(tiếp theo)
Hai
chiếc xe tải của phòng an ninh Indonesia
từ từ chạy đến đón đám người chúng tôi. Lần lượt người của chiếc ghe 233 leo
lên nhưng vẫn không đủ chỗ nên một số phải ở lại chờ đi chuyến sau. Ưu tiên cho
phụ nữ và trẻ nít lên xe trước, một nhân viên thiện nguyện thông báo. Hai xe đó
chạy vào trại rồi chạy ra chở tiếp rồi chở tiếp nữa nhưng đám chúng tôi phải
chờ đến tua thứ tư thì mới đến lượt. Tôi và Đỉnh cùng đi chung trong một chiếc,
thấy xe đầy người, gã tài xế sang số chạy tiếp ngay. Sợ ngã, đám chúng tôi kẻ
đứng người ngồi mà tay thì bám chắc vào thành xe hoặc bấu vào vai của nhau. Xe
chạy vòng vèo trên các con đường trải nhựa nhỏ hẹp rồi qua một khu toàn những
căn chòi tranh nhỏ hoặc trông khá giống nhà sàn nằm không xa bên vệ đường.
" Chắc đây là khu nhà của dân Indonesia ? ", người đứng trên
xe hỏi nhưng một nhân viên thiện nguyện lắc đầu, trả lời: " Không phải
đâu, đây là trại tị nạn của người Campuchia đó ". Tôi đưa mắt nhìn các căn
nhà lần lượt hiện ra ở hai bên đường. Vài đàn ông, trẻ em cùng phụ nữ quấn xà
rông đi lại trên các con đường nhỏ gần các căn nhà thấp dù không phải là nhà
sàn như hình ảnh tôi đã từng thấy khi trên đường từ cảng Kompong Som về Nông
Pênh trong chuyến vượt biên của lần trước nhưng đúng họ là dân Khmer thật. Dân
Khmer mà phải vượt biên tới tận đảo Galang! Sao họ không đi bằng đường bộ hay
chạy ghe thẳng sang Thái Lan cho gần hơn thay vì làm một chuyến hải trình xa
tít đầy nguy hiểm? Chúng tôi nhìn nhau, phân vân không hiểu.
Phạm Thắng Vũ
(còn tiếp)
Phạm Thắng Vũ
(còn tiếp)
Hết
khu vực trại của dân tị nạn Khmer thì xe tải chở chúng tôi chạy ngang qua một
cổng gỗ chùa Phật giáo có sơn hàng chữ Quan Âm Tự nằm sát bên trái vệ đường. Dù
xe chạy khá nhanh nhưng cũng kịp để tôi thấy sau cổng là một chiếc cầu gỗ nhỏ
cong cong được nối vào con đường dốc lên hình bậc thang dẫn lên cao của ngọn
đồi. Xe chạy qua được một quãng đường khá xa, tôi quay đầu nhìn lại thì thấy
các mái cong nâu đỏ của chùa nhỏ nầy nằm đơn độc tuốt trên đỉnh đồi khá cao đó.
Xe băng qua một nhà thương với dấu hiệu Hồng Thập Tự đỏ ngay trước cổng rồi
chạy tiếp trên con đường nhỏ hẹp trong trại và rồi nhà, những căn nhà nhỏ xíu
như chòi đã bắt đầu xuất hiện chung với tiếng người reo vui xa xa làm chúng tôi
nhao hẳn người lên nhìn. Rất đông người đứng ở hai bên vệ đường nhìn đám chúng
tôi với cánh tay vẫy chào thân thiện. Sau cùng thì chiếc xe từ từ dừng lại bên
một dẫy các nhà lợp lá dừa nước liền sát cạnh nhau. Đến nơi rồi! Có lệnh cho
chúng tôi xuống xe. Nhà lá ở đây, căn nào căn nấy dài thòong và đầy nhóc người
đứng gần tò mò nhìn đoàn người chúng tôi mới đến. Một căn nhà gần chúng tôi thì
đang làm dở dang toang hoác hai bên vách và mới chỉ có mái lá. Đám đàn bà-con
gái đi trong chuyến xe đến trước cho biết căn nhà đó là chỗ ở của đoàn ghe
chúng tôi. Đến gần xem, căn nhà có hình tam giác, sườn là các thân cây rừng
được cột dây chặt vào nhau trông rất thô sơ như để ở tạm. Căn nhà này và những
căn khác cũng cùng một kiểu như nhau, rộng hơn 6 m , dài khoảng 30 m và được lợp lá ở hai mái
nhưng bên hông lại để trống. Cỏ lau cùng các bụi cây nhỏ mọc dầy đặc chen chúc
bên trong nền căn nhà mà trại tị nạn dành cho đám chúng tôi. Trông căn nhà, ai
cũng chán nản vì nó giống như một chỗ dùng để nuôi gia súc hơn là để dành cho
người ở. Vài người trong số nhân viên thiện nguyện đã đón chúng tôi khi ở ngoài
cầu tàu bảo chúng tôi tập họp lại và một người trong số họ, xác nhận:
- Đây là barrack của các anh chị. Ai là leader thì vui lòng sắp xếp chỗ ở ngay cho từng cá nhân. Mỗi barrack là chỗ tạm trú của 100 người. Phải làm nhanh lên, để còn ra xếp hàng nhận đồ cấp phát của Cao Ủy nữa đó.
Lại có thêm vài người khác đến gặp đám chúng tôi, tự xưng họ là ban Đại diện của zone 4. Khi nghe các nhân viên thiện nguyện cho biết đoàn người trong ghe chúng tôi có tổng cộng 135 người thì một người trong số họ nói: " Cứ 100 người ở trong cái nầy và số còn lại thì mấy ông cho san bớt sang bên cái barack kia ". Cái kia! Là barrack nằm sát bên cạnh nhưng mới được lợp hơn phân nửa lá trên mái và hai bên hông thì vẫn để trống toác hoác. Người đàn ông vừa nói đó lại hỏi thêm: " Ai là leader của chiếc ghe nầy? Tôi muốn gặp có chuyện để bàn ".
Nghe người đàn ông hỏi, ông Thăng và ông Phát vội tiến đến gặp. Thấy hai ông Thăng, Phát thì ông đó tiếp: " Leader có tới hai người à! Vậy càng tốt. Nghe đây! Bây giờ trong hai ông thì phải chọn một người làm barrack trưởng và người nầy sẽ thay mặt ban Đại diện zone để giải quyết các việc sinh hoạt chung trong ghe kể từ lúc này. Trước mắt thì barrack trưởng sắp xếp công việc dọn dẹp chỗ ở và cắt vài người theo tôi đi lấy cuốc xẻng dao nha. Trẻ-già, nam-nữ gì cũng phải góp một tay để có chỗ ngủ ngay tối nay. Phải làm nhanh lên, trời sắp tối rồi ".
Hai ông Thăng, Phát liền chọn người đi lấy xẻng cuốc dao cùng sắp xếp số còn lại đi hẳn vào trong lòng barrack dọn dẹp những thân cây, rác rưởi vương vãi trên mặt đám cỏ tranh và các bụi cây nhỏ. Tôi ở trong số người dọn dẹp căn nhà. Dao cuốc xẻng chưa có, mỗi người chúng tôi tùy sức mà làm bất cứ việc gì thấy chướng trước mắt. Người nhặt rác, kẻ lấy tay nhổ các bụi cây nhỏ nhưng có một mùi hôi bốc vào mũi chúng tôi làm ai nấy ngán ngẩm, ghê tay. Đó là phân người. Barrack chúng tôi ở là như vầy sao! Nó khác hẳn những gì có trong đầu khi nghĩ về chỗ tị nạn của mình khi còn ở ngoài cầu tàu. Mùi hôi đó làm mọi người phải bỏ dở việc và chờ cho đến khi nhóm đi lấy dao cuốc xẻng về tới thì mới tiếp tục công việc trở lại.Nam giới cuốc đất ban mặt nền cho
bằng phẳng hoặc chặt các bụi cây nhỏ còn nữ giới thì gom các thân cành, rác
rưởi... rồi vất gọn vào một chỗ sát ở bìa rừng. Đông người làm, chẳng mấy chốc
trong lòng barrack đã được dọn dẹp nên quang đãng, gọn ghẽ hơn trước. Dù sao,
vẻ thất vọng vẫn hiện rõ trong mắt nhiều người vì ai cũng thấy chỗ ở trong trại
tị nạn do Cao Ủy bảo trợ lại thiếu thốn và còn tệ hơn ở bên quê nhà nữa.
Trời bắt đầu xâm xẩm tối, người nào người nấy cũng cảm thấy đói bụng, mồ hôi nhễ nhại trên lưng trên mặt nhưng bảo nhau cố làm một lần cho xong việc để còn đi kiếm nước tắm và nghỉ ngơi.
Có tiếng xe vận tải nhỏ ngừng ngay phía trước barrack, một người đàn ông đi vào nói với đám chúng tôi: " Tôi là Viết, zone trưởng của zone 4 này. Barrack mới đến cho người ra lãnh đồ Cao Ủy cấp phát nha ". Ông Thăng, giờ đã lãnh trách nhiệm barrack trưởng liền cùng vài người khác vội chạy ra đón hàng tiếp liệu. Hàng hoá trên xe tải lần lượt được chuyền xuống, xếp gọn thành một đống trên mặt đất. Chúng tôi xếp thành hàng để nhận mỗi người một đôi dép, một bàn chải cùng ống kem đánh răng, một khăn mặt, một cục xà bông, một ca nhựa đựng nước, một cái bát nhựa, một muỗng nhôm, một cái chiếu cói nhỏ và ba túi nylon mầu đen khá lớn nói dùng để đựng rác. Đồ cấp phát cho cá nhân chỉ có vậy còn tập thể thì cứ 5 người dùng chung nhau một chậu nhựa lớn, một thau nhựa nhỏ, một cái bếp với 5 lít dầu hôi, một nồi lớn, một nồi nhỏ, một chảo nhỏ, một dao con và một thớt gỗ tròn nhỏ xíu. Vừa nhận đồ tiếp liệu xong, một thanh niên ấp úng hỏi ông Viết:
- Trại có phát quần áo cho người lớn hoặc sữa bột gì cho trẻ em không hở chú?
- Cái gì? Cậu nói cái gì, nhắc lại tôi nghe. Ông zone trưởng hỏi anh thanh niên đó và sau khi nghe rõ chuyện thì ông ta cười lớn, trả lời: " Làm gì có mấy thứ đấy, cậu tưởng mình đang ở bên Mỹ chắc. Nghe đây! Hàng tiếp liệu nhận hôm nay, Cao Ủy chỉ phát cho mỗi người duy nhất một lần nầy thôi. Dùng hết, nếu muốn có nữa thì tự móc tiền túi mua ngoài shop còn không thì ráng chịu nghe ". Nói xong câu, ông ta bỏ ra bên ngoài căn barrack rồi trèo lên chiếc xe đang từ từ quay trở ra mặt đường lộ.
Có đồ tiếp liệu tập thể, đoàn người trong ghe tự động rủ nhau gom thành từng nhóm 5 người một. Rồi Đào, Bẩy, Yến nói Đỉnh cùng tôi nhập thành nhóm sống chung vì dù sao thì cả bọn cũng đã biết nhau và khá thân từ khi còn ở bênMalaysia .
Cũng giống như hồi mới vào ở căn nhà lều trong rừng, ông Thăng bắt đầu chia lô
và bắt thăm chọn chỗ cho từng nhóm trong cái nền barrack vừa được dọn sạch.
Cũng theo cách của các barrack đã làm từ trước, ông Thăng cũng để hai bên chái
căn nhà là chỗ người ở và chừa một khoảng rộng 1 m làm lối đi ngay chính giữa.
Nhận được chỗ của cả nhóm rồi thì tôi và Đỉnh dùng dao con cắt các bao nylon
đen thành tấm lớn để lót trên mặt đất rồi sau đó mới trải chiếu lên. Chiếu cói
Cao Ủy phát cho chúng tôi rất mỏng, chỉ rộng 80 cm và dài gần 2 m . Chỗ ở cho mọi người trong
ghe vừa tạm ổn thì ông Thăng báo tin là ông Viết cho người khiêng đến hai nồi
lớn mì gói nấu chín, nói do ban xã hội của zone gửi tặng cho đồng bào ăn đỡ bữa
tối vì sáng hôm sau, phòng tiếp liệu trại mới phát thực phẩm. Có sẵn bát nhựa,
chúng tôi liền chia nhau mì gói nóng bốc hơi thơm phức. Chỉ nấu xuông nhưng ăn
bát mì ai cũng thấy nó quá ngon. Nhân viên trong ban xã hội của zone chắc rành
chuyện người mới nhập trại nên đã nấu mì gói nóng tiếp tế vì thực sự, từ lúc
rời cầu tàu bên Tanjung Pinang tới giờ, có ai trong ghe được ăn uống gì đâu.
Trời đã tối hẳn, thấy người chung quanh làm các cây đèn từ các lon nhôm nước
ngọt Cocacola cũ, Đỉnh đi rảo kiếm được hai cái lon không rồi đục lỗ, xỏ dây
bấc và đổ dầu hôi làm ngay đèn dã chiến cho cả bọn. Ánh sáng bập bùng soi từng
nhóm người đứng ngồi lố nhố trong lòng căn nhà lợp lá dài thòong trông thật lạ
mắt. Hành lý cá nhân của 5 người chúng tôi đã xếp gọn gàng hẳn vào một góc và
bây giờ thì ai cũng thấy cần phải đi tắm một cái cho sạch cho mát người nhưng
chưa biết chỗ tắm ở đâu? Tôi và Đỉnh lại phải đi ra phía bên ngoài, tìm đến barrack
gần đó hỏi thăm một người đàn ông đang nằm đung đưa trên chiếc võng căng ngang
hai thân cây gần lối đi nhỏ. Biết chúng tôi là đám say sóng mới nhập trại hồi
chiều, ông ta vui vẻ cho mượn cái gầu múc nước cùng chỉ hướng để đến con suối
và nói:
- Hai cậu tắm giờ nầy thì nước hơi cạn và đục đấy... Hàng tiếp liệu Cao Ủy cấp phát hoặc quần áo cá nhân giặt mang về phơi, mấy cậu phải coi chừng cái đám đi chợ đêm ở đây nghe.
Gầu múc nước là cái thùng sắt độ chừng được 5 lít nối với sợi dây nhựa khá dài, Đỉnh bảo tôi đi trước với ba cô gái còn nó ở lại trông chừng hành lý của cả bọn. Đi cùng ba cô gái, chúng tôi theo con đường tráng nhựa nhộn nhịp người đi tắm hoặc tản bộ hóng mát dưới ánh sáng của các ngọn đèn bên cột sát lề đường. Tôi nghĩ suối ở đây chắc cũng tương tự con suối có nước trong vắt chảy lững lờ uốn cong qua các phiến đá bằng phẳng rồi luồn khuất sau các hàng cây rừng xa xa... như khi ở trại trong rừng bênMalaysia .
Đi gần tới bệnh viện, bốn người chúng tôi rẽ vào một con đường hẹp để đến chỗ
tắm là vũng nước khá lớn trông từa tựa một cái hồ nhỏ. Một bóng đèn ống neon
treo khá cao soi rõ đám đông người đang lúi húi tắm giặt bên nhau. Hầu hết là
nam giới đứng múc nước dội ào ào từ đầu đến chân ngay trên bờ được lót bằng các
tấm gạch cement bằng phẳng. Chỉ có vài phụ nữ ngồi riêng biệt giặt quần áo
trong các chậu nhựa khá xa. Hai phòng vuông nhỏ làm bằng các tấm ván gỗ ghép
lại dùng để thay y phục sau khi tắm ở tuốt ngoài bìa sàn nước. Ánh sáng ngọn
đèn ống neon chiếu vào nước suối có mầu cà phê sữa loãng làm Yến vừa thấy đã
thất vọng, nói nhỏ: " Nước nầy mà tắm giặt cái gì mấy chị! Thua xa nước
suối ở bên Malaysia
". Ba cô gái thấy người đang tắm toàn nam giới nên họ cũng ngần ngại, chần
chừ đứng yên tại chỗ. Càng chần chừ thì nguồn nước suối sẽ càng cạn càng đục.
Tôi liền thả gầu kéo nước tắm trước làm gương và múc đổ nước vào đầy chậu nhựa,
hối ba cô gái cứ tắm đại ngay đi rồi mai tính sau.
Con suối, sau này thì tôi được biết khởi đầu là lạch nước nhỏ chảy từ trong rừng ra rồi được người tị nạn đào rộng, khoét sâu thêm và dùng các thân cây lớn cùng đá tảng kè lại để giữ nước như một cái đập nhỏ. Khi bốn đứa chúng tôi ra về mà dòng người trong trại vẫn còn kéo đến để tắm, giặt. Đến chỗ ở của cả nhóm, thấy Đỉnh đang đóng mấy cọc cây sát vách, hỏi làm cái gì thì Đỉnh cho biết đang tạo một con heo để có cái ngày mai đựng nước dùng. Con heo là các bao nylon đen dùng để đựng rác nhưng Đỉnh đã chồng nó vào nhau và cố định đứng một chỗ bằng các cọc gỗ nhỏ chung quanh. Đỉnh cũng cho biết nó vừa nấu xong một nồi nước có bỏ chút trà cho dễ uống và bảo chúng tôi ai có khát thì dùng. Ba cô gái hỏi nước lấy đâu ra thì Đỉnh trả lời: " Tui xin chỗ ông cho mượn cái gầu đó. Ổng còn cho thêm cả một chậu đầy nước để bọn mình có cái mà xúc miệng, đánh răng nữa nè " rồi nó hỏi lại ở dưới suối có đông người tắm không. Tôi trả lời ngay:
- Cũng khá đông, toàn là người của hai chiếc ghe mới nhập trại hôm nay không hà. Em đi tắm ngay đi, còn cái gì chưa xong thì để anh làm tiếp cho.
- Đây là barrack của các anh chị. Ai là leader thì vui lòng sắp xếp chỗ ở ngay cho từng cá nhân. Mỗi barrack là chỗ tạm trú của 100 người. Phải làm nhanh lên, để còn ra xếp hàng nhận đồ cấp phát của Cao Ủy nữa đó.
Lại có thêm vài người khác đến gặp đám chúng tôi, tự xưng họ là ban Đại diện của zone 4. Khi nghe các nhân viên thiện nguyện cho biết đoàn người trong ghe chúng tôi có tổng cộng 135 người thì một người trong số họ nói: " Cứ 100 người ở trong cái nầy và số còn lại thì mấy ông cho san bớt sang bên cái barack kia ". Cái kia! Là barrack nằm sát bên cạnh nhưng mới được lợp hơn phân nửa lá trên mái và hai bên hông thì vẫn để trống toác hoác. Người đàn ông vừa nói đó lại hỏi thêm: " Ai là leader của chiếc ghe nầy? Tôi muốn gặp có chuyện để bàn ".
Nghe người đàn ông hỏi, ông Thăng và ông Phát vội tiến đến gặp. Thấy hai ông Thăng, Phát thì ông đó tiếp: " Leader có tới hai người à! Vậy càng tốt. Nghe đây! Bây giờ trong hai ông thì phải chọn một người làm barrack trưởng và người nầy sẽ thay mặt ban Đại diện zone để giải quyết các việc sinh hoạt chung trong ghe kể từ lúc này. Trước mắt thì barrack trưởng sắp xếp công việc dọn dẹp chỗ ở và cắt vài người theo tôi đi lấy cuốc xẻng dao nha. Trẻ-già, nam-nữ gì cũng phải góp một tay để có chỗ ngủ ngay tối nay. Phải làm nhanh lên, trời sắp tối rồi ".
Hai ông Thăng, Phát liền chọn người đi lấy xẻng cuốc dao cùng sắp xếp số còn lại đi hẳn vào trong lòng barrack dọn dẹp những thân cây, rác rưởi vương vãi trên mặt đám cỏ tranh và các bụi cây nhỏ. Tôi ở trong số người dọn dẹp căn nhà. Dao cuốc xẻng chưa có, mỗi người chúng tôi tùy sức mà làm bất cứ việc gì thấy chướng trước mắt. Người nhặt rác, kẻ lấy tay nhổ các bụi cây nhỏ nhưng có một mùi hôi bốc vào mũi chúng tôi làm ai nấy ngán ngẩm, ghê tay. Đó là phân người. Barrack chúng tôi ở là như vầy sao! Nó khác hẳn những gì có trong đầu khi nghĩ về chỗ tị nạn của mình khi còn ở ngoài cầu tàu. Mùi hôi đó làm mọi người phải bỏ dở việc và chờ cho đến khi nhóm đi lấy dao cuốc xẻng về tới thì mới tiếp tục công việc trở lại.
Trời bắt đầu xâm xẩm tối, người nào người nấy cũng cảm thấy đói bụng, mồ hôi nhễ nhại trên lưng trên mặt nhưng bảo nhau cố làm một lần cho xong việc để còn đi kiếm nước tắm và nghỉ ngơi.
Có tiếng xe vận tải nhỏ ngừng ngay phía trước barrack, một người đàn ông đi vào nói với đám chúng tôi: " Tôi là Viết, zone trưởng của zone 4 này. Barrack mới đến cho người ra lãnh đồ Cao Ủy cấp phát nha ". Ông Thăng, giờ đã lãnh trách nhiệm barrack trưởng liền cùng vài người khác vội chạy ra đón hàng tiếp liệu. Hàng hoá trên xe tải lần lượt được chuyền xuống, xếp gọn thành một đống trên mặt đất. Chúng tôi xếp thành hàng để nhận mỗi người một đôi dép, một bàn chải cùng ống kem đánh răng, một khăn mặt, một cục xà bông, một ca nhựa đựng nước, một cái bát nhựa, một muỗng nhôm, một cái chiếu cói nhỏ và ba túi nylon mầu đen khá lớn nói dùng để đựng rác. Đồ cấp phát cho cá nhân chỉ có vậy còn tập thể thì cứ 5 người dùng chung nhau một chậu nhựa lớn, một thau nhựa nhỏ, một cái bếp với 5 lít dầu hôi, một nồi lớn, một nồi nhỏ, một chảo nhỏ, một dao con và một thớt gỗ tròn nhỏ xíu. Vừa nhận đồ tiếp liệu xong, một thanh niên ấp úng hỏi ông Viết:
- Trại có phát quần áo cho người lớn hoặc sữa bột gì cho trẻ em không hở chú?
- Cái gì? Cậu nói cái gì, nhắc lại tôi nghe. Ông zone trưởng hỏi anh thanh niên đó và sau khi nghe rõ chuyện thì ông ta cười lớn, trả lời: " Làm gì có mấy thứ đấy, cậu tưởng mình đang ở bên Mỹ chắc. Nghe đây! Hàng tiếp liệu nhận hôm nay, Cao Ủy chỉ phát cho mỗi người duy nhất một lần nầy thôi. Dùng hết, nếu muốn có nữa thì tự móc tiền túi mua ngoài shop còn không thì ráng chịu nghe ". Nói xong câu, ông ta bỏ ra bên ngoài căn barrack rồi trèo lên chiếc xe đang từ từ quay trở ra mặt đường lộ.
Có đồ tiếp liệu tập thể, đoàn người trong ghe tự động rủ nhau gom thành từng nhóm 5 người một. Rồi Đào, Bẩy, Yến nói Đỉnh cùng tôi nhập thành nhóm sống chung vì dù sao thì cả bọn cũng đã biết nhau và khá thân từ khi còn ở bên
- Hai cậu tắm giờ nầy thì nước hơi cạn và đục đấy... Hàng tiếp liệu Cao Ủy cấp phát hoặc quần áo cá nhân giặt mang về phơi, mấy cậu phải coi chừng cái đám đi chợ đêm ở đây nghe.
Gầu múc nước là cái thùng sắt độ chừng được 5 lít nối với sợi dây nhựa khá dài, Đỉnh bảo tôi đi trước với ba cô gái còn nó ở lại trông chừng hành lý của cả bọn. Đi cùng ba cô gái, chúng tôi theo con đường tráng nhựa nhộn nhịp người đi tắm hoặc tản bộ hóng mát dưới ánh sáng của các ngọn đèn bên cột sát lề đường. Tôi nghĩ suối ở đây chắc cũng tương tự con suối có nước trong vắt chảy lững lờ uốn cong qua các phiến đá bằng phẳng rồi luồn khuất sau các hàng cây rừng xa xa... như khi ở trại trong rừng bên
Con suối, sau này thì tôi được biết khởi đầu là lạch nước nhỏ chảy từ trong rừng ra rồi được người tị nạn đào rộng, khoét sâu thêm và dùng các thân cây lớn cùng đá tảng kè lại để giữ nước như một cái đập nhỏ. Khi bốn đứa chúng tôi ra về mà dòng người trong trại vẫn còn kéo đến để tắm, giặt. Đến chỗ ở của cả nhóm, thấy Đỉnh đang đóng mấy cọc cây sát vách, hỏi làm cái gì thì Đỉnh cho biết đang tạo một con heo để có cái ngày mai đựng nước dùng. Con heo là các bao nylon đen dùng để đựng rác nhưng Đỉnh đã chồng nó vào nhau và cố định đứng một chỗ bằng các cọc gỗ nhỏ chung quanh. Đỉnh cũng cho biết nó vừa nấu xong một nồi nước có bỏ chút trà cho dễ uống và bảo chúng tôi ai có khát thì dùng. Ba cô gái hỏi nước lấy đâu ra thì Đỉnh trả lời: " Tui xin chỗ ông cho mượn cái gầu đó. Ổng còn cho thêm cả một chậu đầy nước để bọn mình có cái mà xúc miệng, đánh răng nữa nè " rồi nó hỏi lại ở dưới suối có đông người tắm không. Tôi trả lời ngay:
- Cũng khá đông, toàn là người của hai chiếc ghe mới nhập trại hôm nay không hà. Em đi tắm ngay đi, còn cái gì chưa xong thì để anh làm tiếp cho.
(còn tiếp)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét