(tiếp theo)
Dàn đèn cao áp xa xa nơi bến tàu rực cháy hắt
ánh sáng xuống mặt nước biển. Ánh sáng cuối ngày trong cái bảng lảng trời chiều
dần tối làm những cuộn sóng biển nhấp nhô trồi lên, lượn xuống như các thân
thủy quái lúc đen lúc vàng đuổi nhau chạy tuốt vào bờ, không quay lại. Ghe chèo
tay của dân địa phương hối hả đưa người đến bên tàu cao tốc rồi sau đó, họ vội
vã lui về bến để đón thêm các khách mới như chạy đua với thời khắc của một ngày
sắp tàn. Không thấy mặt ông tiến sĩ Tôn, tôi thắc mắc hỏi thì anh Khảm trả lời:
- Ô! Ông Tôn sống ở nhà thương Tanjung Pinang này, tình cờ anh với Phượng gặp ông ta ở gần cái quán nước của cha ba Tàu đó Vũ. Cứ đến ngày thứ Bẩy thì ông ta mò ra đây, lòng vòng mấy chỗ gần bến tàu để mong gặp được người quen từ Galang sang, cho vui.
Rồi anh kể ông tiến sĩ tình nguyện đi sang sống ở nhà thương Tanjung Pinang để trông nom một thuyền nhân sống chung trong barrack từ đảo tị nạn chuyển tiếp, anh nói:
- Ông thuyền nhân đó đi có một mình, mới được Cao Ủy công nhận tị nạn trong đợt xổ thanh lọc vừa rồi thì đổ bệnh, nhà thương bên Galang đưa sang đây chữa, lòi ra ung thư gan.
Nghe vậy, tôi nghĩ hay ông tiến sĩ Tôn đang chăm sóc bệnh cho cụ Hoàng nên hỏi tới nhưng anh Khảm lắc đầu, trả lời:
- Không phải, ông này khác... Mà cụ Hoàng cũng yếu, bác sĩ Luân vẫn cho thuốc bổ uống đấy và cũng chỉ được như vậy thôi, em à.
Tôi rất mừng vì trong lòng vẫn trông có dịp được gần gũi cụ Hoàng để học hỏi, để biết thêm những kiến thức. Tôi mong tuy hình dáng gầy gò, cụ Hoàng vẫn khỏe, tinh anh như đôi mắt sáng quắc khi kể chuyện về Sài Gòn cũ ở các tháng trước, trong lần gặp gỡ tại quán cà phê của bác sĩ Luân.
- Bệnh tình ông này như vầy, không biết rồi sẽ ra sao? Em coi đó...
Anh Khảm bỏ lửng câu nói nhưng tôi đã hiểu khi nhớ lại những nấm mồ của thuyền nhân Việt ở một rẻo rừng bên trại línhMalaysia
cũng như các ngôi mộ vôi trắng mốc thếch của Galang 3. Rồi còn những nơi khác
không ai biết nữa, thiếu gì người vượt biên phải bỏ mạng. Thân nhân của người
nằm dưới tầng đất lạnh này có biết đến phút lâm chung của họ để thương cảm, để
khóc thầm hay chỉ buông lời trách móc vì ngỡ người xưa đã quên, một đi không
lần quay lại.
Tàu cao tốc chợt nổ máy lớn hơn và rồi tài công kéo một thôi còi như thay cho đám khách thuyền nhân nói lời từ biệt đảo Tanjung Pinang trước khi khởi hành về lại bến cũ. Tàu chạy như lúc sáng trong tiếng ù ù chung với nhạc loa, cùng hình ảnh khách ngồi vật vạ trên ghế mà mắt nhắm như ngủ. Những cảm giác nôn nao lại quay trở lại trong người y như lần đi khi sáng, Yến nắm lấy tay tôi, thều thào:
- Em chỉ mong tàu chạy cho mau đến Galang, có về được nhà thì mình mới khỏe.
Chao ơi! Tôi bật cười với ý nghĩ căn phòng trong barrack nay đã là cái nhà của Yến rồi lại bào chữa cho nàng vì thói quen trong suy nghĩ nên mới nói ra như vậy.
Tàu cao tốc chạy mãi chạy mãi trong yên lặng cho đến khi một tiếng còi kéo vang lên như để đánh thức hành khách biết bến nhà đã đến. Tôi và Yến choàng dậy, tay xách túi hành lý, lần lượt theo chân các người khác bước ra khỏi khoang hầm của tàu. Trời bên ngoài giờ đã tối hẳn, chúng tôi đã về lại Galang rồi. Đứng ở sàn cầu bê tông sát thân tàu cao tốc, tôi nhìn lên những căn nhà của dân địa phương lù lù từng cái ở trên bờ hoặc nằm gọn gàng theo lối đi dưới bóng ngọn đèn cao áp. Một khung cảnh im lìm trong lúc sáng mà giờ đây, vẫn cửa kín then cài và không một ánh đèn hắt ra từ các ô cửa sổ. Trông như một bức tranh vẽ về một xóm nhà bỏ hoang dù thực tế có người ở bên trong. Họ làm vậy, chắc hẳn vì được lệnh của đám police phòng P3V mỗi khi có mặt thuyền nhân người Việt ở khu vực cầu tàu như một cách tránh các tiếp xúc không cần thiết.
Tàu cao tốc tắt hẳn máy, trả lại cái yên lặng của bến tàu Galang như một đảo hoang không người ở. Tài công và nhân viên của tàu là những người ra sau cùng. Họ cũng mang cả đống hành lý như các chủ tiệm Galang đi sắm đồ về bán kiếm lời. Tối nay, họ ở lại trại để rồi chiều Chủ Nhật ngày mai sẽ chạy tàu đi Tanjung Pinang đón nhân viên Cao Ủy làm việc cho buổi sáng thứ Hai, ngày đầu tuần mới.
Tôi và Yến theo chân những người khác đi vào căn nhà tiếp khách nhập trại để chờ xe tải của phòng an ninh P3V từ bên trong ra đón. Người thì ngồi kiểm lại đống hành lý để vương vãi trên sàn, người thì đứng bên nhau nói chuyện trong làn khói thuốc lá như màn sương mỏng, người thì thào hỏi chuyện nhau về một việc riêng gì đó... Chúng tôi tập trung chờ, chờ cả nửa giờ đồng hồ mà chẳng thấy xe cộ nào ra đón. Có người đã lộ vẻ bất mãn khi buông ra những câu rủa cộc cằn, tức bực. Cho đến lúc có ánh đèn xe máy xuất hiện rồi tiếng ồn ào bắt đầu khi mọi người trông thấy một police bản xứ dựng xe và bước đến trước mặt.
- Ê! thằng Rudi kìa, vậy là có chuyện rồi.
Đúng như lời người vừa mới nói, gã police tên Rudi cho biết vì cái xe tải được phòng An ninh P3V trưng dụng để kéo một chiếc Jeep mắc lầy ngoài bãi biển lúc chiều nên có thể sẽ đến trễ và y mong tất cả khách chúng tôi thông cảm. Nói xong câu, gã ta bỏ đi đến bên nhóm tài công, nhân viên của tàu cao tốc trò chuyện riêng.
Ai nấy chán nản, tản ra chung quanh thì một tiếng ùm thật lớn phát ra từ hướng cầu tàu bê tông khiến cả đám người phải đưa mắt nhìn. Tiếng một phụ nữ cất lên:
- Cá đớp bóng... Con này lớn lắm, cứ nhìn cái quầng nước kìa các ông.
Anh Khảm kéo tay tôi đi theo vài người khác đến sát bờ nước gần chỗ cầu tàu để xem. Những vòng tròn đồng tâm của quầng nước lớn vẫn còn lan tỏa chạy từng đợt từng đợt vào ven bờ. Đúng là con cá phải thật lớn mới tạo ra tiếng ùm to cùng quầng nước rộng khi nổi lên mặt nước làm mọi người có mặt phải giật mình. Tôi hỏi anh Khảm:
- Con cá gì vậy? Sao người Indo ở đây không bắt nó ăn thịt đi... Lần mới nhập trại em cũng thấy cái vụ cá đớp bóng này. Chắc cũng nó làm.
- Tụi Indo cũng biết ở đây có con cá này chứ nhưng sao lại không tìm cách bắt thì anh chịu. Có thể dân theo đạo Hồi không ăn thịt những con cá quá to cũng như loài vật nào chúi thân ngập xuống bùn. Ở đây nước phải sâu lắm thì người ta mới làm cầu tàu bê tông để ghe thuyền ghé vào được và biết đâu, dưới tầng nước xanh đen này có những rạn đá hay hang động làm nơi trú ẩn của nó.
- Anh có nghĩ đây là cá mập? Nó có thường nổi lên đớp bóng như vậy không? Không ăn thịt thì ít ra cũng phải bắt để xem coi nó là giống cá gì chứ. Tôi hỏi dồn.
- Chẳng rõ. Mà đây trong vùng nước biển thì cũng có thể. Đám trật tự nói với anh là mỗi khi có ghe tàu ghé vào chỗ này thì nó mới đớp bóng nước như vậy. Anh lại nghĩ do tiếng máy tàu cao tốc vọng xuống đáy làm con kình ngư nhức óc nên phải trồi lên.
Sau cùng, chiếc xe tải cũng đến nơi để lần lượt chở đám khách chúng tôi vào trại. Tôi và Yến nhanh chóng trở về căn phòng thân yêu thường ngày của mình. " Phải tắm cái đã ", tôi nói khi trao bịch nylon đựng thịt heo quay cùng bánh mì cho Đỉnh. Bữa ăn tối hôm đó thật thịnh soạn, thật ngon dưới ánh đèn dầu vàng vọt, chỉ tiếc vắng mặt cô Đào. Bẩy cho biết trước khi bày thức ăn ra mâm, Đỉnh đã sớt ra một ít thịt heo quay cùng nửa ổ bánh mì bảo sẽ mang cho Ánh Diễm và còn nói:
- Phải nghĩ đến người ta và có phần cho họ chứ, mấy khi có dịp được ăn tươi như thế này.
Tuần lễ sau đó, chung với niềm vui của những người có tên trong list đi định cư trước hết kể từ lúc có vụ xổ kết quả thanh lọc thì Yến cho biết đã tìm được một căn nhà chủ đồng ý bán, nàng cười tươi khi kể:
- Căn nhà nhỏ xíu nhưng được cái có giếng nước đằng sau, giàn dưa Tây phía trước cùng một cây đu đủ khá lớn trồng bên hông nhà. Chủ đã làm hàng rào bao chung quanh cẩn thận lại còn để giây Mồng tơi đan kín nữa. Em mừng khi mua được nó. Ít ra thì mình sẽ không phải chui rúc trong căn phòng chật chội của barrack lá.
Mình sẽ không phải chui rúc trong căn phòng chật chội của barrack lá. Tôi và Yến sẽ có nhà riêng để ở chung với nhau. Có thật thế không, tôi ấp úng hỏi:
- Sẽ có nhà ở Galang này... cho anh và em... sống trong đó. Phải vậy không?
Không trả lời ngay, Yến im lặng chốc lát rồi khẽ khàng từng tiếng trong ánh mắt nhìn tôi như nghiêm, như đùa rồi nàng ngưng đột ngột:
- Chỉ ở chung thôi... chứ không có...
- Ô! Ông Tôn sống ở nhà thương Tanjung Pinang này, tình cờ anh với Phượng gặp ông ta ở gần cái quán nước của cha ba Tàu đó Vũ. Cứ đến ngày thứ Bẩy thì ông ta mò ra đây, lòng vòng mấy chỗ gần bến tàu để mong gặp được người quen từ Galang sang, cho vui.
Rồi anh kể ông tiến sĩ tình nguyện đi sang sống ở nhà thương Tanjung Pinang để trông nom một thuyền nhân sống chung trong barrack từ đảo tị nạn chuyển tiếp, anh nói:
- Ông thuyền nhân đó đi có một mình, mới được Cao Ủy công nhận tị nạn trong đợt xổ thanh lọc vừa rồi thì đổ bệnh, nhà thương bên Galang đưa sang đây chữa, lòi ra ung thư gan.
Nghe vậy, tôi nghĩ hay ông tiến sĩ Tôn đang chăm sóc bệnh cho cụ Hoàng nên hỏi tới nhưng anh Khảm lắc đầu, trả lời:
- Không phải, ông này khác... Mà cụ Hoàng cũng yếu, bác sĩ Luân vẫn cho thuốc bổ uống đấy và cũng chỉ được như vậy thôi, em à.
Tôi rất mừng vì trong lòng vẫn trông có dịp được gần gũi cụ Hoàng để học hỏi, để biết thêm những kiến thức. Tôi mong tuy hình dáng gầy gò, cụ Hoàng vẫn khỏe, tinh anh như đôi mắt sáng quắc khi kể chuyện về Sài Gòn cũ ở các tháng trước, trong lần gặp gỡ tại quán cà phê của bác sĩ Luân.
- Bệnh tình ông này như vầy, không biết rồi sẽ ra sao? Em coi đó...
Anh Khảm bỏ lửng câu nói nhưng tôi đã hiểu khi nhớ lại những nấm mồ của thuyền nhân Việt ở một rẻo rừng bên trại lính
Tàu cao tốc chợt nổ máy lớn hơn và rồi tài công kéo một thôi còi như thay cho đám khách thuyền nhân nói lời từ biệt đảo Tanjung Pinang trước khi khởi hành về lại bến cũ. Tàu chạy như lúc sáng trong tiếng ù ù chung với nhạc loa, cùng hình ảnh khách ngồi vật vạ trên ghế mà mắt nhắm như ngủ. Những cảm giác nôn nao lại quay trở lại trong người y như lần đi khi sáng, Yến nắm lấy tay tôi, thều thào:
- Em chỉ mong tàu chạy cho mau đến Galang, có về được nhà thì mình mới khỏe.
Chao ơi! Tôi bật cười với ý nghĩ căn phòng trong barrack nay đã là cái nhà của Yến rồi lại bào chữa cho nàng vì thói quen trong suy nghĩ nên mới nói ra như vậy.
Tàu cao tốc chạy mãi chạy mãi trong yên lặng cho đến khi một tiếng còi kéo vang lên như để đánh thức hành khách biết bến nhà đã đến. Tôi và Yến choàng dậy, tay xách túi hành lý, lần lượt theo chân các người khác bước ra khỏi khoang hầm của tàu. Trời bên ngoài giờ đã tối hẳn, chúng tôi đã về lại Galang rồi. Đứng ở sàn cầu bê tông sát thân tàu cao tốc, tôi nhìn lên những căn nhà của dân địa phương lù lù từng cái ở trên bờ hoặc nằm gọn gàng theo lối đi dưới bóng ngọn đèn cao áp. Một khung cảnh im lìm trong lúc sáng mà giờ đây, vẫn cửa kín then cài và không một ánh đèn hắt ra từ các ô cửa sổ. Trông như một bức tranh vẽ về một xóm nhà bỏ hoang dù thực tế có người ở bên trong. Họ làm vậy, chắc hẳn vì được lệnh của đám police phòng P3V mỗi khi có mặt thuyền nhân người Việt ở khu vực cầu tàu như một cách tránh các tiếp xúc không cần thiết.
Tàu cao tốc tắt hẳn máy, trả lại cái yên lặng của bến tàu Galang như một đảo hoang không người ở. Tài công và nhân viên của tàu là những người ra sau cùng. Họ cũng mang cả đống hành lý như các chủ tiệm Galang đi sắm đồ về bán kiếm lời. Tối nay, họ ở lại trại để rồi chiều Chủ Nhật ngày mai sẽ chạy tàu đi Tanjung Pinang đón nhân viên Cao Ủy làm việc cho buổi sáng thứ Hai, ngày đầu tuần mới.
Tôi và Yến theo chân những người khác đi vào căn nhà tiếp khách nhập trại để chờ xe tải của phòng an ninh P3V từ bên trong ra đón. Người thì ngồi kiểm lại đống hành lý để vương vãi trên sàn, người thì đứng bên nhau nói chuyện trong làn khói thuốc lá như màn sương mỏng, người thì thào hỏi chuyện nhau về một việc riêng gì đó... Chúng tôi tập trung chờ, chờ cả nửa giờ đồng hồ mà chẳng thấy xe cộ nào ra đón. Có người đã lộ vẻ bất mãn khi buông ra những câu rủa cộc cằn, tức bực. Cho đến lúc có ánh đèn xe máy xuất hiện rồi tiếng ồn ào bắt đầu khi mọi người trông thấy một police bản xứ dựng xe và bước đến trước mặt.
- Ê! thằng Rudi kìa, vậy là có chuyện rồi.
Đúng như lời người vừa mới nói, gã police tên Rudi cho biết vì cái xe tải được phòng An ninh P3V trưng dụng để kéo một chiếc Jeep mắc lầy ngoài bãi biển lúc chiều nên có thể sẽ đến trễ và y mong tất cả khách chúng tôi thông cảm. Nói xong câu, gã ta bỏ đi đến bên nhóm tài công, nhân viên của tàu cao tốc trò chuyện riêng.
Ai nấy chán nản, tản ra chung quanh thì một tiếng ùm thật lớn phát ra từ hướng cầu tàu bê tông khiến cả đám người phải đưa mắt nhìn. Tiếng một phụ nữ cất lên:
- Cá đớp bóng... Con này lớn lắm, cứ nhìn cái quầng nước kìa các ông.
Anh Khảm kéo tay tôi đi theo vài người khác đến sát bờ nước gần chỗ cầu tàu để xem. Những vòng tròn đồng tâm của quầng nước lớn vẫn còn lan tỏa chạy từng đợt từng đợt vào ven bờ. Đúng là con cá phải thật lớn mới tạo ra tiếng ùm to cùng quầng nước rộng khi nổi lên mặt nước làm mọi người có mặt phải giật mình. Tôi hỏi anh Khảm:
- Con cá gì vậy? Sao người Indo ở đây không bắt nó ăn thịt đi... Lần mới nhập trại em cũng thấy cái vụ cá đớp bóng này. Chắc cũng nó làm.
- Tụi Indo cũng biết ở đây có con cá này chứ nhưng sao lại không tìm cách bắt thì anh chịu. Có thể dân theo đạo Hồi không ăn thịt những con cá quá to cũng như loài vật nào chúi thân ngập xuống bùn. Ở đây nước phải sâu lắm thì người ta mới làm cầu tàu bê tông để ghe thuyền ghé vào được và biết đâu, dưới tầng nước xanh đen này có những rạn đá hay hang động làm nơi trú ẩn của nó.
- Anh có nghĩ đây là cá mập? Nó có thường nổi lên đớp bóng như vậy không? Không ăn thịt thì ít ra cũng phải bắt để xem coi nó là giống cá gì chứ. Tôi hỏi dồn.
- Chẳng rõ. Mà đây trong vùng nước biển thì cũng có thể. Đám trật tự nói với anh là mỗi khi có ghe tàu ghé vào chỗ này thì nó mới đớp bóng nước như vậy. Anh lại nghĩ do tiếng máy tàu cao tốc vọng xuống đáy làm con kình ngư nhức óc nên phải trồi lên.
Sau cùng, chiếc xe tải cũng đến nơi để lần lượt chở đám khách chúng tôi vào trại. Tôi và Yến nhanh chóng trở về căn phòng thân yêu thường ngày của mình. " Phải tắm cái đã ", tôi nói khi trao bịch nylon đựng thịt heo quay cùng bánh mì cho Đỉnh. Bữa ăn tối hôm đó thật thịnh soạn, thật ngon dưới ánh đèn dầu vàng vọt, chỉ tiếc vắng mặt cô Đào. Bẩy cho biết trước khi bày thức ăn ra mâm, Đỉnh đã sớt ra một ít thịt heo quay cùng nửa ổ bánh mì bảo sẽ mang cho Ánh Diễm và còn nói:
- Phải nghĩ đến người ta và có phần cho họ chứ, mấy khi có dịp được ăn tươi như thế này.
Tuần lễ sau đó, chung với niềm vui của những người có tên trong list đi định cư trước hết kể từ lúc có vụ xổ kết quả thanh lọc thì Yến cho biết đã tìm được một căn nhà chủ đồng ý bán, nàng cười tươi khi kể:
- Căn nhà nhỏ xíu nhưng được cái có giếng nước đằng sau, giàn dưa Tây phía trước cùng một cây đu đủ khá lớn trồng bên hông nhà. Chủ đã làm hàng rào bao chung quanh cẩn thận lại còn để giây Mồng tơi đan kín nữa. Em mừng khi mua được nó. Ít ra thì mình sẽ không phải chui rúc trong căn phòng chật chội của barrack lá.
Mình sẽ không phải chui rúc trong căn phòng chật chội của barrack lá. Tôi và Yến sẽ có nhà riêng để ở chung với nhau. Có thật thế không, tôi ấp úng hỏi:
- Sẽ có nhà ở Galang này... cho anh và em... sống trong đó. Phải vậy không?
Không trả lời ngay, Yến im lặng chốc lát rồi khẽ khàng từng tiếng trong ánh mắt nhìn tôi như nghiêm, như đùa rồi nàng ngưng đột ngột:
- Chỉ ở chung thôi... chứ không có...
(còn tiếp)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét