một
Chúng tôi có
năm người, một ông già và bốn gã đàn ông lực lưỡng sẵn sàng làm chồng những cô
gái khỏe mạnh, làm cha những đứa bé chập chững, làm chủ những gia đình vào
chiều đông xám lạnh như chiều nay hẳn đang quây quần quanh bữa cơm nóng sốt.
Vậy mà đằng
đẵng bao năm nay, chúng tôi bị quăng lên những đỉnh núi quanh năm mây phủ,
không có cả đến một tiếng chó, một bãi phân trâu, cái thứ ở dưới miền đồng
ruộng kia, ta bắt gặp nhan nhản ngay khi chưa bước chân vào cổng làng. Thật khó
biết được giới hạn của nhu cầu và sức chịu đựng của con người. Như tôi chẳng
hạn. Từ mờ đất tiếng còi của ông toán trưởng đã đột ngột xé toang mọi giấc mơ,
tôi nhảy trên võng xuống. nhét vội vào dạ dày nắm cơm muối vừng, thế rồi cầm
lấy một con dao, cứ nhắm phía trước phát một vệt mòn qua bùng nhùng gai góc,
chẳng mấy chốc quần áo đã đẫm mồ hôi, mình mẩy ngứa ran bụi bặm, cổ khô đắng
hồng hộc hơi thở, mặc kệ, cứ nghiến răng nhoài tới cho đến khi tiếng còi rúc
lên mới vứt dao nằm vật ngửa, dốc ngược bi đông nước vào cuống họng, nỗi mệt
nhọc chưa kịp tan trong các mạch máu, tiếng còi đã lại vực dậy, cầm lấy con dao
và lại phát cây dẫn cái vệt mòn ấy ngày càng đi sâu vào những vùng rừng rậm núi
cao mà ngay ánh mặt trời lắm khi cũng chẳng chịu chiếu tới, dẫu rằng đằng sau
balô của mỗi chúng tôi, thằng nào cũng dán một khẩu hiệu “mặt trời không lặn
trên tuyến đường khảo sát”, như vậy có nghĩa mặt trời có thể lặn đằng sau dãy
núi xanh xám kia nhưng lại không lặn trong công việc đầy nhọc nhằn của chúng
tôi ít nhất cho tới khi cái còi trong túi ông toán trưởng được rút ra thường
thường vào lúc xâm xẩm hoặc tối mịt tới mức thằng nọ có thể chém dao vào lưng
thằng kia. Tuy nhiên tôi không thể trách ông toán trưởng. Giá ông cũng cầm dao
phát rừng như bọn tôi, hẳn cứ mười lăm hai mươỉ phút, ông phải rút còi thổi một
lần; đằng này ông chẳng phải mệt nhọc mấy, chỉ đi sau chót, tay cắp cuốn sổ,
cây bút, thỉnh thoảng ghi ghi chép chép, lại còn được ngồi nghỉ mỗi khi chúng
tôi húc phải một bụi tre gai làm mấy đứa phải xúm vào dọn dẹp cả tiếng đồng hồ.
Những lúc như vậy, tay ông vẩy vẩy điếu thuốc, miệng luôn luôn giục:
“Nhanh lên các
đồng chí, hôm nay không khéo lại hụt năng suất”.
Năng suất - đó
là chiều dài hai ngàn mét đoạn đường chúng tôi phải mở được trong một ngày, đó
là cái được nhắc tới nhiều nhất vào lúc chiều, thỉnh thoảng thằng nọ lại hỏi
thằng kia: “đạt năng suất chưa mày? “. Trả lời được, tất nhiên chỉ có ông toán
trưởng cộng sổ, nhưng ông toàn giấu, ngay cả khi đủ năng suất rồi, ông vẫn bảo
chưa, để thúc chúng tôi làm nữa. Tuy nhiên, trong cả bọn, sướng nhất vẫn là
thằng cấp dưỡng. Sáng sớm dậy nấu một nồi cơm, rồi cả ngày, nó nằm khểnh trong
hang hoặc vạt cây nào đó trông coi đồ đạc, mãi đến chiều mới phải nấu một nồi
cơm nữa. Nhiệm vụ nó chỉ có thế, ngoài ra nếu hứng lên nó có thể xách khẩu súng
trường duy nhất trong toán đi bắn con chim, con sóc hoặc con gà rừng làm món ăn
tươi. Nhưng chuyện đó hàng năm chỉ xảy ra vài lần, cái thằng cấp dưỡng lười
thối thây ấy khoái nằm kéo bễ hơn là lò mò xách súng đi bắn thú. Và hàng ngày,
hai bữa đều đều bọn tôi vẫn chỉ có rau rừng nấu tép khô với nước mắm viên tống
vội tống vàng vào năm cái dạ dày lép kẹp.
