Mười sáu.
Những phỏng đoán lo ngại của thằng học giả được
ông toán trưởng xác nhận ngay sau khi ông nhận được điện của Ban chỉ huy. Người
ta cho biết cách đây hơn một tháng ở bản Mù U đã xảy ra nốt trận dịch tả lan
tràn khắp mọi nhà, mặc dù cơ quan y tế đã tới tiến hành mọi biện pháp nhưng vẫn
không ngăn được thần chết mang di gần nửa số người. Cả bản đã vội vã rút xuống
núi sau khi chôn cất qua loa những người thân. Như vậy nỗi hiểm nguy mang tới
không phải do những con bọ chét mà là những con vi khuẩn còn sống sót trong các
nguồn nước.
“Nhiệm vụ chính trị cao nhất hiện nay vẫn là tiếp
tục kế hoạch thăm dò tới đỉnh Hua Ca. Trong bất cứ tình huống nào cũng không
được bỏ dở...”
Ông toán trưởng cao giọng đưa mắt nhìn khoảng
không trước mặt như muốn tìm ở đó những ngôn từ giúp ông diễn đạt những chỉ thị
quan trọng ông vừa mới nhận được của Ban chỉ huy qua máy VTĐ.
“Nhiệm vụ cao nhất của chúng ta ngay lúc này là
phải rút ngay khỏi đây kẻo chết vì bệnh dịch tả...”
Thằng học giả cướp lời làm ông toán trưởng trừng
mắt:
“Anh khỏi dậy khôn cấp trên. Để bảo đảm sức khỏe
cho anh em, Ban chỉ huy đã quyết định chúng ta phải rút ra khỏi bản Mù U cách
xa năm kilômét theo đường tuyến.
Theo hướng tuyến tức là rời xa khu vực dân cư, xa
con đường xuống núi dẫn tới nơi có xã hội con người để lại đi vào mênh mông
rừng xanh, núi đá trăng nhằm tới cái đỉnh Hua Ca xa xôi nào đó mới chỉ có ông
toán trưởng thấy nó trên bản đồ. Thằng cấp đường không nghĩ ngợi xa xôi, nó hỏi
thẳng vào vấn đề của nó.
“Thế còn gạo? Ăn mãi sắn sao được. Vả lại cứ mót
mãi quanh đây cũng gần sạch cả rồi.”
Giống như một đầu bếp khéo, giờ đây ông toán
trưởng mới dọn ra món ngon nhất:
“Để kịp thời khen thưởng thành tích bước đầu của
anh em, Ban chỉ huy đã cử đồng chí liên lạc chở gạo, thịt hộp, đường sữa lên
tận tuyến cho chúng ta.”
“Hoan hô...”
Tôi reo lên, vỗ tay đồrn độp và đắc ý nhìn thằng
học giả. Thấy chưa, cứ lo lắng hão, cấp trên người ta chu đáo nhìn thấy hết, lo
cho hết, mình cứ tin tưởng tuyệt đối, tập trung lo làm cái nhiệm vụ của mình.
Tuy nhiên, nó không thiết để ý tới vẻ châm chọc của tôi, mặt nó cứ đần ra lo
lắng:
“Không hiểu kỳ này liên lạc vào có mang thư cho
anh em không.
“Cái trước hết là liệu có ai viết thư cho mày
không đã, nếu có ắt liên lạc phải mang theo rồi. “
Mặc cho cả bọn phá lên cười, nó vẫn lầu bầu:
“Tao sợ nó mải lo thịt hộp với đường sữa quên mất
thư tao.”
Chúng tôi chuyển khỏi bản Mù U ngay hôm đó. Ngang
qua khu nhà mồ tôi ghé xuống quăng cho con chó mẩu sắn luộc Nó vẫn chưa chết
như tôi tưởng, ngược lại còn có vẻ khá hơn mấy bữa trước. Nó ngước mắt nhìn tôi
rồi cúi xuống ngoạm củ sắn nhai khó nhọc. Tôi vỗ nhẹ vào đầu nó:
“Thôi, vĩnh biệt mày, mày đã chọn cái chết theo
chủ, tao có can cũng chẳng được, chúc mày sớm gặp lại chủ ở bên kia thế giới.”
Khi tôi bước đi, bỗng nó sủa lên oăng oẳng. Hình
ảnh cuồl cùng tôi được thấy trước khi đi vào lối rẽ ngoặt là nó cố gượng đứng
dậy, lảo đảo đi gần lại ngôi mộ mới đắp.
Mãi gần trưa bọn tôi mới đi cách xa khỏi bản Mù U
và tìm được sườn núi thoai thoải làm chỗ trú quân. “Quan ôn”đã lùi lại chắc
không còn đuổi theo bọn tôi tới tận cái hốc núi tối mù này nữa. Sau khi đi xem
xét khắp bốn xung quanh, thằng học giả đắc ý xoa tay:
“Tao đã tìm kỹ rồi, không một vết chân người,
chắc chắn vi trùng dịch tả không bén mảng tới đây được.”
Mấy hôm nay mới lại thấy nó tươi tỉnh, rũ được
cái vẻ gà rù. Nó huyên thuyên kể về những vụ dịch tả lớn trên thế giới làm chết
mấy thành phố, người ta buộc phải kéo cờ đen trên những con tàu chở người bệnh
và thế là nó cứ lênh đênh vĩnh viễn ngoài biển khơi, không một hải cảng nào dám
cho cập bến... Hết chuyện dich tả nó chuyển sang chuyện dịch hạch rồi nhảy sang
dich tự tử vì tình của các cô gái thành phố, toàn những chuyện chắc nó đọc
trong sách thôi, tôi chỉ lấy làm lạ mới có tý chút hơi hướng những bức thư tình
thằng liên lạc có thể mang tới và tránh xa cái nguy cơ dịch tả mà thoắt cái nó
biến ngay thành người vui vẻ, khỏe mạnh, yêu đời. Tuy nhiên sáng hôm sau, khi
ông toán trưởng thổi còi đi làm, tôi lại nghe tin nó ốm, phải nghỉ. Nhìn cái
võng của nó vẫn mắc màn sùm sụp, tôi chạy đi hỏi thằng hộ pháp:
“Thằng học giả sao thế? Không khéo nó bị thổ tả
thì toi...”
Thằng hộ pháp có vẻ không ngạc nhiên như tôi, nó
chỉ cười nhếch miệng:
“ối giào nó cảm cúm qua loa thôi, hôm nay tao với
mày mỗi thằng phát dấn lên một tý thay nó vậy”.
Mặc dầu mới có mấy củ sắn luộc nhét bụng, thằng
hộ pháp vẫn vung dao hăng hái lắm, nó lại còn giục tôi nhanh tay lên, đạt năng
xuất cho xong để về sớm. Bởi vậy hôm nay dù bọn tôi gặp toàn các thứ khó gặm
như song mây, tre gai mà mới xế chiều ông toán trưởng cộng sổ đã thấy đi được
hơn hai kilômét rồi. “Vậy thôi về...”, thằng hộ pháp nhẩy cẫng lên và cuộn lại
cái thước vải đo đường. Ông toán trưởng im lặng đồng tình, không bắt chúng tôi
làm tới hết giờ để vượt năng xuất như mọi khi. Trên đường về thằng hộ pháp cứ
nhảy thoăn thoắt qua những tảng đá rêu trơn như đổ mỡ rải rác tronglòng những
con suối cạn, miệng tủm tỉm như có điều gì vui lắm làm tôi phải quát nó đi chậm
lại không ngã gãy cổ. Vừa về gần chỗ trú quân, tôi đã thấy thằng cấp dưỡng đứng
đón ở đầu dốc mặt mũi hí hửng.
“Chúng mày về sớm the là hay lắm. Tao cũng vừa
xong xuôi mọi thứ. Hôm nay tao đãi chúng mày một bữa đại tiệc”.
Nó khoe sáng nay nó mới bắn được con cheo nặng cả
chục kí lô, thịt mềm và thơm lắm, thứ thì nướng, thứ nấu rựa mận, thứ xào lăn,
chỉ tiếc không đánh được tiết canh vì khi bắn, nó chảy hết cả máu. Thằng học
giả cũng đang lăng xăng dọn bát, xệp đũa, múc thức ăn. Dường như hơi thịt đã
làm nó hết sạch cả cảm cúm. Thằng hộ pháp cứ để nguyên cả giày lẫn ghệt, xấn
tới, vỗ hai tay vào nhau:
“Nào, tế sớm khỏi ruồi...”
Quả thực suốt từ ngày bắn được con lợn rừng, ba
tháng nay chúng tôi không động tới miếng thịt, thiếu đạm động vật. người mệt
mỏi, da khô, mắt mờ, đêm nằm mơ thường chỉ thấy mình sắp được ăn món nọ, món
kia, món nào cũng kề miệng rồi tỉnh giấc. Bởi vậy mới chỉ đặt miếng thịt cheo
vào đầu lưỡi đã thấm cái vị bùi bùi của nó chạy lan khắp người, rung chuyển cả
hệ thấm kinh và rồi dạ dày như được đánh động, co bớp thật mạnh để đón chờ
những dưỡng chất thần kỳ, từ lâu rồi đã vắng mặt. Bọn tôi ăn rào rào không
thằng nào hé răng nói nửa lời khỏi ảnh hưởng tới công việc đang làm một cách
hết sức chăm chú. Ông toán trưởng cũng bỏ thói quen ăn riêng mỗi ngày và bằng
vào cung cách của ông, tôi ngờ ông cũng có một cái dạ dày khỏe khoắn không kém
gì bọn tôi. Đó quả là một bữa tiệc ngon nhất trong đời mà rồi sau này dù có vào
các nhà hàng sang trọng gọi những món ăn đặc biệt, những người ngồi đây khó mà
gặp đợc một bữa nào ngon miệng hơn.
Ngược với lần ăn thịt lợn rừng, tối nay cả bọn chui
lên võng nằm sớm, trừ ra mỗi thằng học giả vần lúi húi ngồi bên đống lửa làm
cái công việc rút ruột viết thư quen thuộc của nó. Tôi nhắm mắt ngủ ngay và rồi
dường như có tiếng chó tru thảm thiết làm tôi thức giấc. Đêm đã khuya lắm, cái
giá buốt thấm qua lần võng len vào người làm tôi run bần bật. Tôi ngồi nhỏm
dậy, nhảy xuống đất đi tới đống lửa ấm áp. Thằng học giả vẫn kéo dài những
gióng chứ như giun bò, ngước lên nhìn tôi ngạc nhiên.
“Rét không ngủ được, tao phải dậy sưởi lửa.”
Nó ký loằng ngoằng bên dưới trang giấy đặc sệt
chữ, gấp cuốn sổ lại, lẩm nhẩm:
“Lời mà không có tư tưởng bay sao được lên thiên
đàng?”
Tôi đập tay vào người nó:
“Lạ lắm mày ạ, mình cách bản Mù U xa thế sao tao
vẫn nghe thấy tiếng con chó ấy tru lên”.
“ Con chó nào?”
“Con chó nằm chờ chết bên mộ chủ nó ấy”.
Thằng học giả bỗng bật lên cời sằng sặc, cúi gập
cả đôi người lại.
“Có cái gì mày cười dữ thế?”
“Tao cười cái bệnh hoang tưởng của mày đấy. Cái
con chó bản Mù U chết ròi còn đâu mà tru lên được nữa?”
“Chết hồi nào, hôm qua chuyển quân tao còn thấy
nó.”
Nó nhìn thẳng vào tôi, đầy chế riễu:
“Thằng ngu, con chó ấy chết rồi. Nó chui cả vào
bụng mày chiều nay đấy thôi”.
Tôi lặng người, hiểu ra mọi chuyện. Trời ơi, thật
tôi không ngờ...
“Mày không việc gì phải đớn đau sầu não như thế.
Đằng nào con chó ấy cũng chết, vậy tao hỏi mày 10 kilôgram prôtít ấy nên để cho
nó thôi rữa ngoài rừng hay nên cho nó chui vào năm cái dạ dày đói kia. Đằng nào
lợi hơn?”
