(tiếp
theo và hết)
HẬU QUẢ CHIẾN TRANH
Chiến tranh, sau này ta mới
biết, để lại những vết thương nan y, trên cơ thể và trong tâm hồn. Không cứ gì
ở Việt Nam
mà còn hoành hành nhiều nơi khác trên thế giới. Nguyễn Bắc Sơn đã tiên cảm được
điều này:
Ta mắc bệnh ung thư thời chiến
Thoi thóp còn một trái tim khô
Sợ hãi con người hơn thú dữ
Nhìn nơi nào cũng thấy hư vô
Thoi thóp còn một trái tim khô
Sợ hãi con người hơn thú dữ
Nhìn nơi nào cũng thấy hư vô
Mai kia trong những ngày ngưng chiến
Ta chắc rằng không thể yêu ai
Nhà thương điên nếu còn chỗ trống
Xin chiếc giường cho xác tàn phai.
(tr. 52)
Ta chắc rằng không thể yêu ai
Nhà thương điên nếu còn chỗ trống
Xin chiếc giường cho xác tàn phai.
(tr. 52)
Nhưng rồi chiến tranh kết
thúc, nhà thơ vẫn sống bình thường, bên cạnh vợ con, trong ngôi nhà xưa, thành
phố cũ là Phan Thiết:
Ta may mắn tay chân lành lặn
Nhưng tâm hồn trống rỗng bơ vơ
Mỗi ngày chữa bệnh bằng ly rượu
Tối nằm đánh vật với cơn mơ.
(tr. 51)
Nhưng tâm hồn trống rỗng bơ vơ
Mỗi ngày chữa bệnh bằng ly rượu
Tối nằm đánh vật với cơn mơ.
(tr. 51)
Thỉnh thoảng trong đêm mù
thác loạn, Nguyễn Bắc Sơn có những cơn khủng hoảng, nghe đâu có nhảy lầu tự tử
hụt đôi ba phen. Nhưng thơ anh, như bài Tâm Hồn Trẻ Thơ kể chuyên đi hớt tóc,
làm khoảng 1990, vẫn còn hào khí sung mãn, đoạn cuối thanh thản:
Dường như đứa trẻ nghìn năm
trước
Bây giờ đây vẫn trẻ trong ta
Khi về râu tóc còn nguyên vẹn
Một ngày loáng thoáng một ngày qua.
Bây giờ đây vẫn trẻ trong ta
Khi về râu tóc còn nguyên vẹn
Một ngày loáng thoáng một ngày qua.
Một đứa trẻ con, một Lão
Ngoan Đồng nào đó, hay sao Thiên Đồng đã cứu mạng Nguyễn Bắc Sơn, và giải thoát
nhiều người trong mỗi chúng ta.
NGUỒN THƠ HÀO SẢNG
Thơ có tuổi và chiêm bao có
tích, Hàn Mạc Tử nói thế, chắc cũng là cao hứng, nhưng câu thơ gợi lên một chân
lý thâm hậu. Thơ Nguyễn Bắc Sơn cũng như bất cứ dòng thi ca nào đều có cội nguồn,
đều đón nhận những mạch nước gần xa. Nguyễn Bắc Sơn suốt đời quanh quẩn trong
quê nhà Bình Thuận, hành quân, đánh chác loanh quanh những Sông Lũy, Ma Lâm. Về
mặt địa dư nguồn thơ hào sảng, ngang tàng, gần anh nhất là bài thơ Tống Biệt do
Phan Khôi trích dẫn của một thi nhân Bình Thuận:
Trái mù u trên núi
Chạy xuống cửa Phan Rang
Ông đi về ngoài nớ
Trong lòng tôi chẳng an.
Bao giờ ông trở vô
Chạy xuống cửa Phan Rang
Ông đi về ngoài nớ
Trong lòng tôi chẳng an.
Bao giờ ông trở vô
Gặp tôi ở giữa đàng
Nắm tay nói chuyện chơi
Uống rượu cười nghênh ngang [7]
Nắm tay nói chuyện chơi
Uống rượu cười nghênh ngang [7]
Phan Khôi không tiết lộ tên
tác giả, đời sau cứ xem như là thơ Phan Khôi, vì giọng thơ ngang tàng giống
ông.
Bài thơ tân kỳ, hào hứng; từ
vựng hồn nhiên, mới mẻ, nhịp thơ phóng túng, nhanh nhẹn, khí thơ đi liền một
mạch; thơ làm vào những năm 1930 mà ngày nay ta vẫn thấy mới lạ. Và cái hào khí
ở đây không khỏi nhắc ta nhà thơ Bình Thuận Nguyễn Bắc Sơn.
Lần lên xa hơn nữa, theo lịch
sử thì thơ cổ Trung Quốc đã có truyền thống trầm hùng, nhiều trước tác về chiến
tranh như bài Văn điếu Chiến Trường Cũ của Lý Hoa, đầu đời Đường, nhưng được
truyền tụng nhiều nhất là thi phẩm của Phái Biên Tái như Sầm Tham, Cao Thích.
Gần Nguyễn Bắc Sơn nhất là bài Lương Châu Từ của Vương Hàn:
Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi
Phỏng dịch:
Rượu hồng đêm ngọc chén lưu ly
Men bốc tỳ bà ngựa dục đi,
Dặm cát say khoèo ai chớ riễu
Những bao chinh chiến những ai về.
Men bốc tỳ bà ngựa dục đi,
Dặm cát say khoèo ai chớ riễu
Những bao chinh chiến những ai về.
Nguyễn Bắc Sơn cũng có tâm tình na ná:
Ngày vui đời lính vô cùng ngắn
Mặt trời thoáng đã ở phương Tây
Nếu ta lỡ chết vì say rượu
Linh Hồn chắc sẽ thành mây bay
Mặt trời thoáng đã ở phương Tây
Nếu ta lỡ chết vì say rượu
Linh Hồn chắc sẽ thành mây bay
(Mật khu Lê Hồng Phong)
Thơ chinh chiến của cổ nhân
là thơ quan quyền; ra quân phải có nhạc tỳ bà trên lưng ngựa; rượu thì phải Bồ
Đào. Thơ Nguyễn Bắc Sơn là thơ lính, ra quân không đua đòi Mỹ Tửu nhưng phải có
“đế Nùng” đặc sản do người Nùng địa phương Sông Mao sản xuất từ các trại gia
binh.
Khi tao đi lãnh khẩu phần
Mày đi mua rượu đế Nùng cho tao
Chúng mình nhậu để trừ hao
Bảy ngày sắp đến nghêu ngao trong rừng
Mùa này gió núi mưa bưng
Trong lòng thiếu rượu anh hùng nhát gan
Mùa này gió bụi mưa ngàn
Trong lòng thiếu rượu hoang mang nhớ nhà
Mày đi mua rượu đế Nùng cho tao
Chúng mình nhậu để trừ hao
Bảy ngày sắp đến nghêu ngao trong rừng
Mùa này gió núi mưa bưng
Trong lòng thiếu rượu anh hùng nhát gan
Mùa này gió bụi mưa ngàn
Trong lòng thiếu rượu hoang mang nhớ nhà
(Một Tiếng đồng hồ trước
khi lên đường hành quân)
Ý thơ bình dị, lời dân dã,
nhưng vẫn một giọng ngông nghênh, phúng thế và khắc họa một hình ảnh trong tâm
lý thời chiến.
GIỌNG THƠ NGHÊNH NGANG
Trong dòng thơ Việt Nam , tác gia
gần Nguyễn Bắc Sơn nhất có lẽ là Tú Xương, với lối thơ ông tớp rượu vào ông nói
ngông. Tú Xương dùng thể tự sự, tự riễu mình để mô tả thời thế. Lời thơ chua
cay, khinh mạn:
Hán tự chẳng biết Hán
Tây tự chẳng biết Tây
Quốc ngữ cũng dốt đặc
Thôi thì về đi cày
Tây tự chẳng biết Tây
Quốc ngữ cũng dốt đặc
Thôi thì về đi cày
Trồng khoai rồi trồng đậu
Cấy chiêm lại cấy mùa
Ăn không hết thì bán
Bán đã có Tây mua.
Cấy chiêm lại cấy mùa
Ăn không hết thì bán
Bán đã có Tây mua.
Được tiền thì mua rượu
Rượu say rồi cưỡi trâu
Cưỡi trâu thế mà vững
Có ngã cũng không đau.
Rượu say rồi cưỡi trâu
Cưỡi trâu thế mà vững
Có ngã cũng không đau.
Từ cách xử lý cuộc đời, lối
nhìn vào xã hội, đến cách sử dụng ngôn ngữ, Tú Xương báo trước một Nguyễn Bắc
Sơn, “ thằng ta đây”:
Bạn mày nằm nhà thất nghiệp
dài
Mẹ già không tính tiền cơm thuốc
Ngày xưa văn nghệ ta mê làm
Cách mệnh còn hăng say vượt bực
Giờ tối nằm mơ chỉ thấy tiền
Nhân nghĩa gì gì quên tuốt luốt
Thèm tiền song quả đứa vô tài
Nên thằng ta đây chỉ có nước
Mỗi tuần một vé số mười đồng
Thê thảm ôi làm sao tả được
Hai ta cùng quẩn như thế này
Nhắc làm chi nữa cho tủi nhục
Vậy xem như mình đã chết rồi
Chí lớn mộng to đều đã vứt
Quên trời quên đất quên luôn ta
Dăm đồng rượu trắng cùng say khướt
(Bài Hát Khổ Nhục, tr. 56)
Mẹ già không tính tiền cơm thuốc
Ngày xưa văn nghệ ta mê làm
Cách mệnh còn hăng say vượt bực
Giờ tối nằm mơ chỉ thấy tiền
Nhân nghĩa gì gì quên tuốt luốt
Thèm tiền song quả đứa vô tài
Nên thằng ta đây chỉ có nước
Mỗi tuần một vé số mười đồng
Thê thảm ôi làm sao tả được
Hai ta cùng quẩn như thế này
Nhắc làm chi nữa cho tủi nhục
Vậy xem như mình đã chết rồi
Chí lớn mộng to đều đã vứt
Quên trời quên đất quên luôn ta
Dăm đồng rượu trắng cùng say khướt
(Bài Hát Khổ Nhục, tr. 56)
Bạn ở đây là một người lính
từ chiến trường về: thất thểu chỉ còn xương với cốt / chinh chiến sao mày không
chết tốt.
TÌNH BẠN TÌNH YÊU
Trong văn chương truyền
thống, tình bạn thường là quan hệ trí thức: tri âm như Bá Nha, Tử Kỳ, tri kỷ
như Montaigne, La Boetie, khoa giáp như Nguyễn Khuyến, Dương Khuê. Dù có phải
bưng thúng theo đàn bà, thì Nguyễn Vỹ và Trương Tửu vẫn tự hào về nghề văn
nghiệp bút. Gần Nguyễn Bắc Sơn hơn, Hoàng Trúc Ly có viết Ngươi bên chân trời
đánh giặc mướn / Ta theo cuộc đời đi viết thuê thì hành trạng, hành trang vẫn
trí thức.
Trong thơ Nguyễn Bắc Sơn,
tình bạn không có quy chế xã hội, bạn bè là một lớp bụi đời, bên lề xã hội, bên
lề đường chinh chiến, như hạt bụi nằm con gió trớt. Họ là những mảnh vỡ mà cuộc
đời vun lại bên nhau:
Có khi nghĩ trời sinh một
mình ta là đủ
Vì đám đông quậy bẩn nước hồ đời
Nhưng lại nghĩ trời sinh thêm bè bạn
Để quàng vai ấm áp cuộc rong chơi
(Mai sau dù có bao giờ, tr. 30)
Vì đám đông quậy bẩn nước hồ đời
Nhưng lại nghĩ trời sinh thêm bè bạn
Để quàng vai ấm áp cuộc rong chơi
(Mai sau dù có bao giờ, tr. 30)
Thậm chí tình yêu cũng vậy,
nó nằm ngoài quy chế văn học dù truyền thống hay lãng mạn, tân thời:
Ta vốn ghét đàn bà như ghét cứt
Nhưng vì sao ta lại yêu em ?
Ôi mắt em nhìn như là bẫy chuột
Ta quàng xiên nên đã sa chân
Ta vốn ghét đàn bà như ghét cứt
Nhưng vì sao ta lại yêu em ?
Ôi mắt em nhìn như là bẫy chuột
Ta quàng xiên nên đã sa chân
Chuyện tình yêu bẫy chuột này
trích từ bài Trên đường tới nhà Xuân Hồng, tức là phu nhân tào khang của nhà
thơ từ xưa đến nay.
DÒNG THƠ TIỀN CHIẾN
Trong dòng thơ ngang tàng
trước Nguyễn Bắc Sơn phải nhớ Độc Hành Ca của Trần Huyền Trân làm năm 1940:
Nhớ xưa cùng dỗ bụi giầy
Vỗ đùi ha hả thơ mày rượu tao
… Đưa nhau qua bữa cơm nghèo
Đứa sầu gào rượu đứa nheo mắt cười
Vung tay như vạch ngang trời
Bảo rằng đâu nữa cái thời ngất ngư
Vỗ đùi ha hả thơ mày rượu tao
… Đưa nhau qua bữa cơm nghèo
Đứa sầu gào rượu đứa nheo mắt cười
Vung tay như vạch ngang trời
Bảo rằng đâu nữa cái thời ngất ngư
Trong trường phái khí phách
giang hồ này Thâm Tâm có bài Tống Biệt Hành nhiều người biết, ông còn những bài
Tráng Ca, Vọng Nhân Hành, và nhất là Can Trường Hành, báo hiệu Nguyễn Bắc Sơn
Phiếm du mấy chốc đời như
mộng
Ném chén cười cho đã mắt ta
Thà với mãng phu ngoài bến nước
Uống dăm chén rượu, quăng tay thước
Cái sống ngang tàng quen bốc men
Ném chén cười cho đã mắt ta
Thà với mãng phu ngoài bến nước
Uống dăm chén rượu, quăng tay thước
Cái sống ngang tàng quen bốc men
Vào thời điểm bài thơ này,
1944, Nguyễn Bính vốn thân thiết với Thâm Tâm, Trần Huyền Trân, đã sáng tác bài
Hành Phương Nam
nổi tiếng, trong cùng một nguồn thi hứng:
Ta đi nhưng biết về đâu chứ
Đã dấy phong yên khắp bốn trời
Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ
Uống say mà gọi thế nhân ơi
Đã dấy phong yên khắp bốn trời
Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ
Uống say mà gọi thế nhân ơi
Nhưng trong lối thơ chếnh
choáng hơi men này, đặc biệt nhất – không phải hay nhất – là bài Gửi Trương Tửu
mà Nguyễn Vỹ sáng tác trong cơn say, trộn lẫn văn chương với chả cá.
Chúng tôi nghĩ: đặt Nguyễn
Bắc Sơn vào một dòng thi ca đã trường lưu, là một cách đánh giá nghiêm chỉnh và
thông thoáng một tài thơ được khoanh vùng trong một hoàn cảnh chính trị và xã
hội hạn hẹp. Và cũng giúp ích cho người đọc thưởng thức văn chương bên ngoài
những chấn động của lịch sử.
TRƯỚC VÀ SAU 1975
Vào khoảng 1970, khi thơ
Nguyễn Bắc Sơn xuất hiện và gây ngạc nhiên, nhiều người cho rằng có hơi hướm
thơ Quang Dũng, có lẽ vì đề tài chiến tranh và lời thơ bi tráng. Nhưng xét kỹ
thì không đúng: thơ Quang Dũng lãng mạn và lý tưởng, thơ Nguyễn Bắc Sơn ngược
lại, phi lãng mạn và phi lý tưởng. So với các nhà thơ khác, mà chúng tôi vừa
trích dẫn, thơ Nguyễn Bắc Sơn cũng có nét khu biệt, là chất bụi đời, mà nhà thơ
tự cho là “du đãng”. Tống Biệt Hành là thơ để đời; Nguyễn Bắc Sơn là thơ bụi
đời. Độc Hành Ca là loại thơ “miếu đền”, Nguyễn Bắc Sơn là thơ lề đường, quán
sá.
Xã hội, hoàn cảnh Miền Nam thời đó đã
tạo một nguồn cảm hứng như thế và chỗ đứng cho một thể loại bất cần đời như
thế. Và dư luận thời đó, của những nhà văn tên tuổi có thế lực văn học, lập
trường chính trị vững vàng, như Võ Phiến trên Bách Khoa, Chu Tử trên báo Sống,
Doãn Quốc Sĩ trên báo Văn, đã đồng loạt hoan nghênh [8].
Sau 1975 Nguyễn Bắc Sơn có
bài Một Ngày Nhàn Rỗi:
Buổi sáng mang tiền đi hớt
tóc
Vô tình ngang một quán cà phê
Giang hồ hảo hán dăm thằng bạn
Mải mê tán dóc chẳng cho về
Về đâu, đâu cũng là đâu đó
Đâu cũng đìu hiu đất Hán Hồ
Hớt tóc cạo râu là chuyện nhỏ
Ba nghìn thế giới cũng chưa to
Vô tình ngang một quán cà phê
Giang hồ hảo hán dăm thằng bạn
Mải mê tán dóc chẳng cho về
Về đâu, đâu cũng là đâu đó
Đâu cũng đìu hiu đất Hán Hồ
Hớt tóc cạo râu là chuyện nhỏ
Ba nghìn thế giới cũng chưa to
Vẫn một giọng thơ, một cốt cách,
một phong thái. Võ Phiến, hai mươi năm sau cuộc chiến, có đủ bình tâm và khoảng
cách để nhìn lại thơ văn và tâm tình một thời đại và thông hiểu thấu đáo hiện
tượng Nguyễn Bắc Sơn, trước sau như nhất, “cũng cái ngông nghênh ấy”:
“Ngày trước trong chiến tranh,
ông kể chuyện chơi trò nổ súng cắc cù rất độc đáo; ngày nay hòa bình thiên hạ
hớt hơ hớt hải lăn xả vào cuộc giành giật đồng tiền, thì ông nói chuyện hớt tóc
cạo râu: lại rất độc đáo.
Thành thử giữa ông Nguyễn Bắc
Sơn trong chiến tranh và ông Nguyễn Bắc Sơn sau chiến tranh vẫn có một chỗ nhất
trí. Tuy hai mà một. Do hoàn cảnh khác nhau nên đề tài câu chuyện khác nhau;
nhưng phong thái vẫn một thôi. Phong thái ấy khiến cho thời chiến ông là kẻ
phản chiến, thời bình ông thành kẻ phản lao động. Thực ra thơ ông phát biểu về
một thái độ sống, không phải chỉ là một thái độ đánh nhau hay một thái độ làm
lụng. Sống là nhẹ, không phải chỉ riêng: đánh nhau là giỡn, là nhẹ. Đời không
có nghĩa phải quấy. Một khi đời đã không có nghĩa, thì mọi hoạt động ở đời (kể cả
chiến tranh) đều vô nghĩa. Hoặc giả nó có được trao cho ý nghĩa thì ông cũng
không lý đến. Hớt tóc cạo râu là chuyện nhỏ; bắn nhau cắc cụp lỡ có trúng đạn
chết tươi cũng là chuyện nhỏ thôi”.(1994) [9]
Làm sao mà Võ Phiến có thể
viết sành sõi ngon lành như thế về Nguyễn Bắc Sơn ? Xin thưa: vì anh tự viết về
mình đó thôi. “Đời không có nghĩa phải quấy” là tư tưởng của Võ Phiến, là sợi
chỉ xuyên qua nhiều tác phẩm của anh. Nhưng áp dụng vào thơ Nguyễn Bắc Sơn thì
đúng boong.
TẤC LÒNG LƯU LẠI NGÀN NĂM
Nói vậy để thấy rằng tâm tình
Nguyễn Bắc Sơn gửi gắm qua thơ là phổ biến, là niềm phân vân tự nhiên của nhiều
người, của con người trước cuộc sống. Cơn bão lịch sử đã thổi tạt cái bình
thường đến chỗ lạ thường, biến thành biệt lệ văn học: sắt đá ồ sao lại nhớ nhà…
Tâm tình ấy được Nguyễn Bắc
Sơn diễn đạt bằng một phong cách nghệ thuật tài hoa, vừa hồn nhiên vừa bi
tráng. Kinh nghiệm sống chết hằng ngày được thăng hoa qua một thi pháp tươi trẻ
mà già dặn.
Tác phẩm Nguyễn Bắc Sơn, bên
dưới những chứng từ lịch sử, là những bài thơ hay, trong lối văn “ thốn tâm
thiên cổ ”.
ĐẶNG TIẾN
Orléans, ngày
11/9/2005. NGUỒN: Internet
———————————————————
[1] Nhà xuất bản Đồng Dao,
1972, Sài Gòn. In lại 1995, có sửa đổi và bổ sung, dưới một cái tên khác: Ở đời
như một nhà thơ Đông Phương., nxb Đồng Nai, TPHCM.
Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn tên
thật là Nguyễn văn Hải, sinh 1944 tại Phan Thiết, hiện cư ngụ cùng gia đình tại
Phan Thiết
[2] Nhà xuất bản Thư Ấn Quán,
2005. Liên lạc: Trần Hoài Thư, P.O.
Box 58, S. Bound Brook , NJ 08 880. E-mail: tranhoaithu@yahoo.com
[3] Cao Tần, Thơ Cao Tần, nxb
Tin Yêu, tr. 41, Seattle ,
1984.
[4] Lê Mai Lĩnh, tạp chí Thư
Quán Bản Thảo, tr. 67, tập 20 tháng 7-2005, New Jersey, USA.
[5] Võ Phiến, Nhớ Làng, đăng
trong tạp chí Chính Văn, tr. 49, số 1 tháng 7-1972, Sài Gòn. In lại trong Quê,
nxb Văn Nghệ, 1993, California .
[6] Võ Phiến, Thơ Miền Nam,
tập II, tr. 51, nxb Vãn Nghệ, 1995, California in lại trong bộ Văn Học Miền
Nam, Thơ, tr. 1927-1935, nxb Văn Nghệ, 1999.
[7] Phan Khôi, Chương Dân Thi
Thoại, nxb Đắc Lập, 1936, Huế. Vũ Ngọc Phan trích lại, Nhà Văn Hiện Đại, quyển
II, tr. 238, nxb Tân Dân, 1942. Nxb Khoa Học Xã Hội in lại, tập I, 1989, Hà
Nội.
[8] Ng, Thư Quán Bản Thảo,
tạp chí, số đã dẫn, tr. 86
[9] Võ Phiến, Thơ Miền Nam
II, sđd.

"Mai ta đụng trận TA còn sống hay "Mai ta đụng trận MAY còn sống" ?
Trả lờiXóaHai lần nhắc chữ TA có lẽ đúng hơn là MAY,dù MAY xử dung có vẻ khuôn mẫu hơn vì tránh lặp lại ?
Điều tôi thắc mắc nhờ nhà văn Nhật Tuấn làm ơn trả lời cho tôi được biết vì trong một tác phẩm mới
xuất bản trong nước của ký giả nào đó đã thuật lại lời của nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn rằng "tôi bây giờ
mới có tự do nói những điều tôi nghĩ,còn trước kia thì không" (nhớ đại ý như thế).
Tôi thiết nghĩ có lẽ những lời trên bị nhà báo gắn vào miệng của thi sĩ NBS.để xác định lập trường là
ông ta không những vẫn tôn thờ chủ nghĩa CS.mà còn thuyết phục NBS.trở thành người cộng sản ?
một
Mai ta đụng trận TA còn sống - đấy ạ
Xóa