(tiếp
theo)
- Lấy được hài cốt cùng thẻ bài của 2 phi công đó
rồi thì bọn tui mới nhờ người thảo đơn gửi sang tòa đại sứ Hoa Kỳ bên
Bangkok-Thái Lan ở số 131 đường Soi Tien Shan gì đó... Anh Chu cũng gửi đơn cho
thân nhân bên Mỹ biết nhưng người đó lại phải nhờ các người Việt khác nữa thì
mới liên lạc được với viên chức trong chính phủ biết về các hài cốt tụi tui
đang cất giữ. Đơn thì lớp phải chịu giá cao nhân viên bưu điện mới chịu gửi thư
an toàn cho, lớp thì nhờ người xuất cảnh mang đi gửi giùm... Ôi thôi mọi thứ
tốn tiền lắm mà rồi cứ nghĩ khi chính phủ Hoa Kỳ biết về các bộ hài cốt thì họ
sẽ cho người đến tiếp xúc với mình ngay nên cũng ráng chịu các phí tổn. Gia
đình tui, gia đình anh Chu cùng gia đình các
anh khác... sẽ được chính phủ Mỹ cho định cư ở nước họ hết cả thẩy trong một
ngày không xa. Ai cũng nghĩ vậy nên ngay cả những người mà thân nhân anh Chu
bên Mỹ nhờ liên lạc, cũng buộc tụi tui phải ghi tên của bà con họ đang còn ở
Việt Nam vào bản danh sách người tìm ra 2 bộ hài cốt thì họ mới chịu giúp. Chờ
rất lâu, tụi tui mới nhận được các hồi báo từ chính phủ Mỹ và khi nhờ người
dịch ra tiếng Việt rồi ai nấy đều thất vọng vì không ngờ kết cuộc như vậy. Hồi
báo nào cũng một nội dung chính phủ Hoa Kỳ quan niệm vấn đề tìm kiếm tù binh Mỹ
mất tích cũng như hài cốt quân nhân Mỹ tử trận tại Việt Nam là một cố
gắng có tính nhân đạo. Tại Việt Nam ,
những ai biết tin tức về các vấn đề này nên lập tức thông báo đến các cơ quan
hữu trách chính thức của chính phủ. Tóm lại, chỉ với tinh thần nhân đạo, những
người nào biết tin tức về quân nhân Mỹ mất tích hoặc hài cốt Mỹ sẽ không được
hưởng ân huệ đặc biệt nào, và sẽ không nhận được bất cứ phần thưởng hay sự giúp
đỡ nào từ chính phủ Hoa Kỳ. Chú nghe có nản không... Chẳng được gì hết lại còn
khuyên mình nên đi báo cho công an biết ngay. Ai mà dám.
- Làm sao mà báo cho công an được, bị bắt là cái
chắc. Tôi tán đồng.
- Đúng! Ông Nhật gật đầu rồi nói: " Tụi tui
bàn nhau là không nên vì thực tế công an Việt Cộng ngoài mặt làm ra vẻ hợp tác
với chính phủ Hoa Kỳ trong việc tìm kiếm tung tích quân nhân Hoa Kỳ thất tung
tại Việt Nam nhưng đồng thời, họ âm thầm trừng phạt rất nặng với bất kỳ ai dính
líu vào các vụ hài cốt Mỹ. Đã có người tìm được hài cốt Mỹ, rủi để công an biết
và người đó đã bị nhốt tù với lý do khơi lại vết đau của các bà mẹ liệt sĩ Việt
Cộng. Rõ ràng tâm lý thù ghét chính quyền Mỹ vẫn còn trong não trạng của công
an. Thấy sự việc mình tính đi vào ngõ cụt, tụi tui thất vọng chẳng biết làm gì
về 2 bộ hài cốt đó ngoài việc cất kín trong nhà. Cứ vậy cho đến khi ngoài xã
hội rộ lên vụ mua bán hài cốt Mỹ với giá cao làm anh em tụi tui bất hòa vì có
người muốn nhân cơ hội này bán đi sẽ kiếm được tiền, bù cho chi phí đã bỏ ra
khi đào. Tui và anh Chu không đồng ý nên nội
bộ gây lộn với nhau. Bán đi, biết đâu có khi hai nước Hoa Kỳ-Việt Nam bang giao
với nhau, họ cho người đến nhận thì làm gì còn hài cốt mà nộp? Anh Chu và tui
thuyết phục các anh bạn kia rằng cả bọn mình đứng tên trong các lá đơn đó nên
không thể bán hài cốt được nhưng họ khăng khăng không nghe. Cuối cùng, anh Chu đành phải đưa cho mấy người họ một bộ để họ muốn làm
gì thì làm, coi như tình bạn bè đã mất và không còn dính dáng đến chuyện hài
cốt nữa
- Rồi ông vượt biên sang đây một mình với... nó.
Còn ông bạn tên Chu gì đấy, bây giờ ra sao?
- Anh Chu chơi với bạn bè rất được... Phải công
nhận! Bảo tui cứ giữ lấy bộ hài cốt và khuyên nên mang nó theo khi vượt biên,
đến trại tị nạn gặp phái đoàn Mỹ may ra sẽ dễ dàng hơn ở bên quê nhà. Bây giờ
anh ấy cũng đang chờ đi bảo lãnh sang Mỹ.
Nói tới đây ông Nhật đưa cho tôi xem tấm hình
chụp 2 cái thẻ bài của viên phi công Mỹ mà ông đã tìm được và mang theo. Chỉ
vào tấm hình, ông giải thích: " Thẻ bài Mỹ cũng như thẻ bài của quân nhân
miền Nam VNCH đều làm bằng loại thép Inox không rỉ và chỉ khác nhau ở chỗ của
Mỹ có khắc thêm phần tôn giáo người mang nó. Chú thấy hàng chữ Baptist thì có
nghĩa người phi công này theo đạo Tin Lành ". Ông Nhật cũng cho tôi xem
một ve thủy tinh cỡ bằng lọ chao đậu phụ cho người ăn chay trong có chứa chút
xương nhỏ, vài cái răng, những sợi tóc cùng ít bột trắng xám lụn vụn ở dưới
đáy. Ông Nhật thổ lộ: " Hài cốt của phi công Mỹ đây, mang theo bên mình
trên ghe, tui khấn ông ta phù hộ đến được trại tị nạn để tui có dịp trả ổng về
lại cố hương. Tui tin là ổng sẽ giúp tui được đi định cư sớm ".
Kể xong chuyện, ông Nhật ngồi thừ một chỗ, khuôn
mặt đầy vẻ buồn như vừa mới thổ lộ tâm tình với linh hồn viên phi công Mỹ đang
lảng vảng chung quanh. Tôi cũng yên lặng, chia xẻ niềm tâm linh của ông và
trước khi chia tay, hứa sẽ thảo lá đơn sơm sớm để có cho ông gửi phòng JVA mà
trong trí nghĩ phần số con người ở thời chiến thật mong manh như một cái chớp
mắt.
Buổi tối ngày thứ Bẩy khi ngồi ở quán nước của
bác sĩ Luân, tôi thuật lại chuyện của ông Nhật thì anh Khảm bảo: " Máy bay
đó chắc cháy từ trên trời cho đến khi phải đâm đầu rớt xuống đất và anh nghĩ
phi công đã chết trong cockpit nên họ mới không thể bung dù thoát hiểm. Còn hài
cốt, hồi còn bên quê nhà anh từng nghe các chuyện này. Thực ra do đám chính
khách Mỹ muốn lấy lòng dân chúng Hoa kỳ cả thôi và có thể đây cũng là dịp để họ
thăm dò thái độ bọn đầu lãnh Cộng Sản nước mình. Từ những năm cuối thập niên 80
thì chính phủ Hoa Kỳ đã phái cựu tướng John Vessey sang Việt Nam nói để bàn
chuyện thu nhặt hài cốt và truy tìm tung tích tù binh Mỹ còn sống. Thời chiến
tranh Cao Ly, quân nhân Mỹ bỏ xác bên nước đó thiếu gì mà họ có để ý mấy đến
đâu... Đấy là người đã chết, anh còn biết có những người vượt biên đến Mỹ báo
tin đã trông thấy tù binh Mỹ còn sống khi bị tù cải tạo ở nơi nào đó trong rừng
sâu Bắc Việt mà chính phủ Mỹ vẫn phớt lờ, coi đó là tin thất thiệt. Ngay ở trại
Galang này, cũng có người báo cho phòng JVA biết về chuyện đã thấy tù binh Mỹ
còn sống và kèm theo các bằng chứng mà chẳng ăn thua gì. Cái ông Nhật mà em kể
nhờ thảo tờ đơn, anh nghĩ ông ta đã hy vọng quá cao về hài cốt mang theo...
nhưng biết đâu ".
- Sao kỳ vậy. Bộ chính phủ Hoa Kỳ không thương
dân họ sao? Tôi thắc mắc.
- Chính phủ nước nào cũng phải thương dân nước họ
trước. Có dân thì mới có chính phủ, đó là lẽ thường tình của con người vì máu
chảy, ruột mềm và tình đồng bào với nhau. Chính phủ mà không biết thương dân
thì chỉ là bọn cơ hội, kiểu đục nước béo cò để vinh thân phì gia thôi. Còn nếu
em hỏi sao chính phủ Hoa Kỳ không thương đến tù binh Mỹ còn sống vất vưởng đâu
đó thì thực sự, có thể vì đầu óc thực dụng của bọn chính trị gia luôn nghĩ đến
các mối lợi từ quan hệ thương mãi trước mắt nên đành lờ đi các chuyện báo cáo
này. Nên nhớ Hoa Kỳ là một quốc gia hợp chủng và không có người nào là người Mỹ
chính cống cả. Sắc dân Mỹ chính cống! Nếu ta nhận có thì thực sự chỉ là người
thuộc các sắc dân da đỏ trong các bộ phim cao bồi viễn Tây-Hoa Kỳ. Còn riêng
với dân tị nạn Việt Nam mình, bây giờ thì Hoa Kỳ vẫn chưa chấp nhận chuyện
cưỡng bức hồi hương nhưng mai hậu có thể sẽ có ngày đấy đấy. Biết đâu! Do vậy,
em, Đỉnh và Yến ráng cố gắng vượt qua được cuộc thanh lọc như anh chị bây
giờ... Chẳng biết gì về nhiều về thời cuộc nhưng có lúc anh nghĩ thuyền nhân
Việt, ít nhiều cũng là nạn nhân của bọn chính khách Mỹ.
Anh Khảm cho biết thay vì đi định cư Mỹ thì chị
Phượng lại chọn đi Úc vì chị có giấy bảo lãnh của thân nhân bên đấy gửi sang.
" Phượng gốc là nhân viên bộ Dân Vận-Chiêu Hồi trước đây nên thuộc diện đi
Mỹ ", anh tư lự vài phút rồi trải lòng: " Thấy Phượng xin đi Úc thì
anh buồn lắm vì em biết có lúc anh muốn ngày nào đó sẽ gặp lại Phượng ở Hoa Kỳ.
Còn Phượng cũng thế, dù bảo với anh như vậy đủ rồi... Dầu sao anh và Phượng
cũng một thời gian sống chung với nhau ở đây, khác gì vợ chồng nhưng mà anh
còn... trách nhiệm với gia đình bên quê nhà nữa. Thà rằng đừng biết nhau thì
hơn, có lúc anh đã nghĩ vậy nhưng cuộc đời cũng khó nói trước lắm phải không
Vũ, em thấy sao? Cho anh một lời khuyên, một lời góp ý... Phải làm gì bây giờ?
".
Tôi ngồi yên không trả lời, thầm nghĩ anh Khảm
gặp lại chị Phượng tại Hoa Kỳ để làm gì khi mà chị Hoa và 2 đứa con bên quê nhà
rất cần bảo lãnh sang sống chung nữa. Nhưng đúng như anh vừa nói, cuộc đời cũng
như chuyện tình cảm nam nữ khó nói trước lắm. Đổ cho tại anh ham hố, đèo bòng
hay tại cái số anh và chị Phượng phải gặp nhau trong chuyến vượt biên để sống
chung! Chẳng biết phải khuyên, góp ý thế nào nữa trong chuyện tình cảm của anh
với chị Phượng đây! Vì, ngay cả chuyện của bản thân mình và Yến, tôi cũng chưa
biết nó sẽ ra sao sau này.
Biết trước chuyến định cư ở đệ tam quốc gia
thường sẽ đến đột ngột nên cũng giống khá nhiều người trong trại sau khi được
Cao Ủy ban cho vé tị nạn, anh chị Khảm-Phượng bàn nhau sẽ đi sang Tanjung
Pinang để mua sắm ít quần áo, giầy dép, túi xách... Yến nhân dịp này cũng rủ
tôi và Đỉnh cùng đi chung một chuyến với họ cho vui vì vé tàu cao tốc giá chỉ
có 15.000 Rupias không cao lắm. Đỉnh thì lắc đầu, nói với tôi là anh có Yến
cùng đi quá vui rồi còn em chỉ một mình sang đó làm chi cho tốn tiền. Tanjung
Pinang là hòn đảo mà chúng tôi đã ghé vào rồi gặp chiếc ghe chở 225 người khi
trước. Tôi ngần ngại vì bản thân không sẵn tiền dù thực lòng cũng muốn đi sang
đó một chuyến cho biết. Nói cho Yến nghe thì nàng bảo là đã đi với chị Phượng
đến phòng An ninh P3V mua vé xong xuôi cả rồi.
Chuyến đi Tanjung Pinang nào cũng đều vào buổi
sáng thứ Bẩy và về lại Galang lúc chiều tối cùng ngày. Chung với những người
khác, tôi, Yến và anh chị Khảm-Phượng đứng tập trung ngay đầu con dốc giữa zone
3 và zone 4, Galang 1 về hướng cầu tàu để chờ chiếc xe tải chở khách của phòng
An ninh P3V. Trời vẫn còn mờ mờ tối dù đồng hồ tay đã gần 7 giờ sáng, sương
khuya đọng ướt trên các bờ cây, bụi hoa của những căn nhà đóng kín cửa sát bên
cạnh đường. Anh Khảm cho biết tàu cao tốc chạy hơn 1 giờ đồng hồ thì sẽ đến
Tanjung Pinang và mỗi chuyến đi chỉ chở khoảng 60 người. " Lúc đi thì
không sao, chỉ khi về mới chật chội vì đa số người mình sang đó để mua hàng về
bán lại kiếm lời ". Chiếc xe đến, nhóm chúng tôi cùng các người khác lục
tục trèo lên nhanh chóng. Xe chạy và dừng lại ở nhà thương đế đón thêm người
rồi tiếp tục trực chỉ hướng cầu tàu. Đến nơi, tất cả người trên xe cùng kéo
xuống cầu tàu bê tông và trình vé cho nhân viên của con tàu đứng kiểm tra nơi
khoang cửa. Mới vài tháng trước đây, tôi và Yến cũng từ cầu tàu bê tông này để
lên bờ nhập vào trại làm dân tị nạn Galang. Tôi quay nhìn chung quanh, những
căn nhà của người bản xứ nằm im lìm dọc theo các lối đi nho nhỏ. Không một bóng
người lai vãng, chỉ duy nhất một con chó đang chạy thong dong trên đường nhựa
lớn. Cảnh vật buổi ban mai ở khu vực cầu tàu Galang nầy thật êm ả, vắng lặng.
Nào ai biết phía sau những căn nhà ở đây, chạy sâu tuốt vào bên trong đảo là
một xã hội Việt Nam thu gọn với đủ dạng người tứ xứ của mảnh đất hình chữ S
đang sống kiếp tha phương, chờ ngày mai đến mà chưa rõ số phần sẽ tốt hoặc xấu
hơn cho cuộc đời mình.
Theo số ghi trên vé nên tôi, Yến cùng anh chị
Khảm-Phượng ngồi chung một dãy ghế sát với khoang cửa sổ kiếng tròn nhưng kiếng
lại khá cao nên không thể ngắm cảnh bên ngoài được. Thêm các đợt khách khác
xuống dưới khoang tàu cao tốc và cứ vậy cho đến khi tài công nổ máy để khởi
hành. Thân tàu run run nhẹ nhưng ai cũng cảm thấy nó chạy với tốc độ rất nhanh.
Ngồi bên Yến, thấy nàng có vẻ mệt nên tôi hỏi nhỏ: " Em có bị sao không?
Nhức đầu? Muốn ói? ". Yến mỉm cười, lắc đầu, nhìn tôi trìu mến và nói:
- Tàu cao tốc chứ đâu phải ghe vượt biên bên Việt
Nam mình?
Tôi biết nàng đang hồi tưởng về chuyến đi của
ngày hôm ấy. Hai đứa tôi cũng gần kề bên nhau như bây giờ, Yến lại hỏi:
- Lúc đó anh có ghét em không khi đã ói đầy vào
người anh?
Một câu hỏi mà nàng đã hỏi tôi nhiều lần rồi và
lần nào tôi cũng trả lời như bây giờ:
" Lúc
đó anh cũng mệt lắm, biết em là ai mà ghét được nhưng khi biết rồi thì anh lại...
thương ".
(còn tiếp)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét