mười lăm.
Suốt hai ngày liền, ông toán trưởng không bắt
chúng tôi phát cây, không nói năng, chỉ lặng lẽ chờ đợi cái điều mà tôi biết nó
chỉ tới qua cái máy VTĐ của ông. Thái độ thằng học giả cũng làm tôi ngạc nhiên,
nó thôi không giở ra tập thư ngày ngày vẫn viết nữa, nó cứ lầm lì tha thẩn hết
xó nhà này sang xó nhà khách như tìm kiếm cái gì đó và càng ngày càng tỏ ra lo
lắng. Sau cùng nó thôi không tìm kiếm nữa, kéo tôi ra chỗ chỉ có hai đứa, thổ
lộ:
“Cái bản này lạ lắm mày ạ. Suốt từ hôm tới đây,
tao không thấy bóng dáng một con chuột nào”.
Tôi nhìn nó thấy ghê ghê, không lẽ thằng này thèm
thịt đến định bắt cả chuột ăn? Nó lắc đầu quày quạy:
“Không không, tao không nói chuyện ăn thịt chuột.
Tao chỉ thắc mắc cả cái bản lên này sao không thấy bóng dáng một con.”
“Chắc chúng nó cũng chuyển xuống núi định cư cùng
với dân bản.”
“Không phải đâu, chuột ở đây chết hết rồi.”
Tôi nhìn bộ mặt tái mét của nó:.
“Vậy thì đã sao?”
“Dịch hạch chứ sao. Mấy hôm nay tao nghĩ ngợi rất
lung. Khu nhà mồ có rất nhiều mả mới chứng tỏ hàng loạt người mới chết. Điều đó
cắt nghĩa vì sao dân ở đây bỏ bản đi đột ngột vậy”.
Một biểu lộ chưa bao giờ tôi được thấy, ngay cả
lần nó bị trượt ngã suýt toi mạng ở vách đá: sự kinh hoàng, làm tôi phải thú
nhận sẽ chẳng bao giờ mình hết kinh ngạc về những người xung quanh. Giá cứ ngu
như tôi, như thằng hộ pháp, chẳng cần biết làm gì đến cái “ cơ chế truyền bệnh
của những con chuột mang mầm bệch dịch hạch” mà nó đang lắp bắp nói kia thì
chẳng bao giờ phải hoảng hốt vậy.
Nó cuống lên rủ tôi tới gặp ngay ông toán trưởng
yêu cầu lập tức cho cả toán rời khỏi bản Mù U trước khi những con bọ chét rời
bỏ xác những con chuột chết bay đi tìm con người, và mai kia nếu nó có lên cơn
sốt, yêu cầu cáng ngay xuống bệnh viện gần nhất...”Tao không thể chết một cách
vớ vẩn như vậy được, mày biết không, đêm qua tao đã quyết định rồi, nhất định
cuối năm nay tao sẽ về phép để cưới vợ. Tao đã suy nghĩ nát óc ra rồi, con gái
có thì phải không nào? nàng đã chờ tao đi xây sự nghiệp ba năm nay, nhưng bây
giờ tao đã hiểu, đó “không phải là một chuyến rong thuyền đi buôn trên biển, đó
là công việc lâu dài, bởi vậy tao không thể bắt nàng chờ đợi lâu hơn được nữa.
Cuối năm nay tao phải cưới nàng. Ấy thế mà nếu không rút nhanh khỏi đây, công
trình tình yêu bao nhiêu năm tao cất công xây dựng rất có thể xụp đổ tan tành
vì những con chuột chết đó. “ The là tôi đã rõ về cái nỗi hoảng kinh đáng ngạc
nhiên của nó. Tôi mới bảo nó rằng mày là cái thằng luôn miệng nói đến cái hố
thẳm trong con người, vậy thì những con bọ chét mang trùng dịch hạch kia có khi
chẳng đáng sợ bằng cái hố thẳm trong lòng nàng búp bê. Tôi nói thế cốt trấn an
nỗi khiếp sợ của nó thôi, chẳng ngờ nghe tôi nói chưa dứt câu, nó đã nồi giận,
thộp ngực áo tôi đến rách eả khuy tới tấp mắng vào mặt tôi đủ loại ngôn từ về tội
xúc phạm đến nữ chúa trời thiêng liêng của nó, về cái đầu tối tăm, méo mó của
tôi lúc nào cũng chỉ nhìn thấy cái phần xấu xa trong con người. Tôi cứ ngẩn mặt
nghe, mặc cho nó tuôn ra bằng hết cơn sốt ngôn từ, rồi tôi mới sửa lại khuy áo,
từ tốn bảo nó:
“Thế là rõ, mày đang sợ cái hố thẳm trong lòng
nàng chứ chẳng phải những con chuột chết mang trong mình những con bọ chét. Tao
nói đúng tim đen mày phải không nào nếu không, mày đã chẳng nổi đóa lên như
thế”.
Nó quay bộ mặt méo xệch đi, lắp bắp điều gì không
rõ nhưng tôi hiểu nó đang căm ghét tôi, nó không muốn đấm vào mặt tôi chẳng qua
nó sợ bẩn tay đó thôi. Ôi, dính dáng đến thằng mọt sách này mệt đầu, rã rượi cả
người, chẳng thà rủ thằng hộ pháp đi bổ củi còn tốt hơn. Tôi đi tìm, gặp nó
đang nằm võng dưới cây đào dâm mát, mắt lim dim dở thức dở ngủ, lạy trời, chỉ
mong sao nó đừng đang tơ tưởng tới cô nàng vợ ông xã đội, tránh cho tôi phải
nghe một bi kịch tình yêu nữa. Nghe tiếng chân tôi, nó mở choàng mắt, vẫy tôi
lại gần:
“Tao hỏi mày tít trên cao kia có cái gì?”
“Mây xanh”..
“Tít trên nữa? “
“Có vệ tinh nhân tạo và con tàu vũ trũ”
“Vậy tít trên nữa? “.
“Có mặt trăng, mặt trời và các ông sao”.
“Trên nữa trên nữa kia, có cái gì?”
Tôi nổi cáu:
“Có cái ông trời chứ còn cái gì? Mày điên đấy
phải không?”
“Không phải, từ nãy tao cử nằm ngửa mặt lên trời
và cứ nghĩ bụng phải có cái gì ở tít tịt trên đó chứ”.
Cái đó đến thằng học giả cũng khó trả lời eho nó,
chịu, tôi đành lôi nó ra khỏi cái cơn ngẫm nghĩ trừu tượng đó bằng cách rủ nó
đi bổ củi. Nó từ chối phắt và lại còn trách tôi đầu óc lúc nào cũng chỉ quẩn
quanh củi nước, chẳng có nghĩ ra được cái gì hay ho hơn.
“À thôi phải rồi, nó vỗ đét vào vai tôi kêu to,
tao vừa nhặt được mảnh nhôm đẹp lắm, mày bảo nên dùng làm gì?”
“Đưa cho thằng cấp dưỡng khi cần nó vá nồi
soong”.
“Lại nồi với soong. Tao cứ tưởng cái đầu mày đâu
đến nỗi bã đậu thế?”
Tôi nhìn nó mân mê miếng nhôm to bằng bàn tay,
hoang mang quá, chẳng biết xui nó dùng làm gì để nó khỏi chê mình đần độn. Nó
nghĩ một chút rồi cười toét miệng:
“Tao định đục thành một cái gì đó làm quà tặng
con vợ thằng xã đội. Mày bảo nên không?”
“Nên lắm chứ”.
“Theo mày nên đục thành cái gì?”
“Cái chính là mày có biết đục chạm không đã?”
Nó nhìn xuống bàn tay, xòe ra rồi nắm lại:
“Vậy mày tưởng tao chỉ biết có cầm dao thôi hả?
Làng tao có lão thợ bạc, vẫn nhờ tao thụt bễ cho lão do vậy lão mới dạy tao làm
được khôi thứ. Chỉ khó một điều là mình không có dụng cụ thôi”.
Lại một điều bất ngờ với tôi khi từ trước tôi vẫn
nghĩ về nó như một con voi đực chỉ biết hùng hục phát cây. Lược trâm cài tóc,
hộp đựng tăm... tôi căng óc nghĩ xem nó nên đục chạm thành cái gì? Nó cũng cau
trán lại nghĩ ngợi. Sau cùng, tôi kêu to:
“Tao nghĩ ra rồi, mày gò cho nó một cái đèn ngủ
thật đẹp.”
“Mẹ kiếp, để soi cho thằng xã đội ngủ với nó à?
Mày chỉ xui dại tao thôi”.
Nó trừng mắt lên, quả quyết:
“Thôi được, tao sẽ gò cho nó một con dao.
“Phải đấy, gò con dao thật sắc cho nó bổ cam, bổ
bưởi, đàn bà chúa ăn vặt. “.
“Không phải, để nó... cắt dái thằng xã đội.”
Tôi giật thót, trố mắt nhìn nó cười gằn, hoang
mang chả hiểu sao bỗng dưng nó phẫn chí thế. Nó hất võng đứng dậy, cầm mảnh
nhôm đi gò con dao mặc tôi cứ đứng đực ra bên gốc cây đào. Rắc rối thật rồi,
thằng nào cũng muốn nổi điên lên cả, tôi đành đi tìm thằng cấp dưỡng phụ nó gọt
sắn cho qua cái ngày trống rỗng này vậy. Có lẽ trong mấy đứa chỉ còn nó là ít
nỗi niềm riêng nhất. Tôi vừa ló mặt vào căn buồng vừa dùng làm nhà ăn, vừa làm
bếp đã thấy nó đang lúi húi đào góc nhà.
“Mày làm trò gì thế? “.
Nó ngước lên bộ mặt đầm đìa mồ hôi:
“Lạ lắm mày ạ, ở góc nhà có đống đất mới. Tao ngờ
nó chôn của. Mày đào giúp tao một tay, nếu được, chia đôi.”
Tôi giằng lấy cuốc trong tay nó:
“Mày điên hả? Của đâu, nhỡ ra nó chôn xác người
thì sao?”
“Xác người đâu ra?”
Để nó khỏi đào nữa, tôi bịa chuyện dân bản ở đây
có phong tục chôn trong buồng những trẻ sơ sinh chết ngay khi mới lọt lòng.
Nó ngờ vực:
“Mày nghe chuyện đâu ra? Tại sao phải thế?”
Tôi đáp bừa:
“Thì tại mới đẻ chưa có tên, chưa đăng ký hộ khẩu
nên không được chôn trong khu nhà mồ chứ sao.”
“Man rợ thế kia ư?”
Nó văng một câu chửi rất tục rồi quẳng cuốc không
đào nữa, ngẩn ngơ như người mất của, làm tôi phải bật cười:
“Tao không ngờ mày lại hám của thế?”
“ Tao gửi về ch o mẹ.”
Nó thở dài kể tôi nghe hồi này nhà nó sa sút lắm
bố nó đau ốm luôn, mẹ nó dầm mưa dãi nắng cả ngày, công điểm cũng vừa đủ ngày
có hai bữa gạo đổ nồi. Nó mở ba lô khoe gói tiền dày cộp đã giành dụm, chắt bóp
được để mai kia về phép mang về cho mẹ. A, tôi đã hiểu vì sao thằng cấp dưỡng
lại nổi tiếng hà tiện đến thế. Trước đây mỗi lần được ghé qua thị trấn, việc
đầu tiên của bọn tôi là đâm bổ vào cửa hàng ăn, có lần mậu dịch viên thấy chúng
tôi ăn uống hoang toàng quá, lại tưởng biệt kích mới trên núi xuống bèn chạy đi
báo công an. Những lúc như thế chỉ mỗi thằng cấp dưỡng ngồi ngoài cửa trông đồ
cho cả toán, khát nó uống nước trong bi đông đeo kè kè bên mình, đói nó giở cơn
nắm ra, nhất định không tiêu lấy một xu. Nó chẳng bao giờ mời ai hoặc ăn của ai
cái gì, lúc nào trên miệng cũng cắm một cái tăm ra vẻ ta đây mới ăn hãy còn no
lăm. Thảo nào nó tích cóp được số tiền lớn thế kia. Tôi khuyên nó lúc nào tiện
nên gửi dần cho mẹ qua bưu điện. để tích cả cục thế nhỡ mất thì công cốc. Nó
trừng mắt:
“Mất sao được, thằng nào muốn mất mạng thì rớ vào
đây...”
Nói xong nó buộc chặt lại, gói ra ngoài một miếng
vải nhựa, nhét kỹ dưới đáy ba lô. Chao ôi hóa ra ehỉ có tôi là chẳng có tích
cóp mong chờ cái gì, sống trên rừng hoặc trơ về xuôi cũng thế thôi, “bấc đến
đâu dầu đến đến”, cho tới lúc nào “dầu cạn”, hai tay buông xuôi là xong một
đời. Tôi nằm cuộn tròn trên võng buồn đến ứa nước mắt. Sao tôi không lo toan,
ham hố như chúng nó? Sao cứ nghĩ tới những mục tiêu ông toán trưởng vạch ra và
hứa hẹn, tôi đã thấy chán rồi? Giá như tôi cũng có mẹ để mà góp tiền gửi về như
thằng cấp dưỡng, có ngươi yêu để mà nhớ mong như thằng học giả, thằng hộ pháp
thì liệu tôi còn hay nghĩ ngợi ẩm ương về có hay không có cái hố thẳm trong tôi
nữa hay không? Chịu, chẳng biết được, biết đâu khi đã có cái để mà lo toan,
mong đợi rồi, tôi lại chẳng nghĩ ngợi ẩm ương về cái khác?
Thằng học giả bỗng chạy bổ vào, mặt tái mét:
“Có đúng là góc nhà ăn có xác người mới chôn
không?”
“Có đúng là mày nghe thằng cấp dưỡng nói không?”
“Nó vừa kể cho tao nghe đấy. Mày nói láo, làm gì
có chuyện trẻ sơ sinh mới chết phải chôn trong góc buồng vì chưa đăng ký hộ
khẩu.”
Tôi nhỏm dậy:
“Đồ ngu, tao nói thế để nó thôi không đào nữa.
Nhỡ nó đào được xác thật thì sao?”
Thằng học giả càng lo sợ:
“Đúng là ở đó người ta chôn người chết thật chứ
còn gì nữa. Mày không biết, khi gia đình có người chết vì dịch tả thì cả làng
đều sợ không ai dám đến nhà nữa kia. Chắc gia đình người chết chỉ có hai vợ
chồng già nên đành mang chôn trong góc buồng.”
Tôi chẳng hơi sức đâu mà nghe những tưởng tượng
rùng rợn của nó, đành phải theo nó đi tìm ông toán trưởng. Ông cũng đang nằm lơ
mơ trên võng mắc trong một căn nhà khá rộng, trên vách còn sót lại vài trang
họa báo vàng o. Nghe thằng học giả lắp
bắp trình bày, ông cau mặt:
“Làm gì mà cuống lên thế. Chết đến đít rồi sao?
Các cậu cứ yên tâm mài dao chuẩn bị mai đi làm, mọi chuyện tôi đã nắm hết rồi,
phải chờ ý kiến của Ban chỉ huy. Tối nay nếu nhận đợc điện tôi sẽ họp phổ biến
tỉnh hình: Thôi, ra đi...”
Ông lại nằm xuống với cái vẻ một ông thánh tuẫn
đạo sửa soạn chỗ để chết, thôi không còn dính dáng gì tới việc đời. Tôi kéo
thằng học giả ra ngoài:
“Mày thấy chưa? Gái góa cứ lo việc triều đình.
Mọi việc chân tơ kẽ tóc ông ấy đều biết trước, tính trước cả rồi. Phải tin tưởng
cấp trên chứ. Các ông ấy để mình chết được đâu mà lo.”
Thằng học giả văn g tục:
“Mẹ kiếp, lão ấy già rồi, có chết cũng chẳng sao,
tao còn trẻ, chết tiếc đời lắm.”
Mặc cho tôi tha hồ trấn an, ngay từ nhá nhem tối,
thằng học giả đã đốt bốn, năm đống lửa thật to quanh nhà và ngay gần chỗ nó mắc
võng để xua đuổi tử thần núp trong những con bọ chét có cánh, rồi đi tất, bịt
mặt, nó mắc màn che kín mít và chui tọt lên võng làm thằng hộ pháp hí húi gò
miếng nhôm cũng phải bật cười:
“Cái số phải chết thì mày có chui vào hòm sắt
cũng cứ chết. Cái số được sống thì có bắt bọ chét bỏ vào người vẫn cứ sống
nhăn.”
Thằng học giả không thèm đối đáp kéo chăn chùm
kín đầu. Thôi cứ để yên cho nó nằm tơ tưởng cô nàng búp bê, tôi can thằng hộ
pháp và bỗng giật mình khi từ phía khu nhà mộ lại vẳng tới tiếng chó tru. Trời
ơi, con chó hoang ấy vẫn còn sống, hai hôm nay, để yên cho nó chết theo chủ,
tôi không tìm ra chỗ đó nữa và tin chắc cái phần sống cuối cùng trong nó là quả
tim cũng đã ngừng co bóp, sáng mai tôi sẽ vác cuốc đào cho nó một ngôi mộ ngay
bên cạnh chủ. Vậy mà chẳng ngờ... Tôi buông một tiếng thớ dài:
“Tội nghiệp con chó, vẫn chưa chết được, còn sống
ngày nào còn khổ ngày đó?”
“Chết sao được, nó còn sống cho tới ngày... nó
chết?”
Thằng hộ pháp nở một nụ cời bí mật rồi im bặt.
Tôi chưa kịp đoán thái độ của nó, nó đã khoe tôi con dao:
“Cho mày xem, đẹp chưa, thợ chuyên môn cũng chỉ
gò được đến thế.....”
Quả thực con dao được chạm trổ rất công phu, hai
bên má đều có khắc hai con chim câu châu mỏ vào nhau với hàng chữ nhỏ li ti “
tặng em” vâ “nhớ mãi”. Tôi ngắm nghía nước dao sắc ngọt rờn rợn trên ngón tay
làm tôi bần thần:
“Tao tưởng mày nói đùa hoá ra thực hả?”
“Thựe hẳn đi chứ, mày được nhìn cảnh thằng xã đội
đánh đập nó thì mày mới biết, không khéo ở địa vị tao mày lại đúc cho nó hẳn
cái mã tấu ấy chứ.”
Tôi doạ nó:
“Nếu con đó giết chồng thực bằng con dao này, thể
nào công an cũng truy ra mày bắt đi tù. “
Vẻ mặt nó làm tôi thấy sự. Tôi đánh bạo hỏi:
“Đẹp trai như mày, đời thiếu gì con gái sao nhất
thiết cứ phải nhắm vào con vợ thằng xã đội cho rách việc ra”.
Nó nhìn chăm chăm vào mặt tôi, cười gằn:
“Mày khác gì con gà sống thiến, hiểu thế nào được
chuyện đó. Sống như mày, chết mẹ nó đi cho xong”.
Tôi không giận nó, chỉ thấy buồn cười. Hóa ra
trong cái tập thể mà ông toán trưởng vẫn báo về Ban chỉ huy rằng “mọi người vẫn
gắn bó nhau thành một khối thống nhất”, trong cái tập thể đó rất ít có những
đường dây cảm thông giữa các ốc đảo của mỗi con người. Thằng nào dường như cũng
chỉ đắm đuối vào chính nó, ngoài ra, mọi người đều là hàng xóm với nhau cả.
Chính vào lúc những ý nghĩ buồn rầu cứ như con sâu đo bò dọc ngang trong đầu,
tiếng chó tru lại vẳng tới tai tôi. Mọi người xung quanh đã ngủ hết, chỉ còn
tôi nghe được những tiếng gọi cuối cùng của con chó hoang tội nghiệp ấy
(còn tiếp)
PHỤ LỤC :
Lời phát biểu của nhà văn Nguyễn Mộng Giác.
( trong buổi ra mắt "Đi về nơi hoang
dã" tại trụ sở "LittleSaigon
Radio " - Westminster - Quận Cam - California ngày 7-4-2001 )
Kính thưa quý
vị quan khách
Kính thưa các
văn hữu kính mến
Cái buổi ra mắt sách hôm nay, nói gì
thì nói , nhưng mà là một buổi ra mắt sách bất thường , rất bất thường , bất
thường đến nỗi mà có một số người đặt câu hỏi và tìm cách giải thích tại sao
vậy, tại sao mà một số cơ sở truyền thông có uy tín ở đây tìm cách ra mắt một
cuốn sách trong nước, cuốn sách đó không phải xuất bản lần đầu tiên , mà là tái
bản lần thứ tư.
Có âm mưu gì
đây ? Và tại sao lại tự nhiên làm rầm rộ một cuốn sách đã viết từ năm 1988, in
ra từ 1990, và hoàn toàn chìm vào im lặng suốt 10 năm qua, tại sao ?
Đó là một điều
bất thường , tuy rằng có thể giải thich một cách đơn giản là bởi vì ông Nhật
Tuấn là em ông Nhật Tiến.
Đành rằng ông
Nhật Tiến là một nhà văn khả kính , mà cái tinh thần trách nhiệm xã hội cao
cả của Nhật Tiến, người mà nhà văn Mai
Thảo đã đưa vào một biệt danh rất dễ thương là " người thích đứng ngoài
nắng" và vì đứng ngoài nắng nhiều cho nên bị nhiều những lời chỉ trích hay
la lối tranh luận quanh những lời phát biểu của anh.
Nhưng mà tôi nghĩ là cái uy tín của anh Nhật
Tiến cũng không đủ để mà bao nhiêu cơ sở truyền thông quan trọng ở đây tụ lại
để mà tổ chức cái buổi ra sách bất thường này.
Tôi cho sự bất
thường này là một cái điều phải xảy ra, để mà tái lập lại một cái công bằng,
một sự công bằng về chính trị hoặc là một sự công bằng về giá trị văn chương,
và sự bất thường này đã bắt đầu từ khá lâu , trước hết là về tác giả.
Sau năm 1975,
tôi còn ở lại Việt Nam, và một cách ngẫu nhiên có gặp anh Nhật Tuấn sau năm
1975. Vì là em của Nhật Tiến nên chúng tôi nói chuyện trao đổi cởi mở và thân
thiện hơn. Cái ngạc nhiên là hai anh em này không giống nhau. Anh Nhật
Tiến thì dáng người thanh, ốm, một nhà nho trong cư xử . cách ăn
nói và cách viết . Ông Nhật Tuấn nhà ta thì là một người rất phóng khoáng ,
nghệ sĩ, ăn nói thì rất là mạnh bạo, nghĩa là hai anh em thì ngoại hình và tính
tình khác nhau.
Tôi gặp xong
thì đi tìm đọc các truyện ngắn của Nhật Tuấn thì không có gì đặc biệt . Lúc bấy
giờ anh Nhật Tuấn nổi tiếng bằng một số truyện ngắn tiêu biểu là "Con chim biết chọn
hạt" mà nhân vật là các cô thư ký trong một văn phòng của Nhà nước , cuộc
đời các cô tiểu thư trong chế độ cộng sản không có gì đặc biệt , không có cái
đau, cái rạn nứt , những nỗi khổ mà cả dân
tộc đang trải qua . Nhưng mà trong một lần trong dịp đi uống càphê với
nhau , anh Nhật Tuấn đã đọc cho tôi nghe một truyện anh vừa viết và rất thích,
và không tìm được chỗ để in.
Tôi nhớ đó là
chuyện một nhân vật nữ là công nhân xây dựng vì nghe lời dụ dỗ của một cán bộ
rồi có mang thai và bị phụ rẫy, và trong một lúc làm việc thì do những bất cẩn
trong tổ chức và trong bảo vệ lao động thì rơi từ trên cao xuống và bị chết.
Cái tai nạn
khủng khiếp đó hoàn toàn bị mọi người bàng quan, chỉ gợi một chút hối hận trong
lòng người tình phụ bạc đó thôi.
Thì cái truyện
đó trong lúc bấy giờ là một cái tiếng nói ngược. Và sau đó tôi còn được đọc một
số truyện ngắn khác của Nhật Tuấn và tôi đã thấy một điều bất thường , là những
lời lẽ , những truyện ngắn, những bài thơ rất công thức, rất đơn điệu đăng trên
báo chí công khai , trong lòng mỗi người nhà văn, nhà thơ mà tôi đã gặp còn
có một cái lương tâm , còn có sự đau khổ, có sự chia sẻ với thân phận đồng bào
mình. Và những sự dấu kín đó, họ dấu thật kín , và chỉ viết ra cho mình và nói
với những người mà họ cho là không nguy hiểm với họ, không hại được họ , họ mới
nói. Và lúc bấy giờ tôi là một thằng Ngụy một trăm phần trăm , tôi có tố cáo
Nhật Tuấn thì cũng không ai tin tôi cả và vì nghĩ rằng tôi là bạn Nhật Tiến ,
Nhật Tuấn mới đọc cho tôi nghe, và tôi đã từng đọc một số bài thơ, một số
truyện ngắn, một số truyện dài cũng cùng loại, những truyện tôi cho rằng đúng
là những truyện của nhà văn , đúng là lương tâm nhà văn và nhưng tác phẩm đó
hầu hết đã được in ra trong thời kỳ ngắn ngủi , mà ta gọi là thời kỳ cởi trói
từ 1988 đến 1991, tao thành một cái phong trào phản kháng
mạnh mẽ ở Việt Nam thời bây giờ.
Cho nên điều bất thường đầu tiên , đáng kẽ là
bình thường nhưng mà gọi là bất thường do cái chế độ toàn trị của cộng sản, là
thay vì các nhà băn đều bằng lòng với vai trò văn nô thì lương tâm cầm bút của
họ bắt buộc phải nói sự thật , và sự thật này đã ghi lại thành văn , thành thơ, thành truyện và
kết quả là cái cuốn "Đi về nơi hoang dã" này , tôi cho cuốn này là
kết tinh cao nhất sự nghiệp của Nhật Tuấn .
Có hai cuốn tôi
cho là hay nhất của Nhật Tuấn là cuốn "Lửa lạnh" và cuốn "Đi về
hơi hoang dã" và cuốn này là cuốn hay nhất , còn những cuốn khác thì cái
đề tài về truyện ngắn , cũng như những đề tài truyện dài thì Nhật Tuấn đề cập
những vấn đề bình thường thôi , chứ không có cái sắc cạnh và cái nét tổng quát
như là cuốn "Đi về nơi hoang dã"
(còn tiếp)
Thưa: Nội dung này (trừ phần Phụ lục) đã phát trong ĐI VỀ NƠI HOANG DÃ - Tiểu thuyết NHẬT TUẤN - KỲ 15
Trả lờiXóahttp://nhattuan2011.blogspot.com/2015/07/i-ve-noi-hoang-da-tieu-thuyet-nhat-tuan_30.html ngày 30/7/2015 ạ.
Kính
Tôi đã sửa...cảm ơn bạn
Trả lờiXóahoan nghênh nhà văn Nhật Tuấn đăng lại ĐI VỀ NƠI HOANG DÃ, tác phẩm rất tiêu biểu của anh
Trả lờiXóa