Tổng số lượt xem trang

Chủ Nhật, 18 tháng 9, 2011

VĂN CHƯƠNG THẾ HỆ A CÒNG @ .



NHÀ VĂN VÀ SỰ THẬT (KỲ 5) :

            Văn chương thế hệ “A còng (@) “ 

  Từ xưa, các cụ ta đã phân biệt : văn chương bác học gồm  những tác giả lớn như Nguyễn Du, Đoàn thị Điểm, Nguyễn Bỉnh Khiêm v…v…, văn chương bình dân gồm những tác phẩm khuyết danh như Trê Cóc, Ba Giai-Tú Xuất, Trạng Quỳnh, Trang Lợn…
Than ôi, từ sau 1951, du nhập “đường lối văn nghệ Diên An” của “Mao Chủ tịch” , Đảng ta đã hạ “văn chương bác học” xuống thành “văn chương bình dân” tức “văn nghệ công nông binh”. Từ  nay chỉ còn một loại văn chương duy nhất “văn chương đại chúng”.
 “ Viết cho ai ?” – Viết để làm gì” là câu hỏi canh cánh trong đầu các văn thi sĩ mỗi khi cầm bút. Tất nhiên câu trả lời là viết cho quần chúng công nông – và như vậy phải viết sao cho thật dễ hiểu , phải có “tính đại chúng”, chớ có viết lắt léo, chớ có biểu tương hai mặt , siêu thực, dòng ý thức gì hết trơn…
Bất hạnh thay cho các nhà văn, vào độ tuổi chín nhất của ngòi bút lại kéo nhau hết lên rừng chém tre, đẵn gỗ, học tập, kiểm thảo và đổi bầu sữa mẹ, từ nay trong cái nhà trẻ của thời đại công nông - Diên An, Lêninít, Xtalinnít... sẽ là nguồn sữa mới, cách ly với cả một thời “phục hưng” sau Thế chiến 2 bùng nổ những trào lưu hiện sinh, tiểu thuyết mới, các chủ nghĩa "hiện đại"...
Sau 9 năm kháng chiến, các nhà văn “công nông binh” trở về Hà Nội choáng ngợp trước nhũng sách vở, tạp chí mới chất đầy trong "Thư Viện Quốc Gia”. Nhưng than ôi trong con mắt họ, phần lớn đã được gắn tròng kính mới để thấy “Picasso là nấm độc mọc trên  cây gỗ mục của chủ nghĩa tư bản”, di truyền học và phân tâm học là sản phẩm của tư sản đế quốc." Không những lóa mắt vì những trào lưu hiện đại mà còn lóa mắt vì cách sống thị dân khác hẳn lối sống “ ổ rơm ấm tình đồng chí”. nhiều cây bút muốn đào thoát khỏi “văn chương bình dân” tức “văn nghệ công nông binh” để trở về với cốt lõi của văn chương tức “văn chương bác học”. Bởi thế, sau năm 1954, dân Hà Nội  chứng kiến nhiều anh bỏ doanh trại về ngủ qua đêm ở nhà, thậm chí có anh chơi trội…”dắt chó” đi chơi trên phố phường Hà Nội. Phong trào lấy chồng “bốn túi, chân chì” tức bộ đội cấp đại đội trở lên nở rộ trong giới tiểu thư Hà Nội.
Trong tình hình đó, phong trào Nhân Văn Giai phẩm mang nhiều tính chất “trở lại văn chương bác học” hơn là một phong trào đòi tự do sáng tác.
Thông thường tại các nước phương Tây, công chúng tức “độc giả” phát triển theo quy luật “hình chóp”, tác phẩm càng “phá cách”, “đổi mới”,” tiền phong” thì lượng độc giả càng ít đi. Và như vậy trong hình chóp đó phần ngọn gọi là “happy few” – tức chỉ một số ít ngưởi có hạnh phúc thưởng thức được tác phẩm “avand-garde” đó. Ở Pháp số happy few này thường  tụ tập tại salon các mệnh phụ phu nhân. Ở đó thực sự là bà đỡ cho các tác phẩm khi mới xuất hiện chịu đựng sự ghẻ lạnh của đại đa số độc giả. Những nhà văn lớn như Kapka, Samuel Beckett... đều qua “thẩm định” của happy few đó.
Tất nhiên khi văn học nghệ thuật phục vụ công nông  thì chẳng có cái thứ gọi là “Happy few” nào mà chỉ có “quần chúng công nông binh” quen với các món ăn tinh thần có đủ cả tính Đảng, tính giai cấp, tính dân tộc .
Tác phẩm của các văn thi sĩ Nhân Văn Giai phẩm bước đầu đã hướng tới một thứ happy few trong thị dân Hà Nội. Tất nhiên, thơ văn viết theo “công nghệ Trần Dần” thì công nông binh nào thưởng thức được ? Tiếc thay thời của Nhân Văn Giai phẩm quá ngắn ngủi chưa đủ hình thành một thứ happy few đã bị dẹp tan.
Trở lại với diện mạo văn chương thế hệ @ :
 Nếu ngày xưa cha anh viết xong tác phẩm chỉ âm thầm cất ngăn kéo  hoặc gửi “lai cảo” tới báo Văn Nghệ  thì bây giờ các “ A còng” dứt khoát không chịu  nằm chờ “mở số” vậy nữa. Người mở đầu “công nghệ lobby văn chương” phải ghi cho nữ sĩ Phạm thị Hoài. Những năm mới đặt chân vào chợ chữ, nàng đã phải đôn đáo  “đặt quan hệ” với khá nhiều sếp , đặc biệt thi sĩ Hoàng Hưng đã kết nối nàng với báo Lao Động khiến ông Tổng biên tập phải dặn dò “ưu tiên đăng bài em Hoài và bài “viết về em Hoài””.
Các nhà văn thơ trẻ bây giờ còn tiến xa hơn các bậc đàn chị. Ngoài lobby tại “hành lang” trong nước và ngoài nước, các “A còng “ còn gây tiếng vang ( kiểu Vi Thuỳ Linh dai dẳng kiện nhạc sĩ Ngọc Đức đòi bản quyền thơ trong CD “Nhật thực” ) , gây scandale, đăng đàn , diễn thuyết, tranh thủ các báo cần ăn khách đưa tin và phỏng vấn… tới mức nhà thơ trẻ Nguyễn Hữu Hồng Minh cũng phải kêu lên với “Thi sĩ cùng thời” :  
                “Tự phong mình là kẻ trứ danh
         Thêu dệt những giai thoại nhiều hơn chăm chút vào tác phẩm”
       và trên hết là “tự hoạ chân dung” mọi lúc, mọi nơi .”
 Ta hãy nghe một “ A còng” ”mác-két-tinh” mình :
                “ Tôi  rất thích tên Linh của mình, nó thật nhiều ý nghĩa. Thuỳ Linh tức là cánh tay thiêng. Mỗi câu thơ của tôi bay lên như sợi tầm gai, như cánh chim khắc khoải…Tôi thấy mình rất ấn tượng, vì là một người đàn bà trẻ, đầy thanh xuân và đích thực nồng nàn…Có người ví tôi như Hồ Xuân Hương, như Vệ Tuệ, cô gái Thượng Hải, hiện tượng văn học của Trung Quốc đương đại vì sự bạo liệt và nổi loạn. Và Linh đã phóng những con chữ thoát khỏi vỏ bọc vào thế giới thi ca vô tận bằng sự mất cân bằng tột cùng, với tốc độ choáng váng...".
          Tự “đánh bóng” đến vậy thì các bậc đàn chị Xuân Quỳnh, Ý Nhi, Thảo Phương…đành chào thua. “Nhà thơ hiện tượng” Phan Huyền Thư  còn  cẩn tắc hơn,  trước khi “tự bốc thơm” phải “tự bảo kê” với nhà cầm quyền cái đã. Bởi thế, thơ em thì quẩn quanh thân xác, phát ngôn lại nhảy bổ vào chính trị :
                Nào :
              ”Thế hệ viết trẻ chúng tôi thật tự hào thật may mắn vì chúng tôi đã là công dân của một đất nước tự do”…
                Nào :
              “Tôi luôn hình dung ra nền văn chương của mỗi quốc gia như một con diều có ba đuôi. Cái đuôi dài nhất, đẹp nhất ở chính giữa giúp cho con diều bay lên được là văn chương chính thống. Bên cạnh đó, hai cái đuôi nhỏ hơn, ngắn hơn nhưng lại giữ vị trí cân bằng cho con diều là thứ văn chương lưu vong của những người xa tổ quốc ( hì hì…). Cái đuôi còn lại là loại văn chương đi tù.(Có thể gộp chung cả văn chương mang tính chất chống đối). Chúng tôi đương nhiên là muốn đứng trong hàng ngũ của cái đuôi chính thống, nhưng biết làm gì nếu cứ mãi không được tiếp nhận vào nền văn học chính thống của đất nước bằng cái biển đợi: "Có triển vọng" “. 
           Hi hi, yên tâm em nhé, thế nào cũng tới một ngày đẹp trời, Hội nhà văn Việt Nam sẽ đưa xe taxi tới rước em vào Hội và có khi còn trao tặng cả giải thưởng nữa ấy chớ. Nhưng làm gì thì làm cần nhớ phải bớt bớt chê bai  cha chú đi, bởi lẽ họ còn ngồi đầy cả Ban chấp hành đó :
             “"Nếu những người trẻ tuổi làm thơ hôm nay có thất bại, vẫn còn đáng trân trọng hơn nhiều so với cái việc tiếp nối một dòng thơ của thế hệ đàn anh, cho dù là thành công".
          Hoặc mỉa mai :
          “ Chúng tôi hiểu về họ(các cụ nhà văn)  cũng rất tỉ mỉ và cam đoan là không ai dám hiểu sai những gì họ viết; ít nhất chúng tôi cũng phân biệt được mỗi người trong số họ khác nhau thế nào, và tại sao lại có giọng điệu riêng như thế... Điều này vô cùng quan trọng bởi vì chúng tôi không được phép giống họ, không được phép làm những gì họ đã làm. Thực tế cho thấy thất bại ê chề của một số những cây bút lao vào viết a dua theo các cụ, các chú đều chết yểu, không mấy ai nhớ đến.”
             Vi Thuỳ Linh khôn khéo hơn, trấn an mấy bác tuyên huấn bằng lời tuyên bố :
          “ Tôi tôn vinh thân thể và những gì thuộc về con người đẹp đẽ như một kẻ si tình và duy mỹ chung thân. “
            Vậy là Đảng yên tâm nhé, các em là “chung thân duy mỹ”, dứt khoát là không có xía dzô việc Nhà nước, mới hay “công nghệ Trần Dần” đã được thế hệ “A còng”  tiếp thụ và nối dài một cách xuất sắc. Tuyên ngôn thì vậy, còn thơ thẩn ra sao ? Không dám chơi bạo kiểu :
                "Đêm Hà Nội phủ váy chùng
              Anh con cu ngỏng ấm cùng đít em. “
như đàn anh Đỗ Khiêm , không dám “sờ Linga”, “dương vật buồn thiu”, coi “l…voi” … như đàn chị Phạm thị Hoài ở hải ngoại, nhưng mấy em “ A còng” nội địa cũng không chịu thua “Tung hứng chiếc lưỡi …Véo von một giọng “ ( Nguyễn Hữu Hồng Minh- Gửi Phan Huyền Thư) :
                 “  đôi bầu vú thông minh
             không cứu nổi cặp đùi dài ngu ngốc
                chảy vào nhau
           tình chảy vào sâu tràn trề lênh láng”
                                                       ( Phan Huyền Thư)
        Hoặc sau khi “bập bẹ” theo “công nghệ Trần Dần” :
           “ vũ- trụ- sơ- sinh, có- phải- tôi- đấy- không, để- biết- mình- đang- sống, triệt- tiêu- nỗi- khổ “.
        thấy chưa “phê”, Vi Thuỳ Linh  còn mở toang cửa phòng the  để cho bàn dân thiên hạ thấy nàng :
          "Khoả thân trong chăn
            Thèm chồng...
          "Cứ để chăn trễ nải
                                     Biết đâu
                                                  Một tối trở về
                                                               Chồng nằm trong đó".
Cầu được ước thấy, có chồng nằm ngay đó bằng da bằng thịt để nàng được  :         
              
                          "Cái lưỡi mềm của anh nơi gan bàn chân em
                                Làm thế giới hoá lỏng”
             Và rồi cuống quýt :
                           "Em vén áo lên để cho anh tràn tinh khôi và mãnh liệt"
      Thơ “phóng tinh” thế cũng được chứ sao, chỉ ái ngại một điều “chàng” có đủ nội lực cho mấy  em hình dung vậy được chăng, khi vẫn ca cẩm “thế gian này không có đàn ông “ ?  Hay chàng lại giống như thơ của mấy em, chỉ nhểu ra thành sình lầy chứ chưa trào vọt thành dòng, thành suối thơ lai láng ?
Thôi cũng được đi, “làm gì thì làm miễn sao đừng đụng tới “ghế” của mấy ổng” là OK rồi. Bởi thế mấy anh thợ “thổi” đã “nống” các “A còng” lên thành “sao”. Nhà thơ , nhà nhạc Nguyễn Trọng Tạo coi “"hiện tượng" Vi Thuỳ Linh, nữ tác giả tập "Linh" vừa ra mắt gây xôn xao làng thơ VN “là tín hiệu mạnh mẽ của sự khẳng định. Sự đóng góp đó không chỉ trong văn học nghệ thuật mà còn tác động đến chính sự phát triển xã hội mà họ đang sống". Còn nhà nhạc, nhà nghiên cứu Nguyễn Thuỵ Kha thì phát hiện : "Thơ Linh giàu tính giao hưởng"(!). để rồi lại “xui trẻ ăn cứt gà” :"Linh cứ tiếp tục đanh đá, tiếp tục lắm lời. Đừng sợ, đừng ngán gì hết trọi. Độc mã...Cứ xổ hết ra đi!"
         Ối giời ôi, quả này chẳng biết mấy em phải “bo” cho hai chàng “ thợ thổi” cái gì cho xứng với công của chàng ?

                                                                                       (còn tiếp)


                  

Thứ Bảy, 17 tháng 9, 2011

KHI ÔNG VỤ TRƯỞNG "BÉ CÁI NHẦM"

      
        Văn học “vết thương “ (3)
        
                       (tiếp theo)

Mặc dầu bấm bụng cho phép xuất bản cuốn “ Ba người khác” của Tô Hoài, nhưng “trên” vẫn chỉ đạo ngầm báo chí , nhất là báo Đảng không được tuyên truyền rùm beng, tốt nhất là tảng lờ, báo nào viết bài về cuốn sách này thì nhất thiết phải…chê.    
Nghiêm chỉnh vâng theo chỉ thị , báo Sàigòn giải phóng số ra ngày số ra ngày 28-1-2007 có đăng bài “Đọc tác phẩm “Ba người khác” của nhà văn lão thành Tô Hoài “ của Trúc Anh  chê bai kịch liệt với ý là nhà văn Tô Hoài chơi trò ‘chạy tội”  khi chính ông đã từng là Chánh án Toà án nhân dân, là Đội phó Đội cải cách vậy mà bây giờ chưa có lời sám hối nào với nạn chân trong cải cách ruộng đất, mà còn đổ hết tội cho anh Đội trưởng, còn mình chỉ là anh Đội phó hám gái, chỉ thừa hành lệnh cấp trên.
Trước hết, tác giả Trúc Anh cho rằng :“ bi kịch về những sai lầm trong cải cách ruộng đất ở Ba người khác, với những người quan tâm hoặc hiểu biết về nó, đều đã quen thuộc. Có lẽ cũng biết điều này, để tránh sự “quen thuộc”, nhà văn Tô Hoài đã chọn cách viết tác phẩm từ lời kể của tên tội phạm, khác với những tác giả trước đây, viết với tư thế là nạn nhân, pháp quan, thầy đời v.v… “


Cách lựa chọn “khôn ranh” của Tô Hoài bị tác giả bài viết riễu cợt :
“Và sự lựa chọn này đã khiến Ba người khác ngay lập tức được các nhà phê bình, nhà văn “tài cao, đức trọng”, tôn vinh nhiệt liệt như đón chào ngôi sao rực sáng trên bầu trời văn chương Việt Nam…”
Từ đó, Trúc Anh lật tẩy thái độ của Tô Hoài với cải cách ruộng đất :
” bằng thứ giọng bình thường hoá tội ác, toàn bộ lời kể của Đội Bối, trong Ba người khác, không chỗ nào tỏ ra đau khổ hay sám hối. “
và quy trách nhiệm cho Đội Bối mà thực chất là Tô Hoài :
“Không biết khi kể chuyện, Bối đã hết chất lưu manh, dối trá hay chưa, nhưng ở cái xã và các xã đang “thổ cải” thời kỳ ấy, những nơi mà mầm mống nhân tính đã bị chính những người như họ tiêu diệt thì chắc chắn không thể có một ông Đội Bối vô can, và bây giờ lại uốn éo thanh minh rằng mình cũng chỉ là nạn nhân….”
Trúc Anh kết tội Tô Hoài chỉ chăm chăm vào chuyện dâm dục :
“ Trong Ba người khác, chuyện tình dục tội lỗi được kể bằng thứ ngôn ngữ chính xác, khoái cảm hả hê, tâm đắc. Chỉ với 250 trang sách mỏng, những cảnh hoang dâm, quần dâm diễn ra thường xuyên, mọi lúc mọi nơi: Ba anh Đội: Cự, Bối, Đình thay nhau, nhường nhau làm tình các nữ dân quân, bần cố nông “rễ, chuỗi”: Đơm, Duyên… bất kể ban đêm, ban ngày, trước, sau lúc hội họp, lúc đấu tố; làm tình ngay bụi cây bên đường làng, bên đống rạ trong sân; làm tình cô Đơm trước người mẹ tàn tật, làm tình cô Duyên bên ông bố điếc; Đội Bối quần dâm với nhiều nữ dân quân trong một đêm ở lán gác…”
Nhưng có thực trong những ngày “ long trời lở đất”, tức những ngày nông thôn chìm đắm trong không khí khủng bố, đàn áp thời cải cách; chuyện sex, tức chuyện “dâm dục” có nổi lên tràn lan vậy, hay chỉ là cái cách nhà văn Tô Hoài phóng đại để làm lu mờ những chuyện khác ?
“Trong Ba người khác, Đội thấy gái và gái thấy Đội, bất cứ hoàn cảnh nào, cũng như lũ cuồng dâm vồ nhau làm tình, không hề từ tình cảm mà chỉ từ động dục, đổi chác, lợi dụng nhau... giữa làng xã tiêu điều, đói khát, oan khốc, đấu tố tuỳ tiện. Viết về tình dục và dâm đãng để tạo ra sự rùng rợn về một loài kinh tởm hơn cầm thú và man di mọi rợ chưa từng có trong xã hội loài người, thì Ba người khác quả là “ép phê”.

Tác giả bài báo đặt câu hỏi nghi ngờ anh “Đội Tô Hoài “ tố điêu:

“Nhưng người đọc buộc phải ngờ anh Đội Bối “tố điêu”, vì chắc chắn cái hiện thực hoang dâm hủ bại ngập ngụa trên, chỉ có trong trí tưởng tượng ác độc, vô luân của bọn tố điêu, chứ không thể có ở làng quê Việt Nam bất cứ thời kỳ nào. Cái giỏi của nhà văn lớn Tô Hoài chính là ở chỗ này: Vừa làm cho Ba người khác trở thành tác phẩm ăn khách mà vẫn tiếp tục lột trần Đội Bối, cà cuống chết đến đít còn cay, đã thất bại thảm hại, rơi xuống dưới đáy xã hội mà vẫn nguyên vẹn bản chất dối trá, lưu manh của anh Đội Bối ngày xưa”.
Và dẫu anh Đội Bối có chìm ngập trong những chuyện dâm dục , đổ hết tội cho Đội trưởng Cự, nhưng cái chức Chánh án của anh ( cũng là của Tô Hoài) đã tự tố cáo anh:
“Trong Ba người khác, đội phó Bối, kiêm chánh án, không chỉ dùng “nghệ thuật” hoang dâm (vì ngày nay, hoang dâm đang được nhìn nhận là “đổi mới tư duy”) để bình thường hoá tội ác, mà còn trút hết mọi tội ác diễn ra ở xã thời cải cách, lên đầu đội trưởng Cự, một kẻ theo địch, đã chết, chẳng bao giờ có cơ hội viết tự truyện để bào chữa cho mình, đổ tội sang người khác, và nói thêm: Hàng nghìn vụ xử án, kết án oan “kẻ thù giai cấp” hồi đó đều không thể thiếu chữ ký của chánh án Bối. “
Tác giả bài viết vạch trần mưu toan của Tô Hoài chạy tội cho mình trong cuốn “tự truyện” này, đã đổ hết lỗi cho người khác cho dù thời cải cách ruộng đất ông đã làm tới chức…Chánh án Toà án nhân dân :
“ Song đỉnh điểm cao thâm của nhà văn lớn Tô Hoài trong Ba người khác lại ở chỗ, vừa rút hết vốn sống của người trong cuộc, viết ra loại sự thật đáp ứng được khẩu vị và sự hiếu kỳ, khiến người đọc, nhất là các nhà phê bình đang muốn nổi của nền văn học Việt Nam, phải trầm trồ tâm phục khẩu phục, ông đồng thời vẫn tách bạch được sự thanh cao, thánh thiện bằng giọng văn dưng dửng, biếm biếm, như mình hoàn toàn là người ngoài cuộc, nên cùng lúc, ông cũng được ca ngợi là khách quan, dũng cảm khi dám mổ xẻ, phanh phui đến tận cùng một đề tài nhạy cảm.”
Và chính vì lối “chạy tội” đó, Tô Hoài đã không dám chỉ đích danh thủ phạm gây nên thảm trạng cải cách ruộng đất chính là Đảng và Nhà nước mà là do người của…địch cài vào :
“Bi kịch cải cách ruộng đất ở xã nọ kết thúc có hậu, kèm theo lời giải đáp “đúng hướng” về nguyên nhân đẻ ra sự xáo trộn làng quê kinh hoàng: Đội Cự có vẻ như do địch cài vào, Đội Bối là đảng viên giả mạo, còn Đội Đình, đảng viên thật sự, chỉ có mỗi tội lãng mạn không tưởng.”
Vậy là đảng viên Tô Hoài và Đảng cộng sản của ông là…vô can, lỗi là ở “kẻ xấu” chui vào hàng ngũ ta. Để thực hiện được “ý đồ chạy tội “ đó, Trúc Anh đã tố cáo Tô Hoài dùng mẹo “ve sầu thoát xác” :
“Nhiều người bảo Ba người khác đã mở ra diện mạo mới cho văn chương Việt Nam. Nói như thế là chưa thấy hết tầm cỡ của Tô Hoài, chưa hiểu thế nào là thuật kim thiền thoát xác. Đọc xong Ba người khác, không nhìn ra người thứ tư, một anh Đội Bối B, sau cải cách, sau sửa sai, vẫn tiếp tục được thăng quan tiến chức, hưởng ngập mặt những bổng lộc, quyền lợi, nhờ cải cách ruộng đất, và đến tận cuối đời, chứng khôn ranh vẫn nguyên vẹn, vẫn thu hút được quanh mình đủ loại “chuỗi, rễ” đời mới, là chưa hiểu hết cái sâu xa, cái vô cùng của tác phẩm …”
Anh Đội Bối B chẳng phải ai khác, chính là nhà văn Tô Hoài, sau cải cách vẫn thăng quan trong Hội nhà văn, vẫn “ lập kỷ lục quốc gia” về …số lần đi nước ngoài khiến dân gian đã có câu :
“ Đảng đoàn là Đảng đoàn Hoài
Hễ đi nước ngoài là có ông ngay…”

                                    *
                                 *    *

Bài “Đọc tác phẩm “Ba người khác” của nhà văn lão thành Tô Hoài “ của Trúc Anh rõ ràng là lên án nhà văn Tô Hoài với lời lẽ thật quyết liệt, sâu cay, vậy mà chắc do “trình độ có hạn”, hoặc đầu óc lú lẫn vì đấu đá nội bộ, ông Nguyễn Thế Kỷ, Vụ trưởng Vụ báo chí “hồi ấy” đọc xong lại “nhầm tưởng” là …bài báo quá khen “ Ba người khác “ của Tô Hoài, trái với chỉ đạo của Ban tư tưởng là không được khen, chỉ có…chê. Lập tức ông nổi giận đùng đùng, tại cuộc giao ban báo chí ngày 6-2-2007, ông lên giọng “lãnh đạo” :
“Nếu ý của tác giả là phê phán cuốn sách thì tự bài viết đã bộc lộ sự non tay, né tránh và sơ hở, nhiều đoạn trong đó vô hình chung ca ngợi tác phẩm một cách quá lời. Nhìn toàn cục, bài viết nhập nhằng giữa khen và chê, chê qua loa nhưng khen  thì quá rõ…”
Và rồi ông Vụ trưởng Vụ báo chí kết cho tác giả Trúc Anh và  báo Saigòn  cái tội “chết người” :
“ …thiếu tính định hướng…”
Trong làng báo Việt Nam, đây là tội nặng nhất, báo chí có thể đưa tin sai lệch, thiếu chính xác, nhưng “thiếu định hướng” tức là cãi bướng, không tuân theo sự chỉ đạo của Ban tư tưởng” là…chết.
Mặc dầu thừa biết là thủ trưởng “phán láo”, kết tội oan uổng  nhưng mấy ông Tổng biên tập vẫn ngồi im thin thít, không ông nào dám cãi . Bởi lẽ im lặng là vàng , anh nào dám ho he cãi lại cấp trên thì  coi chừng, mất ghế có ngày.
Biên bản cuộc họp giao ban này chắc được giấu biến để khỏi tới tay lão nhà văn Tô Hoài tránh cho ông nổi giận rất có hại cho sức khoẻ người già.


Thứ Sáu, 16 tháng 9, 2011

MƯA RƠI TRONG LÒNG TÔI :

 XÍCH LÔ...XÍCH LÔ...:
              
           Mưa rơi trong lòng tôi...
  
         Vào những ngày cuối tháng Tám, Sàigòn bỗng nổi những cơn mưa liên miên và tầm tã. Mới chưa tới 12 giờ đêm đường phố đã vắng ngắt.Lác đác trên đường chỉ còn mấy em tiếp viên  mới tan ca toả ra từ các nhà hàng karaoke sau một tối “hát với nhau” bằng tay.
               ”Đêm đông...xa trông cố hương buồn lòng chinh phu...”
                 Tiếng hát não nề từ cái loa mở muộn ở đâu đó  làm anh xích lô nằm co ro trong chiếc mùng mắc trùm lên chiếc xe đậu dưới mái hiên đầu hẻm ngáp một cái thật thê lương.
           " Đêm đông...ta mơ giấc mơ gia đình thương yêu…”
      Rõ thật hiếm khi gặp  được tiếng hát  hợp cảnh,hợp người đến thế làm người đi ngang không thể không mon men lại gần.

N.T. : Đêm mưa lạnh lẽo thế này,còn khách nữa đâu , sao không về nhà mà quắp vợ cho ấm, nằm đây làm gì cho khổ ?”
ANH XÍCH LÔ (đập tay vào xe): “Nhà đây chứ nhà đâu ? Có điếu thuốc nào không đấy?”
N.T. (móc ra gói thuốc):” Có ngay...làm một hơi ...sưởi  ấm cuộc đời.”
A.X.L :   “ối chu choa...chơi BASTOS kia à ? Nặng thế ?Tớ khoái nhất loại CAPSTAN nhưng giờ kiếm đâu ra ?”
N.T. : CAPSTAN  à ? À phải rồi C-A-P-S-T-A-N đọc thành “ CHO ANH PHÁT SÚNG TIM ANH NÁT...”
A.X.L. :“NHƯNG ANH TIN SỐ PHẬN ANH CÒN” ? Ha ha ha...ra ông anh cũng dân chơi hè ? Có cần “bi”* không ?”
N.T. : “ Bi với đạn gì...có xị rượu với con khô mực đây...lại có cả cồn , ta nướng ăn chơi...”
A.X.L :   “ Khỏi cần cồn...”
A.X.L nhảy trên xe xuống,lôi trong thùng xe ra cái bếp ga mini bật lửa xanh lè.Lát sau mùi mực nướng toả ra thơm phức...
N.T. (rót rượu vào cái nắp chai ) :Nào, làm cái cho thêm   khí thế .
A.X.L     “Ông anh cứ uống đi...tớ kiêng...chỉ ăn mực cho vui thôi...”
N.T. :      “Í trời đất quỷ thần ơi...kiêng rượu hả ?”
A.X.L :   “ Không phải kiêng...lúc khác tớ chỉ tợp cái là hết xị rượu của ông anh, nhưng lúc này thì chưa,lát nữa còn...làm việc.
N.T. : “ Làm việc ? Nửa đêm còn làm việc gì nữa ? À thôi phải rồi,tính “nhập nha”** chôm đồ hả ?”
A.X.L :   “Bậy nào,cái đó chỉ có tụi xì ke mới làm thôi, tớ đoàng hoàng mà...”
N.T. :      “ Vậy ông anh làm cái việc gì ?”
         A.X.L :   “Bí mật...”
N.T. :      “ Thôi hiểu rồi...chở đồ cho mấy bà đi chợ sớm chứ gì ?’
A.X.L :   “ Chở đồ thì việc gì phải kiêng rượu...nói ngu bỏ mẹ ...thôi làm ly cà phê cho ấm bụng hỉ ?”
N.T. :      “ Cà phê ? Giờ này còn kiếm đâu ra ?”
         A.X.L cười khẩy,lôi ra đồ nghề,chỉ nhoáng cái đã có hai ly cà phê thơm nức.Trời lại mưa ào ào.Cả hai rút vào trong góc hiên, trải ra tấm vải nhựa,ngồi bệt xuống  nhấm nháp cà phê.
N.T. :  “ ối trời ơi... cà phê thơm quá...thế này sướng hơn vua rồi còn gì ?”
A.X.L :   “ Giờ có bát cháo trắng lá dứa nữa thì mới gọi là nhất thống sơn hà...”
N.T. :  “ Thì ước cha nó cháo gà đi...cho giấc mơ nó thêm chất đạm...”
A.X.L :  “Ba mươi ngàn một tô đấy cha...bằng hai đĩa cơm tấm của người ta rồi.”
N.T. :   “Tính toán chi li vậy thì...chết cha con mẹ hàng cháo rồi...”
A.X.L:    “ Không chi li thì vợ con cạp đất mà ăn ? Mẹ kiếp 3 cái tàu há mồm nó xơi mỗi tháng ít cũng nửa tạ gạo...”
N.T. :   "Vậy vợ con đâu hết rồi ?”
A.X.L : “ Ngày trước ở trong hẻm này này.Cũng có nhà có cửa đoàng hoàng chớ bộ.Tớ lại còn cái CUB 81 chạy xe ôm nữa kìa.Vợ thì có xe đẩy bán bột chiên...giờ thì ...giải tán hết mẹ nó rồi...”
N.T. :  “ Sao lại ra cái nông nỗi thế ?”  
A.X.L :   “ Mẹ kiếp...thế mới ngu (quay đi nói một mình) lỗi tại tôi...lỗi tại tôi mọi nhẽ...”
N.T. :   “ Ông ...đi nhà thờ đấy à ? Chúa có giúp được gì không ?”
A.X.L :   “ Chúa...thôi đừng nói tới Chúa...tại mình cả thôi.Giá như ...giá như...”
A.X.L trầm mặt xuống.Rồi như có một ngọn lửa vô hình thiêu đốt trong lòng, anh ta trừng mắt lên...
A.X.L :   “ Chỉ vì thằng đó mà gia đình tôi tan nát.Đêm đó cũng mưa mưa như đêm nay,tôi vừa chạy được một cuốc xe đi mãi tận Long Thành về.Vừa chạy xe vào sân nhà đã thấy một thằng đang quần nhau với vợ mình ở trong màn.Vợ tôi cứ cào tay vào mặt mà nó vẫn  lì ra,dấn tới.Tôi nổi xung lên,sẵn cái chày vứt lăn lóc góc nhà, rồi không còn biết trời đất là gì nữa,tôi vung tay lên và cứ thế bổ xuống cái đầu của nó.Nó nằm vật ra tôi cũng chưa tha,đến khi vợ tôi thét lên “anh giết nó rồi” tôi mới dừng tay.Anh biết không ? Máu túa ra đầy một cái mặt gối...”
N.T. :“ Rồi sao nữa?”
A.X.L :”May cho cả tôi lẫn nó là nó không chết.Nó chỉ biến thành một thằng dở hơi , còn tôi thì ngồi tù ...3 năm...”
N.T. :“ Sao lại xử nặng thế ?Lẽ ra phải xử nó về tội cưỡng dâm chớ ?”
A.X.L :” ĐM...nó là con thằng đại tá có cái nhà lầu ở đầu hẻm kia kìa...Gia đình nó quen lớn lắm ,mình là thằng tốt đen,châu chấu đá voi sao được ?”
N.T. :      “Rồi sao nữa ?”
A.X.L :   “ Khi ra tù thì vợ con đã bán nhà bồng bế nhau về quê ngoại mãi tận Quảng Ngãi ...”
N.T. :   “ Sao ông không theo vợ con ra ngoài đó ?”
A.X.L :   “ Ra đó có mà ăn đất.Vả lại hộ khẩu của tôi vẫn còn ở đây.Thế là đành gom tiền mua cái xích lô vừa làm cần câu cơm kiếm tiền gửi về quê nuôi vợ con vừa làm cái nhà trú ngụ nắng mưa ...”
N.T. : “Mẹ kiếp, nghe chuyện ông anh mà muốn văng tục ra quá...Thế còn thằng con lão đại tá giờ ra sao ?”
A.X.L :   “ Cũng đi tù như tớ rồi.Dính vào xì ke ma tuý,bao nhiêu đồ đạc vốn liếng ông bố móc được của nhà nước,mang ra cúng hết vào chích chóac,rồi khi hết ‘chôm đồ nhà” xoay sang chôm đồ thiên hạ mới phải tra tay vào còng. Hoá ra...Chúa nhìn thấy hết đấy ông ạ...”
Một luồng gió quét ngang làm nghiêng ngửa chiếc xích lô đậu chênh vênh trên hè.
A.X.L (nhìn hút sâu vào trong con hẻm tối) : “Sắp tới giờ tớ phải đi làm rồi đấy...”
N.T. :“ Đi làm ? Giờ này còn đi làm ? Mà ông đi làm cái gì ?”
A.X.L :“Làm nghề đực rựa...”
N.T. :    “ Nghề đực rựa là cái nghề ...quỷ gì ?”
A.X.L :   “ Ông anh ngu bỏ mẹ...là cái nghề ..."đĩ đực " đấy.Thôi dấu làm đéo gì, ở cái nhà ba tầng lầu kia kìa, có một con mẹ Giám đốc goá chồng, ngoài 50 rồi vẫn còn kén cá chọn canh nên mới thành quá lứa.Tiệc tùng, chiêu đãi, ăn cho lắm của ngon vật lạ vào mới rực mỡ lên, bởi vậy lâu lâu lại cho gọi tớ vào ‘giải toả”.Đêm nay đã hẹn rồi đây, cứ đúng một giờ phải có mặt...”
N.T. :“ Vậy phải làm vài chén cho sương sương mới có...khí thế chớ...”
A.X.L :   “ Nhưng con mẻ này rất ghét mùi rượu.Nó cấm tiệt.Đã có lần nó đuổi tớ về nhất định không chịu mới lạ chớ,thế là mất mẹ nó buổi cày.Bởi thế ông anh cứ dụ tôi uống rượu tôi đâu có dám...Tới giờ rồi đấy...tớ đi đây...”
N.T.  :     “ Vậy cái xế lô này cất đâu...”
A.X.L :   “ Thì cứ để đây chứ còn biết cất đâu ?”
N.T. :      “ Vậy rồi mỗi buổi cày...doanh thu được bao nhiêu...”
A.X.L :   “Thì cũng vừa tiền cho vợ con đong được 3 yến gạo...”
A.X.L cười như mếu rồi lủi thủi bước vào ngõ tối.
Mưa lại rơi ào ào trên phố. Chợt nhớ tới câu thơ của thi sĩ Pháp Paul Verlaine  “Mưa rơi trên phố...như mưa rơi trong lòng tôi...”.

* heroin đựng trong ve nhựa rất nhỏ        





    
    


  

Thứ Năm, 15 tháng 9, 2011

KỂ CHUYỆN NHÀ VĂN NƯỚC NGOÀI (2)…

                 

                                       (tiếp theo)

       Chúng tôi rời khách sạn mang tên nhà văn Thuỵ Điển nổi tiếng  Auguste Strinberg ở Stockholm trên một chiếc mini bus do nhà văn Tomas lái làm một cuộc hành trình vòng quanh phần phía Nam đất nước Thụy Điển. 
Xe chúng tôi lao thẳng xuống chiếc tàu phà (ferry boat) rộng lớn và sang trọng,có phòng ngủ đủ tiện nghi,có  nhà ăn,có  quán càphê  dẫu rằng giá cả ở đây đắt gấp....10 lần ở Việt Nam.
Tuy nhiên, đêm đó, để mua được “sự bình đẳng” với những ngưòi Thụy Điển đang ngồi đầy trong  các căn buồng sang trọng trên boong tàu,tôi đã lẻn khỏi phòng ngủ,bỏ ra 100 cua ron để được ngồi nhấm nháp một ly càphê sữa ngắm nhìn biển Baltique mờ mờ dưới ánh trăng suông.
Không phải  cái không khí lãng mạn đó làm tôi hứng khởi mà chính là  cái khóai được hòa đồng  với những ông tây bà đầm sang trọng  đang vô tư cười nói xung quanh . Họ uống tôi cũng uống,họ trả tiền tôi cũng trả tiền, họ ngắm trăng  tôi cũng ngắm trăng. A ha...chúng ta bình đẳng.
       Sáng hôm sau chúng tôi đặt chân xuống đảo Godland, hòn đảo lớn nhất, đẹp nhất Thụy Điển có thành phố Visby nở đầy hoa như  trong truyện thần tiên. Những thảm cỏ xanh mát, những cây đại thụ xum xuê, những luống hoa đủ màu , bờ biễn Baltique trong xanh và yên tĩnh đến tuyệt vời .Visby gồm tòan các nhà gỗ xinh xinh,các đường phố hẹp lát gạch ,không một tiếng còi xe,không một tiếng động cơ, thỉnh thỏang một chiếc xe hơi lưứt nhẹ,đôi bạn trẻ sóng đôi trên chiếc xe đạp hoặc một cụ già lầm lũi đi trên đường trong bầu không khí ngòn ngọt và yên tĩnh của con ong mải miết làm mật.
Chắc hẳn cư dân trên đảo này đều là nhà thơ hết và nếu trong mấy ngày trên đảo có khi một kẻ “tục tử" như tôi cũng nảy nòi ra một bài thơ cũng nên..Có lẽ chính vì cái không khí nên thơ của một thành phố cổ bên bờ biển Baltique nên ngưòi ta đã nảy ra ý tưởng thành lập một trung tâm sáng tác cho các nhà văn chuyên nghiệp- một nơi để dệt nên những tưởng tượng của họ.
”Bắc những nhịp cầu và phá vỡ những rào cản” là phương châm hàng đầu của trung tâm Baltic giành cho các nhà văn và các dịch giả  nhằm tạo ra không khí thanh bình trong một môi trường đầy cảm hứng.Trung tâm được thành lập từ năm 1993,Thụy Điển tài trợ chính,rồi tới Liên minh các nước châu Âu và Hội đồng thị chính Godland.Trung tâm có 11 phòng trong đó có 4 phòng là phòng đôi,có thư viện,vi tính nối mạng,FAX...đầy đủ tiện nghi cho xác nhà văn làm việc.Hàng năm tại trung tâm có tổ chức hội thảo,seminar ...thu hút hàng ngàn nhà văn,nhà dịch thuật tới đây làm việc và nghỉ ngơi. Mặc đầu trung tâm ở ngòai đảo nhưng việc đi lại rất thuận tiện,hàng ngày có vài chuyến bay và ba tuyến tàu thủy chạy vào đất liền.Các nhà văn và dịch giả chuyên nghiệp quanh vùng biển Baltic và Nauy nếu có đề cương cụ thể đều có thể tới đây ăn ở miễn phí trong thời gian từ một tháng trở lên.
         Ngay chiều hôm tới trung tâm,bà Gunnilla Forsen, Giám đốc Trung tâm đón tiếp và  mời  ăn tối cùng các nhà văn đang  sáng tác tại đây. Rượu vang đỏ,bia, bíttết bò và thịt tuần lộc...Thú thực,tôi ăn không lấy gì làm ngon lành vì hầu như món nào nhà bếp cũng cho sữa.Mới xa nhà có mấy ngày tôi đã phát hiện rằng dù sơn hào hải vị ngon tới đâu,thiếu vị ...nước mắm  thì cũng coi như hỏng.Lúc ở nhà,ngày nào cũng có nó nên coi thường,đi xa vắng nó mới thấy nó cần thiết với mình biết bao.Tôi đang tư lự về chuyện ăn uống thì một ông nhà văn Thụy Điển cao lớn,bưng đĩa thức ăn ông đang ăn tới :
         “ Hi...ăn ngon miệng chứ....?”
        Tôi đành phải thú thực với Curman,người đã viết  khá nhiều tiểu thuyết  nổi tiếng  rằng thôi thì chỗ nhà văn với nhau cho tôi phép nói thực,tôi ăn chẳng thấy mấy ngon lành .Ông Curman tròn xoe hai mắt xanh biếc:
          “ Tiệc này đãi thượng khách đó...”       
       “ Vâng thưa ông, nhưng không vì thế mà cái miệng tôi thấy ngon hơn lên được.Tôi thấy người Thụy Điển đã có một nền nghệ thuật kiến trúc tuyệt vời,hệ thống bảo tàng tuyệt vời ,và nói chung everything OK,tuy nhiên tôi xin đề nghị với các bạn hãy bỏ thêm thời giờ chăm chút hơn các món ăn,chẳng hạn món nấm mà chiều nay các chị nhà bếp đi hái về có thể nấu rất ngon bằng cách xào xáo thêm gia vị hơn là nấu với muối và nước lã như thế này.”
        Và thế là tôi thao thao kể về các món đặc sản chế biến từ bò dê gà cho ông Curman nghe,tất nhiên dấu biến cái món cày tơ quốc hồn quốc túy khiến ông nhà  văn tấm tắc hẹn sẽ đi thăm Việt Nam một chuyến cho biết các  món ăn Việt Nam.
Vừa lúc  đó có một bà bước vào dắt theo một con chó ngao khổng lồ.Tomas thấy tôi nhìn con chó với ánh mắt đăm đăm liền đi tới ghé tai tôi :
        “ ổ đây chỉ có tao biết mày nhìn con chó kia với ý nghĩ gì?”
        Tôi cười :
         “ ý nghĩ gì?”
       Tomas nheo mắt :
      “Mày đang tưỏng tượng đưa được nó lên ...điã,đúng không ?”
     Tôi sởn gai ốc,hóa ra kể chuyện cờ tây cho ông tây nghe tai hại thế đấy.ở Thụy Điển ngưòi ta cưng chó tới mức làm cả  “nhà trẻ “cho chó,thuê nguời dắt chó đi chơi công viên.Tôi lấm lét nhìn  quanh.Tomas lại cười cợt :
      “ Yên trí đi,ở đây không ai biết hết,để kỳ tới sang Việt Nam mày dẫn tao đi ăn...thử một miếng xem sao...”.
       Vừa lúc đó bà Gunilla,Giám đốc trung tâm đi tới :
       “ Các ông có chuyện gì mà vui thế...”
      Tôi lo lắng nhìn Tomas,chỉ sợ anh ta nói ra điều đó,may quá nhà văn Curman đã đỡ lời :
       “ Ông đây đang đề nghị chúng ta bỏt thêm thời gian vào nấu nướng các món ăn...”
       Bà Giám đốc vui vẻ :
       “Đúng thế,đúng thế...để mai kia tôi nhờ mua gạo và mời các bạn tới trổ tàI nấu nướng các món ăn Việt Nam nhé...”
       Và bà nói bà đã sang Việt Nam và nói chung đó là một xứ sở nhiệt đới  tuyệt vời.Tôi liếc Tomas và  đáp lại rằng  đất nước Thụy ĐIển của các ngài cũng thế,cũng vô cùng tuyệt vời ,và với lòng hiếu khách  truyền thống tôi hy vọng nay mai nhiều nhà văn Việt Nam sẽ  được mời tới viết tạI hòn đảo Godland đầy mộng mơ này....
Tôi hôm đó tôi phải đãi Tomas chai vang đỏ "tạ ơn" đã dấu biến giúp tôi chuyện "cờ Tây". Nếu không sáng hôm sau chắc tôi đành ngậm ngùi lên máy bay về nước sớm.


                                                     

Thứ Ba, 13 tháng 9, 2011

CHUYỆN TÀU...CHUYỆN TA


...Trong các thứ chuyện kể ở đời, phải nói thâm nhất là ba cái chuyện của…anh tàu.
Chuyện kể rằng từ thời xửa thời xưa,từ thời hồng hoang Bành Tổ,ở biển Bột Hải có gã tên Ngột.Gã này tuy không mắt không mũi không tai không mồm nhưng lại sống hồn nhiên vui vẻ lắm.Hàng ngày gã nô rỡn,nhảy nhót cùng nắng trời và sóng biển.Nguời đời sau trông thấy gã,thương lắm mới đục cho gã ngũ khiếu để gã có thể sờ mó,nói năng, nghe ngóng ....Ngờ đâu  sau khi đã có đủ ngũ quan, Ngột lăn ra chết liền .
Lại tiếp theo có câu chuyện về gã A.Q của nhà văn Lỗ Tấn, chuyện kể rằng cái anh nhà quê này kỳ cục lắm - thời phong kiến , những lúc phải lên quan , hắn quỳ đã đành, kịp tới thời cách mạng Tân Hợi (1910), đổi đời rồi,vậy mà khi lên huyện gặp chủ tịch, hai đầu gối hắn cũng cứ tụt xuống,tụt xuống, hoá ra gã vẫn quỳ, khiến cho chủ tich huyện phải thốt lên :"quen cái thói nô lệ...".
Hai chuyện này ngẫm đi thì chả có gì, nghĩ lại mới thấy anh tàu thật là thâm.Suy cho cùng cái gã tên Ngột với gã tên A.Q cũng là một gã nhà quê có tên là "dân đen con đỏ" đó thôi. Hắn chẳng có trăm tay nghìn mắt như Phật bà Quan âm, cũng chẳng có cái bụng chứa đầy chữ nghĩa như các môn sinh của Đức Khổng tử, bởi thế hắn  có biết 'tự do " với “dân chủ” là cái quái gì ? Tính hắn là như thế,nếu đưa ra cho hắn chọn một trong hai thứ : cái bánh bao và nền dân chủ thì chắc chắn hắn sẽ vồ lấy bánh bao. Còn bắt ép hắn hãy khoan ăn bánh bao, hưởng thụ dân chủ trước đã, thì có khi lại giống kiểu đục cho tên Ngột 5 cái khiếu để rồi gã lăn ra chết.
Một ngàn năm nô lệ giặc tàu, một trăm năm nô lệ giặc tây,cái anh Ngột-AQ Việt Nam không khéo chẳng  thua gì người anh em bên tàu về cái máu..."quen cái thói nô lệ".Chẳng thế mà thời bước vào “đổi mới” , ông Tổng Bí thư Nguyễn văn Linh mới he hé một chút dân chủ thế là các ông nhà văn Việt Nam đã chửi nhau loạn xạ , ông nọ chửi ông kia là "văn chương phải đạo","văn chương minh hoạ""ta mới là đổi mới chính hiệu đây " khiến người trong nước ôm bụng cười :" vừa mới có một hớp dân chủ đã ho sặc sụa".
Vừa rồi,có dịp về thăm Hà Nội, gặp lại các bác các chú trong họ đều đã hưu cả rồi,vậy mà khi mời đi chơi xa vài bưã, các cụ cứ chối  đây đẩy :"bận lắm...bận lắm...".Hỏi rằng đã hưu rồi còn bận cái nỗi gì ? Các cụ bảo chỉ hưu trong sổ lương thôi,còn vẫn thèm họp hành,thèm cơ quan,thèm được lãnh đạo lắm,vắng 'thủ trưởng" cứ thấy...thiêu thiếu thế nào ấy. Các cụ lại nói :"Hoá ra sống vào cái thời bao cấp tuy vật chất  thiếu một tý nhưng lại đâm ra sướng..." Hỏi sống với ba cái tem phiếu ấy thì sướng nỗi gì .Các cụ bảo :'Cơ quan thời đó vui lắm,trên dưới rõ ràng,thủ trưởng nhân viên hoà đồng lắm...".
Cụ trưởng tộc tôi năm nay đã ngoại bát tuần nhưng vẫn cứ khăng khăng làm “tổ trưởng dân phố”. Con cháu bảo thôi cụ nghỉ đi mà hưởng tuổi già. Cụ trợn mắt : “tao nghỉ thì đứa nào làm ?” . Thế là ngày ngày cụ vẫn đi “nắm tình hình địa bàn”, đi kiểm tra phong trào “gia đình văn hóa mới”, đi lĩnh lương hưu cho các cụ trong tổ.
Ấy đấy, các cụ ngày nay phần nhiều “lão giả an chi “  vậy đó . Có cụ còn lo :” chúng mày đòi lật đổ chế độ  thì ai trả lương hưu cho tao ?” . Hóa ra cái sự bức xúc về thiếu dân chủ chẳng cao lắm đâu trong cái biển cán bộ "nhân viên 3 cán sự 1" .
Tất nhiên, nói chuyện này không có nghĩa  rằng dân Mít  ta mãi mãi cứ phải là chàng Ngột đừng có ai "đục khiếu" cho gã mà chết.Hoàn toàn không ạ.
Cứ cái đà toàn cầu hoá này sẽ có ngày anh Mít ta vốn sẵn máu Chí Phèo tỏ mặt anh hào khắp năm châu bốn biển cho coi.Nhưng đó là cả một kịch bản lắt léo và phức tạp lắm chứ chả đơn giản, dễ dàng  như thiên hạ đang  hè nhau đi "đục khiếu " cho chàng Ngột An nam mít.
Thưa vâng, trước hết muốn đi tới cái ngày đó, ít cũng phải để anh Mít no cái bụng đã,"có thực mới vực đuợc đạo" mà , cho nên Tôn Dật Tiên tiên sinh làm cách mệnh ở bên tàu mới nêu khẩu hiệu :"dân sinh" đi truớc,"dân quyền " theo sau đó ư ? Đói cơm thì dân ta đã chết 2 triệu người,còn đói dân chủ thì sĩ nông công thương mỗi anh đói một cách - anh đói ít,anh đói nhiều - người bất đồng chính kiến chắc phải đói dân chủ hơn anh thợ cắt tóc, anh xe ôm. Cho nên với người này thì cái truớc hết là "dân chủ ",với người kia lại là "bánh mì ".Tiếc thay , cái đám cần bánh mì này lại là đám đông dân Mít ta.Từ anh xe ôm mong có du khách vào thật nhiều kiếm khách,chị công nhân dệt may mong có việc dài dài cho chồng con mát mặt,em gái karaoke mong có nhiều khách tới để kiếm tiền "bo".Hình như cái đám đông thầm lặng này các nhà hoạt động dân chủ chưa mấy ai quan tâm “đục khiếu” cho nó. Cái đám đó ở bên tàu người ta gọi  “dân”. Người ta có thể lật đổ một triều đại phong kiến thối nát chứ chưa ai lật đổ…dân bao giờ cả. Ở bên tàu cũng thế mà bên ta cũng vậy. Tàu làm cái gì thì ta cũng lóc cóc làm theo cái đó. Nào là giảm tô giảm tức, nào là cải cách ruộng đất, nào là hợp tác hóa nông nghiệp, nào là đặc khu kinh tế…Cứ tàu sao ta vậy. Bởi thế muốn biết cái anh “dân” này khi nào đòi dân chủ ngang với đòi bánh mì thì xin mời cứ…nhìn sang Tàu.

Thứ Hai, 12 tháng 9, 2011

NHÂN HỘI NGHỊ VIẾT TRẺ NÓI CHUYỆN NHÀ THƠ TRẺ



NHÀ THƠ BÙI CHÁT :
                                 “ tôi không hát một mình”
                     
   “ Bài thơ một vần” của Bùi Chát - một tập thơ “ngoài luồng” được một nhà xuất bản “ngoài luồng” – NXB Giấy Vụn  cho ra đời tại Sàigòn đầu tháng 10 -2009 , và lập tức được giới cầm bút “ngoài luồng” nồng nhiệt đón nhận.       
               
Bùi Chát tên thật là Bùi Quang Viễn, sinh ngày 22.10.1979 tại Hố Nai, Biên Hòa - Đồng Nai, trong một gia đình công giáo gốc di cư. Tốp nghiệp ngành Văn học, khoa Ngữ văn - Báo chí, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn tp HCM năm 2001. Từ đó sống ở Sài Gòn. Là nghệ sĩ tự do và hoạt động xuất bản độc lập, năm 2001 cùng Lý Đợi thành lập nhóm Mở Miệng. Là người đề xướng các khái niệm “thơ rác”, “thơ nghĩa địa”… Là người sáng lập Giấy Vụn - nhà xuất bản chuyên in ấn và phát hành tác phẩm của các nhà thơ vỉa hè dưới hình thức photocopy, ngoài kiểm soát của Nhà nước .
 Tháng 4 năm 2011, tại Hội Chợ Sách Quốc Tế lần thứ 37, Hiệp Hội Nhà Xuất Bản Quốc Tế (IPA) đã trao tặng giải thưởng Tự Do Xuất Bản cho Bùi Chát.
  “ Bài thơ một vần”  thể hiện một cách mạnh mẽ và đầy ý thức của một công dân tự do không hề vướng mắc một thứ giáo điều hay lý thuyết nhồi sọ nào.
 “ Bài thơ một vần”  là một thái độ sống dứt khoát, một tiếng thơ “ngoài luồng” không rườm rà hoa bướm, không đưa đẩy cường điệu, điềm đạm, ôn tồn lặng lẽ thấm vào lòng người đọc.
Đọc Bùi Chát mà bồi hồi. Nở một nụ cười, buồn bã và kiêu hãnh.
Sau đây là một vài bài thơ ít “nhạy cảm” nhất trong cả thi phẩm “ Bài thơ một vần”

Cũng như em, tôi không hát một mình

Dưới lớp da nạm vàng
Có thể gãi thứ mình muốn ngứa?
Tôi đâu biết đêm dài quá vậy
Chẳng còn nhiều người thức đợi ngày mai
Ai đó thi thoảng thắp lên ngọn đèn
để xua đuổi tai ương
Đáp lại những câu thở dài tuyệt vọng
Em đã đến cạnh tôi nguyện ước
Vòm đêm không chút dấu hiệu thay đổi
Chúng ta bay đến lúc hết hơi
*
Không đề

Những cây gì trên đường nào không biết nữa
Tự dưng thu về trổ rực hoa đỏ
Và chiều nay đương kẹt xe ở đó

Thôi, đi

Nhắm chặt mắt
 Hãy bước
 Trên lãnh địa này
 Sự sống, giữa cái chết
 Mọi vật tồn tại
 Là nỗi sợ

Bước thấy sự thật
 Để biết mình có đôi chân

Thôi
Đi

Sống

         
Chọn một niềm đau. Mỗi ngày
           Để sẻ chia với thế giới
           Dân tộc này
           Chọn một niềm tin. Mỗi ngày
          Để có mặt trên trái đất
          Lãnh thổ này
          Chọn một cái chết. Mỗi ngày
         Trong con mắt chế độ
          Để được tự do


"Hiện thực xã hội chủ nghĩa"
Anh chị em hãy nhớ
           Chúng ta có mặt nơi đây không phải để khóc
           Không phải để cân nhắc
           Im lặng
           Rồi quay đầu
           Chúng ta ở đây để sống
           Để thể hiện bổn tánh chúng ta

           Đâu nhất thiết phải quan tâm
           Nhắc nhở lời đe dọa
           Bởi, với chúng ta
           Sợ hãi - không bao giờ là mục đích
Khó thấy


Sự phát triển của nghệ thuật
Có thể kết liễu một chế độ độc tài

Bao nhiêu người đã nói
Những điều tương tự vậy

Các nghệ sĩ nhậu ở vỉa hè
Kể về tính nước đôi

Cây kim giấu kín trong bọc vải
Lâu ngày cũng thành thơ

Chúng ta
Những cư dân không được đón chào

Gió chiều nào
Ta tào lao chiều ấy