hai.
Bữa ăn cuối
cùng trong ngày còm cõi đến độ biến đâu mất vào lúc chúng tôi chui cả vào trong
những chiếc võng căng ngổn ngang quanh một cái hang hàm ếch và giấc ngủ khó mà
tới khi trong bụng có tiếng óc ách than vãn của cái dạ dày đang co bóp vào
chính nó. Tôi cố ép sự suy nghĩ hướng tới những gía trị cao đẹp trong tinh thần
con người như sự anh dũng của người lính trước họng súng quân thù, sự bất khuất
của người tù trươc cám dỗ của kẻ địch, nhưng hỡi ôi, tôi không sao xóa được
hình ảnh cái đùi gà luộc vàng ngậy cứ ngọ nguậy trong trí tưởng tượng bất trị
của tôi. Cái lạnh buốt của rừng khuya đã thấm qua được lần vải võng nhoi nhói
châm vào da thịt, và bây giờ thì cả cái đói lẫn cái rét làm co quắp cả người
như một con sâu thảm hại trong kén lá. Tôi giở mình, úp sấp cho toàn bộ cái
lưng khỏi giáp với mặt võng buốt thon thót, thôi không còn muốn chống đỡ, mặc
kệ cho thân xác bị dày vò, hy vọng giấc ngủ sẽ xóa đi tất cả. Vậy nhưng đúng
vào luce hình như tôi đang thiếp đi bỗng có thằng khốn nạn nào đó hét toáng
lên:
“Dậy, dậy đi
chúng mày ơi, đói rét thế này ngủ thế chó nào được”.
Tất nhiên chỉ
trừ có ông toán trưởng chưa leo lên võng, vẫn còn lúi húi làm gì đó, còn cả bốn
thằng đều bật dậy, đốt một đống lửa và ngồi quây quanh, hắt những cái bóng chập
chờn lên vách núi. Gió vẫn giật đùng đùng, kéo theo màn sương lạnh buốt, thổi
bùng ngọn lửa bốc cao. Người tôi ấm dần, và kể cũng lạ, cái đói cũng dịu đi.
“Các cậu ạ, thử tưởng tượng, lúc này mình đang ngồi trong một cửa hàng đặc sản
thì các cậu sẽ gọi món gì trước? “ Thằng nêu ra câu hỏi đầy tính cách lãng mạn
đó là nhà học giả của chúng tôi. Trong balô của nó, ních chặt những cuốn sách
dày mà ngay đến cái tên, dù chỉ mới liếc qua, tôi đã thấy ngán. Ấy thế mà thằng
trí thức “rởm” đó khăng khăng không chịu hòa mình vào quần chúng, không như
chúng tôi vào những lúc nghỉ ngơi ngồi tán dóc, đi kiếm rau, bắt cá, nó chọn
một chỗ thật hẻo lánh, ôm khư khư cuốn sách, nhai gau gáu những dòng chữ nhỏ li
ti trong đó. Aí già, gái góa lo việc triều đình, cái phận cầm dao phát cây cho
người ta vẽ ra con đường thì chỉ nên lo mài con dao thật sắc, hùng hục mà làm,
ngoài giờ chính quyền phải nghỉ ngơi để “tái sản xuất sức lao động”, sách vở
chữ nghĩa là cái thứ để cấp trên người ta lo. Nhưng con mọt sách ấy chẳng chịu
nghe ai, nó cứ gặm đều đều những cuốn mà hàng năm về phép nó khuân lên cả gánh.
Chữ nghĩa chui vào đầu nhiều quá làm đôi khi nó bần thần như thằng dở người, nó
lẩm bẩm cái gì đó, miệng cười mủm mỉm, tôi đi phát cây đằng sau phải quát lên:
“Chặt cái cành mây kia đi ông học giả, chú ý vào con dao không chém vào tao
giờ”. “Con người là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội... hì... hì... hì... hì...”.
Những lúc đó nó phải nói một câu gì, đại loại thế, rồi mới chịu chui vào bụi
gai, mím môi mím lợi vung dao lên. Tuy nhiên cái bệnh chữ nghĩa ấy chỉ có cơn
thôi, bình thường nó cũng như chúng tôi, cũng làm hùng hục, cũng phàm ăn tục
uống chẳng thua kém thằng nào. Mỗi bữa ăn, trừ ra có ông toán trưởng ăn riêng
vì nghi đau dạ dày, còn lại bốn thằng, cơm vừa xới ra, thằng nào thằng ấy, bưng
bát lên ngoạm ngay một góc cho đầy mồm cái đã, rồi mới chọc đũa vào thức ăn,
rồi thì không ai nói với ai một câu, chúng tôi lao đầu vào cuộc thi đua sôi nổi
nhất trong các cuộc thi đua mà hàng tuần, hàng tháng ông toán trưởng vẫn phát
động.
Người quăng bát
xuống trước tiên bao giờ cũng là thằng hộ pháp to cao, lực lưỡng nhất bọn. Nó
vỗ vào bụng bộp một cái rồi cười hà hà: “Nào bây giờ lên rừng bắt voi cũng
được...”.
Đó là nhằm bữa
có chậu cơm đầy, hôm nào lưng lửng nó vuốt bụng thở dài:
“Này, tao đã ăn
chưa ấy nhỉ? “.
Nó là thằng ăn
nhanh nhất và mau đói nhất bọn. Bởi vậv nó sốt sắng hưởng ứng ngay câu hỏi của
thằng học giả:
“Tao ấy à, lúc
này mà ngồi ở cửa hàng ăn, chẳng lôi thôi gì sất, tao sục ngay vào bếp, vớ ngay
con gà luộc rồi cứ thế là...”
Nó xé đôi con
gà tưởng tượng rồi đưa lên mồm, trợn mắt lên cứ thế nhai nhồm nhoàm y như một
nhà kịch câm đại tài. Tôi hoảng sợ kêu to:
“Từ từ, nhai từ
từ thôi, nhè xương ra không hóc chết”.
Thằng cấp dưỡng
vội vã:
“Muối tiêu đây,
muối tiêu đâỵ.. Mày ăn nhạt thế tổ phí gà...”
Lúc này thằng
học giả mới lên tiếng:
“Chú ng mày
đúng là một lũ chó đói. Bụng đang rỗng mà nốc thịt vã vào có mà rách dạ dàỵ Vả
lại đã vào đến cửa hàng đặc sản thì mình phải ngồi nghỉ cái đã ở bàn ăn có phủ
khăn trắng muốt, rồi thì sẽ có một em mũm mĩm đi tới đưa cho ta cái khăn tẩm
nước hoa thơm nức, sau khi cười với ta một cái xinh thật là xinh, em mới đưa cho
ta bản thực đơn bọc nylông còn đẹp hơn cả sổ hộ khẩu ấy kia, rồi thì em mới cất
giọng thỏ thẻ hỏi thưa ngài dùng gì?...
Nó ngừng lại,
đưa mắt nhìn quanh cả bọn đang há mồm nghe.
“Ấy đấy cái chỗ
này mới là cái chỗ tao hỏi chúng mày”.
Rồi nó chỉ tay
vào mặt tôi:
“Thưa ngài,
ngài dùng món gì?”
Ái chà, tưởng
như là bao nhiêu nước trong người đã ứ đầy cả lên miệng, tôi nghe tiếng dạ dày
rên lên mừng rỡ, chẳng nghĩ ngợi gì nữa, tôi gọi bừa:
“Thịt quay đi,
thịt quay dưa chua, củ kiệu”
Thằng học giả
cười khẩy, quay sang thằng cấp dưỡng:
“Còn ngài, thưa
ngài, ngài dùng gì? “.
“Tao ấy à, bê
luộc cả con bưng lên đây. Rồi lại phải có tương gừng cho thơm. Đặc sản mà lị”.
Đến lượt thằng
hộ pháp, nó đã sực hết một con gà luộc, giờ nó gọi món gì đây? Quả thực đối với
thằng khổng lồ này, suy nghĩ thật là việc khó, nó có thể gồng tay lôi bật được
cả một cây song to bằng cổ tay, có thể vừa khoác balô, vừa cõng cái máy vô
tuyến điện của ông toán trưởng phăng phăng leo dốc, nhưng bắt nó phải động não
thì thà nó chịu đi bổ củi còn hơn. Nó cứ lắc lư mãi cái đầu, giơ tay gãi gáy
mãi rồi toét miệng ra cười:
“Đặc sản chó gì
cũng không bằng lòng lợn tiết canh. Phải đấy, giờ có bát tiết canh tao chỉ tợp
một cái là trôi tuốt luốt vào dạ dày”.
Thằng học giả
lúc này mới đưa mắt nhìn quanh với cái vẻ thật khinh bỉ. Nó quẳng thêm một cục
củi rõ to vào giữa đống lửa rồi mới chịu lên giọng thày đời:
“ Đúng là bọn
mày chưa thằng nào được đặt chân vào hàng đặc sản. Mới món đầu tiên mà đã gọi
thịt quay với bê luộc thì nhà hàng nó cười cho vỡ mũi. Này nhé. đầu tiên phải
cho cái dạ dày nó khởi động, vậy thì ta chỉ gọi món nhẹ thôi, tỷ như súp lươn,
súp cua hoặc là súp bóng cá...”
Tôì phải tròn
xoe mắt kinh ngạc không hiểu những điều thằng học giả đang thao thao bất tuyệt
kể lể tới từng chi tiết nhỏ nhất kia là những điều hắn học được trong sách hay
đã được trải qua. Dẫu sao, trong ánh lửa bập bùng và huyền ảo, trong tiếng nổ
lục bục của cây nứa bị quẳng vào giữa đống than hồng, tất cả chúng tôi ngồi im
phăng phắc há mồm ra nuốt từng lời, cứ như là đang nuốt miếng thịt bò thái
mỏng, tẩm rượu vang, lăn qua một lần mỡ sôi, những lườn cá nạc đặt trên bếp lò,
ngọt tê đi trên đầu lưỡi vì đã được chín khô không mất đi một giọt nướe... Liệu
có một nhà truyền giáo nào hớp được hồn con chiên như thằng học giả đang làm mê
mẩn bọn tôi lúc này không? Bữa tiệc do “nhà truyền giáo” của chúng tôi thết đãi
chắc còn thêm mấy món tráng miệng tân kỳ nữa nếu như nó không bị cắt đứt tàn
nhẫn bởi tiếng còi chói tai. Bọn tôi quay hết về phía cửa hang, ở đó, ông toán
trưởng đang đứng, khoác một chiếc chăn bông to tướng, lừng lững hắt lên vaceh
núi một cái bóng đen sì. Tiếng quát của ông lanh lảnh, vang vọng trong hang núi
khiến người nghe cảm giác như nó được phát qua một hệ thống loa tăng âm.
Suốt từ chập
tối, một mình ông cặm cụi với chiếc máy thu vô tuyến điện, giờ chắc ông đa liên
lạc được với ban chỉ huy và sắp sửa ra cho chúng tôi những cái lệnh mới.
“Các đồng chí
chú ý, từ sáng mai chúng ta sẽ có khẩu hiệu mới thay thế cái tuần trước. Tất cả
phải viết lên băng giấy dán trên mũ.”
Ông toán trương
có ý chờ bọn tôi mở hết cỡ cả đôi con mắt, doãng thật rộng đôi tai, sẵn sàng
nuốt từng lời, ông mới hắng giọng đọc to:
“Lấy cây làm nhà,
lấy lá làm chiếu, lấy sương làm màn... Quyết tâm chiếm lĩnh đỉnh cao phía
trước”.
Rồi ông giảng
cặn kẽ cho chúng tôi nghe như thế nào là “đỉnh cao phía trước”. Lại cũng giống
như lúc thằng học giả diễn tả các món ăn, chúng tôi há mồm ra nghe ông toán trưởng
từng lời từng chữ cho tới khi ông yên tâm đã nhồi nhét hết những điều cần thiết
vào cái đầu bã đậu của bọn tôi ông mới chịu quay vào góc riêng trong hang hàm
ếch. Đống lửa đã cháy vợi đi một nửa mà không ai trong chúng tôi chịu bỏ thêm
vào đó một cành củi khô. Sau cùng vẫn là thằng học giả lên tiếng phá vỡ cái
không khí im lặng nặng nề sau bài diễn thuyết của ông toán trưởng. Nó nói:
“Mẹ kiếp, ở
trên đời này có hai cái hành hạ con người ta tệ hại nhất”.
Thằng hộ pháp
và thằng cấp dưỡng chẳng hề quan tâm tới câu nói sặc mùi triết lý, chúng nó bỏ
đi, leo lên võng nằm chỉ có tôi ngồi nán lại với thằng học giả:
“Cái đó là cái
gì thế?
“Cái lỗ mồm,
hàng ngày mày không đổ vào đó cho đủ mười bát cơm, thử hỏi mày có khổ không
nào?”
“Thế còn cái gì
nữa?”
Nó lẳng lặng
đứng dậy rồi leo lên võng, vướng phải cái nhìn vật nài của tôì, nó toét miệng
ra cười:
“Còn cái con
cặc... thằng ngu, có thế mà cũng phải hỏi.”
(còn tiếp)
PHỤ LỤC :
ĐI VỀ NƠI HOANG DÃ - thiên đường mù của trí
tuệ
Nhà văn HOÀNG KHỞI PHONG ( Califorrnia)
(trích)
…Đọc tới dòng chót cuả cuốn sách, trước tiên
tôi biết được vì đâu cuốn sách này không bao giờ được tái bản trong nước. Rất
may cho Nhật Tuấn, nó đã kịp ra đời, ít nhất là một lần ngay trên quê hương của
nó. Ông Quang Phòng, Cục Trưởng Cục An Ninh Văn Hóa ngày đó chắc đã bị vướng
tay, và cũng không thể làm ồn, vì những cuốn sách đã ra trước trong một thời
gian ngắn như: Ly Thân của Trần Mạnh Hảo, Những Thiên Đường Mù của Dương Thu
Hương, truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, kịch của Lưu Quang Vũ, phim của Trần
Văn Thủy... cùng những sáng tác của hàng trăm cây bút khác, đã làm ông Quang
Phòng rối đầu không ít, nên nhờ vậy mà Nhật Tuấn thoát nạn. Nhưng ít người để ý
một điều : Cuốn sách không bao giờ được nhắc tới ở trong nước. Không có vụ
khen, chê tác phẩm này, không một dòng chữ nào được nhắc tới tác phẩm này. Lẽ
ra nó tạo được một tiếng vang rền như sấm, nhưng vì không một tờ báo nào được
phép đề cập tới nó, nên tiếng động tác phẩm này gây được, hệt như tiếng một hòn
sỏi ném xuống ao bèo. Bởi vì nó đã động tới tất cả những gì trước đó không ai
dám động đến. Nó thách thức tất cả những con người đã trơ như đá, đã vững như
đồng, đã có trái tim hóa thạch, đã có những cặp mắt bị hai miếng da che kín ở
thái dương, nên góc nhìn hẹp như là một kẽ hở giữa hai ngón tay. Lạ một điều
cuốn sách không hề đề cập tới chính trị, nó chỉ nói tới hậu quả còn sót lại, do
cách lèo lái con thuyền của những người đang cưỡi trên đầu những ngọn sóng quyền
lực. Nhà văn Nhật Tuấn không hề viết những chữ "Đảng, Đảng Viên, Trung
Ương, Bộ Chính Trị..." một lần nào trong cuốn sách dầy 250 trang của ông.
Với tôi nhà văn Nhật Tuấn phải là một người có lòng nhân ái, với một tấm lòng
ác độc thì khó có thể có Đi Về Nơi Hoang Dã. Không những thế ông còn thông
minh, để có thể tính thật đúng thời điểm cho cuốn sách ra đời. Nó được viết
xong vào năm 1988, nhưng phải đợi đến
cuối năm 1990 nó mới len lén góp mạt nơi các kệ sách.Sớm hơn, hay muộn hơn đều
hỏng. Tôi nghĩ tới những cuốn sách khác, và những tác giả đã một lần cắt đứt sợi
giây trói lẩn sâu vào trong da thịt. Họ
viết trong khi máu từ những vết thương vô hình nơi cổ tay chẩy ngược vào tim. Vì đó là những vết thương vô hình, nên
không bao giờ ngậm miệng được. Nếu như giờ đây có nhiều người đã quay ngược đầu
lại, đã chìa tay ra chịu trói lần thứ hai, tôi vẫn khâm phục như thường. Tôi
ngẫm lại những cây bút của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, và hiểu thêm một điều
tại sao có những nhà văn vùng lên trong một giai đoạn rồi thôi. Bởi trên đầu
các nhà văn này, lúc nào cũng có một lưỡi gươm vô hình treo lủng lẳng, nơi cổ những nhà văn này lúc nào cũng lấp ló một sợi giây thòng lọng xiết hờ. Bản thân tôi là một
nhà văn không sống và viết trong xã hội mà tính ác trấn áp tính thiện, như các
nhà văn trong nước, nên tôi không có quyền đòi hỏi thêm bất cứ một điều gì nơi
những nhà văn này. Với các nhà văn này, tôi chỉ ao ước một điều, cho dù phản
kháng là thái độ cần thiết cho đất nước trong giai đoạn hiện tại, nhưng một khi
nhu cầu chính trị qua đi, điều quan trọng cho một tác phẩm là tính văn học của
tác phẩm này. Nói một cách khác, một tác phẩm tồn tại lâu với thời gian, phải được
bảo đảm bởi giá trị văn chương.
Tôi vô cùng cám ơn các nhà văn đã cống
hiến cho người đọc những tác phẩm hay, bất kỳ đó là nhà văn trong nước hay hải
ngoại. Nghĩ cho cùng những tác phẩm hay, viết bằng tiếng Việt cho dù tác giả
sinh sống ở bất cứ đâu, sau này những tác phẩm đó vẫn được lưu trữ trong các
thư viện ở Việt Nam, hay tại những nơi nào sử dụng tiếng Việt. Chúng ta đã bước
vào thế kỷ 21, thế kỷ của điện toán. Với những tiến bộ của ngành này, không một
nhà cầm quyền nào có thể triệt hạ, thiêu hủy cho bằng hết những tác phẩm này.
Cho dù Hitler, Staline, Mao Trạch Đông có sống dậy, hay hiện có những nhân vật
tàn ác gấp trăm, gấp ngàn cũng vô ích, vì bàn tay không thể nào che nổi
mặt trời. Điều quan trọng là những tác
phẩm này phải đi được vào lòng người, viết vì nỗi đau của con người, chứ không
phải viết theo nghị quyết, theo chỉ thị từ trên đưa xuống, hay viết để chiều
theo thị hiếu của con người.
Trong tinh thần
đó, tôi cám ơn nhà văn Nhật Tuấn, và tác phẩm "Đi Về Nơi Hoang Dã".
Ông đã đứng dậy cùng với nỗi đau của chính ông, hòa tan trong nỗi đau của mọi
con người. Nhưng quan trọng hơn cả, đây là một tác phẩm văn chương thật hay của
văn học Việt Nam hiện đại.
( tháng 4-2001 )

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét