán chắc thế nào ông cũng gặp một “mụ đàn bà” và tất nhiên sẽ tới một cuộc làm tình “quằn quại”. 

Tuy nhiên, ở một số truyện khác, cách tân của Trần Đức Tiến đã nhuần nhuyễn hơn.

Trong “Một cuộc phỏng vấn”, một ông nhà văn ngủ với một cô nhà báo, tất nhiên, trong một cuộc “tình khách sạn”, “tình ngoài luồng”. Xen giữa những rung động thực của xác thịt là những lời lẽ giả cho một cuộc phỏng vấn “lề phải”. Cái thực và cái giả, cái danh và cái hư danh, cái cuồng nhiệt và cái lạnh lẽo cứ xoắn nhau như hai cơ thể trần truồng lúc cuống cuồng xâm nhập nhau. “Một cuộc phỏng vấn” cho thấy Trần Đức Tiến đang cố giãy khỏi cái không gian thực, ba chiều, cổ điển trong truyện ngắn để tìm tới một không gian khác dù chưa biết nó là cái gì?

Trong “Mưa núi”, một ông K. nào đó trườn qua người vợ đang lúc ngủ trưa để lên núi trong một cơn mưa rồi gặp một cô gái và hai người làm tình trong tiếng “Ây...ây…” và quả xoài ăn dở. Mọi chuyện dường như đều “bất ngờ” nhưng bất ngờ hơn cả là cao hơn khoái lạc xác thịt, cô gái trong lúc tắm mưa tìm thấy “niềm khoái cảm được tắm gội bởi dòng nước tinh khiết vô hình từ trên cao tưới xuống”. Còn ông K. cũng bất chợt cảm thấy “một niềm vui sướng hoàn toàn mới lạ, bí mật tràn ngâp tâm hồn”. Đọc “Mưa núi” nhớ tới truyện ngắn “Người đàn bà ngoại tình “ của Albert Camus.Người thiếu phụ tên là Janine ấy  chạy qua các phố vắng, leo lên đỉnh tòa thành cổ tại một ốc đảo giữa sa mạc để làm tình với ...thiên nhiên đất hứa. "...Áp chặt bụng dưới vào lan can đá lạnh buốt, nàng bỗng thấy, với một sự dịu dàng kỳ diệu, chất lỏng của trời đêm tuôn vào đầy cơ thể nàng, từng đợt từng đợt nối tiếp nhau khiến niềm khoái cảm lan tỏa khắp thân thể, trào lên miệng,làm nàng rên rỉ mãi không thôi..." .
Và không phải chỉ cô gái và ông K. mà chính Trần Đức Tiến cũng muốn vượt qua cái hiện tồn để vươn lên một cái gì đó mới lạ mà không rõ ra là cái gì.

“Hắn” có một khối u ở bụng trái mà bác sĩ cứ khăng khăng bên bụng phải, hắn như con ruồi mắc trong lưới nhện của cái hàng ngày: phố xá, bà vé số, những ước mơ tội nghiệp và tất nhiên là một bà vợ với hai đứa con và bà mẹ vừa chết ở tuổi 90 với biết bao phiền toái… Nhưng hắn vẫn còn một khung cửa hẹp để mở vào “cõi mộng” - đó là cô bồ trẻ đẹp với những dòng tin nhắn “ANH ƠI EM BỊ ƯỚT HẾT RỒI”.

Có thể coi đó là một làn gió mát thổi vào cuộc đời ngột ngạt của hắn? Cũng có thể coi đó là “một chút mặt trời trong nước lạnh” theo cách nói của Françoise Sagan? Hoặc cũng có thể coi là một giễu cợt của hoàn cảnh bi hài?

Câu trả lời bỏ ngỏ dành cho độc giả.

Tới truyện ngắn “Lỏng và tuột”, “một chút mặt trời” kia, buồn thay, lại biến thành “nước lạnh”. Cái tên Lê Kim Yến trong danh bạ điện thoại như một cù lao sáng nhô lên trong cái biển của những dung tục đời thường với chị làm cùng cơ quan hơn y 6 tuổi, vừa túm tóc ghì y xuống vừa “hư quá, hư quá”, sau “hư quá” thì đến “chết rồi”…, cuối cùng thì “bắt đền… cái này này”. Thật là một clip sex sinh động và độc đáo. Còn lão “vòi nước” thì “Nước bưởi nhanh tệ. Ra cửa thế nào tớ cũng bùm…”. Cô gái điếm giả nai “ném chăn gối với mày trên giường thì nó sụt sùi đau đớn véo tai rứt tóc tao ăn vạ…”. Trong cái biển bùn đó, tưởng rằng cái cô Lê Kim Yến sẽ là một ngoại lệ, "một chút mặt trời” trong cái “ao nước lạnh” đó, nào ngờ em cũng “gái” nốt.

Cũng tương tự thế, trong “Đi bộ và chạy” thể dục buổi sáng, đi trước hai ông bạn trò chuyện tầm phào là một cô gái mà lúc đầu cứ tưởng là “nàng” - một danh xưng dùng cho con gái chí ít cũng “con nhà lành”. Ấy thế rồi ở cuối chặng đi, lại hoá ra “nàng” cũng chỉ là một… con điếm.

Trong cả hai truyện, có vẻ Trần Đức Tiến coi “con điếm” như thành phần phải “phục hồi nhân phẩm”. Kể cũng lạ, “Nam chinh Bắc chiến” như anh mà cũng chưa nhận ra thành phần cần phục hồi nhân phẩm đang chót vót trên thượng tầng xã hội chứ chẳng phải ở dưới đáy như… chị em ta.

Tuy nhiên, rất ngược đời, khi Trần Đức Tiến cứ “tự nhiên nhi nhiên” thì cái không gian “ảo” lại tràn ngập trong truyện, nhưng một khi anh “cố ý”, ngay cả khi đưa cả chuyện ma vào như “Thiếu phụ răng đen”, “Thiên đường chớp mắt”… thì không gian của truyện lại rất thực.

Trong “Cõi tục”, tượng Đức Ngài ở trên cao, “con điếm” nằm dưới chân tượng, nhờ có dòng nước từ tượng rót xuống mà “con điếm” trở nên đắt khách. Truyện rất có đất để tạo một không gian huyền ảo, chỉ tiếc tác giả hơi tham nhiều chi tiết đời thường làm giảm hẳn chất đa chiều của không gian truyện.

Sự giằng xé giữa cái “thực” và cái “mộng” trong tập truyện Lỏng và tuột của Trần Đức Tiến suy cho cùng là sự giằng xé giữa cái đẹp và cái xấu, cái cao thượng và cái ti tiện, và cao hơn cả là cái xuất thế và nhập thế.

Nếu bút pháp là diện mạo của linh hồn thì cái “bản lai diện mục” của Trần Đức Tiến đã bước đầu lộ ra. Anh đang muốn giãy ra khỏi chính anh, nhưng hình như trong anh vẫn còn một cái “ngưỡng” nào đó.

Nói theo ngôn ngữ của thiền, anh còn thiếu một cơ duyên như “tiếng gầu rơi xuống giếng” để có thể nhảy qua bờ vực của chủ nghĩa hiện thực sang bên kia cõi vô bờ bến. Thiền sinh đốn ngộ đã khó, nhà văn tỉnh thức càng khó hơn. Và khó nhất là một cú nhảy qua những mê hoặc của đời thường.

Trong cả tập truyện, “Một cuộc phỏng vấn”, “Mưa núi” , “Khối u”, “Lỏng và tuột” là những truyện ngắn hay và hiếm hoi trong nền truyện ngắn hiện nay.


Chủ Nhật, 1 tháng 1, 2012

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN (KỲ10)



NHÀ VĂN NGUYỄN QUANG SÁNG :

Khoảng năm 1982 nhà thơ Dương Tường vào TP Hồ Chí Minh trọ khách sạn Bông Sen đường Đồng Khởi, sang trọng bậc nhất Sàigòn. Trước khi ra Hànội, ông đã kịp giới thiệu tôi làm quen cô tiếp tân .Từ đó sáng nào tôi cũng trốn cơ quan, lẻn tới khách sạn, đứng sát bên  cô để "phụ việc " sau quầy . Cô là người Sàigon cũ, xinh đẹp , tiếng Anh làu làu, thỉnh thoảng lại dúi cho tôi  bia Sàigòn, thuốc lá Du Lịch đầu lọc lúc đó là của hiếm
Một sáng trò chuyện đang tíu tít , bất chợt từ ngoài cửa bước vào một khách nam và một khách nữ. Nhận ra hai người, tôi vội ngồi thụp xuống chân cô tiếp tân, im thít. Lát sau, cô vỗ vỗ lên đầu tôi :
“ Khách lên phòng rồi…anh đứng dậy đi !”
Tôi cứ nấn ná chờ “máy bay địch đã bay xa” mới đứng lên làm cô tiếp tân phì cười :
“ Sếp anh sao anh sợ vậy ?”
“Sếp đâu ? Nhưng anh không muốn ổng nhìn thấy bất lợi cho em …”
Cô gái lắc đầu :
“ Hổng sao , ông Nguyễn Quang Sáng đó …nghe nói ổng là nhà văn cách mạng …”
Tôi phì cười :
“ Nhà văn cách mạng thì sao ?”
“ Kính nhi viễn chi thôi…”
Tôi ưỡn ngực :
“ Anh cũng nhà văn cách mạng nè, sao em không kính nhi viễn chi ?”
Cô gái bĩu môi :
“ Anh mà cách mạng gì ? Du đãng thì có…”
Tôi rối rít khen em gái có con mắt tinh đời nhận ra "anh hùng" giữa trần ai. Rồi cô kể chuyện giám đốc khách sạn là ông Tám Muộn, thân với nhà văn Nguyễn Quang Sáng và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn lắm nên đặc cách cho mỗi người một phòng miễn phí thường xuyên . Tôi xuýt xoa :
“ Mấy cha sướng thiệt…tha hồ trốn vợ dẫn bồ bịch tới …”
Cô gái lắc quày quạy :
“ Chuyện đó em hổng biết đâu nha. Đó là chuyện riêng của mấy ổng.”
Người Sàigòn xưa là vậy, không tò mò chuyện người khác nên cũng không hỏi chị phụ nữ kia là ai ? Nhưng tôi biết, đó là nữ văn sĩ quân đội nổi tiếng hồi đó. Đừng ai "suy diễn bậy bạ" nha. Chắc hai nhà văn lớn đưa nhau lên phòng riêng để bàn luận văn chương thôi. Tuy vậy có làm thêm chuyện gì khác thì  với nhà văn cũng chẳng là gì, văn chương mới là quan trọng. Mà với Nguyễn Quang Sáng thì văn chương thuộc loại chiếu nhất làng văn Nam bộ kháng chiến rồi.
 Năm 1946, Nam Bộ chống  Pháp ác liệt. 14 tuổi, Nguyễn Quang Sáng đã vào bộ đội, làm liên lạc . Năm 16 tuổi học bổ túc văn hoá trường trung học kháng chiến Nguyễn Văn Tố. Năm 18 tuổi làm cán bộ nghiên cứu tôn giáo tại Bộ Tư lệnh phân khu miền Tây . Năm 1955 tập kết ra Bắc, làm ở phòng văn nghệ Đài Tiếng nói Việt Nam. Năm  1966, trở lại chiến trường miền Nam, làm cán bộ sáng tác Hội Văn nghệ Giải phóng, năm 1972, trở ra Hà Nội, làm  tại Hội Nhà văn . Năm 1975 trở lại TP HCM , giữ chức Tổng thư ký Hội Nhà văn thành phố khóa l, khóa 2 và khóa 3, ông còn  là ủy viên ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khoá 2, khoá 3 và là Phó tổng thư ký Hội Nhà văn khoá 4.
Suốt đời quan chức vậy đủ thấy văn chương Nguyễn Quang Sáng luôn sáng ngời tinh thần cách mạng, bám sát chủ trương đường lối của Đảng, dứt khoát không chịu ảnh hưởng của những biến động trong giới cầm bút như phong trào Nhân văn-Giai phẩm, sự kiện xét lại…Chỉ có điều , cả  đời bận rộn làm cách mạng vậy, không hiểu ông nhà văn sau khi học bổ túc văn hóa trung học còn thời gian đâu học hành quy củ ?Nhưng mà chuyện đó chẳng là gì ? Văn nghệ quần chúng, phục vụ công nông binh cần gì văn hóa cao ?
Nguyễn Quang Sáng viết khá nhiều : Từ những truyện vừa, tiểu thuyết như Đất lửa, Nhật ký người ở lại (1962), Cái áo thằng hình rơm, Mùa gió chướng (1975), Dòng sông thơ ấu (1985)…; từ những truyện ngắn Con chim vàng (1957), Chiếc lược ngà (1968), Bông cẩm thạch (1969), Người con đi xa (1977), Bàn thờ tổ của một cô đào (1985), 25 truyện ngắn (1985) đến những kịch bản phim…tất cả đều mang tính sử thi, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng và vạch trần những mặt tàn ác, xấu xa của kẻ địch.
Cùng với nhà văn Anh Đức, hai ông đã trở thành một “cặp đôi hoàn hảo”, không tì vết, luôn đứng vững trên lập trường chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa , làm rạng danh cho văn học cách mạng Nam Bộ.
Thành tích Nguyễn Quang Sáng lớn  vậy nên ông cũng được Đảng và Nhà nước tưởng thưởng đích đáng như :.
Ông Năm Hạng - giải thưởng cuộc thi truyện ngắn báo Thống Nhất (1959)
Tư Quắn - giải thưởng cuộc thi truyện ngắn  (1959) Tạp chí Văn Nghệ Quân đội
Dòng sông thơ ấu - giải thưởng Hội đồng văn học thiếu nhi Hội Nhà văn (1985)
Con mèo của Fujita - tập truyện ngắn, giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1994
Cánh đồng hoang (kịch bản phim) Huy chương vàng liên hoan phim toàn quốc (1980), Huy chương vàng liên hoan phim ở Moskva (1981)
Mùa gió chướng (kịch bản phim) Huy chương bạc liên hoan phim toàn quốc (Hà Nội 1980)
Đặc biệt Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt II năm 2000.
Sự nghiệp văn chương Nguyễn Quang Sáng như vậy cũng đã hiển hách. Tuy nhiên, nhà thơ Xuân Sách còn muốn ông sáng tác sao đó cao hơn nữa chứ không chỉ dừng ở “thằng nộm hình rơm”, bởi vậy đã làm thơ chân dung Nguyễn Quang Sáng :

“Ông Năm Hạng trở về đất lửa
Với chiếc lược ngà vượt Trường sơn
Bỗng mùa gió chướng vừa nổi dậy
Ông biến thành thằng nộm hình rơm”.

Chẳng biết nhà thơ Xuân Sách còn muốn điều gì ở nhà văn Nguyễn Quang Sáng nữa đây ?

          (còn tiếp)

Thứ Bảy, 31 tháng 12, 2011

TẠ LỖI


                        tạ lỗi

                                                                        LÊ XUÂN ĐỐ


 

Thời “thơ chân đất” những năm 1970 ở Hà Nội, nhà thơ Lê Xuân Đố , lúc đó là biên tập viên đài Tiếng nói Việt Nam thường tụ tập tại nhà tôi cùng với Trúc Thông, Định Nguyễn, Lê Huy Quang, Trí Dũng, Chu Hoạch, Nghiêm Đa Văn …Đố uống rươụ rất giỏi và lúc say thường “gầm gừ”  chuyện  thơ phú nên anh em gọi là “Đố điên”. Thơ Lê Xuân Đố tưởng mộc mạc, giản dị mà dưới sâu nghe như có tiếng khóc.


tạ lỗi chim đàn cánh rũ lũ lụt miền trung
đi mô thì đi đất lành chim đậu
cái dại chết chìm cái khôn chết nổi
địa linh nhân kiệt hồn núi vía sông

tạ lỗi trâu bò lợn gà ngoài đồng trong sân
bạn của nhà nông không bảo vệ được
tạ lỗi hạt lúa củ khoai máu mủ nhà nghèo
cột kèo di sản ông cha không giữ nổi

tạ lỗi chữ nghĩa thầy trò dạt biển trôi sông
lũ bạc bùn đen xoá bôi hy vọng
tạ lỗi câu thơ cát trắng bụi hồng
hò khoan nhịp chày lẻ bạn

tạ lỗi hoa hồng tuổi yêu hoa mua tuổi thơ
tiềng dạ thưa ngơ ngẩn dậy thì
tạ  lỗi những ai giận hờn hối hận
nơi chôn nhau đất Tổ sinh thành

tạ lỗi tạ lỗi      
mạ xáy trầu: cực chi cực rứa ôi trời !
                                   Miền Trung 10/2010
                                        L.X.Đ.