(tiếp theo)
Chuyến đi Tanjung Pinang nào cũng đều vào buổi sáng thứ Bẩy và về lại Galang lúc chiều tối cùng ngày. Chung với những người khác, tôi, Yến và anh chị Khảm-Phượng đứng tập trung ngay đầu con dốc giữa zone 3 và zone 4, Galang 1 về hướng cầu tàu để chờ chiếc xe tải chở khách của phòng An ninh P3V. Trời vẫn còn mờ mờ tối dù đồng hồ tay đã gần 7 giờ sáng, sương khuya đọng ướt trên các bờ cây, bụi hoa của những căn nhà đóng kín cửa sát bên cạnh đường. Anh Khảm cho biết tàu cao tốc chạy hơn 1 giờ đồng hồ thì sẽ đến Tanjung Pinang và mỗi chuyến đi chỉ chở khoảng 60 người. " Lúc đi thì không sao, chỉ khi về mới chật chội vì đa số người mình sang đó để mua hàng về bán lại kiếm lời ". Chiếc xe đến, nhóm chúng tôi cùng các người khác lục tục trèo lên nhanh chóng. Xe chạy và dừng lại ở nhà thương đế đón thêm người rồi tiếp tục trực chỉ hướng cầu tàu. Đến nơi, tất cả người trên xe cùng kéo xuống cầu tàu bê tông và trình vé cho nhân viên của con tàu đứng kiểm tra nơi khoang cửa. Mới vài tháng trước đây, tôi và Yến cũng từ cầu tàu bê tông này để lên bờ nhập vào trại làm dân tị nạn Galang. Tôi quay nhìn chung quanh, những căn nhà của người bản xứ nằm im lìm dọc theo các lối đi nho nhỏ. Không một bóng người lai vãng, chỉ duy nhất một con chó đang chạy thong dong trên đường nhựa lớn. Cảnh vật buổi ban mai ở khu vực cầu tàu Galang nầy thật êm ả, vắng lặng. Nào ai biết phía sau những căn nhà ở đây, chạy sâu tuốt vào bên trong đảo là một xã hội Việt Nam thu gọn với đủ dạng người tứ xứ của mảnh đất hình chữ S đang sống kiếp tha phương, chờ ngày mai đến mà chưa rõ số phần sẽ tốt hoặc xấu hơn cho cuộc đời mình.
Theo số ghi trên vé nên tôi, Yến cùng anh chị Khảm-Phượng ngồi chung một dãy ghế sát với khoang cửa sổ kiếng tròn nhưng kiếng lại khá cao nên không thể ngắm cảnh bên ngoài được. Thêm các đợt khách khác xuống dưới khoang tàu cao tốc và cứ vậy cho đến khi tài công nổ máy để khởi hành. Thân tàu run run nhẹ nhưng ai cũng cảm thấy nó chạy với tốc độ rất nhanh. Ngồi bên Yến, thấy nàng có vẻ mệt nên tôi hỏi nhỏ: " Em có bị sao không? Nhức đầu? Muốn ói? ". Yến mỉm cười, lắc đầu, nhìn tôi trìu mến và nói:
- Tàu cao tốc chứ đâu phải ghe vượt biên bên Việt
Tôi biết nàng đang hồi tưởng
về chuyến đi của ngày hôm ấy. Hai đứa tôi cũng gần kề bên nhau như bây giờ, Yến
lại hỏi:
- Lúc đó anh có ghét em không
khi đã ói đầy vào người anh?
Một câu hỏi mà nàng đã hỏi tôi
nhiều lần rồi và lần nào tôi cũng trả lời như bây giờ: " Lúc đó anh cũng
mệt lắm, biết em là ai mà ghét được nhưng khi biết rồi thì anh lại... thương
"
Tôi nắm lấy tay Yến và khẽ bóp
nhẹ nhưng nàng vẫn để yên không hất ra mà chỉ hé mắt nhìn rồi đảo đầu về hướng
anh chị Khảm-Phượng như một nhắc nhở, đề phòng. Biết điều nhắn nhủ đó nhưng tôi
vẫn giữ tay nàng trong yên lặng, suy nghĩ về lần kể với Đỉnh việc tay trong tay
như bây giờ, nó đã nói: " Yến như vậy là thương anh lắm, cần gì phải hỏi
cho mất công. Nếu em là anh, tùy tình hình, cứ từ từ hoặc mạnh bạo lấn tới sẽ
xong ngay thôi. Con gái, chịu để yên không chống cự khi con trai nắm tay, ôm
hôn... là thương rồi đó cha ". Tuy Đỉnh nói vậy nhưng trong lòng tôi vẫn
thắc mắc, muốn biết Yến có thương mình thật không? Đã yêu ai thì người ấy
thường luống cuống và có khi làm trò cười với... đối tượng vì những cử chỉ vụng
về của mình. Tôi chắc cũng vậy khi cúi người xuống sát gần bên, định hỏi cho
biết nhưng Yến chợt ngẩng mặt lên, khẽ lúc lắc đầu và kêu nhỏ:
- Ôi! Anh ơi! Em bắt đầu chóng mặt rồi đây nè. Kỳ quá đi!
- Ôi! Anh ơi! Em bắt đầu chóng mặt rồi đây nè. Kỳ quá đi!
Thấy thế, tôi cuống quýt kéo
Yến ngã hẵn người sát vào thành ghế và bảo nàng hãy ngước mặt lên phía trần của
khoang tàu sẽ dễ chịu hơn. Nàng làm theo liền nhưng cảm giác rung chuyển rần
rật từ đôi chân cho tôi biết tàu cao tốc đã tăng tốc độ nhanh hơn và đó là lý
do đã làm cho Yến chóng mặt. Bên cạnh nàng, anh chị Khảm-Phượng cũng một tư thế
dựa ngửa thân mình, hai mắt nhắm nghiền như đang trong giấc ngủ. Họ cũng một
cảm giác như Yến? Có lẽ chỉ mình tôi còn khỏe dù cũng cảm thấy đôi chút bần
thần trong người. Tôi mong chuyến đi mau đến Tanjung Pinang sớm hơn.
- Tàu cao tốc này chở người đi
định cư nha mấy ông. Mình đi nó hôm nay là lấy vận hên sau này... Biết đâu!
Tiếng một người nói lớn.
Liền ngay sau đó, trong tiếng nhạc oang oang từ dàn loa của khoang tàu, tiếng người khác trả lời:\
Liền ngay sau đó, trong tiếng nhạc oang oang từ dàn loa của khoang tàu, tiếng người khác trả lời:\
- Thôi đi cha nội! Nó cũng chở
người hồi hương về Việt Nam
chứ bộ... Vớ vẩn hên với xui
.
Tiếng người trò chuyện trong khoang hầm dần dần ít hẳn rồi sau cùng chỉ còn tiếng máy tàu kêu ù ù chung với tiếng nhạc loa. Nhìn chung quanh trong ánh sáng lờ mờ của khoang hầm tàu, trừ vài người vẫn thao láo mở mắt nhìn còn hầu hết ai cũng nhắm mắt ngủ như để xua đi cái cảm giác chống chếnh, say sóng khi đi trên biển. Yến bên tôi cũng vậy, nàng yên lặng trong hàng mi đen nhắm nghiền trên khuôn mặt ngước lên trần khoang hầm. Ngắm nhìn khuôn mặt nàng, tôi hồi tưởng lúc kề cận bên nhau trong khoang ghe vượt biên chật hẹp và dường như mùi dầu xanh con Ó, mùi chua của nước chanh, mùi béo của hủ tiếu, của thịt nướng cùng mùi dầu cặn chạy ghe trong ngày hôm đó đang phảng phất đâu đây. Chợt Yến hé mắt nhìn tôi, thì thào: " Lần nào đi tàu, em cũng chóng mặt sợ muốn chết được. Cố hết sức mà vẫn không thoát ". Cái hé mắt giống như lúc hôm đó làm tôi nhớ lại hình ảnh cùng cái mùi khủng khiếp trong khoang hầm cá lớn nhưng giờ đây hoàn cảnh đã khác. Tôi sẽ không còn cảm thấy phiền hà những gì nếu Yến làm với tôi giống như lúc hôm đó mà thay vào đấy, lại sẵn sàng chịu đựng cho nàng. Tôi đã thương Yến rồi, quá thương... nên sẵn lòng làm những gì cho nàng vui và tránh các thất thố để có thể bị hiểu lầm. Đỉnh chưa yêu ai nên nó không biết tâm trạng của tôi mà cứ xúi làm chuyện bạo với Yến. " Mình cứ chờ xem đến lúc nào đó thì Đỉnh sẽ có người thương, rồi sẽ biết nó đối phó ra sao ", tôi mỉm cười với ý nghĩ trong đầu.
Tiếng người trò chuyện trong khoang hầm dần dần ít hẳn rồi sau cùng chỉ còn tiếng máy tàu kêu ù ù chung với tiếng nhạc loa. Nhìn chung quanh trong ánh sáng lờ mờ của khoang hầm tàu, trừ vài người vẫn thao láo mở mắt nhìn còn hầu hết ai cũng nhắm mắt ngủ như để xua đi cái cảm giác chống chếnh, say sóng khi đi trên biển. Yến bên tôi cũng vậy, nàng yên lặng trong hàng mi đen nhắm nghiền trên khuôn mặt ngước lên trần khoang hầm. Ngắm nhìn khuôn mặt nàng, tôi hồi tưởng lúc kề cận bên nhau trong khoang ghe vượt biên chật hẹp và dường như mùi dầu xanh con Ó, mùi chua của nước chanh, mùi béo của hủ tiếu, của thịt nướng cùng mùi dầu cặn chạy ghe trong ngày hôm đó đang phảng phất đâu đây. Chợt Yến hé mắt nhìn tôi, thì thào: " Lần nào đi tàu, em cũng chóng mặt sợ muốn chết được. Cố hết sức mà vẫn không thoát ". Cái hé mắt giống như lúc hôm đó làm tôi nhớ lại hình ảnh cùng cái mùi khủng khiếp trong khoang hầm cá lớn nhưng giờ đây hoàn cảnh đã khác. Tôi sẽ không còn cảm thấy phiền hà những gì nếu Yến làm với tôi giống như lúc hôm đó mà thay vào đấy, lại sẵn sàng chịu đựng cho nàng. Tôi đã thương Yến rồi, quá thương... nên sẵn lòng làm những gì cho nàng vui và tránh các thất thố để có thể bị hiểu lầm. Đỉnh chưa yêu ai nên nó không biết tâm trạng của tôi mà cứ xúi làm chuyện bạo với Yến. " Mình cứ chờ xem đến lúc nào đó thì Đỉnh sẽ có người thương, rồi sẽ biết nó đối phó ra sao ", tôi mỉm cười với ý nghĩ trong đầu.
Sau cùng, con tàu từ từ giảm
dần tốc độ cho đến lúc nó ngừng hẳn khi dàn đèn trên trần mở sáng rực. Hành
khách trong khoang hầm như tỉnh một giấc ngủ, vội vã sửa soạn bộ dạng để chuẩn
bị lên bờ. Tôi kéo tay Yến đứng lên, nối đuôi theo anh chị Khảm-Phượng cùng
hàng người từ từ đi ra khỏi khoang hầm của tàu máy cao tốc. Trong làn gió mát
của mặt biển buổi ban mai, trước mắt đám hành khách Việt là cả chục chiếc ghe
nhỏ chèo tay của người bản xứ vây quanh thân con tàu cao tốc chung với tiếng
mời gọi:
- Hei! OrangVietnam . Untuk pergi ashole, 2000
Rupiah saja, silahkan. Oke (Ê! Mấy người Việt. Đi lên bờ, chỉ có 2000 Rupiah,
chịu nha. OK).
Chủ tàu cao tốc không cập sát bờ cảng như tôi nghĩ mà lại dừng ở đây trên mặt biển để hành khách thuyền nhân chúng tôi phải theo các ghe nhỏ đó mới lên bờ được. Các ghe chèo tay này có hình dáng tương tợ chiếc tác rán nhỏ bé của vùng sông nước bên quê nhà và mỗi lần chỉ chở được 3, 4 người. Một phụ nữ có tiệm trong trại, từng đi nhiều chuyến sang Tanjung Pinang cất hàng về bán như quá quen với cảnh chào mời của các lái đò bản xứ nên một tay vừa xếp gọn các bao đựng hàng và tay kia lần túi lấy ra ít tiền lẻ, lớn giọng hướng dẫn: " Mỗi người hết 2000 Rupiah tiền công họ chở mình từ đây vào bờ đó... Lượt về cũng phải vậy ". Thì ra! Các ghe chèo cùng chủ tàu cao tốc hợp tác với nhau để kiếm ăn thêm từ thuyền nhân Việt. Không hiểu sao dân Indo tại đảo tị nạn Galang đều nghĩ thuyền nhân Việt chúng tôi, ai cũng rủng rỉnh đô la Mỹ trong túi mà trong thực tế nhiều người không một nguồn tiếp tế nào từ nước thứ 3. Có người phải đi làm mướn trong các shop bán hàng, gánh nước thuê, làm đơn xin phòng An ninh P3V cho phá đất để trồng rau hoặc câu cá biển, giăng lưới bắt tép suối... mang bán kiếm chút tiền xài trong suốt thời gian tạm trú ở trại. Khoảng cách từ tàu cao tốc lên cảng ngắn khoảng 200 mét nhưng người chủ đã cố tình thì khách phải chịu, không làm khác được. " Đã tốn 15000 Rupiah cho đoạn đường từ Galang sang đây rồi mình còn phải mất thêm 4000 Rupiah cho 2 lượt đi đò lên và xuống bờ nữa, tiền đã không có mà cứ phải tiêu cho việc gì đâu đâu ", một người khách càu nhàu. Tôi, Yến cùng vài người khác lục tục trèo xuống một chiếc ghe đậu gần nhất và ngay sau đó gã lái đò quay mũi chèo thẳng vào bờ.
Gặp lại anh chị Khảm-Phượng đứng đợi ở trên bến cảng, nhóm chúng tôi hòa cùng các người Việt khác đi dọc theo con đường nhỏ dẫn vào thành phố Tanjung Pinang. Dưới bến cảng, khá nhiều tàu lớn nhỏ cùng ghe buôn bán thương hồ đậu ken kín bên nhau trong làn hơi mờ mờ bốc lên từ mặt nước biển xám đục kéo theo một mùi hôi đặc biệt. Cái mùi pha lẫn vị mặn của nước biển, mùi sình, mùi rác thải vương vãi dưới nước cùng mùi khói thải xe máy đậu trên các ngã đường dọc theo bến tàu... làm ai nấy phải bịt mũi. Phu bốc vác địa phương đang chuyển các bao hàng hóa từ xe ba gác xuống chỗ trống ở cầu tàu gần các ghe thương hồ. Trong tiếng còi thúc dục xa xa, giọng cười, tiếng nói, tiếng gọi nhau í ới của đám hành khách trên đường rảo chân về hướng các con tàu lớn đậu đây đó cạnh các bờ cảng. " Tàu thủy, ghe thương hồ ở đây... hầu như dùng để chở khách cùng hàng hoá về các đảo xa xa trong vùng. Tuy Tanjung Pinang là đảo thương mãi trung tâm của vùng Riau thật nhưng lại không có phi trường nào cả, muốn đi xa hơn bằng máy bay thì hành khách phải sang đảo BaTam hoặc tận tuốt bênSingapore .
Ở vùng biển này, giao thông chỉ một phương tiện duy nhất là đường thủy mà thôi
", anh Khảm nói nhỏ.
- Hei! Orang
Chủ tàu cao tốc không cập sát bờ cảng như tôi nghĩ mà lại dừng ở đây trên mặt biển để hành khách thuyền nhân chúng tôi phải theo các ghe nhỏ đó mới lên bờ được. Các ghe chèo tay này có hình dáng tương tợ chiếc tác rán nhỏ bé của vùng sông nước bên quê nhà và mỗi lần chỉ chở được 3, 4 người. Một phụ nữ có tiệm trong trại, từng đi nhiều chuyến sang Tanjung Pinang cất hàng về bán như quá quen với cảnh chào mời của các lái đò bản xứ nên một tay vừa xếp gọn các bao đựng hàng và tay kia lần túi lấy ra ít tiền lẻ, lớn giọng hướng dẫn: " Mỗi người hết 2000 Rupiah tiền công họ chở mình từ đây vào bờ đó... Lượt về cũng phải vậy ". Thì ra! Các ghe chèo cùng chủ tàu cao tốc hợp tác với nhau để kiếm ăn thêm từ thuyền nhân Việt. Không hiểu sao dân Indo tại đảo tị nạn Galang đều nghĩ thuyền nhân Việt chúng tôi, ai cũng rủng rỉnh đô la Mỹ trong túi mà trong thực tế nhiều người không một nguồn tiếp tế nào từ nước thứ 3. Có người phải đi làm mướn trong các shop bán hàng, gánh nước thuê, làm đơn xin phòng An ninh P3V cho phá đất để trồng rau hoặc câu cá biển, giăng lưới bắt tép suối... mang bán kiếm chút tiền xài trong suốt thời gian tạm trú ở trại. Khoảng cách từ tàu cao tốc lên cảng ngắn khoảng 200 mét nhưng người chủ đã cố tình thì khách phải chịu, không làm khác được. " Đã tốn 15000 Rupiah cho đoạn đường từ Galang sang đây rồi mình còn phải mất thêm 4000 Rupiah cho 2 lượt đi đò lên và xuống bờ nữa, tiền đã không có mà cứ phải tiêu cho việc gì đâu đâu ", một người khách càu nhàu. Tôi, Yến cùng vài người khác lục tục trèo xuống một chiếc ghe đậu gần nhất và ngay sau đó gã lái đò quay mũi chèo thẳng vào bờ.
Gặp lại anh chị Khảm-Phượng đứng đợi ở trên bến cảng, nhóm chúng tôi hòa cùng các người Việt khác đi dọc theo con đường nhỏ dẫn vào thành phố Tanjung Pinang. Dưới bến cảng, khá nhiều tàu lớn nhỏ cùng ghe buôn bán thương hồ đậu ken kín bên nhau trong làn hơi mờ mờ bốc lên từ mặt nước biển xám đục kéo theo một mùi hôi đặc biệt. Cái mùi pha lẫn vị mặn của nước biển, mùi sình, mùi rác thải vương vãi dưới nước cùng mùi khói thải xe máy đậu trên các ngã đường dọc theo bến tàu... làm ai nấy phải bịt mũi. Phu bốc vác địa phương đang chuyển các bao hàng hóa từ xe ba gác xuống chỗ trống ở cầu tàu gần các ghe thương hồ. Trong tiếng còi thúc dục xa xa, giọng cười, tiếng nói, tiếng gọi nhau í ới của đám hành khách trên đường rảo chân về hướng các con tàu lớn đậu đây đó cạnh các bờ cảng. " Tàu thủy, ghe thương hồ ở đây... hầu như dùng để chở khách cùng hàng hoá về các đảo xa xa trong vùng. Tuy Tanjung Pinang là đảo thương mãi trung tâm của vùng Riau thật nhưng lại không có phi trường nào cả, muốn đi xa hơn bằng máy bay thì hành khách phải sang đảo BaTam hoặc tận tuốt bên
(còn nữa)
Dang nham roi tac gia a. Hai phan 81 va 82 trung noi dung.
Trả lờiXóacảm ơn...đã sửa...
Xóa