(tiếp theo)
Rồi ông kể tôi nghe ngày xưa ông đã phấn đấu gian
khổ thế nào, từng bước từng bước ông đã tiến bộ ra sao, ông kể hết, riêng cái
chuyện ông “kèm cặp” bà Trưởng phòng để đến nỗi ông văng mất cả chức thì ông
dấu biến. Khổ một nỗi, ông nói gì ông cứ nói, đầu óc tôi cứ quanh quẩn mỗi cái
chuyện ông không nói ra đó. Tôi mường tượng ra thằng bé người ta móc ra từ
thùng giấy loại trong hố xí ấy, nó có cái mũi khoằm khoằm, cái miệng mong mỏng
giống ông không? Trong cái đêm đông lạnh này, nó có ngồi bên mẹ nó canh hai
chảo nước lớn bên bếp lửa bập bùng thường thấy trong những công trường làm
đường nơi miền núi heo hút? Lạy trời đừng ai kể cho nó biết nó đã ra đời như
thế nào, mang nặng ám ảnh kinh hoàng vậy, nó sẽ yêu thương hay thù oán mẹ nó?
ôi người đàn bà khốn khổ, chị đã nhỏ bao nhiêu giọt nước mắt cắn dứt vì sự dại
dột của mình trước những miệng lười cay độc của người đời.
“Thua keo này ta bày keo khác cậu ạ...”
Tôi nhìn ông trừng trừng và không tin ở tai mình
nữa? Ông định bầy cái “keo” nào đây? Ngoài cái chức đã mất, trong cái keo mới
này, liệu có chỗ nào giành cho người đàn bà và đứa bé mà ông làm khổ?
“Thưa bác, bà trưởng phòng dạo trước ấy giờ đâu
rồi?”
Lời nói của tôi như con ong đốt cổ ông, nọc nó
chạy khắp người làm ông run bần bật:
“Làm sao, làm sao anh biết chuyện đó?”
“Thằng bé vẫn còn sống chứ?”
“Đi đi anh đi đi, đó là chuyện nội bộ, không dính
dáng gì tới anh...”
Than ôi, ông lại hiểu nhầm tôi nữa rồi, tôi không
hề muốn moi móc, tôi chỉ muốn biết số phận của người đàn bà và cháu bé. Tuy
nhiên cơn nổi nóng của ông không cho tôi được giải thích với ông chuyện đó. Đầu
óc ông méo mó qua. Than ôi, ông lại hiểu nhầm tôi nữa rồi, tôi không hề muốn
moi móc, tôi chỉ muốn biết số phận của người đàn bà và cháu bé. Tuy nhiên cơn
nổi nóng của ông không cho tôi được giải thích với ông chuyện đó. Đầu óc ông
méo mó quárồi, người ta chìa ra cho ông một bàn tay thông cảm, ông lại nhìn
thấy nó nắm một con dao. Tôi không giận ông, chỉ áy náy đã phụ lòng ông khi ông
muốn làm tốt cho tôi.
“Mày ăn cắp mì chính, bị thủ trưởng bắt gặp hay
sao mà ông ấy hét toáng ìên thế?”
Thằng học giả đón tôi với nụ cười mỉa. Cả mấy
thằng vẫn còn ngồi quanh đống lửa bàn tán ầm ĩ về cái bản Mù U ngày mai chúng
tôi sẽ đặt chân tới. Cái đói toàn diện đã biến cái bản nhỏ u tỳ thành một thành
phố hoa lệ như Paris của nước Pháp.
“Rượu thì nhất định là có rồi. Chúng mày phải
biết cái loài nếp lạnh, ngâm gạo sống với men của người Mán nom cứ như sữa vậy,
uống vào là say tít cung thang...”
Thằng học giả chờ cho mấy đứa uống xong cái món
rượu nếp lạnh” rồi mới đưa ra món khác:
“Còn cái kiểu tắm của tụi nó thì vua chúa cũng
phải chịu, bồn tắm đục bằng gỗ nguyên cây, một thằng hộ pháp với một con vợ
thằng xã đội nhảy vào vùng vẫy còn rộng chán, thế rồi ống bương dẫn nước từ
ngọn suối chảy xuống chảy qua một cái thùng khuy đun sôi sùng sục, nước trong
bồn lúc nào cũng nóng vừa đủ tha hồ anh chị kỳ cọ cho nhau...”
Thằng hộ pháp từ nãy bó gối ngồi nghe, giờ mới
bật cười:
“Mẹ cái thằng ma xó này, đi guốc trong bụng tao,
đúng tao đang nghĩ tới con mẹ ấy đây. Lạ thật, tao ngủ với bao nhiêu đứa mà chỉ
nhớ một mình nó. Đêm nào tao cũng nghe tiếng nó gừ gừ bên tai: “Ối anh ơi, anh
đang nàm gì em đây? “ Nó bắt tao trả lời bằng được, rồi lại hỏi nữa, mỗi câu ấy
thôi, mà mỗi lần phải trả lời mỗi cách. Giờ ước gì nó bỏ được thằng xã đội tao
cũng bỏ ngay lão toán trưởng chuồn về cưới nó làm vợ”.
Thằng học giả khích nó:
“Trai tráng như mày, dời núi lấp biển thì mới khó
chứ, mơ ước có một con đàn bà thì quá dễ.”
“Dời núi lấp biển ăn thua gì, cho tao con vợ
thằng xã đội tao lên rừng bắt voi tay không cũng được. Nhưng mà khó lắm chúng
mày ơi, thằng xã đội nó có súng, tao thò mặt về xóm nó bắn chết tươi”.
Rồi nó thở dài đánh sượt, tôi nghe cũng phải nẫu
ruột:
“Thằng chồng nó là thằng chó đẻ, nó hè anh em nhà
nó trói con kia vào chân giường, lột quần áo rồi cứ đùi non con kia nó vừa cặp
kìm vừa tra khảo:
“Sướng chưa? mày sướng chưa? Mày ngủ với thằng đó
bao nhiêu lần? Ơ những đâu? Khai mau không chết...” Mẹ kiếp, tao mà chứng kiến
cảnh đó, tao nhai sống thằng xã đội...”
Nó nghiến răng ken két rồi lại cười hềnh hệch:
“Đánh thế chứ đánh nữa cũng chẳng nhằm nhò gì, cứ
mỗi lần tao về, nó lại tìm đủ cách đến với tao. Kỳ phép vừa rồi, tao vừa đặt
chân xuống bến Ô tô phố huyện thì bỗng đổ mưa như trút, xung quanh trốn sạch
cả, tao còn đang khoác nylông đứng giữa trời, giữa bến xe ngơ ngơ ngác ngác như
quạ vào chuồng lợn thì bỗng từ quán ăn đằng xa có một em ướt như chuột lột,
chạy tới, chui tọt vào nylông của tao. Trời ơi, tưởng ai hóa ra con vợ thằng xã
đội, nó cứ run cầm cập, ôm lấy tao khóc rưng rức: “ối anh ơi, anh bỏ em đi đâu
cho em khổ thế này? “. Tao càng dỗ, nó càng khóc to, hai quả dừa của nó cứ đè
chặt lấy ngực mình, nóng ran khắp người. Mưa lại ào ào mỗi lúc mỗi to. Biết làm
sao giờ, tao đành buông cái ba lô trên vai xuống, rồi cứ đứng thế ma cuốn chặt
lấy nhau như bện thừng, may có miếng nylông trùm kín hết chẳng sợ ai nhìn thấy.
Chưa giập bã trầu, nó đã dãy lên đành đạch, miệng gừ gừ: “ối anh ơi, anh nàm gì
em thế này...”
Tôi cười phát sặc:
“ Rồi mày trả lời nó làm sao?”
Thằng học giả chen ngang:
“Nhốt con quỷ sứ vào cái địa ngục, nhốt con quỷ
sứ vào cái địa ngục...
“Ha ha... ha ha... ha ha...”.
Chờ cho tan cơn cười, tôi mới hỏi nó:
“Như hai con ngựa vía thế thì sung sướng cái nỗi
gì?”
Thằng hộ pháp trợn ngược mắt:
“ấy thế mà tan cơn mưa rồi tao vẫn chưa rời được
nó ra. Trò đời là thế, ăn khó mới ngon. Đêm hôm đó, tao nhớ nó quá, tao đánh
liều mò đến đứng ngay hàng rào dưới cửa sổ nhà nó, đánh lưỡi: “Tắc tè... tắc tè”.
Tao đoán chắc mật hiệu của tao thế nào cũng lọt vào tai nó nhưng đêm hôm, khó
mà lừa được thằng xã đội để ra với tao. Tao cứ nằm phục trong đám cây dâm bụt
chờ mãi, chờ mãi. Quả nhiên một chặp sau trong buồng có tiếng đánh diêm, tiếng
thằng chồng gắt: “nửa đêm rồi còn đi đâu, tiếng nó rấm rẳn:
“đau bụng phải đi chứ, hỏi vớ vẩn”.
. The rồi dưới ánh trăng suông, tao nhìn thấy nó
mặc mỗi cái quần đùi với cái áo lót, người cứ trắng lôm lốp đi về phía nhà cầu.
Ngay đêm đó nó rủ tao: “Trốn đi anh ơi, anh mang em trốn đi, đi đâu cũng được
cực khổ mấy cũng chịu, còn hơn sống thế này.”
“Nhưng biết trốn đi đâu bây giờ? Trốn ở đâu thì
rồi cũng phải có hộ khẩu, có đăng ký kết hôn, nếu không chỉ ba ngày sau là
thằng xã đội nó móc ra ngay. Tao nghĩ nát cả óc không ra, hết phép thôi đành
dứt áo, khoác ba lô ra đi, chỉ còn biết thường nó đứt ruột đứt gan...”
Nó buông một tiếng thở dài kết thúc câu chuyện
tình khổ đau. Tôi phải quay đi không dám nhìn cái dáng ngồi thiểu não của nó,
tôi vốn quen thấy nó trong cái lốt con voi đực xông xáo, chân tay chẳng lúc nào
chịu yên, miệng luôn luôn cười hềnh hệch, ấy thế mà lúc này nó rũ xuống như một
cái bánh da nhúng nước. Ôi cái làng Mù U, nơi phồn hoa đô hội” của chúng tôi
kia mới chỉ hiện ra lờ mờ trong làn sương chiều, vậy mà đã làm thổn thức tới cả
một con voi dực như thằng hộ pháp. Cuộc sống sẽ hồn nhiên, vô tư biết bao một
khi chỉ có năm người chúng tôi mãi mãi sống nơi hoang dã này
(còn tiếp)
PHỤ LỤC :
Trong "giới thiệu sách" trên
web amazon
ATTENTION chef
d'œuvre ! Le romancier vietnamien Nhât Tuân décrit l'itinérance d'une
équipée de cinq personnes dans une jungle annamitique : le chef, déjà âgé,
dirige à la boussole et avec des cartes improbables quatre jeunes aux
caractères et aux trajectoires dissemblables, aux fonctions bien définies. Le
but que leur a assigné le Centre est de tracer une voie jusqu'à un sommet caché
dans les brumes. Ils fraient leur chemin à coups de machette, dans une solitude
totale et avec une faim croissante. Leur seul contact avec le monde passe par
la radio d'où viennent des ordres que recueille religieusement le chef tous les
soirs et qu'il fait appliquer, mêmes les plus absurdes.
Au début,
l'équipée avance vaille que vaille. Puis tout se désagrège peu à peu. Les
personnalités se révèlent, s'entrechoquent. L'obsession de la faim et du sexe
embrouillent les mémoires et les comportements. Quand les circonstances du
hasard les mettent en face des réalités, chacun dérape tour à tour, ou
ensemble. Les salauds ne sont pas forcément là où on croit. À un moment où
certains songent avec nostalgie au marxisme-léninisme, ce livre vient rappeler,
à la manière d'un George Orwell, les absurdités du totalitarisme, son broyage
de l'individu, sa peur de la liberté.
Au-delà d'une seule
dénonciation, il s'agit aussi d'un parcours initiatique, à peine métaphorique,
vers la vérité de chacun, sa recherche, vers la révélation de la condition
humaine dans toute son horreur mais aussi sa splendeur comme le confirme le
titre à interprétation multiple. Dans un style lumineux, s'appuyant sur une
trame en apparence ténue, voire simpliste, mais en réalité très sophistiquée,
avec un sens aigu de la dérision, du comique et de la dramaturgie,
l'iconoclaste Nhât Tuân nous amène dans les mêmes sphères émotionnelles que le Martin
Eden de Jack London, les Mémoires de prison d'un anarchiste
d'Alexandre Berkman ou les Noces barbares de Yann Queffélec.
Philippe
Pelletier
Nhât Tuân, Retour
à la jungle, 2002 P. Picquier, traduit du vietnamien par Phan Huy Duong.
Version originale 1988
CHÚ Ý kiệt tác : Tiểu thuyết gia Nhật Tuấn mô tả hành trình của một nhóm 5 người trong rừng An-Nam : ông lãnh đạo, dã già chỉ huy theo địa bàn và những tấm bản đồ chả chắc gì đã đúng, bốn thanh niên tính cách và ý hướng khác nhau.Mục tiêu trọng tâm của họ là vạch một con đường đi tới đỉnh núi ẩn trong sương mù. Họ phải phát đường đi bằng dao rựa trong sự cách biệt hoàn toàn với xã hội và cái đói mỗi ngày một tăng. Mối liên hệ duy nhất với thế giới là chiếc điện đài mà chiều nào ông toán trưởng cũng nhận từ đó những mệnh lệnh phải thi hành dù rất vô lý.
Ban đầu, nhóm
còn có khí thế, sau đó ngày càng rã rời. Họ thức tỉnh và va chạm nhau. Ám ảnh
về cái đói và tình dục khiến họ rối trí và bấn loạn trong ứng xử. Khi những bất
trắc buộc họ phải đối diện với thực tế, mỗi cá nhân lần lượt hoặc cùng trượt dài. Nhưng sự tha hóa đốn mạt
đã không xảy ra như người ta tưởng. Vào thời điểm còn có người lưu luyến chú
nghĩa Mác- Lênin, cuốn sách đã nhắc nhở theo cái cách của George Orwell ( tác
giả Trại súc vật ) những phi lý của chế độ toàn trị , sự nghiền nát cá nhân và
nỗi hoảng sợ tự do của nó.
Bên cạnh lối trình
bầy nhất quán , cuốn sách dường như hành trình
không qua ẩn dụ vào sự thật của mỗi cá nhân , vào sự khám phá thân phận
con người trong nỗi thống khổ toàn diện như cái tựa sách bao hàm đa nghĩa . Với
một bút pháp sáng rỡ, dựa trên một câu chuyện có vẻ mỏng manh, thậm chí đơn giản, nhưng thực
sự rất phức tạp, với ý thức sâu sắc về sự mỉa mai, hài hước và gay cấn bi đát, kẻ
hạ bệ thần tượng Nhật Tuấn đưa chúng ta vào
không gian cảm xúc như Martin Eden
của Jack London, Hồi ký đi tù của một kẻ
vô chính phủ Alexander Berkman hoặc Hôn
nhân man rợ của Yann Queffélec.
Philippe
Pelletier
Nhât Tuân, Đi về nơi hoang dã , 2002 P. Picquier, Bản
dịch tiếng Việt của Phan Huy Đường . Bản gốc 1988
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét