Tổng số lượt xem trang

Thứ Năm, 25 tháng 8, 2011

82 NĂM SAU..."VŨ NHƯ CẪN"

       “Thô bạo, bất công, gây hận thù, và to mồm”

Xin hãy đọc đoạn văn sau đây :

“Không thể chối cãi được rằng đất nước này đang trải qua một cuộc khủng hoảng, có thể là khủng hoảng tăng trưởng, cách gì thì cũng là một khủng hoảng khá sâu sắc, và nhiều người không nghi ngờ gì mức độ nghiêm trọng của nó.

Sự phát triển kinh tế, sự thịnh vượng vật chất có thể dễ dàng đo đếm, đánh giá được: các chỉ số, các thống kê khéo léo, các biểu đồ dễ dàng hiển thị chúng thành các đường cong biểu diễn. Nhưng một trạng thái bất ổn về tinh thần biểu lộ trong những lĩnh vực không cân đong đo đếm được thì khó nắm bắt hơn nhiều.
Ở nhiều nước khác, văn chương, báo chí cho biết tình hình các chuyển động và dao động của công luận, phản ánh thái độ hay miêu tả các tâm trạng, cung cấp các dấu hiệu quý giá về cuộc sống sâu kín của dân chúng, nhưng ở đất nước này, vì nhiều lý do mà nói ra sẽ rất dài, những phương tiện đó gần như không có.
Đến mức một nhà quan sát tò mò muốn tìm hiểu cuộc sống sâu kín của dân tộc này, đặc biệt nếu anh ta lại không nói được ngôn ngữ của nó, không hoà mình được vào cuộc sống bản địa, sẽ không biết mình phải dựa trên cái gì để mà quan sát. Thậm chí đôi khi anh ta còn không nắm bắt được những biểu lộ ra bên ngoài của người dân: hoặc anh ta không hiểu, hoặc anh ta hiểu sai. Và nếu anh ta hài lòng với các tài liệu chính thức, vốn rất dồi dào và dài dòng, anh ta sẽ chia sẻ một sự lạc quan giả tạo, rất ít thật và rất nhiều giả!
Phải chăng nói như thế có nghĩa là cảnh khủng hoảng mà chúng ta vừa nói ở trên và tình trạng tinh thần bất ổn sinh ra từ đó là điều một nhà quan sát sành sỏi không thể nắm bắt được?
Bất kỳ ai chịu khó nghiên cứu cuộc sống của người dân nước Nam mà không dừng lại ở những khía cạnh hời hợt bên ngoài đều nhận ra rất nhiều dấu hiệu tố cáo cảnh tượng khủng hoảng và bất ổn đó. Và người ta sẽ ngạc nhiên khi thấy chỉ trong vài năm mà đã có những biến đổi sâu sắc trong ý thức, tập tục và tâm trạng của các tầng lớp dân chúng khác nhau.
Một sự tiến hoá đang trở thành hiện thực không diễn ra theo đường thẳng mà người ta muốn gán nó theo những dấu hiệu bề ngoài, mà đó là một cuộc tiến hoá lộ ra rất nhiều khó khăn và trắc trở, nhiều sóng gió, gian truân, đau đớn.”
Đọc xong ta có cảm giác như tác giả là một nhà hoạt động dân chủ viết về tình hình Việt Nam ngày nay với những nhận xét rất sâu sắc về “khủng hoảng xã hội”, về báo chí và văn học.
Nhưng không phải….
Tác giả đoạn văn trên chính là nhà đại trí thức Phạm Quỳnh viết vào năm 1929 – cách nay 82 năm nhưng vẫn còn tươi rói tính cách thời sự . Người ta phải giật mình khi đọc đoạn viết sau đây của ông :
“  Giờ đây, một trạng thái tinh thần bất ổn đang trùm lên đất nước này, nó có thực và khó sờ thấy được như khí quyển, một khí quyển tích đầy điện dông bão.
Trạng thái tinh thần bất ổn này là do các nguyên nhân về đạo đức, xã hội và chính trị. …. Trật tự mới do cuộc xâm chiếm thiết lập và sự phát triển kinh tế của đất nước đã làm đảo lộn trật tự thứ bậc cũ. Các tầng lớp mới hình thành nhờ sự phát triển chung và cũng từ hoàn cảnh mới đang du nhập vào đất nước các tập tục mới, ban đầu thì ở thành phố, sau đó ngày càng thấm sâu vào các vùng nông thôn. Chúng mâu thuẫn với các thói quen lâu đời, va chạm với những khuôn khổ xã hội cũ, làm tan rã nền tảng cũ của gia đình và làng xã. Hệ quả tất yếu là một sự rối loạn trong tập tục, cũng nghiêm trọng như rối loạn ngự trị trong đầu óc con người.
Nhưng nếu đúng là giá trị của một đất nước là ở tầng lớp tinh hoa, thì tầng lớp tinh hoa nước Nam hiện giờ lại đang vô cùng chán nản, và họ chán nản vì những lý do chính trị. Trong bài viết về chủ nghĩa dân tộc, chúng tôi đã lưu ý rằng người nước Nam có cảm giác mình là những người xa lạ ở ngay trong đất nước họ.
…Gộp tất cả các nguyên nhân này lại thì có một trạng thái tinh thần bất ổn chung, nó rồi sẽ trôi qua thôi, cần phải hy vọng thế, nhưng không phải vì thế mà lúc này không lo lắng, bởi vì bất ổn đó làm cho cơ thể xã hội rơi vào trạng thái kháng cự yếu ớt nhất, đúng vào thời điểm trên toàn thế giới sự lây nhiễm một vài tư tưởng đang là điều đáng lo ngại nhất.”
Những đoạn trên trích trong bài “Tinh thần bất ổn” trong tập “ Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp những năm 1922-1932” của Phạm Quỳnh , năm 2008 được nhóm Nguyễn Xuân Khánh, Nguyên Ngọc, Ngô Quốc Chiến và Phạm Xuân Nguyên biên dịch, Phạm Toàn giới thiệu do nhà xuất bản Tri Thức và trung tâm Đông Tây phát hành .
Sát gần với tình hình hiện nay còn phải kể tới bài “Chính trị” của tiên sinh viết vào năm 1929 :
““Vậy chính trị theo định nghĩa ở từ điển là gì? Đó là tất cả những gì liên quan đến công việc cai quản Nhà nước, đến công việc quản lý có hiệu quả mọi công việc công cộng, đến việc bảo vệ lợi ích tối cao của dân tộc.
Vậ
y thì, vì lẽ gì một công dân xứng với danh hiệu này, cho dù danh hiệu đó đã bị hạ thấp ít nhiều, - và đó chính là trường hợp của kẻ đang muốn trở thành công dân ở xứ Đông Dương hay ở nước Nam – lại có thể không quan tâm đến công việc của đất nước mình, nghĩa là quan tâm đến chính trị, cái chính trị như một nghệ thuật quản lý mọi công việc của đất nước sao cho tốt đẹp?
Vì lẽ gì một người nước Nam biết lo lắng cho sự phồn thịnh và tương lai của tổ quốc mình, lại có thể không tìm hiểu xem tổ  quốc mình được cai quản như thế nào, lại không tự hỏi liệu các thể thức cai quản hành chính hay cai quản hiện nay có phù hợp với đất nước mình không, và nếu cần, thì phải tiến hành những cải cách, những cải tiến, những sửa đổi hoặc những cải tạo hữu ích hoặc cần thiết nào? Và nếu cái người nước Nam ấy phát hiện thấy có những lạm dụng, những sai sót hoặc những vi phạm, liệu cái người nước Nam ấy có thể tự buộc tội mình không tố cáo chúng ra?
Tất cả những điều đó chính là chính trị, và đó không chỉ là quyền được làm mà còn là nghĩa vụ phải làm của người công dân.
Và nếu, trong khi tranh luận về những vấn đề lợi ích chung này, công dân nước Nam kia chỉ duy nhất bị thúc đẩy bởi ước vọng được có ích cho đất nước và đồng bào mình, nếu như công dân ấy không bao giờ mất bình tĩnh, mất khả năng làm chủ hoàn toàn bản thân, mất cái trung lập về tinh thần hay tính “trung dung” thành thói quen trải qua nhiều thế kỷ văn hoá Khổng giáo, nếu như công dân ấy không đem vào đó bất kỳ định kiến nào, bất kỳ sự nóng nảy nào, và hơn thế nữa, nếu công dân ấy luôn luôn giữ mình trong phạm vi hợp pháp và tôn trọng trật tự, thì có cái chính phủ nào, dù có yếu bóng vía đến mấy, lại có thể coi hành vi và thái độ như thế của công dân kia là một tội ác?
Ngược lại, một chính phủ quan tâm đến việc hoàn tất tốt nhiệm vụ của mình sẽ phải biết ơn những con người có thiện chí này, những người làm hết sức mình để soi tỏ cái niềm tin đó của chính phủ….Và trong hoàn cảnh này, các bạn lại không muốn người nước Nam làm chính trị hay sao? Như thế chẳng khác nào các bạn muốn họ thờ ơ với số phận của đất nước họ, đến tương lai con cháu họ, đến hạnh phúc gia đình họ, đến cuộc sống của chính họ!
…Dướ
i cái cớ kiếm tìm hạnh phúc cho nhân dân, người ta ru ngủ và lừa dối nhân dân bằng các ảo tưởng nguy hiểm hoặc giả trá. Với chiêu bài chính trị này, những kẻ tầm thường nhờ vào những con người tốt đẹp hơn họ để giành lấy chiến thắng, những người cuồng nhiệt nhất thì vùng vẫy và đứng ra trục lợi là láu cá nhất hạng hoặc là những kẻ ít biết hổ thẹn hơn cả thì đứng ra trục lợi.…
Bọn họ duy trì trong xã hội một tình trạng siêu kích động triền miên thuận lợi cho sự bùng nổ mọi loại hằn thù, oán hận, mọi loại tình cảm xấu vốn đang ngủ yên trong đám đông. Đó chính là chính trị “làm chiêu bài cho đủ điều ngu ngốc, cho mọi thứ tham vọng, và cho mọi chuyện lười nhác” như Alphonse Daudet đã nói. Chính vì thế nó trở thành “chất hoà tan cực mạnh ý thức con người”, trở thành yếu tố làm bại hoại tình cảm và phong tục. Cái thứ chính trị đó luôn luôn đi kèm với những cách thức thực thi ít nhiều được đem dùng phổ biến, bao gồm từ những lời dối trá ngu xuẩn nhất đến những doạ dẫm trơ trẽn nhất, từ các mưu mô xảo quyệt nhất đến hành động mua chuộc công nhiên nhất. Lợi ích chung, lợi ích của nhân dân, lòng ái quốc, sự hoà hợp xã hội, đó là những lời lẽ được dùng để biện hộ cho sự buông thả mọi dục vọng và mọi thói ích kỷ.
Dạng chính trị này, vốn dĩ mọi người đều có thể tiếp cận được, tự nhiên làm nảy nở mọi sự tầm thường.  
“Thô bạo, bất công, gây hận thù, và to mồm”, nó làm những con người có giá trị tránh xa, nhưng lại phô ra những nét hấp dẫn đặc biệt cho đám người bất tài, mưu mẹo, tham vọng, ba hoa. Sở thích này bắt đầu lan truyền trong một số giới người nước Nam. Nhưng nếu đồng bào chúng ta được tiếp xúc sâu rộng với loại chính trị này, - và dường như đó là quy luật để “tiến bộ” lên – thì chúng tôi mong muốn sự tiếp xúc để tiến bộ đó càng xảy ra muộn càng tốt.
Kết luận phải rút ra từ sự so sánh như thế giữa hai dạng chính trị là rành rành rồi. Người nước Nam có thể và cần phải làm chính trị, nhưng đó là chính trị theo nghĩa thứ nhất đã đem ra phân tích: cái chính trị của lợi ích chung đòi hỏi một sự toàn tâm toàn ý cho việc công. Ngược lại, người nước Nam phải tránh cái chính trị có xu hướng mị dân, nó ve vãn nhân dân để lừa dối nhân dân, và bất chấp thực tế, khiến nhân dân lao vào các ảo tưởng nguy hiểm và không thể thực hiện được.”

Rõ ràng cái thứ  chính trị “Thô bạo, bất công, gây hận thù, và to mồm” chính là cái thứ chính trị ngày nay đang được thực hiện khiến cho “những con người có giá trị tránh xa, nhưng lại phô ra những nét hấp dẫn đặc biệt cho đám người bất tài, mưu mẹo, tham vọng, ba hoa…”
82 năm sau, (1929 – 2011)  những ý kiến của Phạm Quỳnh vẫn còn nguyên giá trị hiện thực khiến người ta phải tôn vinh ông như một thiên tài .
Trong dịp ra mắt cuốn “Tiểu luận” của Phạm Quỳnh, nhà văn Nguyên Ngọc đã phát biểu :
“ Tôi lấy làm vinh dự và hạnh phúc được tham gia dịch tác phẩm của một học giả lớn nhất thế kỷ XX. Là người uyên thâm cả Đông lẫn Tây, mỗi tiểu luận của ông đều có giá trị như một công trình nghiên cứu hoàn chỉnh, Tây thì đến tận gốc Hy La, Đông thì tiêu biểu cho một trí thức có nền Hán học, Việt Nam học uyên thâm trước khi ông tiếp thu phương Tây học. Ngày nay chúng ta biết rất nhiều, nhất là những cái  lạ của phương Tây nhưng biết đến tận gốc thì không mấy người biết. Con người Phạm Quỳnh là hiện thân của quá trình giáp mặt Đông Tây, đó là số phận phương Đông nói chung và của Việt Nam nói riêng.”
Vậy mà con người vĩ đại đó đã bị thủ tiêu vào tháng Tám năm 1945, bị vùi dập , chụp cho cái mũ “tay sai của thực dân Pháp và triều đình nhà Nguyễn” trong suốt hơn nửa thế kỷ vừa qua, cho dù một tài liệu mật ở Bảo tàng Aixen Provence của thống đốc Trung kỳ Haelewyn gửi Toàn quyền Decoux (tháng 8-1945) về Phạm Quỳnh trong đó có câu kết:
“Dưới bề ngoài nhã nhặn và thận trọng, con người đó là một chiến sĩ không lay chuyển nổi cho nền độc lập của Việt Nam. Và đừng hòng làm dịu tình cảm yêu nước của ông ta bằng một cương vị danh giá hoặc trả lương hậu hĩ. Ông ta là một kẻ thù không khoan nhượng nhưng cương quyết chống lại sự đô hộ của nước Pháp.”
Mãi hơn nửa thế kỷ sau, từ năm 2000, một số tác phẩm của Phạm Quỳnh mới được xuất bản : Mười ngày ở Huế, NXB Văn học - 2001 , Mục lục Nam Phong, NXB Thuận hoá - 2002 , Luận giải Văn học và Triết học, NXB Thông tin, 2003 , Pháp du hành trình nhật ký, NXB Hội Nhà Văn, 2004 , Thượng Chi văn tập, NXB Văn học, 2007 , Du ký Việt Nam, NXB Trẻ, 2007 , Phạm Quỳnh - Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp, NXB Tri thức, 2007 .•    
Mặc dầu bị thảm sát, bị bôi xoá, vùi dập , nhà đại trí thức yêu nước Phạm Quỳnh vẫn như ngôi sao mỗi ngày mỗi sáng hơn trong lòng dân tộc.


Thứ Ba, 23 tháng 8, 2011

NHÀ VĂN VÀ...”HỒI ẤY” (kỳ 4)




           LÊ ĐẠT  :” cái chính là thơ phải …hay”                    
         
 Nhà thơ Lê Đạt, một trong những chủ soái của phong trào Nhân Văn - Giai phẩm,tiêu biểu  nhất là bài thơ dài “ Nhân câu chuyện một người tự tử “ với câu thơ nổi tiếng “đem bục công an đặt giữa tim người” đăng trên báo Nhân Văn số 1.
Sinh ngày 10/9/1929  tại Yên Bái nên Lê Đạt thường tự nhận “tớ nhiều tính chất thiểu số”, lớn lên về Hànội học trường Bưởi, theo kháng chiến làm cách mạng tại Ban tuyên huấn trung ương, có thời gian làm thư ký cho ông Trường Chinh.
1954 về Hànội lấy vợ văn công, làm báo Văn Nghệ dưới  quyền Tổng biên tập Nguyễn Huy Tưởng.
1956 tham gia nhóm Nhân Văn Giai Phẩm.
1958  bị khai trừ khỏi Hội nhà văn với thời hạn 3 năm.Từ đó phải lao động cải tạo , ngắn thì một tháng,dài đến một năm như đi chăn bò,cắt cỏ ở Mộc Châu,đi làm than ở mỏ.Án 3 năm nhưng thời gian thọ án kéo dài tới...30 năm .
1986 "được" phục hồi Hội tịch Hội nhà văn Việt Nam, "được" in báo, "được" ra nước ngoài (2 lần đi Pháp),"được" hưởng lương hưu 500 ngàn tháng, sống ở Hànội cho tới khi từ trần...
Cuộc trò chuyện sau đây đã khá lâu :
         
NT : A  lô…Chào anh Lê Đạt...hi hi...
LĐ : Có gì mà phởn thế ? Đang ở đâu vậy ?
NT : Vẫn ở Sàigòn … Nghe tin ông anh mới ra sách ...
LĐ : Sách cũ , hải ngoại in lại í mà...
NT : Ông anh cho hỏi chuyện  đôi câu được không ?
LĐ : Thì cứ hỏi bừa đi mà...
NT : Coi lý lịch thấy anh là một trong những người đầu tiên đưa “đề cương văn nghệ Diên An”  vào Việt Nam ?
LĐ  : Hì hì hì....
NT : Rõ thật “gậy ông lại đập lưng ông “nhá....
LĐ : Hì hì hì...
NT : Anh đang viết gì thế ?
LĐ : Lâu nay ốm, nghỉ, có viết gì đâu ?
NT : Trong thơ ,theo anh : âm điệu, chữ nghiã, ý tưởng ...? Cái gì là chính ?
LD : Cái chính là thơ...phải hay – còn những cái kia,cái gì cũng là chính hết,chả có cái nào phụ.
NT : Anh tự nhận là “phu chữ” hay là nhà “ảo thuật chữ”...
LĐ : “Phu chữ” chứ...vì nó vất vả, khó nhọc lắm...
NT :  Cho nên “chữ trong thơ “ nặng lắm phải không anh ?
LĐ : Nặng ngàn cân...nghe chữ của Lý Bạch nhé :
            “ Cử đầu vọng minh nguyệt
               Đê đầu tư cố hương ...”
     chữ nặng chưa ?
NT : Thế còn thơ của anh “ Em rất đây mà em ở đâu ?” – chữ nào nặng ?
LD :  Tất nhiên là hai  chữ “rất đây” rồi.
NT : Thế còn “nhũng át cơ rơi” chắc chữ “cơ “ là nặng nhất...
LĐ : Đúng thế đấy...
NT : Thơ bây giờ anh thấy thế nào ?
LĐ : Nhiều hình ảnh mới nhưng vội vàng quá.Thơ bây giờ nên chậm lại, đừng có chạy theo..internet,thơ mà chạy là rất nguy hiểm, chậm lại để mà lắng xuống...
NT : Thế còn thơ hải ngoại ?
LĐ : Quả thực là chưa thấy ai ....
NT : Đỗ Kh. chẳng hạn...
LĐ : Anh này viết ký thôi, thơ chưa được...
TV : Còn Cao Tần...
LĐ : Chưa...chưa đọc...
NT : Anh ở 9 Lãn Ông Hànội dễ đến gần nửa thế kỷ ? Sao không dọn đi nơi khác ?
LĐ : Đi đâu bây giờ...?
NT : Anh cứ ở đấy mai mốt họ xếp cả nhà lẫn người thành một thứ “tồn cổ”...
LĐ : Thì bây giờ mình cũng cổ lắm rồi còn gì,compiutơ không biết, internet cũng không...vẫn tờ giấy kỳ cạch với cây bút...
NT : cảm ơn anh...chào nhé...

Thứ Bảy, 20 tháng 8, 2011

CHUYỆN NGÀY XỬA NGÀY XƯA

              
 Kính thưa nhà văn Nhật Tuấn,
             
 Tôi có đọc mấy  bài viết  NHÀ VĂN VÀ…”HỒI ẤY”   của ông than thở về văn chương nhân tình thế thái một thời xa xưa, cái thời rất rất trang nghiêm , rất rất tâm huyết, rất rất oái oăm và cũng rất rất buồn cười ấy . Tôi  xin  mạn phép gủi tới ông mấy mẩu chuyện nhỏ, vớ vẩn, cũng liều gọi là góp lời qua lại cùng ông  

   Mẩu chuyện thứ nhất : những hạt hướng dương.

   Tôi rất thích cắn chắt các hạt bí , hạt dưa hấu , hạt dưa lê và nhất là các hạt hướng dương . Tối hôm qua, Hà Nội mưa. Mưa tầm tã. Buồn. Co ro trên cái phô - tơi , mồm tí tách mấy hạt hướng dương, giương gọng kính đọc mấy bài viết của ông , rồi bỗng dưng không biết ma xui quỷ khiến thế nào mà tôi chợt nhớ tới  một lần  tranh nhau xếp hàng đi đồng ( tiếng lịch sự gọi cái hành vi đi ỉa ) của cái thời bao cấp ngày xưa đã xa lắm rồi.
  Chuyện là thế này.
  Ngày xửa ngày xưa, đã lâu lắm rồi,  hồi còn ở khu tập thể văn công văn nghệ sĩ , một buổi trưa tôi đau bụng vo vội tờ báo, cầm hai cái quạt nan to tướng chạy vội ra dấy chuồng  xí công cộng ở cuối khu tập thể . Tại sao lại vo báo là vì hồi đó chưa có giấy vệ sinh mỏng dính và mịn như bây giò nên phải dùng giấy báo vo vo lại cho nó mềm. Còn tại sao lại phải cầm hai cái quạt nan to tướng là vì dãy chuồng xí công cộng mới khai trương được non tuần lễ đã bay vèo ( chắc là bị ăn cắp ) tất cả các cánh cửa gố và tôn lợp trên mái nên nó cứ bày ra thông thống, tồng ngồng rất hoang sơ, hồn nhiên cùng mưa nắng. Vì thế mọi đương sự đang thực hiện cái hành vi hưởng thụ cái khoái thứ tư (tứ khoái -  ăn ngủ đụ ỉa ) thì phải hai tay hai quạt, một trên đầu và một trước …phần dưới của bụng .
  Chuyện kể tiếp. Tôi chạy vội ra dãy chuồng xí công cộng thì than ôi số tôi là số thằng ăn mày, bẩy cái chuồng liền nhau đã bị bẩy kẻ nhanh chân hơn tôi chiếm mất rồi.Thế là tôi đành phải khom lưng, ôm bụng, thập thò ở ngay cạnh lối vào dãy chuồng xí để …tất nhiên là để …để xếp hàng đợi, thưa nhà văn  Nhật Tuấn ,
  Tôi đợi , tôi đợi . Và tôi nghe thấy tiếng của hai cô gái tán chuyện to nhỏ  khúc khích khúc khích (  buôn dưa lê ). Rồi lại có tiếng tí tách ,tí tách nghe rất lạ tai ở ngay  trong hai cái chuồng xí đầu dãy. Họ tán chuyện gì nghe không rõ . Câu được câu chăng.   Chi thấy  tớ tớ cậu cậu rồi đằng ấy, mình ơi, mơ rau, sáng nay, quả  cà,  lạng thịt … Tôi đợi , đợi mãi đến lúc căng thảng quá phải ngồi bệt xuống, hai tay ôm chặt hai đầu gối, nín thở, cố nhịn thì may thay, cô gái ngồi ở chuồng thứ hai đi ra. Vì xấu hổ nên tôi ngoảnh mặt đi. Khi đương sự khuất rồi, tôi vội lao vào chiếm chỗ , thì …thưa nhà văn Nhật tuấn , tôi đố ông đoán xem tôi đã nhìn thấy cái gì trong  cái chuồng xí mà tôi vừa lao vào
    Tôi đố ông vì ông là một nhà văn có đầu óc tưởng tượng rất hoang dã
    Tôi chăc ông đang lắc đầu. Dễ ợt. Có gì mà phải phiền đến đầu óc tưởng tượng hoang dã . Nhưng mà nói ra đây làm gì , tục lắm, bẩn lắm.  cứt.

  
   Thưa ông,  cái thời ngày xửa ngày xưa ấy chuồng xí chỉ có một cái lỗ . Dưới cái lỗ là một cái thùng . Đương sự vào ngồi ỉa là cứt rơi tọt xuống thùng mất hút luôn. Cho nên khi lao vào chuồng tôi không nhìn thấy cứt mà lại  nhìn thấy một đống tóe loe vỏ hướng dương vừa  mới được nhả ra  ngay trên nền xi măng trước cái lỗ hố xí.
    Hóa  ra trong khi ngồi ị , cô gái vừa tí tách cắn chắt  vừa khúc khích tán chuyện với cô bạn ở chuồng bên
    Tôi kể cho ông nghe chuyện này cũng là để ông  tủm tỉm một tí cho nguôi ngoai nỗi lòng bức xúc mỗi khi ông nhớ đến cái chuyện văn chương nhân tình thế thái của thời xa xưa mà ông và tôi đã từng hăm hở đua đòi cầm bút.
     Tôi  muốn ông nhớ lại thân phận những văn nghệ sĩ chúng ta thời  ấy có người đã ví như thân phận thàng hề làm trò mua cười cho vua , lại có người ví như thân phận bầy cung nữ múa hát cho chúa xem.
    Riêng tôi, từ tối  hôm qua đến giờ , mối khi nghĩ  nghĩ tới những người  làm văn nghệ  thời bao cấp , tôi lại không nghĩ tới thằng hề hay là bầy cung nữ, mà, không hiểu sao tôi nghĩ vẩn vơ tới  đống vỏ hạt hướng dương mà cô gái đã nhả ra trong một lần đi …Tôi chỉ  nghĩ vẩn vơ như vậy thôi chứ không có ý ví von gì .
   Ôi ! những cái hạt  hướng dương  suốt đời hướng mặt trời . Chút nhân ngon ngỏn ngòn ngon thì bị nhằn hết rồi. Nắm vỏ nhả ra  trơ trẽn trên nền xi măng hôi thối , nhớp nhúa.  
   Cũng có thể đây là một ý nghĩ quái đản, thiếu lành mạnh.
   Nếu vậy , xin ông bỏ quá cho, thưa nhà văn Nhật Tuấn.

                      Nhà văn NGUYỄN ĐÌNH CHÍNH
       

   

   
    

Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2011

TÂM LÝ ĐẠI DƯƠNG VÀ TÂM HỒN BIỂN CẢ

Trí Thức Việt Nam Bên Bờ Biển Đông                                                                            

Thật lạ, từ thời lập nước, kén chồng cho nàng Mỵ Nương, vua Hùng thách cưới nào  “voi chín ngà,” “gà chín cựa...”, “ngựa chín hồng mao...”- những sản vật chỉ có ở trên rừng chứ dưới biển kiếm đâu ra và chẳng biết có “lo lót” gì vua cha không, mà Sơn Tinh thắng cuộc là cái chắc. Sự thiên vị đó hiển nhiên làm “ThủyTinh” nổi giận gây chiến với các ông thần núi khiến  hàng năm “ lũ lụt “ lu bù ? 
Và cũng thật lạ, cứ sản vật trên rừng thì các cụ ta gọi là thần –“sơn thần”, ngược lại dưới biển thì bị coi là quái vật – “thuỷ quái”. Tâm lý "trọng núi khinh biển ấy " càng lạ lùng hơn khi bờ cõi nước ta có tới hàng ngàn kilômét bờ biển  mà đời này qua đời khác trong tâm tưởng dân tộc chỉ thấy  “con cò bay lả bay la” chứ chẳng thấy đâu “con hải âu chao cánh trên sóng bạc đầu”?
Sống bên bờ biển Đông mà cứ dúi dụi trong lũy tre xanh, bịn rịn  cây đa, giếng nước, mái đình, phơi mặt cho đất bán lưng cho trời, khiến  bao đời mải miết  “suy nghĩ trên luống cày” bị cắt vụn bởi những “xiềng ba sào” để rồi cả đời chỉ quen với nhũng kích thước nhỏ. Thử nhìn chùa Một Cột, một biểu trưng văn hóa Việt Nam mà cảm giác như mới chỉ là mô hình kiến trúc. Rồi so sánh  cung điện triều Nguyễn ở cố đô Huế với những cái ở châu Âu, ở Trung Quốc mới thấy hết sự nhỏ nhoi, đáng thương của vua chúa Việt Nam. Kiến trúc dân dụng và nghệ thuật tạo hình cũng thiếu vắng tính hoành tráng  – những tranh làng Hồ kích cỡ không vượt quá phiến cắt ngang của cây gỗ,những tượng Phật nổi tiếng chùa Tây phương cũng chẳng vượt kích thước thực là mấy,những đình, những chùa Việt Nam cứ nép vào cây xanh thiên nhiên miền nhiệt đới, chẳng dám vươn lên mà cô đơn trên trời cao. 
Rồi cả những kinh nghiệm đối nhân xử thế cũng chỉ khuôn trong quy mô xóm làng, những “xấu đều hơn tốt lỏi”, ”ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau”, ”đèn nhà ai rạng nhà nấy...” cứ nhan nhản trong kho tàng dân ca, tục ngữ. Thiếu  hẳn “trường ca” và “ trường thiên tiểu thuyết” tầm cỡ nhũng pho truyện Tàu, cái “hơi thổi” cuả dân tộc ta trong nghệ thuật chữ nghĩa sao cũng ngắn, thượng số cũng chỉ tới “Truyện Kiều”  Nguyễn Du trong truyện thơ, Hoàng Lê Nhất Thống Chí của Ngô gia văn phái trong văn xuôi. 
Sống khép kín trong những lũy tre xanh bên bờ biển Đông ,ông cha ta đã thiếu  tâm lý đại dương , lại thiếu luôn cả tâm hồn biển cả và có phải vì thế dường như "nỗi buồn nhược tiểu"  chảy dài trong những “Giọt mưa thu”, “Đêm đông”, “Bèo giạt mây trôi”, những “Người ơi người ở đừng về”, “Dạ cổ hoài lang”... buồn hơn nước mắt ? Và có phải vì  thế mà cảm hứng xuyên suốt trong những Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan... là kêu đói, than nghèo. Thiếu nhu cầu trừu tượng hóa, thiếu sự mặc khải, tự tra vấn khi đối diện với cái mênh mông của biển cả. Than ôi, cảm hứng chủ đạo xuyên suốt mấy thế kỷ văn chương Việt Nam  phải chăng chưa vượt qua nỗi buồn đói nghèo, vươn tới  nỗi mênh mang trong cõi vô thường và khát vọng tìm tòi những kỳ bí thẳm sâu trong tâm hồn con nguời.
                       
                            “Từ thủa mang gươm đi dựng nước,
                        “Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long...”
            
Nỗi nhớ đất thật dai dẳng trong những cuộc mở mang bờ cõi chỉ theo đất theo ruộng mà tràn xuống phía Nam, nào đâu dám rời đất  xuống biển, đóng những đội tàu ra khơi thám hiểm, chinh phục những vùng biển lạ.
             Còn nhớ , trong một tiệc "cốc tay" , mấy ông tây  Thuỵ Điển thuộc SIDA (Cơ quan viện trợ phát triển quốc tế ) vừa nói vui vừa có ý phê phán rằng :
” Việt Nam   có vài  ngàn dặm bờ biển là cửa ngõ để bung ra năm châu bốn bể, mà cấm  thấy rời đi đâu bao giờ, hướng tới  mảnh đất xa lạ nào , và bao đời chỉ kiên trì chiến đấu với đủ các loại giặc ngoại xâm để giữ lấy  mảnh đất xinh xinh (tiny – nguyên văn của người nói)  hình chữ S uốn lựợn bên biển Thái Bình.“
Ý kiến  ngài đại sứ  Thụy Điển phát biểu hôm ấy, lạ thay, không hề gây một suy nghĩ , liên tưởng gì ngay cả với đám trí thức đi học kinh tế biển ở Liên xô, Ba lan,Đức ....về. Mọi người lại hiểu trẹo ra rằng các bạn  Thụy Điển  vốn luôn thán phục lòng yêu nước và truyền thống chống ngoại xâm của người VN, nên cứ có dịp là nhắc tới chuyện đó. 
Rõ là  bé cái nhầm , "tê liệt hoài bão" và "tự hào dân tộc" lố lăng đến thế là cùng!  Và  ý kiến đó lập tức bị chìm trong tiếng nổ sâm banh, nó chẳng được ai đả động tới, cả trên báo chí sách vở lẫn trong các nghị quyết quan trọng .
               Không  nghe Thụy Điển xui, sợ mắc mưu bọn tư bản đã đành, Liên Xô anh em khuyên, ta cũng chẳng thèm nghe thì mới lạ.Nhớ hồi “Hiệp định Hợp tác toàn diện với Liên xô” tôvarit Ivan  cử cố vấn sang giúp và khuyên ta nên có chiến lược  phát triển vận tải biển .Hẳn họ đã có kinh nghiệm lịch sử từ  nước Nga Tsar hoàng lạc hậu , nhờ có đấng anh quân Pie đại đế ngay từ nhỏ đã đích thân sang học nghề đóng tàu ở Thuỵ Điển, khi về nuớc phát triển đội tàu và từ biển Baltic vươn ra ngoài mà ngao du học hỏi Tây Âu, đổi mới đất nước giàu mạnh vào giữa thế kỷ 17.  Thế mà...sẵn "truyền thống" bài ngoại từ thời vua quan nhà Nguyễn, lại thêm tinh thần cảnh giác cách mạng chống xét lại, với cái đầu bã đậu, người nắm quyền Bộ Giao thông vận tải bấy giờ đang say sưa với  chủ trương quân sự hoá ngành giao thông (tỷ như đưa lính về quản lý, bốc xếp hàng ở các cảng,  tạo điều kiện cho toàn dân trộm cắp phá hoại dưới khẩu hiệu "CCCP " – các chú cứ phá, các cháu cứ phá , cha con cùng phá , cháu chắt cũng phá , càng cho càng phá , còn cho còn phá...) liền phán rằng, thằng Liên Xô nó xui phát triển vận tải biển là ..xui dại, để mình lệ thuộc  nó, không chơi!
Đến khi nghe quân sư quạt mo tư vấn mở rộng quyền làm chủ cho phép các tỉnh  lập công ty vận tải biển  tự chở hàng xuất nhập khẩu , thì cả đến mấy tỉnh miền núi Kontum , Daklak cũng có ... Công ty vận tải biển, thực chất  là moi tiền mồ hôi nước mắt dân đen rủ nhau đi mua tàu cũ ,tàu quá date , giá một nói ba , chia chác nhau xây nhà lầu ăn chơi trác táng .
Nhờ thuê kiểm toán quốc tế vào giám định mới dẹp được các Công ty vận tải biển và đưa mấy thằng quan tỉnh  vào trại bóc lịch .Sau vụ đó, nhà nước lại cử người – trí thức, tất nhiên, tầm sư học đạo, cậy cục hỏi ông thày tàu họ Lý ở  nước láng giềng Tân Gia Ba bài thuốc nào cho  bán đảo chữ S, "ít người nhiều ma" này trở thành  Rồng ?
Ông thày họ Lý phán rằng “nị” phải về mà nghĩ lấy chứ “ngộ” làm gì có toa thuốc sẵn. Thế mới đẻ ra chuyện giải quyết giao thông đô thị không thèm theo thằng Tân Gia Ba là bus hoá urban transport mà lại bình bịch hoá toàn thành phố  để đến nỗi xe máy tràn ngập phố phường và toàn dân đang biến thành các nhà du hành vũ trụ với cái mũ bảo hiểm trên đầu đúng theo  di huấn của cố TBT  Lê Duẩn " nhà nhà có tivi, nhà nhà  có xe máy", ních đầy hầu bao quan chức bằng tiền bán quota xe máy ,  chứ nhập xe bus về thì bán quota xe bus cho ai? Hoan hô xe máy và mũ bảo hiểm – phen này  khối thằng hốt bạc , chỉ thằng dân là ... cũng chẳng chết đâu, kích cầu mày lên để mà phải mua chứ, bớt bia bọt nhậu nhẹt đi, an toàn giao thông bảo vệ mạng sống mà...
Ngại xuống biển mà giao lưu thế giới đã dành, căn bệnh cố hữu thiếu máu phiêu lưu   đã làm  ta bằng lòng với nhũng gì vừa phải, mảnh đất tốt cho chứng chiết trung, dung hòa, Phật, Lão, Trang, Kitô giáo... cái gì cũng vào được hết, chung sống được hết, tam tứ ngũ lục giáo đồng môn được hết. Sự cuồng tín trong nhũng cuộc chiến tranh tôn giáo, trong những cuộc giao đấu ý thức hệ là không thể có trên đất nước ta. Thực chất những người lính cầm súng trong cả hai phe cộng sản và quốc gia trong cuộc chiến vừa qua đâu phải vì hằn thù do  khác biệt ý thức hệ? Ngay cả cái hạt nhân tàn khốc đấu tranh giai cấp, cốt lõi của chủ nghĩa cộng sản du nhập vào Việt Nam cũng bị pha loãng đi nhiều trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Một cuộc cải cách ruộng đất  long trời lở đất như ở Trung quốc, một cuộc Đại cách mạng văn hóa Trung Hoa với sức tàn phá khủng khiếp nếu như có vào Việt Nam thì những cơn bão đó cũng bị kìm hãm mà dịu đi nhiều lắm .Vậy nhưng cái gì cũng có hai mặt của nó. Trong khi hóa giải được rất nhiều sự tàn phá mù quáng thì chính cái căn bệnh ngại phiêu lưu, thiếu máu cuồng tín  lại làm chúng ta chưa bao giờ chịu bị đẩy tới “cùng” để mà ‘biến” cả. Đó cũng có thể là một lý giải về sự tồn tại dai dẳng của chế độ cộng sản trên đất nước ta. Trở lại câu chuyện về tâm lý đại dương và tâm hồn biển cả, nếu như trí thức là bộ phận sáng suốt nhất trong cộng đồng dân tộc thì trí thức Việt Nam kể cả vua Duy Tân lẫn nhà cải cách Nguyễn Trường Tộ dường như chưa một ai thức tỉnh cho cộng đồng cái tâm lý kỳ thị biển  ấy. Nhìn lại lịch sử quân sự, nhũng tên tuổi như Yết Kiêu, Dã Tượng, trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng quả là vô cùng ít ỏi so với nhũng danh tướng và nhũng trận đánh trên bộ. Ngay cả trận đánh tàu Madoch Mỹ của những người cộng sản ngày 5 tháng Tám năm 1964 trong vịnh Bắc Bộ cũng là một thứ lính cảm tử ôm bom ba càng xông vào xe tăng, rồi mãi tới trận Trung Quốc tiêu diệt cả một tàu Việt Nam tại khu vực đảo Trường Sa, và cho tới tận ngày nay hải quân của Cộng hòa XHCN Việt Nam vẫn tròm trèm là một con số  nhỏ nhoi, yếu kém .
Thời đó đã có nhạc sĩ cất tiếng hát “biển rộng của ta đâu có phải ao nhà của chúng nó?” Than ôi, buồn thay, vài thập kỷ đã trôi qua, lực lượng trên biển của người Việt Nam vẫn chưa đủ mạnh để tránh cho biển Đông của chúng ta khỏi trở thành “ao nhà của Trung Quốc”. Rồi thì ngay cả một cái Bộ Thủy Hải Sản cồng kềnh cũng chưa có nổi một đội tàu đi đánh bắt xa bờ mãi ngoài đại dương mà vẫn chỉ loanh quanh vùng cận hải. Đằng đẵng những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất Bắc, người ta cũng chỉ “ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, ra sức phát triển công nghiệp nhẹ và lấy nông nghiệp làm cơ sở” – vẫn là một thứ suy nghĩ “trên luống cày” chưa thấy một trí thức nào mách nước cho nhũng người cộng sản hãy hướng cái nhìn ra biển cả. ... Thật uổng công nuôi dạy từ bé dù là bằng củ khoai củ sắn, lớn lên được gửi đi học hành nước ngòai , khi về nước không những không có được kế sách gì hay hớm , lại còn cứ ngậm miệng ăn tiền, à ơi với cánh cò bay lả bay la,  bay từ đồng ruộng bờ vùng bờ thửa bay ra chủ nghĩa xã ...hồi....Gần đây ông Ngô Thế Vinh trong một cuốn sách rất công phu và rất nhiệt huyết “Cửu Long cạn dòng và biển Đông dậy sóng” cũng đã khơi ra một mối quan tâm tới biển nhưng lại nghiêng về mặt bảo vệ lãnh thổ.
        Vậy là căn bệnh cố hữu có 3200 kilômét bờ biển mà vẫn thiếu muối ăn vừa là điều kiện quy định tính cách  trí thức Việt Nam vừa là món nợ tinh thần đối với cộng đồng dân tộc nếu như ta thừa nhận trí thức là người nhận lãnh sứ mạng thức tỉnh và lay động xã hội. Thiếu máu phiêu lưu, ngại ngần nhũng chân trời lạ, bằng lòng với nhũng chân lý đồ hộp (fast food), tự biện minh "gặp thời thế, thế thời phải thế"... liệu người trí thức Việt Nam có dũng cảm nhìn nhận những căn bệnh có nguồn gốc sâu xa là sống ven biển Đông mà thiếu tâm lý đại dương và tâm hồn biển cả?
         Nhớ lại cuộc ly hôn vĩ đại nhất vào buổi bình minh của thời dựng nước, 50 người con trai theo bà Âu Cơ xuống biển và đi luôn một mạch cho tới tận bây giờ không ngoái  tìm về quê cha, đất tổ? Thế nhưng cuộc xuống biển bất đắc dĩ của cả triệu thuyền nhân Việt Nam vào những năm cuối của thập kỷ 70 thì chỉ không đầøy 10 năm sau rất nhiều người con của dân tộc  đã trở lại. Gạt ra nhũng thảm kich trên hải đạo kinh hoàng, gạt ra những căn nguyên chính trị, nhìn nhận sự kiện như là một cơ hội phiêu lưu ra ngoài biển cả của một bộ phận dân tộc, liệu ta có hy vọng những người con theo bà Âu Cơ đó có thể đón nhận tâm lý dại dương và tâm hồn biển cả để góp cái phẩm chất mới mẻ đó vào nỗi lo toan cho Tổ Quốc Việt Nam? Lời đáp cho câu hỏi đó sẽ có khi ta đồng thuận với nhau quan niệm kinh điển về trách nhiệm của thất phu khi quốc gia chìm nổi trong hưng vong...