Tôi muốn hét lên cái lý lẽ đó chỉ có ở những cái
đầu lắm sách vở, lắm chữ nghĩa như nó. Tuy nhiên, cổ tôi tắc nghẹn, không nói
được câu nào, vả lại làm sao tôi cãi nổi nó, cái thằng trí thức nửa vời ấy.
“Lẽ ra thằng cấp dưỡng còn định vỗ béo một thời
gian nữa, chiều nào nó cũng dấu mày mang cho con chó bát cơm. Ngặt vì cái bệnh
thổ tả kia làm mình phải chuyển đi xa quá nên đành phải thịt sớm. Thế là sáng
nay tao cáo ốm ở nhà để giúp thằng cấp dỡng một tay. “ -
Tôi thốt lên bằng cái giọng khàn khàn: -
“Thằng nào bắn.”
“Lẽ ra là thằng cấp dỡng. Nhng lúc nó xách súng
tới gần, con chó lại ve vẩy đuôi, mừng rỡ, tưởng nó mang cho ăn như mọi khi làm
nó sợ quá loay hoay mãi không dám bóp cò. Tao chờ sốt cả ruột, bèn giằng ngay
lấy súng, đòm một phát vào giữa đỉnh đầu. Con chó còn ngáp được một cái rồi mới
chết.”
Nói xong nó ợ lên một cái. Chẳng hiểu sao tôi
cũng ợ lên theo nó rồi tôi bỗng thấy nôn nao cả ngời, hai bên tai ù ù như gió
đánh, mặt mày sây sẩm, tôi cố gương đứng dậy, lảo đảo đi về võng nằm vật mặc
thằng học giả chạy theo hỏi rối rít:
“Mày sao thế? Trúng gió hả? Phải trúng gió
không?”
Nằm lọt thỏm người trong chiếc võng đu đưa, tôi
thấy mình bồng bềnh như đang trên một chiếc mảng gỗ bị xô đẩy bởi muôn vàn con
sóng dữ ngoài biển khơi. Người tôi như bị dồi lên, dập xuống, cố ói ra hết mọi
thứ trong người nhưng cổ bị vít chặt nên đành chịu vật mình vật mảy trong cái
cảm giác buồn nôn đang quẫy lộn trong người.
Theo lời thằng cấp dưỡng kể lại, ngay đêm hôm đó
thằng học giả đã xách quần chạy cả chục lần ra rừng ôm bụng kêu trời làm tất cả
mọi người phải trở dậy, trừ ra có mỗi tôi ngủ như chết. Sáng hôm sau thằng học
giả không còn sức chạy ra xa nữa, cứ mười lăm hai mươi phút nó lại phải nhờ
thằng hộ pháp xốc nách tụt xuống võng, ngồi lên cái ống bương thật to. Bao
nhiêu nước trong người nó đã thoát ra gần hết, mới chỉ sau không đầy một ngày
đôi mắt đã hõm xuống, thân hình tóp lại, nằm thụt sâu trong võng, nó rên hừ hừ:
“Tao chết đến chân rồi chúng mày ơi... dịch tả...
đúng là dịch tả rồi...”
Thằng cấp dưỡng đốt một đống lửa ngay cạnh nó,
thỉnh thoảng lại ép nó uống bát nước nấu lá ổi rừng mà thằng hộ pháp mò mẫm
suốt cả buổi sáng mới kiếm ra. Ông toán trưởng lục túi thuốc, tiêm một ống nước
gì đó, nó ngủ thiếp đi được một lát rồi lại mở hé mắt nhìn bọn tôi, kêu toáng:
“ối giời ơi tao chết đến bụng rồi chúng mày ơi,
khiêng đi, khiêng tao xuống bệnh xá đi. Tao sắp chết dịch tả rồi đây khiêng
đi...”
Ông toán trưởng chạy tới, quát to:
“Làm cái gì cuống lên thế? Dịch tả đâu nào, cậu
bị kiết lỵ thôi, nốc cho lắm thịt chó nướng vào rồi lại uống nước chưaa
sôi....”
Thằng học giả mở mắt nhìn ông toán trưởng và thật
bất ngờ, nó chắp tay vái lia lịa:
“Thủ trưởng ơi, em lạy thủ trưởng, thủ trưởng
lệnh cho bọn nó khênh em đi trạm xá cho em sống, đúng là em sắp chết vì bệnh
thổ tả rồi đây...”
“Thổ tả thì phải miệng nôn trôn tháo chứ, cậu có
bị nôn đâu mà lại đi ra phân lầy nhầy, chả phải kiết lỵ là gì?”
Tôi phải lôi ông toán trởng đi chỗ khác đỡ cho
thằng học giả đang lên cơn tuyệt vọng phải lạy lục, van xin và đỡ cho tôi phải
nhìn cái cảnh khổ tâm ấy. Ông nhất định không cho tôi và thằng hộ pháp khiêng
nó quay trở lại đường mòn, xuống núi tìm trạm xá. Ông bảo rằng nó bị kiết lỵ
thôi và đã cầm đợc tiêu chảy rồi, chẳng còn gì đáng lo nữa. Ông phàn nàn chưa
thấy một thằng nào hèn đớn, ham sống sợ chết như cái thằng này. Tôi bảo ông
rằng nó mới đốc chứng ra kể từ hôm nó quyết định cuối năm nay về cưới vợ đấy
thôi; ngày trước đâu đến nỗi thế? “Càng ham ho lại càng sợ chết” nghe tôi nói
vậy ông chỉ nín lặng. Tôi ngờ rằng ông tưởng tôi nói móc cả chính ông. Thôi kệ,
lúc này lòng dạ đâu nghĩ chuyện đó, tôi quay lại chỗ thằng học giả đang mê
sảng.
“ối giời ơi tôi dại quá, giá như tôi đừng có ăn
thịt cái con chó chết ấy thì đâu đến nỗi này... Chúng mày ơi, tao chết đến cổ
rồi đây này... Sao không khiêng tao đi, bọn dã man... ấy ấy, đôi mắt con chó
lại nhìn tao đấy... Nó làm tao nhớ tới đôi mắt của mẹ tao cũng nhìn tao như
thế... Con ơi con giết bố rồi con ơi...”
Nó òa lên khóc vật vã làm cả tôi lẫn thằng hộ
pháp phải gồng cứng đôi tay mới giữ được nó nằm yên trên võng. Đêm đó cả hai
đứa phải thức canh nó. Thằng hộ pháp nhìn rất lâu vào ngọn lửa, mặt bần thần:.
“Con chó thiêng thật, không khéo nó vật chết
thằng học giả”.
Nếu đúng thế thật thì nó phải vật chết cả năm
thằng chứ?”
“Không, nó chỉ thù thằng nào bắn nó thôi. May cho
tao, suýt nữa tao tranh với thằng học giả ở lại bắn chó.”
“Mày là thằng mê tín...”
Nó không cãi chỉ nhếch miệng cười:
“Mày là thằng mê tín...”
Nó không cãi chỉ nhếch miệng cời:
“Ngày thường nén hương không mất, lúc gấp ôm Phật
mà kêu. Kia kìa, mày không nghe thằng học giả lầm bầm cái gì sao? Nó cầu bố nó
đấy, nãy tao nghe đợc lõm bõm: Lạy cha sống khôn chết thiêng phù hộ cho con...
ấy thế mà hàng ngày mày đã nghe nó nói sách giỏi chưa? “
Về cái điều này tôi phải chịu nó, con người ta
chỉ thừa nhận trời, Phật khi cần tới Ngài. Tôi hỏi nó có tin rằng “tít tịt trên
cao” kia có một đấng Thợng đế toàn năng không, nó lắc đầu:
“Tao không tin có một ông như thế, nhưng tao tin
có những phép lạ...”
Một trong những “phép lạ” nó kể là chiếc áo lót
của nó mà cứ mỗi lần con vợ thằng xã đội cho vào nồi đất rang lên là ruột gan
nó cứ nóng như lửa đốt, vừa nhớ thương vừa lo lắng.
“Sau này nó nói tao mới biết vì sao nó đòi giữ
bằng được áo lót của tao. Lạ một điều những lần nó mang áo tao ra rang, tao đều
nghiệm thấy đúng hệt, cha mẹ ơi, ruột gan cứ bổi hổi bồi hồi.”
Nhìn vẻ mặt của nó, tôi bật cười:
“Chắc lúc này nó đang mang áo mày ra rang đây”.
Thằng hộ pháp thở dài đánh sượt:
“Chả biết được, không khéo nó lại đang quắp thằng
chồng nó cũng nên.”
“Nếu đúng thế mày có ghen không?”
Nó lại thở đài nữa:
“Tức chết đi được ây chớ. Nhưng mình cũng phải
thông cảm cho nó là đàn bà, đêm đông rét mướt cưỡng thế nào được cái thằng đàn
ông nằm cùng một giường. Vả lại, nó vẫn đang còn là vợ thằng xã đội kia mà,
thằng đó mới đáng phải ghen...”
Nó lại cười hềnh hệch làm sáng khuôn mặt rất trẻ
thơ của nó. Thằng này đúng ruột để ngoài da, vui đó buồn đó, chẳng giữ được cái
gì lâu trong đầu, trừ ra mỗi hình ảnh con vợ thằng xã đội. Quả nhiên, quẩn
quanh một hồi rồi nó lại quay lại chuyện đó:
“Tao nghĩ kỹ rồi mày ạ. Kỳ này nghỉ phép: tao về
rủ nó bỏ thằng kia trốn lên bản Mù U ở với tao. Mấy bữa trước tao đã đi khắp cả
bản xem xét kỹ lắm rồi. Thung thổ rất tốt thuận tiện chăn nuôi, làm rẫy. Tao
còn tìm được cả một cái nhà toàn bằng gỗ rất chắc chắn. Chịu thương chịu khó
thì chỉ sau một vụ tha hồ ngô, sắn đầy nhà. Mà mẹ kiếp, hai đứa đã đem nhau tới
đây thì mười thằng xã đội cũng chả biết được đâu mà tìm. Cả bản nó rời hết đi
rồi, cả cái tên Mù U cũng rời luôn, thế là chẳng còn lo đăng ký kết hôn với
đăng ký hộ khẩu con mẹ gì nữa. Mày bảo tao tính thế có xuôi không?”
Tôi vạch cho nó một khả năng:
“Thế nào thằng xã đội cũng tìm tới Ban chỉ huy,
thế nào Ban chỉ huy cũng chỉ đường cho nó lên đây. Còn ở cái xứ này mày chạy
đâu cho thoát.”
Đúng nó chưa nghĩ tới chuyện đó, mặt nó nghệt ra:
“Ừ nhỉ, nó ngu gì mà không tìm tới Ban chỉ huy.
Hay tao xin cac ông đó chớ có chỉ đường cho nó.”
“Không được, nguyên tắc tổ chức ai người ta che
giấu cho mày tội quyến rũ vợ người khác.”
“ừ nhỉ, thế còn nước non gì, mẹ kiếp, đã đưa nhau
tới cái nơi u tỳ này còn chửa yên thân biết làm sao giờ?”
Nó lại ngồi ngẩn, mặt dài thượt và rồi dường như
không chịu nổi những nghĩ ngợi căng thẳng, nó lại toét miệng ra cười:
“ối già, bấc đến đâu dầu đến đó, tính toán trước
chẳng ăn thua mẹ gì hết, cứ thích thì làm thôi...”
“Phải đấy, cứ thích thì làm thôi, biết đâu mà
tính trước...”.
Nghe tôi xui thế mắt nó sáng lên:
“ Nhất định tao sẽ làm, kỳ này về phép tao sẽ mua
sẵn hạt giống cải, vài con lợn con, gà vịt thì không nên mua ở dưới xuôi, sợ
lên đây không hợp thung thổ, màn với chăn bông có rồi, chỉ cần một chiếc chiếu
cạp điều thôi, ôi già, chả tốn hết mấy, bò có rồi, còn cái chuồng nữa thôi, ăn
nhằm gì...”
Tôi không nhịn được cười:
“Phải rồi, chỉ lo con bò cái của mày nó không
chịu theo mày lên rừng thôi.”
“Ha ha, mày lại giở cái giọng gà sống thiến ra
rồi, chỉ có những thằng như mày mới không tin ở đàn bà thôi. Mày có biết nó đã
bảo tao như thế nào không, nó bảo: anh ơi, một đêm ở với anh bằng ba năm em ở
với chồng. Nó còn bảo khắp cả cái xã này, khắp cả cái huyện này, em chỉ thấy
mỗi anh là đàn ông thôi, còn toàn những thằng chỉ đáng mặc quần đàn bà. Ây đấy,
ăn thua ở cái chỗ ấy đấy. Giờ lên rừng chứ bảo xuống biển nó vẫn theo tao.”
Nó nói bằng cái giọng khỏe khoắn và chắc chắn như
đóng đanh lên cột làm tôi cũng phấn chấn, hoa chân múa tay theo nó. Tôi bàn sắp
tới khi đến được đỉnh Hua Ca, tôi cũng sẽ có một số tiền góp cho nó sắm sửa và
lúc đó tôi cũng có thể đi phép cùng nó giúp một tay giải thoát con vợ thằng xã
đội. Thế thì chỉ có nhất, nó cười thích chí, mày sẽ đưa nó đi một hướng, tao đi
hướng khác để đánh lạc thằng xã đội, bố nó cũng chẳng mò ra.”
Thằng học giả bỗng rên hừ hừ và đòi uống nước làm
đứt đoạn câu chuyện. Khi uống xong trả lại tôi cái bát, nó trừng mắt:
“Mày đừng có xúi thằng hộ pháp làm bậy. Manh động
chỉ có chết thôi. Biết chưa?”
(còn nữa)
PHỤ LỤC :
Lời phát biểu của nhà văn Nguyễn Mộng Giác.
( trong
buổi ra mắt "Đi về nơi hoang dã"
tại trụ sở "LittleSaigon Radio " - Westminster - Quận Cam -
California ngày 7-4-2001 )
(tiếp theo)
Cái điều bất thường thứ hai, theo cái điều bất
thường về những sự bí mật , những viết lách riêng tư của các nhà văn miền Bắc
mà tôi vừa nói đến , là ngay trong cái
thời kỳ ngắn ngủi trong vòng 3 năm từ 88-91 thì một số những tác phẩm gọi là
"phản kháng" lúc bấy giờ ra đời mà chúng ta đã biết như là "Thiên đường mù" của Dương Thu
Hương, hay là "Lá rụng trong vườn"
của Ma Văn Kháng, hay là "Thời xa
vắng" của Lê Lựu hay là những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, hay là
kịch của Lưu Quang Vũ , hay là "Nỗi
buồn chiến tranh" của Bảo Ninh thì tất cả những cuốn kia đều được hay
là bị dư luận trong nước ca tụng hay là phê phán một cách nồng nhiệt dữ dội,
đến nỗi nhờ cái ca tụng hồi đó mà hải ngoại chúng ta chú ý , dư luận báo chí
Tây phương chú ý , và hầu hết tác giả tác phẩm được dịch thuật và phổ biến rộng
rãi thì cuốn " Đi về nơi hoang dã" hoàn toàn rơi vào im lặng.
Tôi có may mắn được đọc cuốn này ngay từ khi được
xuất bản năm 1990 và vô cùng ngạc nhiên không hiểu tại sao một cuốn như thế này
mà trong nước không hề nhắc đến một chữ, không hề được giới thiệu , không được
nhắc nhở , và vì trong nước không nhắc nhở nên ngoài này cũng không biết , và
có biết thì cũng cho nó là một tác phẩm
bình thường.
Có một hiện tượng mà không biết là quý vị có lưu
ý không , nhưng mà thực tế là chúng ta chỉ quan tâm đến những tác phẩm mà chính
quyền cộng sản có biện pháp , chẳng hạn như là cuốn "Chuyện kể năm 2000" vừa bị tịch thu thì chúng ta tò mò ,
chúng ta ồ ạt , phổ biến trên internet và chúng ta in ra và bàn luận thành
phong trào, nhưng mà nếu như cuốn đó không bị tịch thu thì có thể là cái kinh
nghiệm lao tù của Bùi Ngọc Tấn cũng không ai quan tâm.
(còn tiếp)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét