Tổng số lượt xem trang

Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2015

PHẠM THẮNG VŨ - Con sóng dữ - KỲ 87


3/

                                 (tiếp theo)

Căn nhà riêng để ở chung với nhau đó, nhân chiều thứ Sáu cuối tuần được nghỉ việc sớm hơn thường lệ, về đến barrack thì Yến rủ đi với nàng để xem cho biết. Đến trước một ngõ hẻm của khu vực zone 2 đối diện với trường Huấn nghệ Consortitum thì Yến quẹo vào. Qua khỏi các barrack lợp lá rồi những mái nhà nho nhỏ, hai đứa tôi đi đến gần cuối con đường hướng vào rừng và dừng chân trước một căn nhà có hàng rào vây chung quanh. Một hàng rào làm bằng cây rừng, đan chồng chéo cao ngang thân người phủ kín đầy mồng tơi, một loại rau người miền Bắc thường nấu canh ăn. Căn nhà bé xíu, có một giếng nước nằm mé đằng sau và mé trước nhà là một giàn dưa Tây um tùm. Yến cất tiếng gọi, một phụ nữ trạc tuổi với chị Phượng chạy ra mở cánh cổng thấp cho hai đứa tôi vào. Giàn dưa Tây như một tấm màn che tạo bóng mát cho mặt trước nhà nhưng nó đã cỗi vì chẳng còn một quả hay nụ bông nào cả. Cái nhà, đứng bên ngoài thấy nhỏ nhưng khi đặt chân vào trong thì mới thấy nó khá rộng nếu như so sánh với căn phòng của nhóm chúng tôi ở barrack. Tuy nhỏ nhưng chủ gia cũng ngăn nhà thành ba phần, phần trước là phòng ngoài có cái bàn với hai chiếc ghế đẩu cùng một cái giường đơn kê sát bên vách ngăn. Phần giữa là căn buồng có cái giường đôi cùng cái tủ gỗ nằm sát cạnh nhau và phần sau nhà là chỗ tắm giặt cùng bếp nấu nướng. Nền nhà là các tấm xi măng bể được chủ gia thu gom từ các mặt sân nhà cũ trong trại rồi mang về ken lại khá gọn gàng. Từ phần sau nhà này, qua cánh cửa nhỏ, hai đứa tôi theo chân chủ gia bước ra bên ngoài để xem thêm. Một con heo khá lớn chứa gần đầy nước mưa hứng từ mái nhà chảy xuống bằng cái máng gỗ mỏng manh. Ở một góc sân là một bụi cây bố mọc xum xuê có cành dài chạm cả vào mặt đất. Cây bố này, người miền Bắc gọi là rau đay nấu canh ăn được. Những cây rau ngót cao hơn đầu người đứng thành hai hàng cạnh các bụi mía, luống khoai mì. Các bụi xả lùm xùm che kín chân hàng rào và ở cuối vườn, ngay chỗ phần thoai thoai của mặt đất là nguyên vạt rau thơm đầy tía tô, húng, dấp cá, ngò gai... mầu xanh mầu tím pha sắc bên nhau. Mái nhà được lợp bằng giấy dầu nhựa hắc ín trộn cát mịn còn vách là các thân tre đập dập, vỏ thùng giấy carton cứng nhưng bên ngoài được bọc bằng các tấm nhựa plastic lớn. Thấy có cái thùng múc nước để nằm chỏng trơ trên sàn xi măng, tôi kéo một ít nước từ giếng lên cho Yến xem. Nước trong vắt và không có mùi gì cả. Vậy là được vì Yến mua nhà chỉ vì nàng cần có nước để dùng hàng ngày, nhất là trong các tháng hè. Ở barrack, hàng ngày mỗi buổi sáng tôi và Đỉnh vẫn phải đi gánh nước từ suối gần bệnh viện về xài chung. Con suối đã được Ban đại diện trại tu bổ, khoét dòng cho sâu cùng vét hồ chứa nước rộng hơn trước nhưng vẫn không đủ dùng trước số thuyền nhân đổ vào trại từ các ghe bên Malaysia chuyển sang. Thấy tôi bước lại gần bên cây đu đủ ngay bên hông căn nhà, chủ gia liền đi theo. Chắc chắn cây này đã mọc tự nhiên vì thân nó lại ngáng ngay bên ô cửa sổ của căn buồng nơi phần giữa nhà. Những quả đu đủ mọc đeo chi chít bên nhau ở phần ngọn cây nhưng quả nào cũng chỉ lớn hơn một nắm tay người. Chủ gia với tay hái một quả hườm hườm mầu phớt vàng trên thân xanh và đưa nó cho Yến, bà nói:

- Trông nhỏ trái nhưng ngọt lắm, cô cậu để nó chín đều hẵng ăn cho vui. 

Tôi đảo mắt nhìn về hướng Tây của căn nhà, chút ánh nắng chiều còn sót lại nhưng đã bị hàng cây rừng cao vút gần đó cản bớt. Tôi bảo nhỏ với Yến:

- Hay quá em, buổi chiều nhà mình sẽ bớt nóng là nhờ có mấy cái cây đằng kia kìa... Chỉ phải cái hơi xa khi mình có việc phải lội từ đây ra tới con đường nhựa. 

Khi Yến hỏi dứt khoát thì không ngờ chủ gia đồng ý bán chỉ có ba mươi ngàn Rupiad nhưng hai đứa tôi chỉ được dọn vào ngay trong ngày gia đình họ rời trại. Thỏa thuận như thế là xong. Trên đường về lại barrack, Yến kể thêm: 

- Anh chị Sang chủ nhà này là học trò của thầy Khảm... Họ cũng đã đậu thanh lọc từ đợt xổ trước của thầy và chị Phượng. Thầy mua hộ cho em nên mới có giá đó chứ dễ gì anh.

Đúng! Tiền mua căn nhà chỉ bằng tiền vé tàu cao tốc đi Tanjung Pinang cho hai đứa chúng tôi kỳ vừa rồi. Bao nhiêu công sức chủ gia đã đổ ra rồi thêm các vật liệu mới có được căn nhà như bây giờ. Đành rằng đi định cư thì họ sẽ phải bán nhà nhưng bán với giá như thế thì quá rẻ. 

Buổi tối thứ Bẩy khi ngồi ở quán cà phê với anh chị Khảm-Phượng, tôi kể chuyện về căn nhà thì anh Khảm nói:

- Hai vợ chồng tay Sang này chịu học Anh ngữ lắm. Nói với anh sẽ để lại toàn bộ đồ đạc trong nhà cho hai em khi họ lên đường... chắc cũng không lâu đâu.

Đồ đạc đây là nồi niêu soong chảo, ly tách chén dĩa, mùng mền, bàn tủ... mà chủ gia đang dùng trong nhà. Hầu như thuyền nhân trong trại, khi đi định cư nước thứ ba ai cũng để đồ đạc cho người thân quen còn ở lại. Mang nhiều đồ đạc khi đi định cư thêm rách việc rồi cũng sẽ vất bỏ. Tôi và Yến bàn nhau khi dọn vào căn nhà mới, cũng sẽ để lại cho Bẩy và Đỉnh các món đồ dùng chung của cả nhóm. Anh Khảm kể thêm hai vợ chồng chủ gia này nguyên là công an tại phường 8 của thành phố Mỹ Tho, theo học Anh ngữ nơi lớp anh dạy một thời gian dài rồi thành thân quen nên mới bán cho Yến cái nhà giá rẻ như thế. Những thuyền nhân mới nhập trại cũng có lắm người đang tìm mua nhà vì ai nấy đều muốn tránh cảnh sống chen chúc trong các barrack lợp lá vừa chật chội lại bầy hầy. Anh Khảm dụi mẩu đầu lọc thuốc lá vào cái gạt tàn rồi nói tiếp:

- Cả hai vợ chồng tay Sang này muốn sống bên Úc nhưng phòng định cư Cao Ủy lại sắp xếp hồ sơ họ cho phòng JVA Mỹ phỏng vấn trước. Phỏng vấn rồi phái đoàn Mỹ lại nhận họ luôn thế mới kẹt. Không muốn mà chẳng làm gì khác được, đành chịu thôi. Vũ nghĩ xem, định cư ở Mỹ mà hai vợ chồng họ lại rầu, lại lo... chỉ vì sợ gặp dân chế độ cũ miền Nam VNCH sẽ khó sống.

- Bộ hai ông bà cựu công an này có ân oán gì với dân miền Nam mình hả anh? Tôi thắc mắc.

Anh Khảm lắc đầu phủ nhận rồi nói như một kết luận về câu tôi hỏi: 

- Họ bảo là chỉ muốn yên ổn làm ăn, lập cuộc đời mới trên xứ người, chuyện là công an đã chôn vào quá khứ không muốn nghĩ đến nữa. Anh trấn an họ, nói đừng lo lắng việc đó cho mệt. Sống ở trại tị nạn Galang, gốc gác của họ ai mà lạ hả em! Dân phường 8 của Mỹ Tho vượt biên sang đây thiếu gì người... mà hai vợ chồng có sao đâu. Sang bên Mỹ rồi họ cũng sẽ yên ổn như vậy thôi, người quốc gia mình không có vụ thù hằn dai dẳng như kiểu Việt Cộng làm.

Ở trại tị nạn Galang, dù Cao Ủy đã cho hồi hương về lại Việt Nam mấy chuyến người rồi nhưng thuyền nhân vẫn tiếp tục đổ vào nhiều thêm đến nỗi nhà thầu Titan cất barrack không kịp nên có khi, cả đoàn ghe nhập trại phải ở ngay trên các nền nhà cũ chổng trơ dưới ánh nắng mặt trời. Các phòng bỏ không của nhà thương, có lúc cũng được Cao Ủy mượn làm chỗ trú ngụ tạm thời cho người mới đến. Đưa người hồi hương về Việt Nam, Cao Ủy cũng mang báo chí từ bên quê nhà sang cho thuyền nhân trong trại đọc các thông tin quảng cáo là người hồi hương trở về nay đã nhanh chóng hội nhập vào đời sống bình thường như trước khi ra đi. Trong các ấn phẩm này, có cả các tờ báo của Việt Cộng đăng các mẩu tin mô tả đời sống trong các trại tị nạn người Việt từ bên Hồng Kông đến Malaysia, Thái Lan, Nam Dương và Phi Luật Tân... đâu đâu cũng đều là nơi để băng đảng phục quốc, xã hội đen... hoành hành làm khổ thuyền nhân. Các tờ báo từ trong nước đó, xa gần nhắn nhủ nơi an toàn nhất, nơi cần lựa chọn đến để sống cho các thuyền nhân Việt bây giờ chính là quê nhà. Vậy mà người Việt trong nước vẫn tiếp tục vượt biên và lý giải cho việc này, dân trong trại đồn chuyện:

- Biết đâu do cái tin ở mấy tháng trước trên đài BBC nói nước Kuwait nhận định cư thuyền nhân Việt làm người ta phải hối hả vượt biên ngay vì sợ lỡ dịp nên mới đông người đến trại như vầy. Cũng có thể, người trong nước lờ mờ đoán sắp đến lúc Cao Ủy sẽ đóng cửa vĩnh viễn các trại tị nạn của thuyền nhân Việt nên phải đi ngay không thôi chẳng còn.

Ông Thăng, barrack trưởng cho biết là căn cứ vào thứ tự thì khoảng hai hay ba tháng nữa, ghe chúng tôi sẽ lập lý lịch với Cao Ủy. Nghe vậy, cả barrack vừa mừng lại vừa lo. Mừng vì chờ đợi cái ngày này và nay nó sắp đến. Ai cũng thấy cứ tình hình Cao Ủy thanh lọc như thế này thì càng về sau, sẽ càng khó khai lý lịch. Lo vì chẳng biết bản thân sẽ phải khai sao đây cho tốt. Ai cũng sợ bị rớt thanh lọc. " Phải chuẩn bị từ bản khai lý lịch này, Cao Ủy sẽ dựa vào đó mà phỏng vấn mình, ăn hay thua là do nó ", người trong barrack kháo nhau. Nhóm 5 đứa chúng tôi thông tin cho nhau biết và hẹn ngày cùng vào Galang 2 để gặp anh Đoàn Thạnh Nam, nhờ anh cố vấn cho bản khai lý lịch sắp tới. Tháng 7 vừa qua, ghe CL 135 chúng tôi đã lập lý lịch với phòng an ninh P3V và nay đến vụ khai lý lịch cho phòng Cao Uỷ thì ai cũng cho mình đã hớ hênh trong bản lý lịch kỳ đó. Giờ có muốn bớt đi hoặc thêm vào các chi tiết khác trong cuộc đời mình thì lại sợ Cao Ủy sẽ đối chiếu với bản lý lịch cũ từ phòng an ninh P3V chuyển sang. Ở trại tị nạn Galang, phòng an ninh P3V khi lập được lý lịch của ghe nào xong, họ sẽ chuyển sang cho Cao Ủy biết ngay. Cao Ủy có lý lịch thì sẽ sắp xếp danh sách mà người trong trại gọi là lên lịch để sơ vấn và thanh lọc ngay thuyền nhân của chiếc ghe đó. Cả nhóm vào Galang 2 nhưng tìm anh Đoàn Thạnh Nam thật khó vì thời gian này, anh bận rộn nhiều do công việc phải viết đơn kháng cáo cho thuyền nhân bị rớt thanh lọc. Thêm vào đó, nhiều người trong trại cũng tìm đến anh giống như chúng tôi bây giờ. Galang 1 chỉ có bốn zone đánh số thứ tự từ 1 đến 4 thì ở Galang 2 lại có tới sáu zone mang số A, B, C, D, E và F và trải dài trong một khu vực rộng hơn nhiều. Các barrack, nhà riêng của thuyền nhân nằm xen kẽ với quán xá trong từng zone của trại nên nếu không có hẹn để biết chỗ trước mà đi tìm nhau sẽ rất khó gặp. Đó chưa kể đến các nhà nguyện Tin Lành, nhà thờ Thiên Chúa, chùa Phật Giáo, thánh thất Cao Đài, đình Hòa Hảo... nằm biệt lập ở các chỗ vắng. Có buổi, đi sạc cả giò trong trời trưa nắng mà tìm anh Nam không ra nên ai trong nhóm cũng nản. " Có khi mình tìm chết mẹ ở đây thì ông nội này lại ở ngoài Galang 1, biết đâu đấy! " Đỉnh nhăn nhở nói. Cô Đào bỏ cuộc trước vì lý do phải phụ bán hàng nên không thể vắng mặt ở tiệm mãi được. Kế tiếp là cô Bẩy khi bảo với Yến là sẽ kiếm người khác chỉ dẫn, không cần đi Galang 2 tìm anh Nam nữa. Đỉnh cũng bắt đầu chán cảnh đi tìm lòng vòng nên sau cùng đã bảo với tôi: 

- Lý lịch gia đình em như thế nào, em cứ khai như vậy... Hỏi anh, Cao Ủy không cho em đậu thanh lọc thì nếu hồi hương về Việt Nam em sẽ sống ở đâu, với ai đây? 

Như đã kể ở phần đầu truyện, Đỉnh có cha là nguyên sĩ quan an ninh quân đội chế độ miền Nam VNCH. Bị Việt Cộng lừa đi tù cải tạo trong những ngày đầu khi chúng vào được Sài Gòn nhưng ông trốn khỏi được trại giam rồi sau đó lại vượt biên thành công. Định cư ở Mỹ, ba của Đỉnh gửi tiền về để lo cho cả gia đình nó vượt biên. Mẹ của Đỉnh cùng hai đứa em gái, người nào cũng chỉ đi một lần là thoát. Riêng mình Đỉnh là chật vật, đánh nhiều chuyến mới thành thì lại gặp cảnh Cao Ủy thanh lọc thuyền nhân. Nhân nó nhắc lại chuyện cũ, tôi thắc mắc, hỏi:

- Mày kể cả nhà đi vượt biên hết thì căn nhà bên đó sau cùng ra sao... Bỏ lại cho ai ở?

- Nhà em! Khi chưa liên lạc được với ông già thì mẹ em đã phát bịnh rồi anh. Đồ đạc có giá trong nhà phải bán dần mòn hết để có cái sống rồi cuối cùng đến căn nhà... Mẹ em nằm liệt trên giường như sắp chết, tụi em còn nhỏ lấy đâu ra tiền để sống và để có cái tẩm bổ cho bả. Căn nhà phải nhờ họ hàng thay mặt tìm mối bán dùm mà thời đó rẻ lắm. Xong xuôi, gia đình em phải tạm trú ở nhà người dì ruột cho đến khi có tiền của ba gửi về mới lần lượt đi vượt biên. Công an cắt mất hộ khẩu em từ lâu rồi, phải đậu thanh lọc thôi! Đỉnh cười ranh mãnh sau lời kể.

À! Thì ra. Tôi cũng đồng ý với Đỉnh, chắc chắn nó sẽ qua được thanh lọc bằng diện đoàn tụ gia đình vì cứ qua các lần nhận kết quả vừa rồi, có người hoàn cảnh giống hệt nó mà đã cầm giấy tị nạn ngon lành. Có giấy bảo lãnh của cha mẹ hay vợ hoặc chồng ở nước thứ ba gửi đến thì gần như được Cao Ủy công nhận là tị nạn liền. Đây là sự nhân đạo của luật tị nạn. Anh em ruột, chú bác hay cháu chắt gì... thì giấy bảo lãnh nếu có cũng vô giá trị khi ngồi đối diện với luật sư phỏng vấn. Ăn thua là lời khai về cuộc đời mình khi sống trong chế độ Việt Cộng. Giấy bảo lãnh thuộc loại này chỉ giúp thuyền nhân đi định cư nhanh chóng hơn ngay sau khi người đó qua được ải thanh lọc, thay vì phải chờ có đợt nhận. Chính vì vậy mà Đỉnh không lo lắng lắm đến vụ lập lý lịch Cao Ủy. Có gặp được anh Đoàn Thạnh Nam hay không, nó cũng chẳng màng. 

Nghe chuyện tôi và Yến mua căn nhà để ở riêng thì Đỉnh bảo rồi ra nó cũng sẽ sống trong cái shop của Ánh Diễm ở Galang 2. Nó thêm:

- Không chừng em sẽ ra khỏi barrack trước cả anh và Yến. Cái phòng chung của cả nhóm coi như để lại cho cô Bẩy. Khi ra đi, em cũng chẳng mang thứ gì ngoại trừ quần áo cá nhân. Ánh Diễm sang lại shop tạp hóa thì chủ tiệm cũng để lại cho toàn bộ đồ dùng trong nhà. 

Chỉ còn tôi và Yến đi Galang 2 cho đến một hôm nàng bảo: " Hôm nay em đau chân quá, chắc không đi với anh được ". Thấy tôi yên lặng, nàng tiếp: " Anh coi, kiếm cái ông Nam này khó gặp quá mà nếu có gặp được, em còn phải học thuộc lòng từng câu hỏi câu trả lời nữa cho khớp với dàn dựng lý lịch của mình. Nghe mà phát mệt... Em cũng giống anh Đỉnh, lý lịch mình như thế nào thì cứ khai vậy ". 

Từ lâu rồi, Yến đã nói nếu nhận kết quả thanh lọc mà bị Cao Ủy đánh rớt thì nàng sẽ hồi hương về lại quê nhà để chờ đi định cư sang Úc với người anh ruột. Không muốn thấy Yến về lại Việt Nam nên tôi khuyến khích nàng phải chuẩn bị lời khai từ đầu trong bản lý lịch Cao Ủy, tôi bảo:

- Về Việt Nam đâu có đi sang Úc ngay được, cũng phải có thời gian... Em ở sẵn đây, nếu đậu thanh lọc thì phái đoàn Úc nhận liền, nhanh hơn. 

- Em biết! Nhưng dàn dựng thì phải khai lý lịch cho khác... mà em thì nghĩ mình không làm được. Thôi! Cứ có sao khai vậy rồi đưa giấy bảo lãnh của anh em ra trình cho họ biết. Cao Ủy nếu cho đậu thanh lọc thì chờ đi định cư, rủi bị rớt em sẽ về Việt Nam.

- Nói như em vậy thì vượt biên làm quái gì! Sao không chờ ở quê nhà rồi cũng sẽ đến ngày đi định cư với ông anh ở bên Úc như bao người có thân nhân bảo lãnh cho khỏe. Đi vượt biên đâu phải như làm một chuyến du lịch, em cũng biết ghe mình bị tụi Thái nó đuổi mà.

Thấy tôi nổi cơn bực, Yến im lặng trong chốc lát rồi sau đó nàng nói gắt:

- Kệ em! Anh đừng nhắc lại chuyện cũ. Em nghĩ có chận được ghe mình thì hai tàu Thái đó sẽ lấy sạch tiền vàng là cùng.

Yến chưa từng gặp cảnh khủng khiếp khi ghe vượt biên bị lọt tay tàu hải tặc Thái. Lời nói của nàng dẫn tôi về hình ảnh cũ giữa vùng biển vắng, trên trời dưới nước cùng tiếng kêu cứu của Ánh Phương ở chuyến vượt biên lần trước. Ánh Phương bây giờ ở đâu? Tôi vẫn chưa kể cho Yến biết về chuyện cũ. Hôm bị hai tàu Thái đuổi bắt đó nếu không gặp cây mưa bất ngờ thì rồi cuộc đời của Yến sẽ ra sao? Chắc chắn sẽ không khác với Ánh Phương? Tự nhiên tôi mềm lòng trở lại. " Mình đã bậy! Lẽ ra không nên phát cáu với nàng ". Chút hối lỗi từ trong lòng làm tôi yên lặng. Nhìn vẻ mặt cùng thái độ của tôi, đột nhiên Yến nắm lấy tay tôi, miệng nàng thì thào:

- Anh Vũ! Em xin lỗi... Mình quên việc vừa xảy ra nha anh.

Thật tội nghiệp! Tôi thở dài, Yến còn quá trẻ biết gì mà khai nên khi thấy khó ăn với Cao Ủy, đã chọn cho mình đường binh sẽ hồi hương nếu bị đánh rớt thanh lọc. Cả hai cô Bẩy và Đào cũng vậy vì chính Yến cho tôi biết đã nghe hai nàng con gái này than: " Hồi xưa vượt biên dễ ợt lại không đi để bây giờ đến trại tị nạn thì bị cảnh Cao Ủy thanh lọc ". Yến kể thêm: " Chị Bẩy nói với em, nhà chị ở Vũng Tàu đi vượt biên đâu có khó. Một bước chân là xuống được cá lớn rồi. Chị Đào cũng bảo ở Mỹ Tho nhiều đường dây vượt biên lắm mà đâu chịu đi. Chừng đi thì bị kẹt ". Yến cũng tiết lộ cả hai cô gái đã gửi thư báo tin cho thân nhân bên quê nhà biết về việc thanh lọc của Cao Ủy và họ đều được gia đình khuyên tùy tình hình, nếu khó quá thì hồi hương.

Chỉ còn một mình đi vào Galang 2, tôi đến phòng của anh Đoàn Thạnh Nam và viết một ít chữ trong mẩu giấy nhỏ rồi gửi nó lại cho người ở cạnh bên nhờ chuyển hộ. Mấy ngày sau tôi ghé lại thì người đó nói tôi đến quán cà phê Gió sẽ gặp được anh Đoàn Thạnh Nam. Thật ra giữa tôi và anh Nam có chút tình cảm riêng là vì đã giúp anh dịch thuật các giấy tờ anh gửi đến phòng. Quán cà phê Gió nằm ở trên một chỗ đất khá cao như một ngọn đồi của zone B ngay sau lưng văn phòng an ninh P3V. Tên là quán Gió vì ở vị trí này, gió thổi lồng lộng nên chủ quán trồng khá nhiều cây lớn như một che chắn cho các cái bàn của khách. Tôi đến quán và không khó để thấy anh Đoàn Thạnh Nam đang ngồi cùng với bốn người khách nữa tại một cái bàn nằm khuất ở một góc kín đáo dưới bóng cây tràm bông vàng xum xuê.


                                      (còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét