(tiếp theo)
Sợ về luận đề
Trung-Việt:
Chị
ấy bảo thử nghiệm lần đầu nên rất lo. Lấy đích thời cuộc uýnh Tàu làm cảm hứng,
nên tự thấy có phần lơ là hiệu ứng nghệ thuật. Ở Truyện 1 tác giả không che
giấu sự áp đặt mục tiêu chính trị qua 2 luận đề Trung-Việt như chân lý ngàn
năm. Bốn hồi đầu: như một nhược tiểu quốc, Đại Việt bị định mệnh bắt làm láng
giềng bất hạnh với cường quốc Trung, mọi toan tính thoát quẫy đều bất thành.
Hồi kết: chỉ còn duy nhất một cách sinh tồn là củng cố, phòng thủ đất nước vững
mạnh mà mỗi người dân Việt tự nguyện là một cột biên giới. Đọc góp ý từ bạn bè,
tác giả tiết lộ rằng hồi kết đã được hoàn thành trước cùng với hồi đầu tiên,
nên có thể chưa được tự nhiên.
Sợ về hình
thức thể loại hòa trộn:
Truyện
dùng quá nhiều thể tài rất khác nhau, mang tham vọng quá lớn đến mức ôm đồm cả
nghệ thuật lẫn ngoài nghệ thuật. Quyên nói chị ấy muốn tạo ra ‘một văn xuôi hòa trộn’ 5-6 thể loại (truyện
ngắn, truyện dài, tiểu thuyết, sử ký, bình luận, văn bản khoa học, khoa học giả
tưởng…)
Chị em bạn gái với nhau, em chẳng lạ. Bà này
dân xự Huệ gốc mà nữ công gia chánh tệ
vô cùng anh ạ. Để giải thích ‘văn xuôi hòa trộn’ chứ không là ‘văn xuôi hòa
tan’, 36 món chè đất Thần kinh quốc túy quốc hồn đâu không bày ra, phải dùng
đến món pizza tít tận xứ Ý. ‘Mỵ Châu nghe nầy, em nên hiểu văn xuôi kiểu Đỗ
Quyên của chị là trộn các loại hình văn học sao cho hòa cho thuận với nhau, mà
không tan không biến trong nhau. Khỏi cần ăn em cứ nhìn vào chiếc bánh pizza là
hiểu truyện chị. Những đoạn văn dã sử còn nguyên màu lịch sử, như các miếng nấm
thái vụn vương mùi thời gian. Những đoạn văn tư liệu còn tươi xanh như sóng
Biển Đông, chính là rau. Sốt cà chua, đó là tinh thần truyện ngắn. Pho mát là
kiểu bình luận văn chương. Riêng với các đoạn bình luận văn chương, độc giả nào
thích các sáng tác hư cấu mà lại dễ bị ói với loại văn nặng mùi chủ quan đó thì
có thể bỏ qua nó; như thực khách nhúp từng lớp phó mát mà vứt đi, pizza vẫn
ngon như pizza!’ Anh biết không, nghe bà chị
giảng, em bụng bảo dạ: ‘Đích thị là thứ văn xuôi lổn nhổn!’
Nghiêm chỉnh
mà nói, có lần bàn về cuốn tiểu thuyết khác của Đỗ Quyên, nhà văn kiêm lý
thuyết gia tài tử Khai Minh đã vung tay phải vạch ra chân tướng của
dòng văn này: ‘Thực chất đây không là tiểu thuyết theo nghĩa ‘truyện’, mà là
một loại tiểu luận núp bóng hình thức truyện. Một ghép nối của nhiều tiểu luận,
nhiều phê bình không những ở từng bài chỉn chu mà cả ở từng ý tưởng, từng đoạn
rời rạc có ý đồ của tiểu luận, phê bình.’ Bà chị chỉ còn biết lè lưỡi: ‘Thế mới
là con dao bác sĩ của phê bình chứ!’ Lý thuyết gia đó vung tay trái, vạch
tiếp: ‘Dân trong nghề thấy một Đỗ Quyên đọc và nhớ rất nhiều chuyện từ
văn chương đến thời sự. Không gian bao trùm mọi ngõ ngách địa cầu. Nhược điểm: dễ
làm người đọc cứ thấy người viết ‘cầm lựu đạn’ mở chốt đứng ngồi với thế sự; sự
cô đọng bằng thành ngữ dân gian, thổ ngữ, điển ngữ sẽ làm người đọc tầm thường
bị hất ra khỏi câu chuyện, ngoại trừ phải chú thích, chú giải như điển tích mà
Nguyễn Du làm Truyện Kiều.’ Bà chị chỉ còn biết ứ hự: ‘Chê mà sướng tê. Quyên
mà được như Du thật sao?’
Em bổ sung hai
điều: Dịch giả Thiết Ngôn nếu dịch Đỗ Quyên ra tiếng Tàu ắt cũng phải có phần
phụ lục gồm chú thích, chú giải như từng làm với bản dịch Lolita của Nabokov. Và em thấy cũng nên dùng cách gọi mà thi sĩ kiêm phong thủy
gia Nguyễn Nguyễn Bảy, phu quân của nữ sĩ Lý Phượng Liên thơm danh một thuở, tuần
trước đã định danh cho văn xuôi kiểu Nhật Tuân ở cuốn Đi Về Nơi Hoang
Vắng là loại ‘văn dài’. Hay! Không là truyện dài,
cũng không tiểu thuyết. Truyện vừa, không! Trường thiên, càng không! Văn dài.
Như thơ dài vậy thôi. Nói về dung lượng, thơ dài thì dài hơn thơ không dài,
nhưng không dài bằng thơ trường ca. Đại loại thế, về nỗi sợ thể loại. Sợ chưa
nào? [Thiết Ngôn, anh đâu rồi? Ngủ gật à?
Đọc tiếp đi. Viết, em thấy sướng…]
Sợ về trào lưu - ‘hiện thực bò tái chanh’:
Muốn nói gọi hai truyện là nồi lẩu hậu hiện
đại, nhưng em thấy chưa trúng hoàn toàn. Với các lối viết hậu hiện đại (nhiều
người hay quên: có bao nhiêu tác giả hậu hiện đại, có bấy nhiêu lối viết hậu
hiện đại) cái hay đi kèm cái dở. Những gì người ta không đọc nổi thì hoặc được
tôn lên, hoặc bị đạp xuống bằng cùng nhãn hiệu hậu hiện đại. Nỗi sợ trào lưu
lớn nhất trong em mỗi khi có ý định phê bình truyện của chị Quyên. Dễ hiểu hơn,
nếu muốn bảo truyện là hư cấu hiện thực thì đó là thứ hiện-thực-tái, hay
tái-hiện-thực cũng được. Ai đã mê món ăn Pháp bít tết (beefsteak) cũng phải
biết có 3 loại, để mà gọi khi vào nhà hàng: tái đỏ (real), tái vừa (medium),
chín (well done). Loại truyện hiện thực thông thường, đó là bít tết chín.
Truyện hiện thực huyền ảo hay các thứ ảo khác: bít tết tái vừa. Truyện hậu hiện
đại và các thứ truyện ‘lổn nhổn’ (như truyện Đỗ Quyên): khi thì là bít tết tái
đỏ, lúc lại là bò tái chanh theo kiểu An Nam!
Sợ về hình tượng
Việt:
Có
2 hình tượng làm nên cấu tứ của chuỗi truyện. Cả hai đều là truyền thuyết về
nòi giống Việt (mẹ Âu Cơ đẻ bọc trăm trứng; nguồn gốc của ‘đồng bào’) và sự bất
khuất của người Việt chống ngoại xâm (cột đồng Mã Viện). Truyện 2, Chuyện
cái mũi khoan và bom dị bào muốn nói: nếu một cái ‘trứng’ Việt nào đó
không được thụ tinh để thành ‘người’ Việt thì sẽ có thể thành một trái ‘bom’ để
diệt kẻ ‘dị bào’ (ngoại bang xâm lăng Tổ quốc của người Việt). Mà, như ở Truyện
1, dẫu được thành ‘người’ Việt cũng không thể yên ổn với kẻ thù phương Bắc luôn
rình rập cơ hội xâm phạm đất nước. Vậy, để chịu đựng láng giềng to lớn hơn rất
nhiều mỗi ‘người’ Việt hãy hóa thân thành một ‘cột đồng phản Mã Viện’ bao bọc
lãnh thổ, lãnh hải của mình. Chẳng còn lựa chọn khác!
Lý
giải kỳ cùng đến nóng ran cả điện thoại, miệng nói tay nữ tác giả còn gửi điện
thư cho em cái câu tổng kết tâm huyết của học giả Hoàng Xuân Hãn: ‘Bản sắc của
người Việt là nhân phẩm người Việt, mà cũng là nhân phẩm của nhân loại trong chuyện
làm người - đó là phải luôn đấu tranh để bảo vệ chủ quyền, độc lập, tự do của
mình trước mọi thế lực ngoại xâm, nhất là những thế lực cường quốc’.
Ngoại
đề: Dù rất tế nhị, khi người phỏng vấn tỏ ý hơi nghi ngờ kiến thức khoa học về
vũ khí bom hủy diệt hàng loạt và về hoạt động sinh lý, trứng phụ nữ của một
người chưa xong trung học (bỏ dở trường Đồng Khánh ‘vào bưng’) và cũng vì thế không thể sinh con (đàn ông các
anh khỏi cần biết lý do!), nữ văn sĩ đã khóc anh ạ. Lại thấy thương quá! (Khổ,
chỉ vì thế em mới lấy được chồng của chị ấy đấy!) Không sao, hết nước mắt đàn
bà chúng em lại cười nói thôi. He he… Rồi chị kể trước khi viết về ‘bom trứng’
đã phải tư vấn hai người thân; một nhà khoa học thâm niên từng phục vụ trong
Viện Kỹ thuật Quân sự, một giáo sư trẻ của Viện Sinh đẻ Kế hoạch. ‘Mày ạ, cả
hai vị đó đều choáng, bảo không chắc truyện có hay không nhưng chắc tác giả hơi
điên điên... Tao khoái quá cảm ơn rối rít được duyệt về mặt khoa học, và còn
nhắc nhở không điên điên sao được làm nhà văn. À cưng, chị nghe các anh trên
Thành ủy nói, cuối tháng Ban thường vụ Hội ta họp định kỳ sẽ xét nâng một số hồ
sơ Hội viên dự bị lên chính thức?’
Sợ về chủng
loại nhân vật:
Mọi
nhân vật ở đây dường như không lãnh trọn đặc điểm văn học cần có, mà phải mang
phục vụ lý tưởng chính trị và mục tiêu thời sự. Của tác giả; của các nhân vật
và sự kiện ngoài đời; tối cao là của Tổ quốc Đại Việt lâm nguy. ‘Khi Tổ quốc
gọi, chúng con lên đường!’ - Chính xác, đó cũng là lời của các loại nhân vật
văn học trong truyện Đỗ Quyên. Lên đường! Các nhân vật từ tác phẩm lần lượt dạo
bước, nhảy nhào ra khỏi trang văn chật hẹp, viển vông. Chúng hành quân, sinh tử
cùng chúng ta. Ngoài đời… Vì một Tổ quốc chung: Đại Việt!
Nhiều
tuyến nhân vật trong Truyện 1 có cũng như không có; mỗi nhân vật chết ngay sau
khi luận đề được hoàn thành. Với Truyện 2, tuyến chính là Vương Thúy Kiều - Lưu
Tiểu Tinh Đan. Cặp đôi này có ít nhất 2 ẩn dụ văn học cùng 3 ẩn dụ ngoài văn
học. Không ẩn dụ nào lãnh đạo ẩn dụ nào. Mỵ Châu hứa sẽ có một tiểu luận riêng.
Dư luận trên mạng và ngoài đời đang nóng lên vì cuộc tình đầm đẫm âm thủy (kéo
theo tinh dịch, tất nhiên), nước mắt và cuối cùng là máu. Máu của nhị vị trai
tài gái sắc đã nhuộm đỏ Biển Đông và biển Nam Hải. Vì nông nỗi nào? Hỏi là đáp.
Điều em cần chốt lại: Vương Thúy Kiều - Lưu Tiểu Tinh Đan đã lặp lại lịch sử
thì lịch sử sẽ không được phép tái lặp lại thêm một lần nữa! [Chàng có chăng nghe lời em nói? Lại đi đâu bỏ máy thế này…]
Sợ về điểm nhìn, người phát ngôn:
Cứ gọi là loạn
cào cào! Nếu đọc nhảy cóc sẽ không thể hiểu ai đang nói trong truyện: nhân vật
của truyện, nhân vật trong trích dẫn và đối thoại, nhân vật thật (ngoài đời),
tác giả thật (Đỗ Quyên), tác giả giả… Và, những cái đó liên hệ với không gian
nghệ thuật và thời gian nghệ thuật - hai yếu tố thi pháp quan trọng vào bậc
nhất mà chính hai yếu tố này trong truyện Đỗ Quyên lại cũng lung tung beng đảo
quay tít mù nó lại vòng quanh. Cần một trao đổi khác chỉ về không gian nghệ
thuật và thời gian nghệ thuật ở hai truyện ta đang bàn. Tuy thế, đây cũng là
loại tác phẩm mà độc giả có thể bắt đầu đọc, tiếp cận tác phẩm bằng bất kỳ
chương hồi nào. Việc đọc thơ trường ca cũng như vậy.
Sợ về phong cách - ‘cầu thang
biếm hài không chiếu dừng’:
Nữ tác giả của
chúng ta rõ ràng không đếm xỉa đến cảnh giới của văn hào Bernard Shaw: ‘Trò đùa
phải chấm dứt ngay khi nó thành công nhất.’ Theo các bậc cầu thang biếm hài và phóng
dụ kiểu Đỗ Quyên, bạn đọc nên chuẩn bị trước sẽ không ngưng nghỉ, không có
chiếu dừng. Lời đề từ của Truyện 2 có vẻ ‘hơi điên điên’? Tay
bút này không ham thành công, cũng không muốn thành văn, chỉ mong thành thể
loại.
Em điểm nhanh 3
định nghĩa thể loại của các tên tuổi đáng tin cậy để thấy tham vọng nơi tác
giả:
‘Một cách hữu ích nhất, thể loại được định danh là công cụ giải
bình, là cách hữu lý và uy lực nhất để xác định giá trị của văn bản văn
chương.” (Adena Rosmarin)
“Các thể loại chính - đó là những mặt trời thu hút các thể
loại khác vào trong quỹ đạo của chúng. Lịch sử văn học, trước hết là lịch sử
hình thành, phát triển, tương tác giữa các thể loại.’ (Mikhail
Bakhtin/ Phạm Vĩnh Cư)
‘Trong tiến trình văn học dài lâu, thể loại là ‘nhân vật’
bao giờ cũng có mặt và giữ vai trò chủ yếu.’ (Lưu Văn Bổng)
(còn nữa)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét