Tổng số lượt xem trang

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2015

NHẬT TIẾN Thềm Hoang: vẫn một tráng sinh lên đường (kỳ 2)

                                          (tiếp theo)

      QUAN NIỆM SÁNG TÁC
     Năm 1961, Nhật Tiến đã thành danh với ba tác phẩm xuất bản: Những Người Áo Trắng 1959, Những Vì Sao Lạc 1960, Thềm Hoang 1961, Nhật Tiến trả lời cuộc Phỏng vấn Văn Nghệ của báo Bách Khoa do nhà văn Nguiễn Ngu Í thực hiện.

_ Sáng tác để làm gì, cho mình hay cho thiên hạ?

     _ Theo ý tôi, giữa cá nhân người viết và xã hội đã có sự liên quan mật thiết. Từ lúc có ý định xây dựng tác phẩm đến lúc hoàn thành, người viết đã băn khoăn biết bao lần trước các hoàn cảnh. Mỗi ngày một ít, mỗi chỗ một cảm hứng riêng biệt, mặc nhiên sự vật chung quanh đã đóng góp cho nhà văn một phần cảm hứng. Như thế khi một tác phẩm hoàn thành, không ít thì nhiều cũng mang lại lợi ích cho cả đôi bên: người viết được phần thưởng tinh thần (vật chất đối với nhà văn ta bây giờ quá ít, không đáng kể), còn xã hội được thêm một phần đóng góp trên phương diện văn hoá.




Nhà văn Nhật Tiến [trái], Nhà văn Nguiễn Ngu Í [phải]

     _ Sáng tác theo đường lối nhất định nào hay là tuỳ cảm hứng?

       Có lẽ "đường lối" ở đây là "phương pháp làm việc". Nếu hiểu theo nghĩa ấy thì tôi không theo được cả hai. Bởi vì nói phương pháp thì phải có hệ thống, có chương trình bó buộc, còn cảm hứng thì phải có nhiều thời gian vì hứng đến với mình từng lúc. Mà riêng tôi thì vì bận bịu với nghề nghiệp [nghề giáo, ghi chú của người viết], nên có khi mệt mỏi hàng tháng không viết thêm được một dòng. Nhưng gặp trường hợp rỗi rãi, có thời gian, tôi cắm cúi viết, bất kể có hứng hay không. Tuy vậy thông thường nếu có cảm hứng, lại thêm rỗi rãi thì sáng tác dễ dàng hơn.

     _ Những gì đã xảy ra từ khi tác phẩm thai nghén đến khi hình thành?

       Tôi bắt đầu bằng một nhân vật sống trong một hoàn cảnh nào đem lại cho tôi nhiều rung cảm nhất. Từ nhân vật ấy tôi viết chương thứ nhất. Rồi từ đấy, tuỳ theo sự kiện đã viết trong chương trước (sự kiện này đến với tôi trong lúc viết), tôi dựng chương sau. Thường thường là viết được 9, 10 chương tôi mới nghĩ đến "kết". Lối viết này, theo tôi tạo được nhiều khách quan hơn là xây dựng sẵn một cốt truyện có sắp đặt từ đầu. Vì nếu định trước, tác phẩm sẽ bị gò bó, do đó mất đi nhiều ý mới lạ.

     _ Kinh nghiệm sống và sáng tác thích nhất?

       Về hình thức thì khi viết, tôi cố gắng giữ cho mình cái ý nghĩ là "đừng làm văn chương", vì thật ra tả cảnh mà không sáo thì thật là khó. Để tránh cái khó đó, tôi chọn lối hành văn giản dị. Nhưng chọn là một chuyện, mà theo được hay không lại là một chuyện khác. Cái đó theo tôi nghĩ, thuộc về phê phán của người đọc. Còn nội dung tác phẩm thì thú thật tôi còn băn khoăn nhiều, chưa dám gọi là kinh nghiệm để nêu lên mặt báo. Còn về sáng tác của tôi, tôi thích nhất thì theo thiển ý, các truyện của mình tuy đã in ra, chưa hẳn là ai cũng đọc đến, để nói ra là ai cũng biết ngay; cho nên xin miễn điều ấy cho tôi. Nhật Tiến [hết trích dẫn: Bách Khoa, Số 115, 15-10-1961, tr. 103-104]

     Với bài viết ngắn giới hạn khoảng 7 ngàn chữ, với hơn 20 tác phẩm thật khó mà giới thiệu Nhật Tiến một cách đầy đủ. Trong chỗ riêng tư, khi tôi hỏi Anh nếu phải chọn 3 tác phẩm để giới thiệu, Nhật Tiến nhắc tới 3 cuốn: Thềm Hoang, Người Kéo Màn, Giấc Ngủ Chập Chờn. Đó cũng là chọn lựa của người viết để giới thiệu tính cách đa dạng của ngòi bút Nhật Tiến.

     "Thềm Hoang" là những kiếp người trong Xóm Cỏ, một xóm lao động nghèo với bùn lầy nước đọng giữa lòng thành phố Sài Gòn. Ngay khúc dạo đầu của tác phẩm Thềm Hoang là bốn câu thơ bi ai:

     Ai đưa tôi đến chốn này
     Ban đêm thì tối ban ngày thì đen
     Ôm đàn gẩy khúc huyên thuyên
     Nghêu ngao mấy điệu cho quên tháng ngày

     Bốn câu thơ ấy để giới thiệu nhân vật chính bác Tốn, nghệ sĩ mù kiếm sống bằng nghề hát dạo. Thằng Ích, mồ côi cha mà đã khôn lanh trước tuổi, nó là đôi mắt sáng của bác Tốn. Cô Huệ gái điếm đã hết thời xuân sắc nhưng vẫn là nỗi mơ ước của bác Tốn qua trí tưởng tượng và sự mô tả của thằng Ích. Một U Tám goá bụa giữa chừng xuân, mê lời đường mật của một gã đàn ông, sau này trở thành Dượng Tám, hiện nguyên hình tên lưu manh sống bám vợ và cả bạo hành đối với vợ con. Lão Hói, rượu chè be bét, sống bằng bói bài tây và lúc nào cũng tin có ông trời. Tới ông Phó Ngữ goá vợ, chỉ có đứa con gái duy nhất, mong nó có được mô tấm chồng tử tế nhưng cũng chẳng xong. Rồi người lính Năm Trà phải đi đóng đồn xa, để lại vợ con cho mẹ già, người vợ trẻ đang tuổi thanh xuân không chịu được cảnh cô đơn, quyết định bỏ nhà ra đi; do không đủ tiền nuôi cháu, bà mẹ Năm Trà phải đem ba cháu nhỏ cho viện mồ côi, sau đó bà cụ phát điên... Những số phận ấy chung sống với nhau trong Xóm Cỏ tạo nên một khung cảnh xã hội nghèo khó vừa ảm đạm vừa bi thiết và không có lối thoát. Cảnh khổ là mẫu số chung của đám cư dân sống trong Xóm Cỏ. Hình ảnh bác Tốn người nghệ sĩ mù, và thằng Ích, cả hai gần như lúc nào cũng bàng bạc hiện diện trong suốt 300 trang sách.    
    
              



Bìa Thềm Hoang của Nhật Tiến. Nxb Đời Nay 1961
Giải Văn Chương Toàn Quốc 1961-1962

     Đỉnh cao của tấn bi kịch xã hội Thềm Hoang đánh dấu bằng sự trở về của người lính Năm Trà trong bộ quân phục bạc thếch nhếch nhác, gặp lại mẹ già thì nay đã bị mất trí không nhận ra con mình. Trước thảm kịch gia đình tan nát đó, Năm Trà cũng nổi điên trả thù đốt nhà đốt xóm. Cả Xóm Cỏ tan hoang trong lửa đỏ hoà lẫn với những tiếng kêu khóc thảm thiết. Rồi một trận mưa lớn đổ ập xuống đống tro than như muốn rửa sạch những rác rưởi của những thềm hoang trong Xóm Cỏ. Khép lại trang sách cuối, người đọc tự hỏi liệu có một ngày mai nào tươi sáng hơn cho những Xóm Cỏ tương lai?  Với nội dung ấy, với bút pháp điêu luyện của Nhật Tiến,Thềm Hoang đã được trao giải Giải Văn Chương Toàn Quốc 1961-1962

"Người Kéo Màn" nhiều người cho rằng sở trường của Nhật Tiến là viết truyện ngắn truyện dài về những đề tài xã hội, về trẻ thơ bất hạnh. Thực sự Nhật Tiến cũng đã viết nhiều vở kịch truyền thanh, cả kịch được trình diễn trên sân khấu như "năm 1960, khi có trận bão lụt nặng nề ở Miền Tây, Tráng đoàn Bạch Đằng và Toán Nữ Tráng Thanh Quan đã tham gia công cuộc cứu trợ bằng một Đại hội Văn nghệ ở Rạp Thống Nhất, Sài Gòn. Trong Đại hội này, tôi đã sáng tác một vở kịch ba màn có tên là Cơn Giông mà diễn viên chỉ gồm toàn Tráng sinh Bạch Đằng hay Thanh Quan, một trong những diễn viên của vở kịch ấy là luật sư Trần Sơn Hà, anh hiện đang sống ở Quận Cam  ". [Một Đời Hướng Đạo, Nhật Tiến].
    





Bìa tiểu thuyết kịch Người Kéo Màn của Nhật Tiến
Nxb Huyền Trân, Sài Gòn 1962                                               

     Người Kéo Màn được Nhật Tiến gọi là "tiểu thuyết kịch", là tác phẩm thứ tư của Nhật Tiến, đó là một quan niệm rất mới đối với "kịch" theo cái nghĩa cổ điển. Do đó cũng đã gây ra nhiều phản ứng và tranh luận. GS Nguyễn Văn Trung trong Lược Khảo Văn Học, tập II đã không tán thành tiểu thuyết kịch của Nhật Tiến, và cho rằng "tiểu thuyết kịch chỉ đưa đến sự lẫn lộn bộ môn, đồng thời xoá bỏ khả năng đặc biệt của bộ môn bị sát nhập". Kịch tác gia Vi Huyền Đắc cũng không đồng ý gọiNgười Kéo Màn là kịch. Nhưng với Nhật Tiến, sau hơn nửa thế kỷ, anh vẫn cứ tâm đắc với tác phẩm Người Kéo Màn. Nhật Tiến đã khá mạo hiểm vận dụng và kết hợp cả ba kỹ thuật của tiểu thuyết, của kịch, của điện ảnh để viết Người Kéo Màn. Thay vì các nhân vật chỉ diễn xuất trên sân khấu, họ còn có vai trò trải rộng ngoài đời. Nội dung Người Kéo Màn nói lên mối tương quan giữa các thành viên của ban kịch gồm đạo diễn, lão kéo màn, chàng nhạc công thổi kèn clarinette, nữ diễn viên cho đến đứa bé, nhà mạnh thường quân với nhân vật "tác giả" của vở kịch, mọi sự diễn ra trong những giả dối, mua chuộc, mưu toàn lừa gạt nhau, mâu thuẫn, đầy ngộ nhận bi thảm ngay trong chính cuộc sống của họ, họ đây là giới hoạt động nghệ thuật. Mỗi nhân vật đều có vai trò không chỉ trên sân khấu, mà cả sau hậu trường nơi phòng hoá trang và ngoài cảnh đời thật của họ với đủ mọi hỉ nộ ái ố không thiếu sự lừa gạt đến nhơ nhuốc. Nhật Tiến, đang từ ngòi bút đôn hậu rào rạt tình thương của Những Người Áo Trắng, Thềm Hoang, bước sang tiểu thuyết kịch Người Kéo Màn là một Nhật Tiến hoàn toàn khác, của hoài nghi bi quan tới mức tàn nhẫn.   

“Giấc ngủ chập chờn” được sáng tác vào giữa thập niên 1960s, lúc bấy giờ cuộc chiến ở Việt Nam do Hà Nột phát động đã bắt đầu lan ra các tỉnh Miền Nam. Nhật Tiến viết về ấp Vĩnh Hựu, hoàn cảnh của một vùng xôi đậu tức là vùng tranh tối tranh sáng. Ban ngày thì do quốc gia kiểm soát, nhưng ban đêm thì do bên kia, dân chúng sống trong vùng đó gia đình bị phân tán, có anh em thì theo bên này, có anh em thì theo bên kia, và họ chết vì cuộc chiến tương tàn. Họ sống dở chết dở giữa hai làn đạn với oán thù chồng chất vây bủa giăng mắc họ ngày đêm. Đám thanh niên và cả con nít ở cái làng đó vốn thân thiết với nhau nhưng đến lúc cuộc chiến tràn về thì hàng xóm giết nhau, anh em cũng giết nhau, gây ra bao thảm cảnh khổ đau. Nhưng người dân quê ấp Vĩnh Hựu thì vẫn cứ gắn bó với mảnh đất chôn rau cắt rốn của mình và không bao giờ muốn xa rời. Các cụ già thường nói với tụi con cháu: "Tụi bây muốn giết nhau ở đâu thì giết, nhưng cấm bắn nhau ở trong các ngõ ngách này. Chẳng dây mơ cũng rễ má, ít nhiều gì thì tụi bây cũng có liên hệ gia đình, ruột thịt hay quê hương. Giết nhau trên phần đất ông cha là nhục nhã". [Giấc ngủ chập chờn, tr.63, Nxb Huyền Trân 1969].   




Bìa "Giác Ngủ Chập Chờn" của Nhật Tiến,
Nxb Huyền Trân, Sài Gòn 1969

     Cuốn sách nói lên một sự thực là không có phong trào quần chúng bất mãn chế độ mà nổi dậy trong cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Với cái nội dung tố cáo như vậy, Hà Nội đã đánh giá cuốn sách đó là cực kỳ phản động.

GIẢI VĂN CHƯƠNG TOÀN QUỐC

     Giải thưởng Văn Chương Toàn quốc được đặt ra từ 1957. Theo Tạp chí Văn Hữu số 21 do Văn Hoá Vụ ấn hành 1962, tác giả Hàn Phong đã viết về "Lược sử Giải Thưởng Văn Chương Toàn Quốc" thời Đệ Nhất Cộng Hoà 1954- 1963:

     Giải thưởng Văn Chương Toàn quốc với đặc tính không đòi hỏi một điều kiện nào về nội dung hay hình thức của các tác phẩm dự thi hay những tác phẩm được xem xét đến. Các tác phẩm phải được xuất bản trong niên khoá. Theo nguyên tắc, giải thưởng được tổ chức hàng năm nhưng do số tác phẩm xuất bản chưa nhiều nên giải thưởng đã được tổ chức hai năm một lần:

_ Lần thứ nhất 1955-57: Hội đồng Giám Khảo đã đọc 206 tác phẩm xuất bản từ 1954 đến cuối năm 1956, do tác giả hay nhà xuất bản gửi tới dự thi, gồm đủ các loại khảo luận, tiểu thuyết, thi ca và kịch.

     Hội đồng Giám khảo gồm có học giả, giáo sư, thi sĩ, tiểu thuyết gia, kịch sĩ như: Gs Nghiêm Toản, Nguyễn Thành Châu, Nguyễn Khắc Kham, Lm Nguyễn Văn Thích, Trương Công Cừu, Hồ Biểu Chánh, Phú Đức, Bà Tùng Long, Vi Huyền Đắc, Đông Hồ, Trần Tuấn Khải, Vũ Hoàng Chương, Vũ Khắc Khoan. Chủ tịch Hội đồng là học giả Đoàn Quan Tấn. Lễ tặng giải thưởng đã được tổ chức ngày 25-8-1958 tại Dinh Độc Lập do Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà trao tặng.





Tạp chí Văn Hữu số 21 do Văn Hoá Vụ ấn hành 1962
[nguồn: tư liệu của Thành Tôn]

     Khảo luận: "Văn Chương Bình Dân" của Lm Thanh Lãng, "Xây Dựng Nhân Vị"của Bùi Tuân, "Người Xưa" của Trần Đình Khải.

     Tiểu Thuyết: "Tìm về Sinh Lộ" của Kỳ Văn Nguyên, "Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử" của Nguyễn Kiên Trung [tức Nguyễn Mạnh Côn, ghi chú của người viết], "Nếp Nhà" của Bửu Kế.

     Thơ: "Anh Hoa" của Phạm Mạnh Viện, "Long Giang Thi Tập" của Trần Hữu Thanh, "Nam Trung Thi Tập" của Nguyễn Văn Bình, "Kiếp Hồng Nhan" của Quang Hân.

     Kịch: "Bão Thời Đại" của Trần Lê Nguyễn, "Ái Tình Bôn-Sê-Vích" của Thạch Bích, "Hai Màu Áo" của Minh Đăng Khánh.   

_ Lần thứ hai 1958-59: Giải thưởng Văn Chương Toàn quốc lần hai có sự đổi mới, lần này tác giả không phải gửi tác phẩm tới dự thi nữa mà do Hội đồng chọn lựa trong toàn bộ ấn loát phẩm xuất bản từ năm 1958 đến cuối năm 1959. Vì không quan niệm là một cuộc dự thi, các nhân viên Hội đồng tìm đọc tất cả các tác phẩm. Và nay Hội Đồng đổi tên thành Hội Đồng Giải Thưởng Văn Chương Toàn Quốc 1958-59 [thay vì danh xưng Hội Đồng Giám Khảo, ghi chú của người viết].

     Hội Đồng Giải Thưởng Văn Chương Toàn Quốc 1958-59 bao gồm nhiều văn nhân nghệ sĩ, giáo sư như Hà Như Chi, Hà Thượng Nhân, Đái Đức Tuấn, Trần Hữu Thanh, Đỗ Đức Thu, Đông Hồ, Vi Huyền Đắc. Chủ tịch Hội Đồng là Gs Trương Công Cừu, Khoa Trưởng Đại học Văn khoa.

     Trong suốt 5 tháng Hội Đồng đã đọc 54 cuốn khảo luận, 34 cuốn tiểu thuyết, 50 tập thơ và 3 vở kịch. Và đã trao tặng 7 giải thưởng. Lễ trao giải được tổ chức tại Phòng Triển lãm Đô Thành do Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ, đại Diện Tổng Thống chủ toạ.

     Khảo Luận: "Dịch Kinh Tần Khảo" của Nguyễn Mạnh Bảo, "Việt Nam Văn Học Toàn Thư" của Hoàng Trọng Miên.

     Tiểu Thuyết: "Đò Dọc" của Bình Nguyên Lộc, "Thần Tháp Rùa" của Vũ Khắc Khoan, "Đời Phi Công" của Toàn Phong [Nguyễn Xuân Vinh, ghi chú của người viết], "Mưa Đêm Cuối Năm" của Võ Phiến.

     Thơ: "Tập Hoa Đăng" của Vũ Hoàng Chương

     Riêng bộ môn Kịch không có giải thưởng.
    
_ Lần thứ ba 1960-61: Hội Đồng Giải Thưởng Văn Chương Toàn Quốc lại thay đổi phương hướng và với danh hiệu mới “Hội Đồng Tuyển Trạch Giải Thưởng Văn Chương 1960-1961” do nhà biên khảo Thu Giang Nguyễn Duy Cần làm chủ tịch gồm ba tiểu ban. Tiểu ban Khảo luận gồm:  Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Văn Trung. Tiểu ban Thơ: gồm Vũ Hoàng Chương, Đông Hồ, Thanh Tâm Tuyền. Tiểu ban tiểu thuyết và kịch: Vi huyền Đắc, Vũ Khắc Khoan, Đỗ Đức Thu, Bình Nguyên Lộc.
     Hội Đồng đã họp 3 lần, cứu xét 112 tác phẩm gồm 37 cuốn biên khảo, 34 cuốn tiểu thuyết, 39 tập thơ và 3 vở kịch, kết quả như sau:

     Biên khảo: Giải duy nhất "Việt Ngữ Chính Tả Tự Vị" của Lê Ngọc Trụ

     Tiểu Thuyết: "Thềm Hoang" của Nhật Tiến, "Gìn Vàng Giữ Ngọc" của Doãn Quốc Sỹ, "Tàu Ngựa Cũ" của Linh Bảo.

     Thi ca: "Đường Vào Tình Sử" của Đinh Hùng, "Hy Vọng" của Hoàng Bảo Việt,"Tổ Ấm" của Anh Tuyến, "40 Bài Thơ" của Mai Trung Tĩnh và Vương Đức Lệ.

     Riêng bộ môn Kịch không có giải thưởng.

     [hết lược dẫn VH21, tr. 76-81]

                                            (còn tiếp)


PHẠM THẮNG VŨ - Con sóng dữ - KỲ 86



                                 (tiếp theo)

Dàn đèn cao áp xa xa nơi bến tàu rực cháy hắt ánh sáng xuống mặt nước biển. Ánh sáng cuối ngày trong cái bảng lảng trời chiều dần tối làm những cuộn sóng biển nhấp nhô trồi lên, lượn xuống như các thân thủy quái lúc đen lúc vàng đuổi nhau chạy tuốt vào bờ, không quay lại. Ghe chèo tay của dân địa phương hối hả đưa người đến bên tàu cao tốc rồi sau đó, họ vội vã lui về bến để đón thêm các khách mới như chạy đua với thời khắc của một ngày sắp tàn. Không thấy mặt ông tiến sĩ Tôn, tôi thắc mắc hỏi thì anh Khảm trả lời:

- Ô! Ông Tôn sống ở nhà thương Tanjung Pinang này, tình cờ anh với Phượng gặp ông ta ở gần cái quán nước của cha ba Tàu đó Vũ. Cứ đến ngày thứ Bẩy thì ông ta mò ra đây, lòng vòng mấy chỗ gần bến tàu để mong gặp được người quen từ Galang sang, cho vui. 

Rồi anh kể ông tiến sĩ tình nguyện đi sang sống ở nhà thương Tanjung Pinang để trông nom một thuyền nhân sống chung trong barrack từ đảo tị nạn chuyển tiếp, anh nói:

- Ông thuyền nhân đó đi có một mình, mới được Cao Ủy công nhận tị nạn trong đợt xổ thanh lọc vừa rồi thì đổ bệnh, nhà thương bên Galang đưa sang đây chữa, lòi ra ung thư gan.

Nghe vậy, tôi nghĩ hay ông tiến sĩ Tôn đang chăm sóc bệnh cho cụ Hoàng nên hỏi tới nhưng anh Khảm lắc đầu, trả lời:

- Không phải, ông này khác... Mà cụ Hoàng cũng yếu, bác sĩ Luân vẫn cho thuốc bổ uống đấy và cũng chỉ được như vậy thôi, em à. 

Tôi rất mừng vì trong lòng vẫn trông có dịp được gần gũi cụ Hoàng để học hỏi, để biết thêm những kiến thức. Tôi mong tuy hình dáng gầy gò, cụ Hoàng vẫn khỏe, tinh anh như đôi mắt sáng quắc khi kể chuyện về Sài Gòn cũ ở các tháng trước, trong lần gặp gỡ tại quán cà phê của bác sĩ Luân. 

- Bệnh tình ông này như vầy, không biết rồi sẽ ra sao? Em coi đó...

Anh Khảm bỏ lửng câu nói nhưng tôi đã hiểu khi nhớ lại những nấm mồ của thuyền nhân Việt ở một rẻo rừng bên trại lính Malaysia cũng như các ngôi mộ vôi trắng mốc thếch của Galang 3. Rồi còn những nơi khác không ai biết nữa, thiếu gì người vượt biên phải bỏ mạng. Thân nhân của người nằm dưới tầng đất lạnh này có biết đến phút lâm chung của họ để thương cảm, để khóc thầm hay chỉ buông lời trách móc vì ngỡ người xưa đã quên, một đi không lần quay lại.

Tàu cao tốc chợt nổ máy lớn hơn và rồi tài công kéo một thôi còi như thay cho đám khách thuyền nhân nói lời từ biệt đảo Tanjung Pinang trước khi khởi hành về lại bến cũ. Tàu chạy như lúc sáng trong tiếng ù ù chung với nhạc loa, cùng hình ảnh khách ngồi vật vạ trên ghế mà mắt nhắm như ngủ. Những cảm giác nôn nao lại quay trở lại trong người y như lần đi khi sáng, Yến nắm lấy tay tôi, thều thào:

- Em chỉ mong tàu chạy cho mau đến Galang, có về được nhà thì mình mới khỏe.

Chao ơi! Tôi bật cười với ý nghĩ căn phòng trong barrack nay đã là cái nhà của Yến rồi lại bào chữa cho nàng vì thói quen trong suy nghĩ nên mới nói ra như vậy.

Tàu cao tốc chạy mãi chạy mãi trong yên lặng cho đến khi một tiếng còi kéo vang lên như để đánh thức hành khách biết bến nhà đã đến. Tôi và Yến choàng dậy, tay xách túi hành lý, lần lượt theo chân các người khác bước ra khỏi khoang hầm của tàu. Trời bên ngoài giờ đã tối hẳn, chúng tôi đã về lại Galang rồi. Đứng ở sàn cầu bê tông sát thân tàu cao tốc, tôi nhìn lên những căn nhà của dân địa phương lù lù từng cái ở trên bờ hoặc nằm gọn gàng theo lối đi dưới bóng ngọn đèn cao áp. Một khung cảnh im lìm trong lúc sáng mà giờ đây, vẫn cửa kín then cài và không một ánh đèn hắt ra từ các ô cửa sổ. Trông như một bức tranh vẽ về một xóm nhà bỏ hoang dù thực tế có người ở bên trong. Họ làm vậy, chắc hẳn vì được lệnh của đám police phòng P3V mỗi khi có mặt thuyền nhân người Việt ở khu vực cầu tàu như một cách tránh các tiếp xúc không cần thiết. 

Tàu cao tốc tắt hẳn máy, trả lại cái yên lặng của bến tàu Galang như một đảo hoang không người ở. Tài công và nhân viên của tàu là những người ra sau cùng. Họ cũng mang cả đống hành lý như các chủ tiệm Galang đi sắm đồ về bán kiếm lời. Tối nay, họ ở lại trại để rồi chiều Chủ Nhật ngày mai sẽ chạy tàu đi Tanjung Pinang đón nhân viên Cao Ủy làm việc cho buổi sáng thứ Hai, ngày đầu tuần mới.

Tôi và Yến theo chân những người khác đi vào căn nhà tiếp khách nhập trại để chờ xe tải của phòng an ninh P3V từ bên trong ra đón. Người thì ngồi kiểm lại đống hành lý để vương vãi trên sàn, người thì đứng bên nhau nói chuyện trong làn khói thuốc lá như màn sương mỏng, người thì thào hỏi chuyện nhau về một việc riêng gì đó... Chúng tôi tập trung chờ, chờ cả nửa giờ đồng hồ mà chẳng thấy xe cộ nào ra đón. Có người đã lộ vẻ bất mãn khi buông ra những câu rủa cộc cằn, tức bực. Cho đến lúc có ánh đèn xe máy xuất hiện rồi tiếng ồn ào bắt đầu khi mọi người trông thấy một police bản xứ dựng xe và bước đến trước mặt. 

- Ê! thằng Rudi kìa, vậy là có chuyện rồi.

Đúng như lời người vừa mới nói, gã police tên Rudi cho biết vì cái xe tải được phòng An ninh P3V trưng dụng để kéo một chiếc Jeep mắc lầy ngoài bãi biển lúc chiều nên có thể sẽ đến trễ và y mong tất cả khách chúng tôi thông cảm. Nói xong câu, gã ta bỏ đi đến bên nhóm tài công, nhân viên của tàu cao tốc trò chuyện riêng.

Ai nấy chán nản, tản ra chung quanh thì một tiếng ùm thật lớn phát ra từ hướng cầu tàu bê tông khiến cả đám người phải đưa mắt nhìn. Tiếng một phụ nữ cất lên:

- Cá đớp bóng... Con này lớn lắm, cứ nhìn cái quầng nước kìa các ông.

Anh Khảm kéo tay tôi đi theo vài người khác đến sát bờ nước gần chỗ cầu tàu để xem. Những vòng tròn đồng tâm của quầng nước lớn vẫn còn lan tỏa chạy từng đợt từng đợt vào ven bờ. Đúng là con cá phải thật lớn mới tạo ra tiếng ùm to cùng quầng nước rộng khi nổi lên mặt nước làm mọi người có mặt phải giật mình. Tôi hỏi anh Khảm:

- Con cá gì vậy? Sao người Indo ở đây không bắt nó ăn thịt đi... Lần mới nhập trại em cũng thấy cái vụ cá đớp bóng này. Chắc cũng nó làm.

- Tụi Indo cũng biết ở đây có con cá này chứ nhưng sao lại không tìm cách bắt thì anh chịu. Có thể dân theo đạo Hồi không ăn thịt những con cá quá to cũng như loài vật nào chúi thân ngập xuống bùn. Ở đây nước phải sâu lắm thì người ta mới làm cầu tàu bê tông để ghe thuyền ghé vào được và biết đâu, dưới tầng nước xanh đen này có những rạn đá hay hang động làm nơi trú ẩn của nó.

- Anh có nghĩ đây là cá mập? Nó có thường nổi lên đớp bóng như vậy không? Không ăn thịt thì ít ra cũng phải bắt để xem coi nó là giống cá gì chứ. Tôi hỏi dồn.

- Chẳng rõ. Mà đây trong vùng nước biển thì cũng có thể. Đám trật tự nói với anh là mỗi khi có ghe tàu ghé vào chỗ này thì nó mới đớp bóng nước như vậy. Anh lại nghĩ do tiếng máy tàu cao tốc vọng xuống đáy làm con kình ngư nhức óc nên phải trồi lên.

Sau cùng, chiếc xe tải cũng đến nơi để lần lượt chở đám khách chúng tôi vào trại. Tôi và Yến nhanh chóng trở về căn phòng thân yêu thường ngày của mình. " Phải tắm cái đã ", tôi nói khi trao bịch nylon đựng thịt heo quay cùng bánh mì cho Đỉnh. Bữa ăn tối hôm đó thật thịnh soạn, thật ngon dưới ánh đèn dầu vàng vọt, chỉ tiếc vắng mặt cô Đào. Bẩy cho biết trước khi bày thức ăn ra mâm, Đỉnh đã sớt ra một ít thịt heo quay cùng nửa ổ bánh mì bảo sẽ mang cho Ánh Diễm và còn nói:

- Phải nghĩ đến người ta và có phần cho họ chứ, mấy khi có dịp được ăn tươi như thế này.

Tuần lễ sau đó, chung với niềm vui của những người có tên trong list đi định cư trước hết kể từ lúc có vụ xổ kết quả thanh lọc thì Yến cho biết đã tìm được một căn nhà chủ đồng ý bán, nàng cười tươi khi kể:

- Căn nhà nhỏ xíu nhưng được cái có giếng nước đằng sau, giàn dưa Tây phía trước cùng một cây đu đủ khá lớn trồng bên hông nhà. Chủ đã làm hàng rào bao chung quanh cẩn thận lại còn để giây Mồng tơi đan kín nữa. Em mừng khi mua được nó. Ít ra thì mình sẽ không phải chui rúc trong căn phòng chật chội của barrack lá.

Mình sẽ không phải chui rúc trong căn phòng chật chội của barrack lá. Tôi và Yến sẽ có nhà riêng để ở chung với nhau. Có thật thế không, tôi ấp úng hỏi:

- Sẽ có nhà ở Galang này... cho anh và em... sống trong đó. Phải vậy không?

Không trả lời ngay, Yến im lặng chốc lát rồi khẽ khàng từng tiếng trong ánh mắt nhìn tôi như nghiêm, như đùa rồi nàng ngưng đột ngột:

- Chỉ ở chung thôi... chứ không có...
                               

                                   (còn tiếp)

ĐỖ QUYÊN - Trung-Việt Việt-Trung - Truyện - KỲ 22


                                      (tiếp theo)

Số là trong cuộc hội đàm với người đồng cấp Mỹ, Ngoại trưởng Phạm nhắc lại cảnh báo về sự leo thang căng thẳng Biển Đông đang là nguy cơ lớn chưa từng thấy. Chủ nhà thì cho rằng biến chuyển của Đại Việt trong 20 năm qua là “phi thường” và đã trở thành một quốc gia hiện đại, một đối tác quan trọng của Mỹ. Hai mặt một nhời, ông Kerry thông báo với ông Phạm một quyết định khá là lịch sử: Mỹ vừa mới thay đổi chính sách khi cho phép việc chuyển giao thiết bị quân sự, bao gồm vũ khí sát thương, nhưng chỉ với mục đích đảm bảo an ninh đường biển, giúp Đại Việt phòng thủ, bảo vệ lãnh thổ và lãnh hải tại Biển Đông trước thách thức của hải quân Trung trong thời gian qua. Tức là, các loại vũ khí khác dùng trên đất liền, như xe tăng, vẫn sẽ tiếp tục bị cấm cho đến khi Mỹ-Việt giải quyết các bất đồng về nhân quyền.

Cuộc họp báo của Bộ Ngoại giao Mỹ ngay sau đó giải thích cho bàn dân thiên hạ: với việc dỡ bỏ một phần lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Đại Việt, Washington hoàn toàn không nhằm chống Bắc Kinh. Ý là bà con hiểu cho, chúng tui chỉ chống kẻ nào cướp về làm của riêng Biển Đông của thế giới, trong đó Đại Việt và Mỹ có phần nhiều nhất. [Kể ra cũng lạ, cái lãnh thổ siêu cường ở tít mù khơi bên kia Thái Bình Dương, đâu có cục đất nào được sóng nước Biển Đông phủ lên, thế mà lại có quả thực nơi đây? Nhưng kể vào, cũng chẳng có gì lạ. Đời là thế!] Sau đó, các quan chức Mỹ người thì cho biết Đại Việt có thể mua các loại máy bay như P-8 của Boeing và máy bay trực thăng tuần tra hàng hải; kẻ lại đoan quyết: đâu phải các thứ đó, máy bay tuần tra hải quân P-3 Orion của hãng Lockheed Martin và A-29 Super Tucano cơ! Thậm chí cả máy bay trinh sát săn ngầm P-3C là loại trang bị quân sự cao cấp Mỹ chỉ bán cho đồng minh. Vì sao? Vì sau khi sắp sửa trang bị xong xuôi một hạm đội tàu ngầm Kilo ngon lành cành đào, thì loại máy bay do thám loại đó mới là thứ cần thiết nhất của Đại Việt trong kế hoạch hiện đại hóa quân đội và ưu tiên hải quân. Coi lại thấy: cái giàn khoan của Trung trị giá tỷ đô Mỹ to như con khủng long thăm dò dầu khí ầm ầm cả Biển Đông như thế, nhưng vì không thèm thông báo trước như thường lệ nên đã khiến Đại Việt ngỡ ngàng bởi năng lực do thám còn hạn chế của mình. Tức thì mợ Thư ký Giám đốc điều hành Lockheed te te lên tạp chí IHS nói nhỏ: “Đại Việt có thể đặt hàng từ 6 đến 9 ‘con’ P-3 đấy nha. Đâu như chính phủ ta đã ‘ký tắt’ rồi.” Thế rồi Bộ Ngoại giao Mỹ lại mất công đăng đàn từ chối nói về việc “phía bạn” đã chính thức đâm đơn đặt hàng mua loại máy bay ấy hay chưa. Úi chao! Nghe cứ loạn cả lên, làm người Việt yêu nước từ quan đến dân vừa mừng vừa lo: mừng, có súng Mẽo uýnh Tàu; lo: lấy tiền đâu mà mua? Hoa Kỳ chứ có phải Liên Xô đâu mà cho ký sổ nợ tới tận 10 tỷ rúp!

Bên này Thái Bình Dương, trên tờ Sức Trẻ, Cựu Đại sứ Đại Việt tại Mỹ Lê Công Phùng kết hợp hài hòa thành ngữ Việt-Mỹ để lý giải: Người Việt ta có câu “đầu xuôi đuôi lọt”, còn dân Mỹ ưa nói “Sẽ không có bữa ăn nào miễn phí”. Không xổ nho chùm, bác Lê vẫn thuộc hàng thâm nho!

Còn tít hút Miệt Dưới địa cầu, một Việt kiều Úc châu, văn sĩ kiêm tranh đấu gia Cù Huy Hà Võ có bài phát biểu trên đài RFB, “Nới lỏng cấm vận vũ khí Mỹ-Việt, phải gắn liền nhân quyền!”

Từ nhiều năm trước khi còn ở quốc nội như là một con nhà nòi của “bên thắng cuộc” đó là người nổi danh với phương châm “Mệnh lệnh của thời đại hãy đồng hành quân sự với Mỹ” qua loạt tiểu luận cổ súy một liên minh quân sự Mỹ Việt trong lộ trình đề nghị Mỹ ơi Mỹ ời quay lại Đông Nam Á về mặt quân sự ngay đi thôi để cùng các nước trong khu vực chúng tôi đang bị Trung dùng vũ lực ăn hiếp chúng ta cùng làm một kỷ nguyên chống Tàu bành trướng tất nhiên cũng phải bằng vũ lực. Có lẽ cú mạnh nhất trong tập tiểu luận là văn bản mà văn sĩ kiêm tranh đấu gia họ Cù từng trực tiếp gửi vị Đại tướng về hưu, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng kiêm Tổng Tham mưu trưởng Quân đội, nguyên Chủ tịch Nước, với tinh thần “quyết liệt yêu cầu Đại Việt phải liên minh quân sự với Mỹ, tại vì chỉ có Mỹ mới có thể giúp Đại Việt chống Trung xâm lăng mà thôi”. Chưa rõ Tổng thống Obama đầu năm 2012 có tư vấn tập tiểu luận ấy không khi ngài đứng giữa nước Nhật nhìn về đất Trung uốn miệng mang hình viên đạn công bố chiến lược lịch sử “Xoay trục quân sự sang Châu Á - Thái Bình Dương” làm nửa trái đất và cả nước Trung rúng động.

Bây giờ, qua bài nói trên RFB bác Cù tỏ thái độ kiên định như từng tỏ: “Mỹ vừa hứa sẽ bỏ một phần cấm vận vũ khí sát thương với Đại Việt, vẻ như một cái nhích lại gần nhau về quân sự. Vâng, sẽ có thể làm tiền đề cho liên minh quân sự như tôi từng vạch ra và đeo đuổi. Độc giả có ngạc nhiên chăng khi nghe tiếp các câu sau của tôi… Nhẽ ra ở tư cách của người cổ võ liên minh quân sự Mỹ-Việt tôi hẳn được nghĩ sẽ tán thành vụ này. Ấy thế tôi lại nói ‘Không’ đấy! Không chỉ nói ‘Không’, tôi còn phản đối nữa là đằng khác. Tại vì tôi thấy đây chưa phải là thời điểm. Thời điểm nào mới là thời điểm? Là bước tiên quyết, theo tôi, Đại Việt hãy chấm dứt ngay tức thì các đàn áp nhân quyền; cụ thể: xóa bỏ ngay tức thì điều luật nào phản nhân quyền. Nói một câu cho nó lành: chỉ qua vấn đề nhân quyền Mỹ mới có thể nới lỏng cấm vận vũ khí cho Đại Việt; ấy là tôi chưa nói đến chuyện bỏ hoàn toàn cấm vận vũ khí đấy nhé!”

Cũng trên RFB một Việt Kiều khác đến từ Hà Lan - Luật gia Võ Quốc Thúc, Cựu Bộ trưởng Giáo dục thời Đại Việt Cộng Hòa đã đăng đàn với tít dài vô cùng Tổ quốc ta ơi: “Làm gì có chuyện chọn lựa giữa Hoa Kỳ hay Trung, mà chỉ có đại lộ duy nhất là chọn lựa Đại Việt!” Nếu không phải tít do tác giả đưa ra thì quả giật tít này của nhà đài phải nói là đáng giật vô cùng Tổ quốc ta ơi.

Nhà đài hỏi, “Họa Trung xâm lược ngày càng rõ như ban ngày, việc Mỹ bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí cho Đại Việt có là điều tốt không, thưa Luật gia?”, Võ Cựu Bộ trưởng sắp tròn bách niên thủng thẳng giả nhời:

“Trông vọng hoàn toàn vào ngoại bang để bảo vệ dân tộc chỉ là sự bất đắc dĩ. Do hoàn cảnh nào đó chưa thể tự vệ thì phải dựa vào một ngoại bang. [Chú ý chữ “một” của Võ Luật gia] Song le, điều tiên quyết là mình phải bồi dưỡng nội lực để có thể tự bảo vệ một khi có thể. Phải tự hỏi: vũ khí để làm gì, để giết ai? Tôi rất lo Đại Việt mình, nếu không cẩn tắc, sẽ lại bị rơi vào tình thế giống thời 1955-1975 với chiến tranh Mỹ-Việt mà cho đến nay tên gọi của nó bị xô đẩy ít nhất giữa 3 cực: ‘Kháng chiến chống Mỹ cứu nước”, ‘Chiến tranh ủy nhiệm’ và ‘Nội chiến’. Tức là sẽ có 2 phe trong dân chúng và chính quyền, phe này muốn dựa vào Trung, phe kia thì muốn Hoa Kỳ yểm trợ. Hai phe sẽ có lúc ‘chơi nhau tới số’. Rồi chính Hoa Kỳ sẽ tận dụng hai phe đó để đều cầm vũ khí sát thương made in USA. Chúng ta phải cẩn thận!
Nước ta còn nghèo, mà cái chính là còn yếu. Yếu một phần do nghèo, phần khác bởi 1001 lý do khác. Cho nên nếu dân tình chỉ nhăm nhăm tính chuyện đánh nhau, thì chẳng qua người Việt tự làm thêm một cú ‘xuất khẩu xương máu’. [Bốn chữ rất ‘máu xương’, thưa Võ Cựu Bộ trưởng]. Cứ theo tôi thấy, trước khi buộc phải cầm vũ khí hiện đại, hãy dùng hết vốn liếng vũ khí ngoại giao. Trong thế yếu Đại Việt đang phải chịu, mình chỉ có thể len lỏi [Hai chữ ‘len lỏi’ đắc địa làm sao!] giữa những tranh chấp của các cường quốc. Nước lớn có quyền lợi lớn. Nước càng lớn càng mâu thuẫn với nước lớn khác có quyền lợi lớn khác. Trên các diễn đàn ngoại giao, ta phải bằng mọi cách lèo lái sao cho họ theo hướng có thể ‘bảo vệ’ ta.

Nhà đài lại hỏi, “Tránh một cuộc chiến tranh với Trung có vẻ cũng là đường hướng vững chắc lúc này của giới lãnh đạo Hà Thành, qua vụ việc phải hòa với Trung về khủng hoảng giàn khoan 981. Nhưng song song Đại Việt cũng ráng tranh thủ ủng hộ từ Mỹ. Dám thưa Luật gia, như nhiều người khác, cụ từng gọi là chính sách đu dây giữa các cường quốc. Liệu nó sẽ đưa Đại Việt vào thế kẹt?”

Sắp tròn bách niên Võ Cựu Bộ trưởng vẫn giả nhời thủng thẳng: “Cần phân biệt chiến thuật với chiến lược chứ. Về chiến lược, phải nghĩ tới quyền lợi dân tộc lâu dài. Còn về chiến thuật, có thời ta phải đến một đồng minh này, có kỳ phải đi cùng một đồng minh khác. Với riêng tôi, trong chiến lược lâu dài thì làm gì có chuyện chọn lựa giữa Hoa Kỳ hay Trung, mà chỉ có đại lộ duy nhất là chọn lựa Đại Việt. Phàm là cái gì có lợi cho Đại Việt, tôi làm; phàm là cái gì chống lại quyền lợi trường tồn Đại Việt, tôi chống. Không oong đơ toa cát gì cả! Ờ nhỉ, ta cứ hay dùng chữ ‘chính sách đu dây’. He he he… [Bách niên cũng ‘teen” đáo để!] Không đẹp mắt. Giờ tôi chọn hình ảnh khác, ấy là cái bản lề. [Tuyệt cú mèo! Một bông hồng thắm dành cho Võ Luật gia] Nhà đài chịu chửa? Hình ảnh này không phải ngẫu nhiên đâu. Đã có nhiều biểu tượng cho dáng hình chữ S của đất nước: hình tia chớp, hình quang gánh, hình chiếc đinh… Mỗi lần buồn tình chuyện nước non, ngắm bản đồ Đại Việt thân thương, tôi lại thấy nó chẳng khác gì cái bản lề. Giúp cho cánh cửa khi mở khi đóng, lúc quay về phải, khi quay sang trái. Thế nhưng trong bàn tay chủ nhân Việt, lâu nay bản lề ấy chỉ giữ vai trò thụ động. Hiện đang là thời điểm mà dân ta cần tìm cách điều khiển, làm chủ cái bản lề: Không cho bên này lấn, bên nọ đẩy! Cụ thể nhé: Phải có một chính sách dân tộc mới mẻ và rõ ràng. Và cũng phải có một lực lượng vừa đủ để tự vệ, sau đó mới có thể sử dụng vị trí bản lế theo ý muốn. Các thế lực quốc tế nào định xài xể Đại Việt, dùng bản lề để hướng cánh cửa về phía họ, họ sẽ dè chừng cánh tay Đại Việt.”

Thế đó, cuộc chơi Việt-Mỹ Mỹ-Việt cũng lắm công phu!


                                              (còn nữa)

Thứ Hai, 24 tháng 8, 2015

ĐI VỀ NƠI HOANG DÃ - Tiểu thuyết NHẬT TUẤN - KỲ 19

Mười tám.
Những gì sẽ chờ đợi ông toán trưởng nếu ông cả gan chống lại cấp trên, đình cái công việc trọng đại người ta đã tín nhiệm giao phó cho ông chỉ vì cái cớ rất vớ vẩn là đi mua gạo ở bản Mù Càng? Và rồi khi những cơn mưa rừng đầu tiên đổ xuống, chúng tôi vẫn còn lò mò giữa rừng xanh núi đỏ, chẳng thấy cái đỉnh Hua Ca ấy ở nơi đâu thì rồi ông sẽ nói năng thế nào với Ban chỉ huy?
May mắn thay, ông toán trưởng chưa kịp phạm cái sai lầm tày đình ấy, vào buổi chiều hôm sau, khi chúng tôi vừa buông bát buông đũa đã nghe thằng học giả reo tướng:
“Có ngừời.. có người đang đi tới..”
Bọn tôi ùa ra đầu núi nơi thằng học giả đang ngong ngóng xuống đường tuyến chúng tôi mới phát vài hôm trước. Trời ơi, còn ai đi tới cái nơi u tỳ này nữa ngoài thằng liên lạc? Bọn tôi reo đến vỡ lồng ngực khi hộc tốc chạy cả xuống chân dốc đón nó.
“Gạo đâu? Gạo đâu? Sao mày chỉ đeo có ba lô thôi?
Thằng liên lạc thở hồng hộc, xua xua tay, hạ cái ba lô xuống quăng cho thằng hộ pháp. Thằng này đón lấy, hềnh hệch cười:
“Chà, nặng thế này chắc nhiều cái đớp lắm đây. Thằng cấp dưỡng đâu, chạy lên trước bắc nồi, nổi lửa lên em”.
“Mày có mang thư lên không? Mày có mang thư lên không?”
Thằng học giả vừa hỏi vừa quạt lia lịa cho thằng liên lạc khi tất cả bọn tôi vây quanh nhìn nó thong thả mở nắp chiếc ba lô. Thịt hộp, đường, sữa, thuốc lá... Chao ôi mắt tôi hoa cả lên khi các thứ được bây la liệt trên mặt đất đến mức tôi chỉ thoáng thấy bàn tay thằng học giả chộp lấy một lá thư để lẫn trong tập báo và công văn rồi chẳng để ý gì đến nó nữa, tôi xé toạc một gói kẹo Hải châu, bóc vội vàng bỏ vào miệng. Ôi cái vị sô cô la vừa bùi bùi, vừa ngọt ngọt chọc thẳng vào lưỡi rồi xông lên đến tận chân tóc, chảy xuống tận gót chân. Tôi nhắm nghiền cả mắt tận hưởng cảm giác lâng lâng khi cái kẹo đã đi hết đoạn đường của nó và đang yên vị trong dạ dày. Thằng hộ pháp không thèm ăn kẹo, thoắt một cái nó đã bật nắp được hộp cá chích ngâm dầu và không kịp cho thằng cấp dưỡng hốt hoảng giằng lại, tôi đã thấy miệng nó nhai nhồrn nhoàm. Ngay đến ông toán trưởng cũng chẳng chịu ngồi yên, ông bóc ngay một bao thuốc lá, rút một điếu và bật lửa rít lấy rít để. Ôi, nếu có ai đã từng trải qua những ngày tháng như bọn tôi, khi chứng kiến cái cảnh đang diễn ra mới cảm thông với người trong cuộc. Đúng vào lúc cuộc lục soát ba lô thằng liên lạc diễn ra náo nhiệt nhất bất chợt tôi tôi nghe thấy tiếng cười như thét: “Ha ha... ha ha... ha ha...”
Tựa lưng vào gốc cây chò chỉ khổng lồ, thằng học giảđang há hốc miệng, từ trong liên tiếp bắn ra những tràng cười như pháo nổ.
“Thằng học giả làm sao thế kia?”
Tôi kêu to, chạy tới chỗ nó đang dang tay chới với ôm lấy gốc cây, hai chân giãy đành đạch như thằng động dại. Tôi đỡ nó dậy, bị nó đạp cho một cái, rồi lắc đầu quày quậy:
“Bước đi, đừng có thằng nào động tới tao”.
“Mày sao thế? “ -
“Chẳng sao hết, mặc tao...”
Rồi nó lại rống lên:
“ Nếu hoài trên đỉnh Phăngxipăng... Ha ha... ha ha...”
Tôi lắc đầu quay trở lại chỗ cả bọn đang ngồi:
“Nó điên thật rồi mày ạ”.
Thằng liên lạc giải thích:
“Nó nhận được thư người yêu, sướng phát rồ lên đấy.
Nó cứ hỏi tao sao lại chỉ có một lá thôi, mày có đánh rơi dọc đường không. Tao mới bảo còn nữa đấy, còn cả trăm lá nữa kia, có điều cái con đĩ mày nó chưa gửi.”
Thằng hộ pháp cắt ngang lời thằng liên lạc:
“Mày nói sai rồi. Nó sướng đâu mà sướng khóc rưng rức rồi kìa! Để tao thoi cho nó một cái cho tỉnh ra.”
Tôi kéo tay thằng hộ pháp can mấy đứa cứ để mặc thằng học giả khóc chán rồi phải cười, chẳng chết được đâu mà lo. Ông toán trởng búng mẩu thuốc đã cháy tới tận tay, quay sang hỏi chuyện thằng liên lạc. Tôi giở ra tờ báo, đọc chưa hết một trang, thằng hộ pháp đã nắm cổ áo tôi lôi xềnh xệch: “Thôi thôi, tế sớm khỏi ruồi mày. “ Rồi nó oang oang gọi mọi người tới chỗ thằng cấp dưỡng đã bây la liệt thịt hộp, khoai tây rán, lạc rang... Ông toán trưởng sớt mỗi thứ một ít vào cái xoong phần thằng học giả rồi mở chai rượu cam lần lượt rót mỗi đứa một chén. Chao ôi, cái thứ nước thánh này, uống vào nó chạy rần rần khắp người khiến thằng nào thằng nấy mặt mày đỏ tía, hoa chân múa tay cứ như là những gian truân, khổ ải chẳng hề có trong cuộc đời và cái đỉnh cao tít mù sương này chính là trung tâm của vũ trụ ở đó duy nhất tồn tại có mấy thằng tôi thôi.
Ấy đấy đúng vào lúc cơn cao hứng lên tới tuyệt đỉnh của nó, đùng một cái, tiếng súng vang lên như sét đánh bên tai. Thằng học giả, thằng học giả đâu rồi? Nó không còn nằm ở cái gốc cây chò chỉ nữa, nó đã biến đâu mất rồi. Tôi thoáng nghĩ tới khẩu súng thằng cấp dưỡng vẫn dựng đầu võng giờ không còn ở đó nữa. Thôi rồi, trong cơn tuyệt vọng vì tình, thằng học giả chắc chắn đã tự bắn một phát vào đầu. Trời ơi, sao tôi không nghĩ tới chuyện đó, cứ phó mặc nó tự hành hạ, tự dằn vặt để đến nỗi nó phẫn chí lên như vậy Tôi chạy cuồng lên về phía có tiếng súng, chẳng kể gì tới những gai góc cào rách toang quần áo và da thịt, tôi cứ chạy mãi, chạy mãi và rồi khi đâm sầm vào một bụi gai mây, tôi nhìn thấy thằng học giả nằm sõng soài trên một nền cỏ tranh dập nát, cạnh đó vứt lăn lóc khẩu súng trường và một tờ giấy nhàu nát. “Cộc, cộc, cộc...”, tiếng chim gõ kiến dội xuống ngay trên đầu tôi. Đôi mắt thằng học giả nhắm nghiền, khi tôi quỳ xuống nâng đầu nó dậy, từ trong đôi hốc sâu và tối ấy, chợt ứa ra hai hàng nước mắt...
                                  (còn  tiếp)



PHỤ LỤC :

Lời phát biểu của nhà văn Nguyễn Mộng Giác.
 
 ( trong buổi ra mắt "Đi về nơi hoang dã"  tại trụ sở "LittleSaigon Radio " - Westminster - Quận Cam - California ngày 7-4-2001 )

                               (tiếp theo)

Chỉ có 5 nhân vật một ông toán trưởng và bốn nhân viên của một đoàn khảo sát tuyến đường theo lệnh của cấp trên, vạch con đường trên rừng để đến một cái đỉnh mục tiêu và ông trưởng toán hàng ngày dùng vô tuyến liên lạc với Ban chỉ huy ở đồng bằng để nhận lệnh là phải tiến về phía đó , thì cái lệnh cấp trên theo ông trưởng toán tuyên bố , bao giờ cũng đúng cả, tuy là nó sai be sai bét, và do cái việc chỉ đạo sai đó mà bao nhiêu thảm họa đã xảy ra, và cuối cùng cả đoàn đến một cái chỗ không phải là mục tiêu , và để gỡ thể diện cho cấp trên có thể nói là toàn năng đó, ông trưởng toán cũng phải tuyên bố là " chúng ta đến được mục tiêu rồi "
Cái câu chuyện biểu trưng đó, tuy không nói đến chủ nghĩa cộng sản, nhưng mà đã tuyên bố cho cả thế giới biết rằng , tất cả những việc các anh làm, chẳng  ra cái gì hết trơn, là con số không hoàn toàn, không có gì để bàn cãi, không có gì để lý luận, không có gì để nói năng, đó là một con số không hoàn toàn, một sự phủ nhận tuyệt đối và tôi cho đó là một cái lời gửi gắm mà Nhật Tuấn muốn gửi cho tất cả mọi người , trước hết là đồng đội của mình, cho thế hệ của mình , và  cho tất cả những người đọc.

NGUYỄN MỘNG GIÁC



Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2015

NHẬT TIẾN Thềm Hoang: vẫn một tráng sinh lên đường (kỳ 1)



Tôi hân hạnh giới thiệu đến các bạn một bài viết công phu của Nhà văn Ngô Thế Vinh, viết về nhà văn lừng danh Nhật Tiến. Năm nay Nhà văn Nhật Tiến đã 80 tuổi. Ở miền Nam ngày xưa, hễ nhắc đến Nhật Tiến là người ta nghĩ ngay đến tác phẩmThềm Hoang, được Tổng thống VNCH trao giải thưởng văn chương năm 1962. Tôi đọc tác phẩm này từ thời còn đi học trung học, chỉ nhớ tiểu thuyết viết về thế giới của những người nghèo ở một xóm thuộc ven đô Sài Gòn, trong đó có những mối tình vô vọng (như giữa một nghệ sĩ mù và cô gái giang hồ), những thói hư tật xấu lẫn những con người cao thượng. Tôi nghĩ dù tiểu thuyết viết vào thập niên 1960 (tức là hơn nửa thế kỉ trước) nhưng nhìn quanh Sài Gòn ngày nay thì những gì mô tả trong đó vẫn đúng. Nếu các bạn đọc cuốn tiểu thuyết từ trang đầu, tôi bảo đảm các bạn khó bỏ cuốn sách được, vì văn chương của ông rất lôi cuốn, và quan trọng hơn hết là rất đẹp. Hồi đó, đọc cuốn Thềm Hoang tôi có một ước mơ thầm kín: chỉ ước ao mơ làm văn sĩ để có thể viết được như ông! Trong cái cảm nhận của tôi, và nếu văn là người, thì văn chương của Nhật Tiến cho thấy ông là một cây bút vừa đẹp một cách tinh tế, vừa nhân hậu.
NVT (Tuấn's blog)




NHẬT TIẾN Thềm Hoang: vẫn một tráng sinh lên đường


Ngô Thế Vinh


Ðã mang lấy nghiệp vào thân
                             Nguyễn Du


     HƯỚNG ĐẠO THỜI NIÊN THIẾU

     Bùi Nhật Tiến, bút hiệu Nhật Tiến sinh ngày 24-8-1936 tại Hà Nội. Năm 1946 mới 10 tuổi Nhật Tiến đã phải theo gia đình rời Hà Nội đi tản cư qua những tỉnh như Sơn Tây, Việt Trì, Hưng Hoá, Phú Thọ. Năm 1950 hồi cư, ở cái tuổi 14 không còn nhỏ nữa để sinh hoạt sói bầy, Nhật Tiến xin gia nhập phong trào Hướng Đạo làm đoàn sinh đội Én Thiếu Đoàn Bình Than khá muộn màng. Thiếu Đoàn Bình Than thuộc Đạo Đồng Nhân, và đạo này có bài hát chính thức do đoàn sinh Cung Thúc Tiến của Thiếu Đoàn Bạch Đằng sáng tác. Cung Thúc Tiến chính là nhạc sĩ Cung Tiến sau này với những nhạc phẩm Hoài Cảm, Thu Vàng.

     Ngày "Tuyên Hứa" để được gia nhập phong trào Hướng Đạo Việt Nam là một dấu ấn quan trọng trong cuộc đời nhà văn nhà giáo Nhật Tiến. Lễ tuyên hứa được tổ chức tại Chùa Láng cách Hà Nội 5 km. Trong Hồi ký của Nhật Tiến, tuy đã hơn 60 năm sau, anh vẫn còn nguyên vẹn xúc động khi hồi tưởng lại phút được “tuyên hứa” như điều mơ ước đã trở thành hiện thực.

     "Tôi hồi hộp tiến lại lá cờ Đoàn. Tất cả các anh em đều yên lặng, nghiêm trang theo dõi cử chỉ của tôi. Tôi đứng thẳng người trước lá cờ. Tay phải tôi chào theo kiểu Hướng Đạo, tay trái tôi nắm nhẹ lấy một góc của lá cờ, và tôi cất giọng dõng dạc:

Trước Quốc kỳ, tượng trưng cho Tổ quốc, trước Đoàn kỳ tượng trưng cho tinh thần Hướng Đạo, tôi xin lấy danh dự của tôi để tuyên hứa:
- Thứ Nhất : Trung thành với Tổ Quốc.
- Thứ Nhì : Giúp ích mọi người
- Thứ Ba:  Tuân theo Luật Hướng Đạo.

Sau khi lấy được bằng Hạng Nhì, tôi được giao phó nhiệm vụ làm đội trưởng đội Én. Một trong những đội sinh của tôi là anh Đỗ Tiến Đức, sau này trở thành nhà văn, năm 1969 anh được Giải Văn Học Nghệ Thuật với tác phẩm Má Hồng, và còn là đạo diễn kiêm Giám Đốc Nha Điện Ảnh, anh hiện chủ trương tờ Thời Luận ở Los Angeles, trước là báo in, sau này trở thành báo Online.

Tôi lên Kha đoàn năm 17 tuổi, ở dự bị Tráng năm 18. Sau di cư 1954, tôi sinh hoạt nhiều năm trong Tráng Đoàn Bạch Đằng gồm 4 Toán: Chương Dương, Vân Đồn, Hàm Tử và Tây Kết.  Tôi được giao nhiệm vụ Toán trưởng Toán Vân Đồn [trong Toán có anh Trương Trọng Trác sau này lên tới chức Ủy Viên Ngành Thiếu của Hướng Đạo Việt Nam và khi ra hải ngoại, anh là người chủ trương tờ báo Ngày Nay với bút hiệu Trọng Kim ở Houston, Texas cho đến khi anh qua đời 2009].

  


Nhật Tiến (trái) và các Huynh Trưởng Hướng Đạo                                   
 hình chụp tại Orange County 2014

"Mùa hè năm 1970, tại một trại của Tráng Đoàn Bạch Đằng tổ chức tại Thủ Đức, tôi được trao cho cây gậy mà ở đầu có 2 gạc của Tráng Sinh Lên Đường, cũng là đẳng cấp mà một Hướng Đạo Sinh mơ ước đạt được. Từ nay, trong giao dịch sinh hoạt Hướng Đạo tôi có thể ký tên: Én nhanh nhẹn RS - RS là chữ viết tắt của Rover Scout / Anh hay Routier Scout / Pháp, cũng có nghĩa là Giúp ích / Rendre Service đúng với châm ngôn của ngành Tráng.  

Hai chữ Hướng Đạo đối với tôi bao giờ cũng thiêng liêng, nó gợi cho tôi bao tình cảm thắm thiết, bao kỷ niệm khó phai mờ và bao nhiêu anh em đồng đội đã không chỉ chia xẻ với nhau trò chơi Hướng Đạo mà còn ở trong sự nghiệp ở ngoài đời".

Đến nay cũng đã trên 65 năm trôi qua, Nhật Tiến vẫn thuộc hát bài ca Đoàn, vẫn sống theo tinh thần Hướng Đạo với châm ngôn "Sắp Sẵn" và "Giúp Ích" trong bất cứ hoàn cảnh nào. Theo tôi, tinh thần Hướng Đạo ấy đã có ảnh hưởng sâu xa tới nghề giáo và trên nghiệp văn của Nhật Tiến trong suốt những năm về sau này. Hãy nghe chính Nhật Tiến kể lại:

“Những người áo trắng” được sáng tác vào khoảng năm 1955 khi tôi đang dậy học ở Bến Tre. Đấy là những kỷ niệm của thời hướng đạo sinh ở Hà Nội, chúng tôi thường đi làm các công tác từ thiện, như mùa đông thì đẩy xe bò qua các đường phố để quyên góp quần áo của bà con đem giúp những người nghèo. Hoặc chúng tôi tình nguyện ra đứng ở bờ Hồ Gươm bán tác phẩm của kịch tác gia Văn Thuật để gây quỹ giúp đồng bào bão bị lũ lụt thời đó. Chúng tôi cũng thường hay tới sinh hoạt tại trại mồ côi trên đường Hàng Đẫy; trong thời gian này hình ảnh những trẻ mồ côi mặc quần áo trắng, những bức tường trắng và những cô gái lớn tuổi hơn trông đàn em nhỏ đã gây cho tôi nhiều xúc động. Và tôi đã dùng những hình ảnh ở trại mồ côi đó để viết tác phẩm đầu tay“Những người áo trắng”.

Như vậy, có thể nói một cách khá đoan chắc, nếu Nhật Tiến không có những năm sinh hoạt Hướng Đạo, sẽ không có Những Người Áo Trắng và rồi những tác phẩm khác như Thềm Hoang sau này.

THUỞ MƠ LÀM VĂN SĨ

Nhật Tiến cầm bút rất sớm, từ thuở học sinh đã mơ làm văn sĩ, lập bút nhóm có tên là "Gieo Sống", có truyện ngắn đầu tay "Chiếc nhẫn mặt ngọc" được đăng trên báo Giang Sơn, năm ấy Nhật Tiến mới 15 tuổi.

     Di cư vào Nam năm 1954; ban đầu sống ở Đà Lạt, Nhật Tiến viết kịch truyền thanh cho Đài tiếng nói Ngự Lâm Quân [thời còn Hoàng Triều Cương Thổ]. Ít lâu sau đó, gia đình Nhật Tiến dọn về Sài Gòn. Không tốt nghiệp trường sư phạm nào nhưng năm 21 tuổi anh đã bắt đầu đi dạy học môn Lý Hoá tại các trường trung học tư thục, ban đầu ở các tỉnh Miền Tây như Bến Tre, Mỹ Tho ba năm sau đó mới về sống hẳn ở Sài Gòn. Truyện dài đầu tay Những Người Áo Trắng được khởi viết và hoàn tất khi Nhật Tiến đang còn là một thầy giáo tỉnh lẻ.    




Nhật Tiến: ký hoạ by Tạ Tỵ
[nguồn: Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay, Tạ Tỵ,
Nxb Lá Bối, Sài Gòn 1971]

     Nghề giáo như nguồn sinh kế của gia đình nhưng có lẽ nghiệp văn mới là giấc mộng lớn của Nhật Tiến. Anh liên tục viết rất khoẻ từ truyện ngắn, truỵện dài và cả một tiểu thuyết kịch đăng trên các tạp chí: Văn Hóa Ngày Nay, Tân Phong, Đông Phương, Bách Khoa, Văn, Văn Học; chủ trương nhà xuất bản Huyền Trân từ năm 1959, chủ bút tuần báo Thiếu Nhi do nhà sách Khai Trí xuất bản từ 1971 tới 1975; năm 1979 trong một chuyến vượt biển thừa sống thiếu chết Nhật Tiến qua được Thái Lan rồi định cư tại Hoa Kỳ từ năm 1980.


     Tới Mỹ, không còn sống bằng nghề dạy học, Nhật Tiến đi học về máy điện toán/ hardware và sau đó làm cho một hãng Nhật đủ 15 năm trước khi nghỉ hưu. Tại hải ngoại, Nhật Tiến tiếp tục viết và xuất bản sách, sinh hoạt Hướng Đạo, hoạt động cứu trợ thuyền nhân. Hiện cư ngụ ở Nam California.
Tác phẩm đã xuất bản:

- Xuất bản trong nước trước 1975:  Những Người Áo Trắng (truyện dài, Huyền Trân 1959), Những Vì Sao Lạc (truyện dài, Phượng Giang 1960), Thềm Hoang (truyện dài, Đời Nay 1961), Người Kéo Màn (tiểu thuyết kịch, Huyền Trân 1962), Mây Hoàng Hôn (truyện dài, Phượng Giang 1962), Ánh Sáng Công Viên (tập truyện, Ngày Nay 1963), Chuyện Bé Phượng (truyện dài, Huyền Trân 1964), Vách Đá Cheo Leo (truyện dài, Đông Phương 1965), Chim Hót Trong Lồng (bút ký, Huyền Trân 1966), Giọt Lệ Đen (tập truyện, Huyền Trân 1968), Tay Ngọc (bút ký, Huyền Trân 1968), Giấc Ngủ Chập Chờn (truyện dài, Huyền Trân 1969) Quê Nhà Yêu Dấu (Huyền Trân 1970), Theo Gió Ngàn Bay (Huyền Trân 1970), Tặng phẩm của dòng sông (tập truyện, Huyền Trân 1972), Thuở mơ làm văn sĩ (Huyền Trân 1974)...và một số truyện viết cho tuổi thiếu nhi như: Lá Chúc Thư, Đường lên Núi Thiên Mã...
           
- Xuất bản ở hải ngoại sau 1975:  Tiếng kèn (1981), Hải tặc trong vịnh Thái Lan(viết chung với Dương Phục và Vũ Thanh Thủy, 1981), Một thời đang qua (1985), Mồ hôi của đá (1988), Cánh cửa (1990), Quê nhà Quê người (viết chung với Nhật Tuấn, ấn hành ở trong nước, 1994), Thân Phận Dư Thừa (2002), bản dịch cuốn The Unwanted của Kiên Nguyễn, Hành Trình Chữ Nghĩa (2012) - Nhà Giáo Một Thời Nhếch Nhác (2012) - Sự Thật Không Thể Bị Chôn Vùi (2012) - Một Thời… Như Thế (2012)

     Với hơn 20 tác phẩm đã xuất bản, với nhiều thể loại, các tác phẩm chính của Nhật Tiến đều có liên hệ tới tuổi thơ. Nhật Tiến được mệnh danh là nhà văn của tuổi thơ bất hạnh, nhà văn của khuynh hướng xã hội. Võ Phiến trong bài viết về Nhật Tiến trong bộ Văn Học Miền Nam đã đưa ra nhận xét: "Lúc bấy giờ ai cũng biết ở Miền Nam có nhiều tác giả tên tuổi viết về giới trẻ thơ. Mỗi vị một vẻ. Trẻ em trong truyện Duyên Anh thường là những trẻ đáo để. Đám trẻ của Lê Tất Điều hầu hết đều có nét tinh nghịch. Trong Nhật Tiến là trẻ bất hạnh".  [VHMN, truyện 2, tr.1270, Nxb Văn Nghệ 1999]



Bìa một số sách Nhật Tiến
xuất bản tại Miền Nam trước 1975

(còn tiếp)