Tổng số lượt xem trang

Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2015

PHẠM THẮNG VŨ - Con sóng dữ - KỲ 84

                                      (tiếp theo)

Tôi giơ tay kéo một chiếc ghế từ cái bàn kế bên để cho Yến ngồi thì một người đàn ông từ bên trong quán tiến đến hỏi với giọng lơ lớ tiếng Việt:
- Uún dzì... Uún dzì.
Chưa kịp trả lời ông người Tàu này, chị Phượng cất tiếng:
- Em và Yến uống sâm bổ lượng đi cho nó mát
Và không chờ hai đứa tôi gật đầu thì chị giơ 2 ngón tay hình chữ V rồi bập bẹ tiếng Indo trước sự ngạc nhiên của tôi:
- Hei! asupan makanan ginseng.
Người đàn ông Tàu gật đầu, nở nụ cười với cả nhóm người chúng tôi rồi y quay trở vào bên trong liền, tôi vừa kéo thêm một chiếc ghế nữa rồi ngồi xuống bên cạnh với Yến vừa nói:
- Trời! Chị Phương xổ tiếng Indo rôm rốp nha, lần đầu em mới biết đó anh Khảm.
- Chị mà biết gì tiếng Indo em, ông chủ tiệm Ba Tàu này mới dạy chị đó. Chị Phượng trả lời tôi.
Rồi chị kể là khi cùng anh Khảm đi lòng vòng trong khu chợ thì vô tình gặp ông tiến sĩ Tôn và cả hai người họ đã theo chân ông ta đến quán này mới biết có quán nước giải khát của người Tàu bán thức uống in hệt bên Việt Nam từ cà phê, nước ngọt như Cocacola, đá chanh, sữa đậu nành và đặc biệt là Sâm Bổ Lượng, một thức uống có nguồn gốc từ vùng Quảng Đông bên Tàu. Từ khi đến đảo tị nạn Galang bây giờ tôi mới thấy lại nó, thứ nước giải khát mà nghĩ là chỉ có bên Việt Nam mình. Tôi đảo mắt nhìn chung quanh của quán nước, một cái bàn kiểu như xe bán nước sinh tố bên quê nhà được đặt cố định ở một góc lối đi ra sau quán mà trên bày chật các chai thủy tinh Colacola, 7 up, bình chanh muối cùng các khay chứa rong biển thái sợi, nhãn nhục, bo bo và hạt sen nấu chín. Cạnh đó là tủ kiếng nhỏ chất các phong bánh Bía, đậu phọng da cá cùng các gói thuốc lá như Garam Gudang, President, Hero, Delapan và 555... Hai ông khách địa phương ngồi im lặng mà mắt họ dán vào cái TV treo trên tường đang chiếu một cảnh thời sự trong vùng. Tôi cũng nhận ra ba bà người Việt, chủ các tiệm bên trại tị nạn Galang ngồi ở cái bàn có hướng quay ra phía một bên đường khác đang lầm rầm trò chuyện với nhau. Tay một bà có cây bút cùng quyển sổ nhỏ như đang kết toán về hàng hóa mới mua được trong các túi xách, bao tải nhỏ nằm gần chân họ trên sàn của quán. Tôi đã hiểu tại sao ông chủ quán người Tàu ở đây biết nói chút tiếng Việt. Thuyền nhân Việt bên đảo Galang khi vì công việc riêng phải đến đây thì chắc chắn họ sẽ ghé lại quán nước này do cái vị trí của nó gần với bến cảng.

Khi ông chủ quán bưng hai ly Sâm Bổ Lượng mang ra bàn cho tôi và Yến rồi thì ông tiến sĩ Tôn nói tiếp về chuyện người Hoa.
- Xếnh xáng, hoa kiều hay đơn giản gọi là Ba Tàu khi sống ở đâu thì họ cũng đều nhanh chóng hòa đồng với người dân tại địa phương đó. Hầu như trong buổi đầu thì họ sẵn sàng làm bất cứ công việc gì để sống trước đã rồi dần dà tích cóp tiền bạc và bắt đầu tự mình kinh doanh lấy một nghề gì đó thí dụ như cái ông chủ quán này... rồi từ từ sẽ tiến cao hơn. Nhưng dù có sống bao nhiêu năm xa quê hương đi nữa thì họ vẫn là dân Ba Tàu, vẫn giữ tiếng nói riêng cùng phong tục tập quán, tín ngưỡng của tổ tiên mình.
- Người ta nói ở nước nào trên thế giới cũng có mặt dân Tàu. Anh Khảm xen vào.
- Đúng là vậy!
Ông tiến sĩ Tôn gật gù cái đầu và tiếp:
- Cái câu này nó cũng giông giống cái câu mặt trời không bao giờ lặn ở nước Anh trong thời kỳ chinh phục thuộc địa của thế kỷ 18. Khi đó Anh quốc hùng mạnh lắm, còn hơn vị thế của nước Mỹ bây giờ, lá cờ của họ cắm trên nhiều vùng đất thuộc đia từ Á rồi Phi Châu và còn kéo dài đến tận châu Úc nữa. Đó cũng là lý do mà tại sao nhiều nước nói chung ngôn ngữ với nước Anh.
Ông tiến sĩ ngưng lại một chút rồi nói:
- Câu dành cho nước Anh bây giờ đã sai nhưng vẫn đúng với dân Ba Tàu.
- Dân Ba Tàu đến nước mình từ thời chúa Nguyễn phải không anh? Người ta bảo hồi đó nước Tàu loạn lắm nên dân họ phải chạy tứ tung. Anh Khảm hỏi.
Không trả lời ngay câu hỏi của anh Khảm mà ông tiến sĩ Tôn ngồi yên trong chốc lát như thầm ôn lại các ký ức về lịch sử rồi sau đó mới chậm rãi kể:
- Cũng do sự sụp đổ của nhà Minh trước sắc dân du mục Mãn Châu. Đám Mãn Châu này khi chiếm được toàn bộ đất đai Trung Hoa rồi thành lập triều đại mới mà mình nghe tên là nhà Thanh. Nước mất rồi nhưng đám con cháu, vong thần nhà Minh vẫn cố sức chống lại bằng cách dựa vào vùng duyên hải ở miền nam Trung Hoa cũng như liên kết với các đám hải tặc Tàu Ô ngoài biển để khuấy phá quân triều đình nhà Thanh. Để đối phó lại thì nhà Thanh mới ra lệnh buộc dân chúng sống ở vùng duyên hải từ tỉnh Sơn Đông đến Quảng Đông phải dồn vào sâu trong nội địa. Tất cả các làng mạc, hải cảng, thành phố, ruộng đồng đều bị bỏ hoang và biện pháp của nhà Thanh đã khiến phần lớn dân chúng sống trong các vùng này đành phải rời bỏ quê hương để tìm cư trú ở một nơi khác. Chính họ đã là các làn sóng thuyền nhân Ba Tàu đầu tiên đến nước Việt mình trong thời chúa Nguyễn như đám vong thần Dương Ngạn Địch, Trần Thắng Tài... Cũng thời gian đó thì còn có các đám dân nhà Minh khác tìm đến những nước như Khmer, Lào, Thái hoặc xa hơn là Malaysia và Indonesia nữa. Ở các vùng đất mới này, nếu gặp nơi còn bỏ hoang thì thuyền nhân Ba Tàu sống bằng nghề nông là chính và họ chỉ chuyển sang nghề buôn bán, thủ công khi gặp nơi có dân cư đông đúc. Đó là thời kỳ ra đời của các làng gọi là Minh Hương ở Việt Nam trong vùng lưu vực sông Cửu Long, vùng Biên Hòa và Gia Định-Chợ Lớn... Dân Ba Tàu còn di cư sang tận bên châu Mỹ nữa kìa.
Tôi ngồi yên, chút ký ức vẫn nhớ truyện kể là lịch sử ngành hỏa xa bên Hoa Kỳ trong buổi đầu gắn liền với các di dân người Trung Hoa và trong quyển Papillon, một tự truyện của tác giả Henry Charrie, cũng có mặt họ ngay cả ở các hải đảo đèo heo hút gió của vùng Nam Mỹ nữa. Nghĩ nhưng mà thắc mắc, thêm vào đó câu nói vừa rồi của ông tiến sĩ nên tôi hỏi:
- Thưa chú, dân Ba Tàu di cư sang Mỹ vào khi nào?
- Đó là giai đoạn sau này chứ thời chúa Nguyễn thì chưa cậu à.
Ông tiến sĩ Tôn trả lời tôi rồi như muốn mọi người được rõ hơn, ông tiếp:
- Dân Ba Tàu có 2 giai đoạn di cư và trong cả 2 lần này đều khác nhau nguyên nhân. Lần đầu như tôi vừa nói trong cuối thế kỷ thứ 17 họ bỏ nước vì lý do chính trị nhưng ở lần sau thì lại do vấn đề kinh tế mà ra. Nhà Thanh, với các vị vua đầu tiên như Thuận Trị, Khang Hy, Ung Chính biết chăm lo việc nước nên đã làm kinh tế Trung Hoa khi đó phát triển mạnh. Đến thời vua Càn Long vẫn còn kha khá nhưng sau khi ông vua này chết rồi thì các vị vua sau lại sa vào con đường ăn chơi xa hoa, bỏ mặc triều chính nên làm suy yếu đất nước rồi cộng thêm sự xâu xé của các nước tư bản phương Tây khi đó đã vào được Trung Hoa rồi, làm cho đời sống dân Ba Tàu càng lúc càng khổ, kiệt quệ hơn. Dân chúng bỏ làng đi đến các thành phố lớn để thoát đói nhưng cũng kiếm không ra việc nên buộc lòng họ phải nghĩ việc ra nước ngoài kiếm sống. Chính lúc đó, năm 1845 xuất hiện 2 trung tâm mộ phu tại các tỉnh Phước Kiến và Quảng Đông kiếm người sang làm việc cho các mỏ bạc ở Peru và các đồn điền trồng mía ở Cu Ba bên châu Mỹ. Hai trung tâm mộ phu này còn đưa dân Ba Tàu sang Hoa Kỳ để thế chỗ cho đám dân nô lệ da đen gốc từ Phi châu. Đám nô lệ da đen ở Hoa Kỳ khi được quyền tự do thì họ bỏ đồn điền, hầm mỏ của chủ da trắng để tìm đến thành thị kiếm việc làm trong các nhà máy. Dân Ba Tàu rủ nhau bỏ nước đến Hoa Kỳ vì viễn cảnh sẽ có một cuộc sống khá hơn. Họ đến và đến nhiều hơn khi có tin tìm ra mỏ vàng ở San Francisco ở bờ biển phía Tây Hoa Kỳ trong năm 1850. Hàng ngàn dân Ba Tàu theo chân các sắc dân khác của thế giới kéo đến vùng San Francisco này với hy vọng sẽ đổi đời nhờ vào việc kiếm được vàng cục. Hình ảnh đó lại tái diễn ở Colombia, ở New Zealand trong năm 1860 khi các nơi này tìm thấy vàng. Khi các cơn sốt vàng này hạ hỏa thì dân Ba Tàu trong nước lại kiếm đường sang Bolivia, Paragoay, Venezuela, kênh đào Panama và cả ở Tây Bá Lợi Á thời còn Nga Hoàng nữa.

- Tôi thấy dân Ba Tàu ở nước mình họ hoạt động trong bang hội của họ. Không biết ở các nước khác thì sao hả anh? Anh Khảm đột ngột hỏi.
- Cũng một phương thức như vậy. Đây là cách họ thực hành đúng câu đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết khi phải sống tạm dung ở xứ người. Công bằng mà nói thì đến sống ở đâu, dân Ba Tàu cũng có ích từ sự khéo léo, khôn ngoan của họ, đã góp phần vào việc phát triển các đô thị nơi họ sống. Chợ Lớn, Bạc Liêu ở nước mình là các ví dụ. Nhưng mà có khéo léo tay chân, khôn ngoan trong tính toán mà sống khép kín, không quảng giao, không đoàn kết thì cuộc sống cá nhân đó cũng sẽ dễ gặp khó khăn khi có các bất trắc xẩy đến. Dân Ba Tàu tuy là một khối dùng chung một chữ viết mà mình gọi là Hán tự nhưng trong thực tế thì lại phân biệt ra người vùng Phước Kiến, Quảng Đông, Hải Nam, Bắc Kinh, Hẹ, Đài Loan... trong cách phát âm phương ngữ riêng và đây cũng là sự chia rẽ nội tại của họ. Ở xóm tôi, tôi đã thấy dân Ba Tàu Quảng Đông không chơi với dân Ba Tàu Hẹ hay dân Ba Tàu gốc khác dù trên hết tất cả, họ đều tự hào cho mình là thuộc giống nòi cao quý, dòng dõi Đại Hán với các truyền thống từ lịch sử, văn hóa đến phong tục, tập quán... hơn nước người. Đoàn kết thì phải gia nhập vào bang hội của sắc dân mình như Quảng Đông hay Triều Châu, Phước Kiến hoặc Khách Gia... Gia nhập thì sẽ được sự hổ trợ của bang hội mà chính nhờ sự giúp đỡ này mà việc buôn bán, kinh doanh của họ hơn hẳn với dân bản xứ. Chính vậy mà họ dễ dàng thành công rồi từ sự thành công này cộng thêm sự tự hào về nguồn gốc của họ khiến họ không muốn đồng hóa với người dân địa phương và vô tình tạo ra sự kỳ thị trong quan hệ. Lịch sử từng đã chép nhiều chuyện về vụ kỳ thị dân ba Tàu dẫn đến các phong trào bài người Hoa và có khi xô xát đến chết người ở nhiều nước.


                                       (còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét