Tổng số lượt xem trang

Thứ Năm, 20 tháng 8, 2015

PHẠM THẮNG VŨ - Con sóng dữ - KỲ 85




                              (tiếp theo)

Tôi thấy ông tiến sĩ Tôn nói quá đúng khi nhớ lại các câu truyện trong sử Việt về vụ quân đội nhà Tây Sơn tàn sát dân Ba Tàu trong vụ Lý Tài và sự việc nhà nước Việt Cộng xua đuổi người Hoa trong cái gọi là nạn kiều của các năm cuối thập niên 1970. Vừa nghĩ đến đây thì tiếng của ông tiến sĩ Tôn lại tiếp: 

- Nói đâu xa, ngay tại Indonesia này trong các năm 1965-1966 thì đã có việc tàn sát dân Ba Tàu trong vụ gọi là chống lại đảng Cộng Sản Nam Dương. Cả hàng triệu đảng viên Cộng Sản Nam Dương khi đó bị giết chết mà hầu hết họ đều là dân Indo gốc Trung Hoa. Đảng viên Cộng Sản nào được chính quyền tha mạng thì bị lưu đày đến sống ở các đảo hoang, nơi biệt lâp... trước khi họ bị nhổ mất 2 răng cửa và chính quyền sẽ phạt tù nặng với bất cứ nha sĩ nào tân tạo các răng mới cho những người Cộng Sản đó. Mấy người thấy chính quyền Jakarta làm quyết liệt chưa! Hết hẳn Cộng Sản ở cái xứ Hồi giáo này. Ta cứ nghĩ xem, với bộ mặt mất 2 răng cửa đó thì đi đến đâu, người dân Indo cũng sẽ nhận ra đây là một tay Cộng Sản và họ sẽ xa lánh ngay.

Thấy trời sắp sửa ngả về chiều rồi lại nghĩ đến giờ giấc phải xuống tàu máy cao tốc, tôi sợ không còn kịp giờ để nghe ông tiến sĩ Tôn kể thêm chuyện nên hỏi ngay về vụ nhà hàng Tàu thì ông cười, nói:

- Ồ! Cũng do từ việc dân Ba Tàu bị chèn ép trong công việc cả thôi. Làm ở hầm mỏ, trên cánh đồng, trong nhà máy... ở nước nào thì họ cũng bị chủ nhân trả lương kém hơn những sắc dân khác. Chủ thì lấy lý do là cơ thể dân Ba Tàu khi đó nhỏ con hơn tất sẽ yếu hơn và năng suất làm việc sẽ không bằng nên xử ép. Thực tế thì dân Ba Tàu làm việc rất hăng dù sức yếu hơn nhưng hầu như lúc nào họ cũng hoàn thành công việc được chủ giao cho. Điều dễ hiểu là họ tha hương nhưng còn cả một gánh nặng là thân nhân tại quê nhà đang chờ sự giúp đỡ của họ. Cho đến một tình cờ là có một ông Ba Tàu ở thủ đô Paris bên nước Pháp bị chủ sa thải sau một tai nạn lao động với chút tiền bồi thường. Hình như đó là năm 1922. Ông Ba Tàu này hồi còn ở quê nhà từng phụ việc trong một cao lâu ở Nam Kinh nên nghĩ thử mở tiệm ăn, nấu các món cho người đồng hương xem sao. Thế là một cái quán ăn người Trung Hoa ra đời trong khu phố lao động. Khởi đầu thì quán cũng nhỏ nhưng dần dà do sự ủng hộ của dân Ba Tàu trong bang hội nên đã phát triển dần lên. Quán mở rộng ra, thêm các trang trí bằng các bức tranh, bình hoa, lồng đèn đỏ cùng các hàng cột rồng-phượng-lân đã gây sự chú ý của dân địa phương. Họ kháo nhau về quán ăn này rồi tiếng lành đồn ra xa. Khách tìm đến quán bây giờ không thuần chỉ dân Ba Tàu nữa mà hầu như đều là dân địa phương, dân ngoại quốc tứ xứ. Họ đến để thử các món ăn cùng không khí kỳ bí của phương Đông mà trí óc họ tưởng tượng về cái xứ có hàng triệu triệu người, cái xứ có cách thức khám bệnh bằng tay, cái xứ có cách làm ra vải lụa từ chất nhớt của một loài sâu... Cần phải đến vì cần phải biết các món ăn với các gia vị tạo thành hương vị kỳ lạ không giống như những món ăn của người Âu tây. Quán của ông Ba Tàu này đâm ra thành công đã làm các tấm gương cho những di dân Trung Hoa ở các nơi khác rồi lan sang nhiều nước. Không thể nào và cũng không sợ đụng hàng với dân bản xứ khi kinh doanh nhà hàng Tàu, một thành công của đám di dân Trung Hoa kể từ đó và kéo dài cho đến tận bây giờ.

- Thì ra là vậy! Chị Phượng vui thích, buột miệng nói.

Ba bà người Việt đã ra khỏi quán rồi và bây giờ thì có thêm các người khách địa phương mới kéo vào quán mà trong số họ đều là dân gốc Trung Hoa. Họ gọi cà phê nóng và nhấm nháp cái bánh bía, gói đâu phọng da cá trong làn khói thuốc lá như cảnh mấy tay Ba Tàu đến quán trà gia của cữ chiều tại nước Việt. Ông tiến sĩ Tôn kể tiếp: 

- Thật ra thì buổi đầu nhà hàng Tàu cũng chật vật lắm vì sự kỳ thị. Dưới con mắt của dân Âu châu thì tự họ lúc nào cũng kiêu căng cho là món ăn của họ văn minh nhất, không một lối nấu ăn nào có thể vượt qua mặt họ được. Nhất là với cái dân Pháp. Tự cao mà không biết là ở châu Âu, các vị đế vương khi ăn thịt cừu nướng nguyên con vẫn phải lấy tay xé thịt chấm muối thì ở bên nước Tàu, ngay người dân thường đã biết chế biến thực phẩm thành hàng trăm món ăn ngon. Cái câu mình hay nghe nói ăn cơm Tàu là do cái vụ nhà hàng này mà ra. Kỳ thị nhưng rồi dân Âu châu lại tình cờ phát giác ra là thức ăn bán ở nhà hàng Tàu đã ngon miệng thì chớ mà lại còn bán giá rẻ hơn nhiều so với cũng món ăn đó ở trong các nhà hàng của dân địa phương. Cũng những thịt gà, thịt bò, hoa quả, nấm tươi... đó mà sao trong nhà hàng Tàu, đầu bếp chế biến các món ăn của dân Âu châu nó khác vị đi. Ngon hẳn, riêng biệt không thể lẫn vào đâu được.

Chia tay với ông tiến sĩ Tôn, nhóm 4 người chúng tôi quay trở về bến cảng. Anh chị Khảm-Phượng giờ đây mỗi người có thêm ít quần áo mới cất gọn trong 2 cái va ly giả da khá to. Nhìn vài người Việt khệ nệ xách khá nhiều quần áo cho việc định cư sắp đến thì anh nói nhỏ với tôi và Yến: 

- Với anh chị, vài bộ quần áo là quá đủ. Kinh nghiệm đã từng đi Mỹ cho biết rồi anh sẽ phải vất bỏ các y phục này khi qua tới bên đó vì nó không hợp kiểu. Sắm chi nhiều cho tốn tiền bạc của thân nhân mình gửi giúp. Bên đó họ làm ra đồng tiền cũng chật vật lắm.

Nhóm chúng tôi từ từ thận trọng trèo xuống các ghe chèo tay để ra con tàu cao tốc đang nằm chờ ngay chỗ đã ngừng lúc sáng. Đoạn đường biển thật ngắn nhưng vẫn giá công như buổi sáng từ miệng của dân chèo đò địa phương. Hai trăm Rupiad cho một người (Rupiad dua ratus orang) mà không thể kỳ kèo, nói họ bớt tiền. Ghe chèo đến tàu cao tốc, tôi và Yến nhanh nhẹn lách qua vài người đứng ở bên ngoài để bước xuống khoang hầm và vào đúng chỗ ngồi của mình. Xếp các gói hành lý dưới chân ghế xong xuôi, ngồi với Yến một lát thì tôi muốn ra bên ngoài để nhìn cảnh bến cảng Tanjung Pinang thêm một lần nữa trước khi trời tối hẳn. Biết đâu mình sẽ không có dịp đến lại nơi này lần thứ ba, tôi nhủ thầm. 

Trong cái nhá nhem mầu xám bạc của trời chiều, bến tàu Tanjung Pinang vẫn những con đò chèo tay, đò gắn máy chở người chạy ngược xuôi đây đó. Xa xa vài chiếc tàu sắt lớn trôi chậm rì trên hướng ra vùng nước biển rộng trong làn hơi mờ mờ từ mặt nước bốc lên. Ngắm phong cảnh trông thật giống ở bến phà Thủ Thiêm nối liền hai bờ đông-tây của sông Sài Gòn làm tôi chợt nhớ đến gia đình, đến mẹ, các em gái và quê nhà. Tôi đang là một Thôi Hiệu của quê hương khuất bóng và khói sóng trên sông đây.
Hơi nước từ mặt biển thốc lên mang theo mùi hôi như khi sáng làm tôi nhớ lại các bến tàu chân mình đã từng qua. Cái mùi đặc biệt của bến tàu Tanjung Pinang này tương tự như ở bến cảng Kompong Som, bến đò Tắc Cà Mau bên Kampuchia trong chuyến vượt biên lần trước và ở bến đò Thủ Thiêm, nơi tôi đã vài lần ngồi trên ghe máy để sang vùng Khánh Hội nằm bên kia sông Sài Gòn. Các bến đò, bến cảng tít mù khuất lấp đó đang lần lượt về lại trong tâm trí tôi như một đoạn phim ký ức. Dõi mắt nhìn các tòa cao ốc phía trên bờ đảo với các ô cửa sổ có cái sáng đèn, cái không và những cánh trắng chim hải âu chao lên đảo xuống trong vùng xám của mặt biển trời chiều mà hồn thì thả về quê nhà xa lơ xa lắc nơi các thân nhân tôi đang sống. Khuôn mặt già nua của mẹ tôi với mái tóc bạc trắng, làn da nhăn nheo và nụ cười mỗi khi bà gặp mặt người thân. Rồi còn các cô em gái trong nhà, những thân thuộc trong họ và cả bạn bè nữa... Tôi đứng yên lặng thẫn thờ, u hoài.

Một bàn tay khẽ đặt nhẹ trên vai làm tôi quay về khung cảnh hiện tại. Nhìn lại thì ra anh Khảm, tôi lắp bắp:

- Anh! Trông cảnh ở đây tự nhiên em thấy buồn…

Chưa nói hết câu thì anh Khảm đã ngắt lời tôi:

- Anh cũng vậy, chắc đây là chuyến đi lần chót của anh và Phượng. Không biết đến bao giờ trong đời sẽ có dịp gặp lại.

- Gặp lại đây, đảo Tanjung Pinang này?. Tôi hỏi anh.

- Không! Phượng ấy chứ. Vài tháng nữa tới chuyến định cư rồi, anh thì Mỹ còn cô ấy đi Úc... Biết bao giờ gặp lại? Giọng anh Khảm nho nhỏ khi lập lại câu nói. 

Trời hỡi! Thuyền nhân sống tạm dung ở trại tị nạn ai nấy chỉ mong cho mau tới ngày có list đi định cư để làm lại cuộc đời mới, sẽ khác hẳn trước giờ. Tôi tưởng anh Khảm buồn vì đứng trước cảnh sông nước quê người mà động lòng đến quê hương trong nỗi nhớ nhà, nhớ gia đình. Nào ngờ, anh buồn vì biết sắp phải chia tay với chị Phượng. Buồn! Rõ ràng... vì chính miệng anh vừa thổ lộ như lời ai oán. Anh đã quên người vợ anh cùng 2 đứa con nhỏ bên quê nhà? Ở đây chỉ là trại tị nạn, nơi sống tạm ở nhờ của thuyền nhân, nước thứ ba chính là quê hương mới của chúng ta. Anh Khảm từng nói vậy với đám học trò trong các buổi dạy Anh ngữ mà sao bây giờ lại thế. Lậm chị Phượng quá rồi anh... bớt lụy chút chút đi. Tôi định buông vài câu nói thì kịp thời trấn tĩnh khi nhìn vào khuôn mặt anh như có chút nước lấp lánh nơi khóe mắt. Tôi thở nhẹ, im lặng vì đã hiểu. Tình đã sâu, đã nặng thì dễ gì người ta quên ngay được những ngày sống tạm dung bên nhau ở đây. 


                                       (còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét