Tổng số lượt xem trang

Chủ Nhật, 11 tháng 9, 2011

NHÂN HỘI NGHỊ VIẾT TRẺ NÓI CHUYỆN NHÀ VĂN GIÀ




  
NHÀ VĂN LÊ VĂN THẢO :    

      "Nhà văn không thể kiếm sống bằng ngòi bút"

Vào đầu những năm chiến tranh chống Mỹ, 1964, độc giả miền Bắc nồng nhiệt đón đọc loạt bài “Từ  miền Nam gửi ra” .
Tên tuổi Lê văn Thảo nổi lên từ đó với truyện ngắn đầu tay “Đêm Tháp Mười” đăng báo Văn Nghệ. Người ta được biết đó là anh sinh viên Đại học Khoa học Sàigòn ra vùng giải phóng và thay vì cầm súng, anh cầm bút...
          NT : Thưa anh Lê văn Thảo,anh vưà nói rằng anh không thể kiếm sống bằng ngòi bút...
           LVT : Đúng thế,các nhà văn thời nay,muốn sống được bằng ngòi bút, phải viết đủ các loại báo, đủ các loại bài : sổ tay văn nghệ, phóng sự, phỏng vấn, phê bình, điểm sách, điểm phim...tất nhiên với đủ thứ bút hiệu khác nhau.Tôi không làm được chuyện đó, có lẽ do cái tạng cuả mình....
            NT :Vậy anh sống bằng gì,nhất trong cảnh “gà trống nuôi con” như báo chí đã viết ?
         LVT : Tôi có lương cuả báo Văn Nghệ TP Hồ Chí Minh, tham gia các Ban Giám khảo văn xuôi,tham dự các trại sáng tác...vả lại tôi cũng không có nhu cầu phải tiêu nhiều tiền .Vả chăng theo chỗ tôi biết, trừ một số  ít nào đó,đa số các nhà văn Việt Nam không ai có thể sống bằng nhuận bút cả, đó chỉ là “hương hoa “vậy thôi....
            NT : Không bị thúc ép bởi việc kiếm tiền liệu anh có...lười viết đi không ?
           LVT : Ngược hẳn lại,tôi được thong dong nắn nót câu văn,tha hồ sưả đi sưả lại .Như cuốn tiểu thuyết “Một ngày và một đời” xuất bản năm 1997 tôi mất gần 3 năm mới hoàn thành ...
            NT: Cuốn này cuả ông có bán được không ? Nhất  trong tình hình hiện nay “đầu ra’ cuả các sáng tác văn học vẫn là câu chuyện dài nhiều tập xoay quanh  các nhân vật chính là nhà văn, nhà phát hành và các ông...đầu nậu.
         LVT: Cuốn này tôi may mắn được NXB Trẻ in cho, nên thấy có mặt hầu hết tại các nhà sách.Còn những cuốn trước : “Con đường xuyên rừng” (tiểu thuyết),”Chuyện nhỏ tình yêu “(Tiểu thuyết),ông cá Hô (truyện ngắn) phải móc tiền túi ra in, chỉ thấy xuất hiện ở trên các quầy sách chừng dăm ba hôm, tưởng sách mình bán chạy , nưả năm sau mới ngã ngưả ....Hoá ra nó chạy hết về kho phát hành để rồi một ngày đẹp trời nào đó họ chở sách tận nhà trả lại mình.
       NT : Kẹt đầu ra như vậy,các nhà văn hiện nay viết lách ra sao ?
     LVT: Phải nói rằng thời chống Mỹ ,các nhà văn đã có những tác phẩm đáp ứng được yêu cầu cách mạng cuả thời đại.Còn bây giờ, những vấn đề xoay quanh sáng tác văn học phức tạp hơn nhiều, công nghệ tin học đưa tới những phương tiện nghe nhìn vô cùng phong phú hạn chế dần vai trò cuả việc đọc sách, những đổi mới trong nền kinh tế thị trường tạo nên những chuẩn mực mới trong trong đời sống xã hội, chính sách mở cưả cuả nhà nước...tất cả những thay đổi phức tạp đó làm cho việc sáng tác cuả các nhà văn trở nên vô cùng khó khăn , nhưng tôi tin  văn học không mất đi, tiểu thuyết cũng vậy , vẫn còn những người viết miệt mài và những người đọc tâm huyết.
       NT : Ngày trước,thời chống Mỹ, nhân vật trong văn học thường là con người công dân .Chẳng  hạn anh bộ đội trong chiến đấu, anh công nhân trong nhà máy,chị bác sĩ bên bàn mổ...Thế còn bây giờ ? Con người công dân trong các nhân vật văn học vẫn còn chứ ?
     LVT : Vẫn còn, ngày trước, đời sống người cầm bút gắn chặt với tập thể,với sự nghiệp cách mạng , bởi thế tính công dân trong các nhân vật văn học thường nổi trội là đương nhiên. Còn bây giờ, ngoại trừ  những tác phẩm vô thưởng vô phạt xoay quanh chuyện  đời vụn vặt , chuyện tình nhạt nhẽo được bày đầy rẫy trên các kệ bán sách , trong những tác phẩm nghiêm túc cuả các nhà văn, tôi vẫn thấy những nhân vật trăn trở trước những khó khăn cuả xã hội và tin tưởng vào sự đi lên cuả đất nước.
       NT : Vậy theo anh phẩm  chất cơ bản cuả người cầm bút hiện nay là gì ?
   LVT : Bình tĩnh  và tốt bụng .Bình tĩnh xét đoán người và việc trong mọi mặt phức tạp, nhiều chiều ,cái đó người ta vẫn gọi là “phép biện chứng cuả tâm hồn”.Đừng vội nói cái này tốt quá, cái kia xấu quá, sự tốt xấu thường đan xen nhau ngay trong một việc, một người.Nhưng tựu trung, điều đọng lại trong lòng người đọc đối với nhà văn  và tác phẩm cuả họ  là lòng nhân hậu, sự thương người.Tôi còn nhớ ngày xưa đi học, trong một cuốn sách có kể câu chuyện một cậu bé băn khoăn sau này không biết làm nghề gì.Ông bố mới giới thiệu từng nghề một.Nào giáo viên, nào công chức, nào kỹ sư...sau cùng ông bố mới nói đến người làm nghề...nghệ thuật .”Đó là loại người tốt bụng nhưng mà nghèo...”.Theo tôi , cho tới bây giờ, hình ảnh  đó vẫn đúng, nhà văn là “người tốt bụng nhưng mà nghèo...”.
NT : Nhưng bù lại,văn cuả anh lại giàu...chất Nam bộ ?
LVT : Người ta vẫn nói với  về tôi như thế.
NT: Chất Nam bộ ? Nó là những gì ?
LVT : Theo tôi cái đó không nằm chỉ trong lời ăn tiếng nói mà chính là trong cung cách cảm nghĩ và ứng  xử.Tôi để ý thấy dân ca Nam bộ ít những bài nhộn nhịp  mà thường là man mác một nỗi buồn...
NT: Phải chăng đó là nỗi buồn “xa xứ”?
LVT : Tôi không rõ lắm.Có một câu thơ ‘Từ thuả mang gươm đi dựng nước.Ngàn năm thương nhớ đất Thăng long...”.Những cư dân đầu tiên cuả vùng đất mới khai phá phần lớn là những người xa xứ mang nỗi buồn tha hương...
NT : Bởi thế các nhân vật cuả anh thường lặng lẽ, nói ít và thiên về hành động ?
LVT : Tôi đang cố gắng như thế .Tôi viết theo cách làm cách nghĩ  cuả người dân quê tôi.Tôi nhớ một lần,vài người chúng tôi trong nhóm phóng viên báo Minh Hải về thăm một người bạn ở chót mũi Cà mâu..Tàu cặp bến, anh bạn bước ra nhìn chúng tôi rồi bỏ đi không nói gì  cả.Tôi hơi ngỡ ngàng, nhưng sau đó mới biết anh đi bán chiếc đồng hồ để làm tiệc đãi chúng tôi.Người Nam bộ là như thế.Nhưng theo tôi,văn “hành động” hay văn “suy nghĩ” cũng thế thôi , đó chỉ là cách thể hiện, cái chính là nói lên chiều sâu tâm hồn con người.Riêng tôi chỉ cố gắng viết cho thật mộc mạc,giản dị...
NT: Vậy nhưng câu chữ cuả anh lại khá khúc chiết và mạch lạc theo kiểu văn tây...
LVT: Có thể là do hồi học phổ thông tôi được dạy những tác phẩm văn học phương tây và coi khá nhiều phim phương tây.Những cái đó sau này hỗ trợ cho kỹ thuật viết,còn  văn chương cuả tôi chủ yếu ra đời trong cảm hứng cuả chiến tranh cách mạng...
NT: Anh quen viết loại đề tài và nhân vật nào ?
LVT : Tôi không chú trọng viết theo đề tài.Đề tài thường tự đến không nhắm trước.Tôi cho rằng đề tài nào cũng viết được cả,miễn nhà văn có hiểu biết ,có sự quan sát chăm chú  và nhiệt tình yêu thương nhân vật.Tôi cố gắng mở rộng đề tài để tránh lặp lại mình.Các nhân vật cuả tôi thường là các con người bình thường,thậm chí  có số phận hẩm hiu,bất hạnh.Trong chiến tranh,họ là những người lính, người nông dân, sau này là những người lao động bình thường.Tôi không chú ý chọn như vậy,ấy là do môi trường giao du cuả tôi là như thế...
NT: Anh thử nêu vài truyện ngắn anh ưng ý nhất..
LVT : Tôi viết khá nhiều truyện ngắn,có một số truyện thường được nhắc tới :”Đêm Tháp Mười”,”Đồng chí”,”Làng lở”,”Hai người cha”,”Con mèo”,”Cô gái đi từ cưả sau”,” “Ông cá hô””Bà nội tôi””Thằng Cung” ...
NT : Thế còn tiểu thuyết ?
LVT : Tôi mới viết cuốn  tiểu thuyết xuất bản năm 1997 :”Một ngày và một đời...”tôi cũng rất thích...
NT:Cuốn này anh viết về  truyền thống cách mạng  hay  chuyện đời thường ?
LVT : Đan xen giưã quá khứ thời chiến tranh và hiện tại cuả thành phố.
NT : Nghe nói anh viết cả kịch bản phim ?
LVT :Theo đề nghị cuả Hãng phim truyền hình TP Hồ Chí Minh,vtôi đã viết kịch bản  phim dưạ theo truyện ngắn “Ông cá hô”. Đạo  diễn    Mỹ Hàø đã cùng tôi đi chọn cảnh . ảnh trí sẽ là vùng sông Cửu Long  (Long Xuyên- Châu Đốc).Vùng sông nước An Giang khiến anh Mỹ Hà hào hứng lắm còn tôi thì bồi hồi nhớ lại  thời thơ ấu cuả mình.
NT : Trở lại chuyện văn chương,anh có thấy một tình trạng “phi chuẩn “trong  việc đánh giá các tác phẩm văn học hiện nay không ?      
LVT : Bạn đọc bao giờ cũng công bằng nhưng phải có thời gian.Và cũng phải chọn lưạ trong những đối tượng nào đó. Điều đó đòi hỏi người viết phải có sự dũng cảm nhất định.Nhưng nhà văn cũng là con người,có sự ‘phi chuẩn’ kéo dài nào đó sẽ không khỏi gây thua buồn, làm nghèo nàn đi chuyện văn chương.Thật ra văn chương tự cổ chí kim trên thế giới đều có chuyện đó.Au cũng là ‘sự đời”.Ngay giải Nobel,lớn nhứt thế giới, ta thử kiểm tra lại coi, có bao nhiêu nhà văn  không còn ai nhắc tới nưã và có bao nhiêu nhà văn lỗi lạc khác không được nêu tên vô ? Nhưng thôi, sự đánh giá thẩm định làm sao chính xác hoàn toàn , ta chỉ mong  sự tương đối nào đó thôi, đừng làm chuyện gì “trật chià” gây bất bình trong dư luận .Dù sao ta cũng có lòng tin tưởng chuyện chữ nghiã giấy trắng mực đen là cái sẽ còn lại mãi mãi.  
    NT: Một câu hỏi muôn thuả : “lớp trẻ hiện nay viết ra sao ?”
   LVT : Tôi là người biên tập báo Văn Nghệ TP Hồ Chí Minh nên thường phải đọc khá nhiều bản thảo.Nói cho ngay có nhiều truyện ngắn hay.Lớp trẻ bây giờ khi mới xuất hiện viết rất được, kỹ thuật viết rất khá. Nhưng sau vụ thu hoạch  “muà đầu”, kéo không dài, các nhà văn trẻ thường chững lại hoặc là do bị lôi kéo bởi ảnh hưởng cuả thị trường, hoặc do sớm về làm biên tập các báo, các nhà xuất bản vốn là nơi thuận lợi cho việc in ấn nhưng lại không bổ ích cho công việc sáng tác.
NT:Một câu hỏi sau cùng thay cho chị em phụ nữ : “Anh sống độc thân đã lâu,có định....đi bước nưã không ?” 
LVT : Tôi không biết,thực sự không biết.Tôi tính đến ngày tận thế còn dễ hơn tính chuyện đó.Chắc cũng như  nhiều nhà văn,tôi vốn vụng về, quản lý các nhân vật tưởng tượng còn dễ hơn một con người cụ thể.
       NT : Đó là khiá cạnh hôn nhân gia đình ,thế còn tình yêu ? Các nhà văn thường yêu như  thế  nào ?       
         LVT : Có một nhà văn lớn đã nói :”chúng ta không yêu người đàn bà mà yêu những mơ ước cuả mình về đàn bà”.Tôi thấy điều đó đúng với nhiều người ,do vậy mới có sự thất vọng, đổ vỡ.Tình yêu không nên thuần tuý về mặt tâm hồn.Nó phải thực tế một chút .Và không chỉ đơn thuần là ‘tiếng sét” ban đầu mà phải không ngừng tìm hiểu nhau,duy trì tình yêu trong suốt những năm tháng chung sống.
      NT : Và “ tình yêu thời thị trường “ hẳn có nhiều cái mới ?
      LVT : Quan niệm “Một túp lều tranh,hai trái tim vàng”  ngày nay là lỗi thời lắm rồi.Ta chọn người bạn đời khoẻ mạnh,có kiến thức,có thu nhập ổn định là điều tốt, không thể cứ lo “yêu nhau” rồi nhà dột, con đói không ai lo.Nhưng điều đó cũng nên dừng ở mức độ vưà phải .Cần hoà hợp giưã tinh thần và vật chất, để đồng tiền chi phối tất cả thì tệ hại lắm.Mà đã xảy ra rồi đó.Đọc báo thấy “sao này,sao nọ” với nhà cưả, xe cộ mà phát ngán.Và chuyện ‘kinh tế thị trường” chi phối tâm hồn con người ,chi phối tình yêu chắc rằng không dừng ở đó đâu...    
    NT: Xin cảm ơn anh

       .


   

Thứ Bảy, 10 tháng 9, 2011

THIÊN TÀI...BỐC PHÉT ( Kỳ 2)

                             
               

      Tặng Hội nghị Viết văn Trẻ toàn quốc đang họp ở Tuyên Quang                                    

 Hôm nay chưa kiếm được “thuốc liều” nhưng đọc bài diễn văn khai mạc Hội nghị Viết văn Trẻ toàn quốc lần thứ VIII ngày 9-9-1011 tại Tuyên Quang của bác Hữu Thỉnh thấy ngứa ngáy tay chân, đành gõ tiếp .
 Mở đầu diễn văn, bác Hữu Thỉnh đặt câu hỏi và tự trả lời :
- Những người viết văn trẻ, bạn từ đâu đến?
- Chúng tôi đến từ miền của tài năng.
- Đúng quá, xin chào các sứ giả đến từ miền của tài năng.
Chẳng biết các “bạn” nhà văn trẻ có trả lời thế không hay bác Hữu Thỉnh “chế” ra rồi đặt vào mồm họ. Sợ thiên hạ cười mình bốc phét, bác Hữu  Thỉnh phải giải thích ngay :
“Hội nghị lần này một phần ba số đại biểu đã có những tập sách riêng, nhiều bạn đã có tới 2, 3 đầu sách.”
Như vậy cứ có 2,3 đầu sách là “tài năng” cả, nếu vậy 1000 ông hội viên hội nhà văn VN và chừng đó ông ở hội địa phương, rồi mấy ông “đại gia” bỏ tiền in sách như ông N.T.L. nguyên Thứ trưởng Bộ nông nghiệp, ông Giám đốc Xí nghiệp dược Cà Mâu năm nào vừa được kết nạp hội chưa kịp “lại quả” mấy ông nhà văn “chạy hội viên” cho mình đã được mời đi… “bóc lịch”…đều là “tài năng” cả.
Như vậy câu cửa miệng một thời của mấy ông tuyên giáo “ nước ta ra ngõ gặp …anh hùng”, nay phải đổi thành “ nước ta ra ngõ gặp…tài năng”.
Cũng may cho bác Hữu Thỉnh là Hội nghị kỳ này không có đại biểu  tỉnh Bình Dương, nếu không tỉnh đó cũng được phong là “miền tài  năng” thì thiên hạ cười vãi linh hồn.
Bởi lẽ công trình văn hóa “khủng” nhất tỉnh Bình Dương là “Đại Nam Quốc tự “ do đại gia có tên “cúng cơm “ là Dũng “lò vôi” , tức Huỳnh Phi Hùng bỏ tiền xây dựng. Chềnh ềnh ngay giữa cổng chính là bức đại tự với bốn câu thơ “con cóc” của Huỳnh ông :
“ Về thăm văn hiến Rồng Tiên,
Mỗi trang sử một thề nguyền đinh ninh,
Về thăm văn hiến diễm tình
Khi về chở cả cây Quỳnh cành Dao”
Thơ kiểu này còn “nhảy “ lung tung khắp khu “quốc tự” khiến tỉnh Bình Dương khó có thể coi là “miền tài năng” .
Rõ may cho bác Thỉnh nhá !
Nghe câu “bốc thơm lớp nhà văn trẻ” của bác lại nhớ tới lời của nhà văn Nguyễn Khải ngày xưa :” cứ khen cho chúng nó chết”.
Chắc bác Hữu Thỉnh không muốn “khen cho chúng nó chết” đâu, bởi lẽ chúng nó mà chết thì còn đâu ra Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc lần thứ 9 năm 2015 để bác lên diễn đàn bốc phét nữa ?
Câu của bác Hữu Thỉnh còn gợi nhớ tới một cuốn sách của lão nhà văn Nguyễn Xuân Khánh xuất bản thời “cởi trói” :” Miền hoang tưởng”. Nếu dùng từ của bác Nguyễn Xuân Khánh thì câu nói của bác Hữu Thỉnh  trở thành :
“- Những người viết văn trẻ, bạn từ đâu đến?
- Chúng tôi đến từ miền hoang tưởng
- Đúng quá, xin chào các sứ giả đến từ miền hoang tưởng “
Câu này nghe “có lý hơn”. Tại sao thế ? Xin nhường cho các “tài năng trẻ” tự trả lời.
Để “dụ” các nhà văn trẻ hăng hái phấn đấu, bác Hữu Thỉnh mang cả Nghị quyết 23 của Bộ chính trị khoá X ra hứa hẹn :
“Tài năng là vốn quý của dân tộc. Chăm sóc và giúp đỡ tài năng phát triển là trách nhiệm của toàn xã hội"
Các nhà văn trẻ muốn biết “xã hội chăm sóc và giúp đỡ tài năng trẻ “ ra sao, xin tìm đọc bài viết đăng trên báo Nhân Dân lúc sinh thời của nhà văn Nguyễn Khải “ Chúng tôi chăm sóc tài năng trẻ” , bài báo làm tác giả của nó nơm nớp lo bị “ăn đòn”. Mới đây nhất 16 thành viên chính thức của Viện Nghiên Cứu Phát Triển (IDS) toàn là các”tài năng”, nguyên khí quốc gia, vốn quý của dân tộc cả như GS Hoàng Tụy, TS Nguyễn Quang A, TS Lê Đăng Doanh, Bà Phạm Chi Lan, GS Chu Hảo, GS Phan Huy Lê, GS Tương Lai, Nhà văn Nguyên Ngọc, GS Phạm Duy Hiển...Vậy mà chẳng biết được chăm sóc ra sao mà họ dành ngậm ngùi tự giải tán.
Sau cùng bác Hữu Thỉnh đặt lên vai các nhà văn trẻ một trọng trách rõ là ngang tầm thế giới :
“Nhưng tò mò muốn hỏi các bạn sẽ gửi thông điệp gì cho nhân loại từ địa chỉ Việt Nam? “
Trong các thứ thông điệp bác Hữu Thỉnh muốn nhà văn trẻ “gửi cho nhân loại “ chỉ có những chuyện như “nạn nhân chất độc da cam”, “cô giáo nhỡ nhàng duyên phận sau nhiều năm dạy học đơn chiếc ở vùng cao …nhưng tuyệt nhiên không có một chữ nào về nguy cơ Trung Quốc đang xâm lấn rừng đầu nguồn, hối hả khai thác bauxite Tây Nguyên, phố Tàu tràn lan đô thị VN,  biên giới bị lấn chiếm, ngư dân trên biển bị cướp bóc, bắn giết …
Đúng vào dịp Hội nghị viết trẻ khai mạc thì đồng chí Đới Bình Quốc , Ủy viên quốc vụ viện Trung Quốc sang Việt Nam . Trong cuộc gặp Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, cả hai đồng chí “răng môi” ăn mặc hệt như nhau từ màu càvạt, tới bộ com lê sọc. Sự thân thiết trên cả tình ruột thịt đó liệu có làm bác Hữu Thỉnh và 122 nhà văn trẻ suy nghĩ gì để mà ra thông điệp với thế giới chăng ?
Chắc chắn là không rồi ? Bởi lẽ khi người ta chỉ chăm chăm vào chuyện “bốc phét” thì đầu óc đâu nghĩ tới chuyên thực, chuyện cốt lõi , chuyện sinh tử của dân tộc nữa.





Thứ Sáu, 9 tháng 9, 2011

CHUYỆN CŨ VIẾT LẠI (1) :

             
  
           Những thiên tài…bốc phét

        Ở ngay trung tâm Sàigòn, khu vực ngã 6 cộng hòa, có một  ông thày tự xưng một cách văn vẻ là Lộc Trời.Từ sau năm 1975, mặc cho thiên hạ đại lọan, nguời lên núi đi tù, kẻ xuống biển vượt biên, nhà giàu vô tổ hợp, nhà nghèo đi kinh tế mới, riêng ông cứ ung dung ngồi xếp bàn tròn, xóc xóc ba đồng chinh bằng đồng ( không phải bằng “tôn” như câu hát dân gian) , bấm ngón tay tý sửu dần mẹo, miệng lầm rầm giáp ất bính đinh…rồi sau khi thí chủ đặt quẻ theo giá ấn định là một tờ cụ Hồ sốt rét trở lên (tức 50 ngàn Việt Nam đồng), ông mới thao thao phán những là năm mười lăm tuổi, quý bà đã thất mối tình đầu, kịp tới năm muời bẩy lại thất cái tuyết trinh cho thằng Sở Khanh, rồi năm hai mươi hai mới đứng số theo cái cách là “tiền dâm hậu thú mới ra vợ chồng”, dạ thưa tôi đoán thế có đúng không ạ, nếu đúng thì quý bà cho biết để tôi đoán tiếp…
Cứ như thế là ông Lộc Trời ban phát cho thiên hạ vung vít nhũng niềm tin sáng ngời ở …“bên kia bờ ảo vọng”.
Hồi đó, trong giới “vượt biên”, từ ‘ông chủ đầu’ đứng ra tổ chức ” đóng tàu”, các ông “tay em” chuyên chạy móc nối “mua bãi”, đút tiền cho công an, tới bà con bán nhà bán cửa  cầm cố đồ đạc lấy dăm bảy cây vàng góp vào canh bạc “hoặc là con nuôi cá hoặc là má nuôi con”…hầu hết nhũng ai truớc khi bước chân xuống thuyền nước  mắt như mưa để vượt biển lớn trên nhũng con tàu vỏ trứng, cũng đều tìm tới ông Lộc Trời để mua…một tia hy vọng.
Thế rồi, cuộc “bỏ phiếu bằng đôi chân” làm dân Bắc Kỳ 54 đi rỗng cả Sàigon, ông Lộc Trời tưởng thất lộc đến nơi, ngờ đâu dân Bắc Kỳ 75 tràn đầy thành phố, tiếng lành đồn xa, nghe tiếng cũng tìm tới thày xin đặt quẻ.
Nào là ông hải quan tính đánh quả "xe nghĩa địa" với mấy ông viễn dương, bà thành ủy lo Đại  hội kỳ này có còn lọt được vào mắt xanh của mấy anh cấp trên để mà cơ cấu vào Ban chấp hành, nào là ông ba tàu Chợ Lớn lo chuyện “chung ngựa với đức ông” bỏ tiền ra liên doanh với nhà nước, ông Mười Hải , Giám đốc Sở nhà đất, đút túi 10 kí vàng lo thanh tra…
Tất tật nhũng ai “có một nỗi lo” ( I have a worrier,not a dream) đều  tìm tới ông Lộc Trời mua một niềm an ủi.Cái nghề xin “âm dương” của ông Lộc Trời nổi tiếng tới mức những danh sĩ nổi tiếng ngoài Hànội cũng phải tìm tới nhờ thày coi quẻ.
Trong số đó có nhạc sĩ Hồng Đăng,Tổng thư ký Hội  nhạc sĩ Việt Nam,vốn ham tử vi hơn cả sáng tác nhạc, có nhà hoạt động dân chủ Dương Thu Huơng cụ thân sinh ốm nặng ngoài Hànội nhưng lại nấn ná ở Sàigòn vì đang dở dang công việc đa nguyên.
Ông Lộc Trời bấm ngay cho bà Huơng một quẻ, sau khi ca ngợi bà là bậc nguyên thủ quốc gia , ông cam đoan rằng cụ thân sinh có đi về nước Tây Trúc thì cũng phải hết sang năm.
Ngờ đâu không đầy tuần lễ sau, bà Dương Thu Hương còn đang mải bàn về “ vô sản chuyên chính”, ”dân chủ tập trung”, bỗng nghe hung tin thân phụ từ trần, bà đành lật đật mua vé máy bay, không kịp tới đập tráp ông Lộc Trời đoán bậy cho dù bà đã hậu hĩnh “bo” cho thày những hai tờ bác Hồ xanh.
Tuy nhiên đó chỉ là nhũng trục trặc kỹ thuật đuợc dấu kín, cửa hàng “âm dương” của ông Lộc Trời ngày càng phát triển tới mức ông in cả các vidít có số điện thoại để mở rộng ngành nghề  phục vụ cả bà con Việt kiều  về nước kiếm vợ hoặc  kiếm tiền  qua nhũng lời dụ khị của ba ông Giám đốc nhà nước mới có con dấu mà chưa có đô la.
Vậy nhưng sang thời kinh tế thị trường, chả có ai giữ mãi được độc quyền nghề nghiệp.Thế là các cửa hàng “âm dương” mọc ra như nấm, nào bà Ba Tý ở hẻm Trương Công Định, cô Sáu Bo ở khu ổ chuột ga Hòa Hưng, chị Mười Ngàn ở đường Bạch Đằng (tuy tiền qủe của chị lấy tròn hai chục)..vân vân và vân vân….
Đổi mới công nghệ “âm dương”, có một thày từ Hànội vào.Theo lời tự giới thiệu, thày vốn là kiến trúc sư  vẽ lăng cụ Hồ,vì chán chuyện thời thế, thày bỏ vào Sàigòn không mang kính đen, không gieo quẻ bằng ba đồng xu, thày bỏ vốn ban đầu sắm…máy cátxét, máy nhắn tin để hành nghề .Sở dĩ phải hiện đại hóa như thế là vì thầy “âm dương” theo công nghệ mới : ai cần,cứ nhắn ngày sinh tháng đẻ vào máy nhắn tin, thày sẽ đoán số vào…băng cátxét  rồi gửi cho thân chủ để nhận về ..nửa triệu đồng một quẻ có đầy đủ hậu vận, tiền vận và nhũng lời khuyên sát sườn, nhất cho những thân chủ đang rắp ranh đánh quả tù mù.
Người đỡ đầu cho thày tung hoành ngang dọc ở Sàigòn chính là một nhân vật huyền thoại : đồng chí Long Mỡ, vốn là hạm nổi tiếng ở Liên xô (cũ), phất lên nhờ mở nhà hàng và buôn đủ thứ.
          Có lần hứng lên thày hỏi :
            “ Vậy thì cái nghề của tớ sang “Liên xô” liệu có sống được không ?”
          Đồng chí Long Mỡ  ợ một cái, rồi mới phán :
           “ Sống được, nhưng phải đổi mới công nghệ hơn nưã kia…”
         Thày tử vi lè lưỡi lăc đầu, thôi ta cứ về ta tắm ao ta thôi,cứ “âm dương” ở cái xứ Sàigòn này là đủ sống rồi. Đồng chí Long Mỡ lại phán một câu chăc nịch :
           “”Ông không làm thì sẽ có thằng khác làm…”
          Quả nhiên sau đó báo Thanh Niên đưa tin :      
 “Nữ tiến sĩ khoa học Trần Kim B., cán bộ giảng dạy khoa tiếng Nga trường ĐH Sư phạm ngoại ngữ Hà Nội vừa được  Viện Hàn Lâm khoa học tự nhiên Liên bang Nga bầu là Viện sĩ Hàn lâm  trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn..”
         Ô hô,Viện hàn lâm khoa học tự nhiên lại đứng ra bầu Viện sĩ lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn thì quả là đá lộn sân quá đáng , khác gì bầu ông Clinton làm Viện sỹ Viện khoa học về thể dục thể thao.
     Vậy nhưng bà nữ tiến sĩ đuợc bầu vì công trạng gì đây ? Báo Thanh Niên đăng tiếp:
       


        “… Tại Matxcova, Hội đồng khoa học của Viện Hàn lâm khoa học tự nhiên Liên bang Nga gồm 23 vị đã nghe công trình khoa học của Tiến sĩ Trần Kim B. về đề tài ”Văn bản như một hiện tượng ngôn ngữ qua lăng kính triết học ngôn ngữ thuyết âm dương“


          He he, hẳn thày Lộc Trời và bà con hành nghề “âm dương” tại Saigòn phải tôn vinh chị B. làm “tiên sư” vì đã dám nghĩ dám làm “đổi mới công nghệ”  “âm dương” không phải để móc túi mấy anh Mít Sàigòn mà chính là bịp mấy anh Ivan ở mãi bên nước bạn Nga La Tư.
Trời ơi, thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng , tứ tượng sinh bát quái, bát quái lại sinh ra ...thái cực ….đến Mít ta ngồi nghe cũng phải ù tai chứ đừng nói gì mấy anh tây già thích đánh chén  dưa chuột muối với rượu vôtka hơn là sa vào bát trận đồ chị B. giăng ra. Thế là quả nhiên  :
. Đề tài khoa học của chị đã được Hội đồng khoa học đánh giá như một phương hướng mới trong việc nghiên cứu ngôn ngữ học đại cương và văn hoá học, đặc biệt là ngôn ngữ Nga”
      Ối giời ơi, tài bốc phét của chị B. đúng là đáng tầm cỡ liên lục địa.Là bởi vì mấy năm qua, chị nghiên cứu “âm dương” tại các chợ là chính.Việc nghiên cứu ở trong phòng đã có ông thày cũ có cái tên rất chi là tử vi là Thiên Can nghiên cứu cho, để rồi chị lại “ dương âm” ra cho thày.Thày vốn là người có máu mê “tử vi”, thường gieo quẻ bói cho bạn bè và thừa biết người Nga chả hiểu “bát quái” là cái mô tê gì , thế là hai thày trò “đánh quả” âm dương giật bằng  tiến sĩ  “viện sĩ “ ngon ơ, đầy đủ “mũ mãng” trở về Tổ quốc.
Vậy nhưng chị B. có thực là Viện sỹ không ?
        Sự thực ,viện sĩ hàn lâm ở Nga là học vị tột đỉnh trong khoa học.Năm 1998 cả nước Nga chỉ bầu thêm được 4 viện sĩ hàn lâm  Viện HLKH Nga, nhiều nhà khoa học cả cuộc đời mơ cũng không được bầu làm Viện sĩ. Viện sĩ hàn lâm KH Nga được xã hội và Nhà nước tôn trọng, có chế độ đãi ngộ cao  có tiếng nói với chính quyền.
Còn cái thứ “viện sỹ” của thày trò đánh quả ‘âm dương’ kia thực ra chỉ là “viện sĩ rởm”.Nguyên do là trong tiếng  Nga có từ "Academy" tức là viện, trường, cơ quan nghiên cứu, chủng viện...Ví dụ Nhạc viện, Viện bà mẹ và trẻ em, Viện vệ sinh môi trường, Viện giúp người mù,Viện hoá đạo, thậm chí ..Viện câm điếc, Viện bảo vệ chó.. cũng có thể dùng từ Academy.Có những Academy như thế được lập ra như một câu lạc bộ, một tổ chức xã hội của những người cùng ngành để sinh hoạt , vui chơi, giao tiếp. Thày trò “âm dương” chỉ là thứ “member” của các Academy ấy thôi, tức là Hội viên Câu lạc bộ, ấy vậy mà báo Thanh Niên nống lên thành Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Liên bang Nga thì thật là bốc phét tầm cỡ…liên lục điạ vậy.
Tuy nhiên, các “đại gia bốc phét” trên đây ở ta vẫn thuộc loại “thường thường bậc trung”, nếu kiếm được vài lọ “thuốc liều” nữa sẽ xin giới thiệu tiếp  các “đại gia” khác…bốc phét cỡ thiên tài.


Thứ Năm, 8 tháng 9, 2011

KỂ CHUYỆN NHÀ VĂN NƯỚC NGOÀI. (1)

                     
Tomas Anderson, Lostrom, Stephan  – ba nhà văn Thuỵ Điển rất nổi tiếng .
          Nhà Tomas Anderson ở tít trên phía Tây Bắc Thuỵ Điển giáp Na Uy . Một buổi sáng Stephan lái xe vòng vèo qua các cánh rừng thưa, trước mặt chúng tôi đột ngột hiện ra một căn nhà gỗ xinh xắn.Tôi nhìn khắp xung quanh , bốn bề vắng vẻ thầm phục ông nhà văn gan dạ lắm mới dám ở mênh mông giữa rừng thế này. Lại nhớ hôm tới thăm nhà văn Lostrom, ông cũng ở một nơi hoang vắng cách xa thủ đô Stockholm vài trăm kilômét, cho dù trang trại của ông rất đẹp : có tàu ngựa, có vuờn hoa, có biệt thự xinh xắn và một thảo nguyên  mênh mông  – cả một vùng rộng và nên thơ như vậy mà số cư dân chỉ có...mỗi mình ông.
Không biết ngoài nghề viết văn ra ông còn làm nghề gì mà ông giàu thế? Ngoài trang trại ra, nghe nói ông còn một ngôi nhà lớn ở thủ đô Stockholm cho vợ con ở.Ông viết rất nhiều sách, tiểu thuyết có, nghiên cứu có...tuy nhiên với số 7 triệu dân,số lượng in không nhiều,tôi dám chắc rằng tài sản lớn của gia đình ông không hoàn toàn kiếm được do ngòi bút.Đến thăm ông hôm đó,tôi cứ băn khoăn sao ông có thể sống một mình giữa một khu vắng vẻ đến như thế. Ông nhìn tôi có vẻ ngạc nhiên.Ông bảo :
        ”Vậy mày viết ở đâu ? Viết  giữa cái ồn ào của thành phố và giữa cái líu lo của vợ con ?”
          Tôi phải thú thực với ông rằng tôi chẳng cần phải đi tìm nơi hoang vắng cách xa dân cư  như ông, tôi viết bất kỳ ở đâu , trong tiếng cãi cọ của  hàng xóm, trong tiếng nhạc kích động và ngay cả...trong cuộc họp.Ông Lostrom giơ hai tay lên trời :
”Cô đơn là điều kiện thiết yếu để sáng tạo .Henry Miller đã nói như thế...”
Tôi đành chịu thua ông và nói với ông rằng giữa gia đình vợ con và cô đơn giữa rừng ,chắc tôi đành phải chọn  vợ con cho dù sự sáng tạo có vì thế mà trở nên khó khăn.Tôi lại hỏi ông vậy thì trong một năm ông sáng tạo mấy tháng và về ở với vợ con mấy tháng. Ông thở dài:
“ Khi tao viết xong một cuốn sách thì vợ tao lại bắt đầu một dự án phải đi đâu đó và khi vợ tao về lại được thành phố thì tao lại bắt đầu một...cuốn sách khác...”
“Vậy rồi vợ chồng đoàn tụ vào lúc nào?”
“ Khi công việc đã xong...”
Tôi lắc đầu thở dài thán phục ông và nói với ông rằng người Phương đông chúng tôi coi gia đình là một cái gì...ghê gớm lắm vậy nên trong chúng tôi nếu có ai đọat giải Nobel đi chăng nữa thì người đó cũng viết sách ngay trong lòng gia đình ngay giữa vợ con.
Ông Lostrom nhìn tôi kinh ngạc, cứ như là nếu không sống cô đơn, xa gia đình giữa nơi hoang vắng thì làm sao viết được văn? Lần này tới thăm ông Anderson, tôi thấy ông không cực đoan như ông Lostrom, nghĩa là ông cũng sống ở giữa rừng nhưng không phải một mình mà là chung cả gia đình vợ con.Ông Anderson không có đồng cỏ, cũng không có tàu ngựa, nhà ông giống như một căn hộ ba phòng chỉ khác nó không trong chúng cư mà lại ở giữa rừng.Phòng ăn, phòng khách, nhà bếp...tất cả đều trang bị rất hiện đại và nhất là xung quanh các phòng đều chất đầy sách. Khi xe dừng trước cửa,tôi nhìn thấy ông nhà văn đang bế một  cháu bé lối chừng 6 tháng tuổi.Ông đang cầm một cái bình sữa cho con bú,cạnh ông là một cái nôi ,khăn, tã, quần áo con nít ngổn ngang và cạnh đó một cháu gái chừng bốn tuổi đang  nghịch đồ chơi.Tôi reo lên vui vẻ:
“ Thật là một người đàn ông mẫu mực đáng cho chúng tôi noi theo...”
Dường như không hiểu ý tôi,Anderson trố mắt :
“ Mày nói thế nghĩa là sao ?”
Tôi đành phải giải thích một điều tôi cho là lẽ đương nhiên ở bất kỳ xứ sở nào, bất kỳ thời đại nào :
“ Cái công việc mày đang làm kia là dành cho...đàn bà...”
Anderson mỉm cười :
“ Vậy tôi xin hỏi ông,ông quan niệm thế nào về vai trò bình đẳng của người phụ nữ trong gia đình ?”
Tôi cười vui :
“ Tôi cho rằng việc hầu hạ, săn sóc chồng con là một hạnh phúc lớn lao của người phụ nữ và chúng tôi những người đàn ông, chúng tôi không hề có ý định tước đoạt của họ hạnh phúc đó...”
Anderson la lên :
“ Nguỵ biện...nguỵ biện...để trốn việc...”
Cháu bé chợt khóc oe oe và Andeserson đổi tư thế bế, xoay lại cái bình cho cháu bú ...thành thạo không kém gì một người mẹ đang nuôi con nhỏ. Chúng tôi vào ngồi trong phòng khách và vừa bế con anh vừa trò chuyện :
“ Vậy theo ông, nhiệm vụ chủ yếu của ngừời phụ nữ trong gia đình là gì?”
Tôi đáp một lèo, trơn tru :
“ Sinh con đẻ cái và nuôi con khoẻ dậy con ngoan...”
Anderson lắc đầu :
“ Sinh con đẻ cái thì đúng rồi,cái đó đàn ông đâu có làm được,vậy nhưng việc nuôi con khoẻ, dậy con ngoan đàn ông có làm được không ?”
Tôi gượng gạo :
“ Tất nhiên là được nhưng mà...đàn ông đàn ang ...ai làm chuyện đó?”
“ Vậy đàn ông làm cái gì ?”
Tôi đáp hăng hái :
“ Làm trụ cột trong gia đình, kiếm tiền...”
“ Vậy phụ nữ không kiếm tiền được ư ?”
“ Có chứ...nhưng kiếm gì thì kiếm họ vẫn phải nội trợ trong nhà...”
Và tôi bịa ra một câu chuyện mà ở nước ta thật nằm mơ cũng chẳng thấy có .Rằng một đôi vợ chồng nhà nọ,vợ làm Giám đốc Công ty tháng lĩnh vài chục triệu, chồng làm nhân viên  văn phòng lương lĩnh về không đủ cho vợ mua cục son môi,vậy mà anh chồng đi làm về nhà là nhảy tót lên ghế xalông , thượng cẳng chân lên ghế đọc báo,trong khi đó bà Giám đốc vừa bước xuống xe đã phải chạy ù vào bếp, hộc tốc thay quần áo, khoác tạp dề nấu nứớng ào ào. Kịp đến khi bà Giám đốc đẻ,đêm đêm con khóc, các cô nhân viên văn phòng phải thay nhau tới trực để hỗ trợ thủ trưởng ,trong khi đó anh chồng cứ kéo bễ khò khò trong  phòng khách.
Nghe xong câu chuyện “tưởng tượng”, Anderson tin xái cổ,ông nổi giận :
“ Vậy tại sao bà Giám đốc không lấy người ít ra có trình độ tương đương với mình lại đi lấy nhân viên làm chi ?”
“ Hồi trẻ bà mải phấn đấu ,đến khi thành Giám đốc đã lỡ thì,lấy được anh chồng vậy còn là...may đó.”
“ Chồng như thế thì lấy làm gì cho khổ...”
Rồi Anderson giảng giải cho tôi nghe về quyền bình đẳng nam nữ đã được thực thi một cách cụ thể và thiết thực như thế nào ở Thuỵ Đỉên.Nhìn anh một tay cầm cái bình bú, một tay ẵm con nhỏ, tôi không nín được cười :
“ Tôi biết,tôi biết,tôi chẳng cần nghe anh giảng giải cứ nhìn anh cho con bú là tôi biết cái quyền bình đẳng ấy nó được thực thi tới đâu...”
Tuy nhiên Anderson vẫn tiếp tục :
“ ở Thuỵ Điển khi người vợ đẻ con, nhà nước cho phép hoặc vợ hoặc chồng được nghỉ việc một năm hưởng nguyên lương để nuôi con.Vậy là tuỳ theo công việc, hoặc vợ hoặc chồng, ai muốn nghỉ nuôi con cũng được.Kỳ này vợ tôi có nhiều việc ở trường Đại học nên tôi nghỉ ở nhà trông cháu.Theo tôi như thế là bình đẳng nam nữ... ..”
Tôi sực nhớ tới ông nhà văn có trang trại, sống xa vợ con để viết văn bèn hỏi Anderson :
“Vậy rồi sống giữa vợ con thế này ông có viết được  không ?”
“ Sao lại không ? Tuy nhiên khi vợ tôi xong cái job (công việc) này thì lại đến lượt tôi đi lấy tài liệu để viết một cuốn sách khác...”
“ Thế là vợ chồng lại mỗi người mỗi nơi?”
“ Đúng như thế, nhà văn Stephan cùng đi với anh cũng vậy,chồng  thì ở Stockholm,còn vợ lại ở mãi bên ...Na Uy để vẽ tranh.”
Tôi la lên kinh ngạc :
“ Lạ nhỉ...vậy rồi các ông các bà chung sống vào lúc nào ?”
Anderson mỉm cười :
“ Theo tôi,gia đình là nơi mình quay về khi đã xong công việc...”
Nói xong anh kéo tôi tới bàn ăn đãi tôi món thịt bò hầm do tay anh nấu nhằm vào lúc cháu bé đang ngon giấc.Tôi nếm thử và tấm tắc khen :
“ Tuyệt vời..”
Anderson nhướng cặp mắt xanh :
“ Cái gì tuyệt vời..à phải rồi thịt bò hầm tuyệt vời...”
Tôi cười vui vẻ :
“ Không phải thịt bò mà là  anh...anh thật là một người chồng tuyệt vời...”
   Mấy ông nhà văn tây sống như thế, vậy còn nhà văn ta ? Chịu, muốn biết họ sống ra sao xin cứ ...đọc báo Văn Nghệ hay Tập san Nhà Văn hàng tháng vẫn "tình cho không biếu không "...

                                                                              





Thứ Tư, 7 tháng 9, 2011

HỘI NGHỊ NHÀ VĂN TRẺ

Nhân kỷ niệm 10 năm Hội nghị nhà văn trẻ (8 – 2001) :
                          
               Các nhà văn trẻ mãi...không chịu già.
                                                                                          

           Nói cho ngay,trong các “sĩ” ở Việt Nam,”điếm “ nhất là anh ...nhạc sĩ.Này nhé,các ngày kỷ niệm từ thành lập Đảng 3 tháng Hai, thành lập Đoàn 26 tháng Ba....cho tới ngày quốc tế lao động, ngày cách mạng Tháng Tám...tóm lại như các cụ nói “tuần chay nào cũng có nước mắt”,ngày kỷ niệm nào các nhạc sĩ cũng đua nhau làm nhạc.Rồi thì tới các đề tài “em đi làm tín dụng””cấy dày cấy thưa”” sinh đẻ có kế hoạch”” trồng cây gây rừng”...Đảng cứ “ho” lên một tiếng là mấy anh nhạc sĩ ào ào sáng tác   ngay.Đến cây đại thụ trong làng nhạc Việt Nam là nhạc sĩ Văn Cao cũng phải  cất cao giọng :”Khi dâng lá cờ lên,thống nhất nước Việt Nam,muôn trái tim nguời chung một nhịp ,hướng về...Đảng ta...”.
Mấy anh họa sĩ tuy ít “điếm “ hơn nhưng mà lại ...hèn.Suốt nửa thế kỷ cầm cọ , đuợc quản lý chặt chẽ trong Hội nghệ sĩ tạo hình, các đại danh họa Việt nam cũng chỉ vẽ quẩn quanh ba anh công nhân,mấy anh bộ đội, vài chị văn công ...buớng nhất là cụ Bùi Xuân Phái thì cũng chỉ dám xệch xạc đôi nét về  36 phố phường Hà Nội, rồi kịp tới thời mở cửa,các cây cọ trẻ cũng chỉ ra sức chiều nịnh thẩm mỹ của các tay buôn tranh ,vẽ nhăng vẽ cuội hết siêu thực (surrealisme) lại đến thần bí (abstract),không hình (non figuratif)...cấm có thấy bày tỏ một thái độ có hơi hướng phản kháng .
             Bởi vậy,”láo” nhât vẫn là mấy cha văn sĩ. Bắt bớ tù đầy trong thời Nhân văn Giai Phẩm cũng là họ,chửi xiên chửi xéo cũng là họ, cao giọng trong Đại hội nhà văn năm 1996 “lương tri dân tộc thức tỉnh từ diễn đàn này” cũng là họ,đòi hủy bỏ chuyên chính vô sản,dân chủ tập trung và điều 4 hiến pháp cũng là họ. Cứ vừa đi vừa “cấu Đảng” như vậy,trách gì các nhà văn Việt Nam luôn luôn là đối tượng “nổi cộm” phải theo dõi chặt chẽ. Chẳng thế mà nhà thơ “thần đồng ” đã phải than thở lén với bạn rằng :
”Đảng chẳng bao giờ chịu tin mấy thằng nhà văn”.
Đúng rồi,tin sao được ba  thằng đó, còn nhớ năm 1988,Đảng mới he hé cánh cửa mà bao nhiêu thằng nhà văn đã nhào ra viết lách bố láo,mưu toan xóa bỏ thành quả cách mạng,xét lại vai trò của Đảng.
Sau vụ đó,Đảng rút kinh nghiệm,điều chỉnh lại cung cách  “quản lý” văn học khiến ông Nhật Tuấn trả lời RFI  vào năm 1996 truớc thềm Đại hội nhà văn Việt Nam lần thứ 6 đã phải thốt lên :
” Đảng cộng sản giờ đây đã rất thành thạo trong lãnh đạo văn nghệ.Họ đã kịp biến văn học từ một thanh kiếm sắt  trở thành một thanh kiếm gỗ,lòe loẹt nước  sơn mà chẳng đâm chết được ai...”
Quả thật thời đó, nhà nước cho báo chí  lăng xê một loạt cây bút trẻ, cao cấp nhất là loại gà nòi Phan thị Vàng Anh (con nhà thơ Chế lan Viên),Nguyễn thị Thu Huệ (con nhà văn Nguyễn thị Ngọc Tú) về loại văn chương ...chuyện trong nhà,mang bố mẹ ra ..mổ xẻ, hoặc chuyện học hành,chơi bời “khi chúng ta còn trẻ” với giọng văn lành lạnh, khinh bạc, chán chường  nhưng đến một cái ...lông chân của Đảng cũng không động tới, ấy thế mà khối anh phê bình xúm vào tâng bốc lên chín tầng mây xanh.
Do chỉ quanh quẩn chuyện trong nhà,đâu có ra dám ra ngoài ngõ mà viết về bao nghịch cảnh trớ trêu ngoài xã hội nên các cây bút trẻ đó cứ trẻ mãi không chịu già,văn chương cũng vì thế mà tắc tị,nặn mãi cũng chẳng thêm ra được cái truyện ngắn nào hơn thế.
Dưới nữa là loại văn chương áo trắng sân truờng,tuổi choai choai cũng không bao giờ chịu lớn,xoay quanh nhũng chuyện lụn vụn trong lớp, ngoài sân truờng ,trong công viên,in đầy trên báo Tuổi Trẻ ,Áo Trắng,Hoa học trò...nên được mệnh danh là nền văn chương thành Đòan ,văn chương sirô...Cho đến ngày nay cả chục năm đã trôi qua,họ vẫn chẳng chịu lớn lên  vẫn viết lách ngọt ngào như cái thủa nào.
Vậy nhưng con chị nó dẫu rằng không chịu đi thì con dì nó vẫn cứ lớn.Một thế hệ các nhà văn mới trong tổ chức văn học của Đảng đã xuất hiện và đã được củng cố thành đội ngũ trong Hội nghị các người viết văn trẻ toàn quốc diễn ra tại Hà Nôi trong 3 ngày từ 28 đên 30 tháng Tám – 2001 :
           Thế hệ nhà văn trẻ này có gì mới ?
         Trước hết cứ nhìn vào 183 nhà văn trẻ,tới Hội nghị đều một giọng như nhau :”em tới đây là để giao lưu với các “bạn”,để học hỏi kinh nghiệm”” thì đủ thấy cái màu sắc “trại hè” của các cháu “thiếu niên”tuyệt đại đa số đều đang là...nhà báo.
Xưa nay nhà văn chỉ vì đói quá mới dùng tay trái viết báo kiếm cơm ,nhưng là nhà báo mà “chõ” lên viết văn thì khác gì con công nở ra từ trứng ...con gà.Bởi lẽ các nhà báo Việt Nam là lớp người quá rõ “luật lệ” của Đảng, họ biết tiến biết lùi sao cho ngòi bút luôn được bảo hiểm để giữ được  cái thẻ nhà báo thời nay rất có giá.Cũng vì thế,nhà báo thời thị trường ,vốn luôn được chấn chỉnh bới nhũng cuộc họp giao ban Tổng biên tập với tuyên huấn của Đảng,trở nên ...bảo hòang hơn cả nhà vua,mác xít hơn cả nhũng người cộng sản. Vậy thì nhân dân chờ đợi được gì ở những nhà văn gà giò đội lốt con công này ?
           Ngồi trên ghế chủ tịch đoàn Hội nghị có nhà văn trẻ Nguyễn thị Ngọc Tư, 22 tuổi, nguời Cà Mâu, nổi tiếng với truyện ngắn được giải “ Ngọn đèn không tắt’.Truyện của nhà văn này kể về một ông già có tài kể chuyện truyền thống cách mạng,khi ông chết đi rồi,đứa cháu gái lại tiếp tục cái công việc kể chuyện truyền thống cách mạng của ông cho đông đảo bà con nghe,khiến cho nó giống như...ngọn đèn không tắt vậy. Văn chương như vầy trách gì Đảng không xếp cho ngồi ở trên Chủ tịch Đoàn. Và như thế, đặc điểm lớn thứ hai của lớp “nhà văn” trẻ này là né cho xa hiện thực. Tác phẩm của họ có đủ thứ : câu cú rất hoa mỹ,kết cấu rất chặt chẽ,đề tài lắm khi cũng...giật gân,vậy nhưng thiếu hẳn một thứ làm nên văn chương  : “cảm xúc thời thế “.Than ôi,đất nước đang đắm chìm trong những vấn nạn : tham nhũng,cường quyền,tụt hậu,dân oán thán...vậy nhưng có một nhà văn trẻ nào dám buông ra một tiếng thở dài ? Không có...tuyệt nhên là không có,mà nếu có chắc chắn đừng hòng bén mảng tới Hội nghị những người viết trẻ này.
                 Thế còn Hội nhà văn ? Người tổ chức ra mọi đội ngũ sáng tác,mọi Đại hội ,mọi Hội nghị viết trẻ...trong thời tin học, thiên niên kỷ này, Hội nói gì về văn học ?
                  Đã xa rồi nhũng đòi hỏi về tính Đảng, tính giai cấp đối với văn học,đã xa rồi nhũng chức năng người thư ký thời đại,người dự báo thời đại,người khái quát và phản ánh xã hội...tất cả nhũng mỹ tự đó đã đi vào một thời vang bóng với nhũng ông trùm lý thuyết về văn học và tổ chức văn học của Đảng như nhũng ông Trường  Chinh,Tố Hữu,Phạm văn Đồng....
Dấn thân vào nền kinh tế thị trường,Đảng đã quên đi nhũng thứ đó, không coi trọng văn chương bằng đồng đôla, không cần tới nhà văn bằng những nhà lập trình và ta có thể thấy biểu hiện của tình trạng đó bằng sự vắng mặt của ông Nguyễn Minh Triết, Bí thư thành ủy TP Hồ Chí Minh tại Đại hội các nhà văn tại thành phố ,dẫu rằng ông vẫn có dư thời gian để đến úy lạo đội tuyển đá banh của thành phố . Cũng vậy, Hội nghị những người viết văn trẻ toàn quốc kỳ 2001  ông Tổng bí thư Nông Đức Mạnh cũng  không thèm ngó tới,chỉ cử em út là ông Nguyễn Khoa Điềm ,Trưởng ban tuyên huấn tới huấn thị mà thôi.
          Thời chiến tranh,cần phải huy động cả chục triệu người dứt áo ra đi,lên đường ra chiến trường, mới cần tới nhà văn nhà thơ kích động tinh thần “quyết chiến,quyết thắng”,mới o bế,nâng niu văn học đến vậy.
Còn bây giờ,làm ăn kinh tế, nào thương ước Việt Mỹ, nào WTO...đâu có cần tới mấy cha văn thi sĩ dở hơi .
Bởi thế ngày nay,Đảng chỉ mong các thế hệ thanh niên hãy xếp bút nghiên để xài ...keyboard viết ra nhũng software xuất khẩu ra thế giới kiếm đôla về cho đát nước.Chứ nhà văn nhà thơ vào thời đồ ...đểu này,không quản lý cho khéo,dễ sinh phá thối,đòi hỏi đa nguyên dân chủ này nọ,mất ổn định chính trị , các nhà đầu tư ai còn muốn đổ tiền vào Việt Nam ?
Tất nhiên,tại Hội nghị những người viết trẻ ,nguời đại diện của Đảng, ông Nguyễn Khoa Điềm đâu có huỵch toẹt ra chuyện đó. Ông vẫn xoa đầu các mầm non văn nghệ khen “tốt,tốt” và tuyệt nhiên không nói một lời về các quốc nạn tham nhũng,tụt hậu,đạo đức suy đồi,ông vạch ra cái “an toàn khu “ của văn chương và  khuyên các nhà văn trẻ chỉ nên đi sâu vào đó – vào ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của con nguời,tính nhân bản chung chung và tuyệt nhiên không hề nói tới trách nhiệm của người cầm bút trươc những vấn nạn của lịch sử.
          Thế còn các nhà văn trẻ dự Hội nghị, họ nói gì ?
          Nhà văn trẻ Đỗ Doãn Hoàng,phóng viên báo Thanh Niên , chưa viết được truyện ngắn nào cho ra hồn nhưng đã dè bỉu nghề văn :
”Viết văn thì có gì là sang lắm đâu...nghề báo mới là sân chơi tuyệt vời nhất cho những ai theo đuổi văn chương...”.
Nhà thơ trẻ Vi Thùy Linh ,vốn nổi tiếng về cảm hứng giường chiếu, vỗ ngực :
”Khi 22 tuổi,tôi sẽ ra tập Vi Li,phá tan kỹ thuật của tập Linh trước đây...Cái tôi trong sáng tác trẻ phải là cái tôi thuyết phục ,chứ không phải thương vay khóc mướn,hay nói hộ người khác...”                                        
              Vậy là bác Hữu Thỉnh yên tâm nhé, các nhà văn thơ trẻ có phá phách thì cũng là phá tan...kỹ thuật chứ không phải phá tan .. chế độ và nhất định là mặc cha nhân dân muốn sống chết ra sao cũng mackeno (mặc kệ nó),các nhà văn trẻ nhất định là không có...”thương vay khóc mướn hay là nói hộ đưá nào...”
                Thấm thoắt đã 10 năm trôi qua, lại đến kỳ “hội nghị”.
                 Hãy chờ xem Hội nghị nhà văn trẻ ở Tuyên Quang kỳ này liệu có gì mới ?