Tổng số lượt xem trang

Thứ Hai, 8 tháng 12, 2014

PHẠM THẮNG VŨ - Con sóng dữ - kỳ 40



                                       (tiếp theo)

Nhìn số người đang nằm la liệt ngủ dọc theo suốt chiều dài cầu tàu bê tông, giang sơn tạm thời của đoàn người Việt tha hương trên xứ lạ, tôi nghĩ ngày mai nếu đám ông Ubino chở cả bọn người Việt sang đảo Galang bằng tàu hay bằng ghe gì của họ thì cũng phải rất to mới chứa hết được ngần này người. Tha hương là bạc phận. Câu nói mà những người bên quê nhà từng nói khi trỏ về số phần vất vả của một ai đó khi phải rời bản quán, xứ sở để tìm kế mưu sinh. Vậy mà chúng tôi phải rất chật vật mới đến đây được, cầu tàu bê tông này để làm một người tha hương. Đỉnh và các cô Đào, Bẩy, Yến chắc đã nằm ngủ lẫn trong đám người ở đâu đó. Đến một chỗ trống cách xa cột đèn cao áp, tôi nằm xuống mong ở chỗ có ít ánh sáng, sẽ dịu mắt và dễ ngủ. Ngửa mặt nhìn các vì sao xanh sao vàng lấp lánh trong bầu trời đen thẩm không một gợn mây cùng ánh trăng sáng, tôi dễ dàng nhìn ra chùm Bắc Đẩu bẩy ngôi thân quen. Indonesia nằm trong vùng xích đạo nên vẫn thấy được chùm sao nầy nhưng những nước nằm hoàn toàn trong nam bán cầu như Úc và Tây Tân Lan thì chắc không thể. Sao Bắc Đẩu ở đây còn đâu là sao Nam Tào? Tôi thực không biết. Giờ giấc chênh lệch nhanh hơn một tiếng đồng hồ, như vậy, ở nhà tôi cũng đang 11 giờ hơn. Không biết mẹ và em tôi đã ngủ hay còn thức? Lúc còn ở trại lính giữa rừng, nếu viên sĩ quan hải quân Malaysia gửi hộ các thư cho chúng tôi thì thân nhân mọi người trên ghe đã biết chuyến đi an toàn, nhưng cũng không chắc vì nếu người nầy nhận thư lại không gửi thì sao? Và nếu thực như vậy thì chắc mẹ và em gái tôi phải lo lắng lắm vì thời gian đã qua cả tháng trời rồi. Ghé vào khách sạn Perang, thêm một cơ hội để chúng tôi báo tin cho thân nhân khi được phân phát các phong bì in sẵn tem, nhưng đã bị vuột mất vì sự phá đám của hai gã an ninh địa phương. Trong túi tôi vẫn còn giữ lá thư viết dở dang đó. Chỉ cần hai gã hắc ám đó đến trễ chừng nửa giờ thì chắc chắn mẹ và các em gái tôi sẽ nhận được tin về chuyến đi. Tôi còn nhớ buổi sớm mai trước lúc đi vội cùng đứa em gái nơi nhà người cậu ruột ở Hố Nai, mẹ tôi trông đã yếu lắm khi bà dặn dò tôi làm điều nầy điều kia. Những khi xa nhà, cô quạnh như bây giờ, tôi mới có lúc nhớ đến bà. Tôi, đứa con quá tệ vì khi còn ở nhà chỉ dành thời gian cho bà thật ít. Có đi xa thì mới biết lòng mình, tôi chẩy nước mắt lúc nào mà không hay. 

Đêm rồi cũng từ từ trôi qua và dù chung quanh khu vực cầu tàu bê tông vẫn còn mờ mờ chưa rõ sáng mà tiếng ồn ào từ các ghe, thuyền chạy tấp nập băng ngang đã đánh thức đám chúng tôi dậy. Tuy không nói nhưng ai cũng đoán các ghe, thuyền đó là của cư dân Indonesia từ các đảo trong vùng đổ về Tanjung Pinang để mua bán và trao đổi hàng hoá. Ghe, thuyền chạy tấp nập như vậy thì thương mãi trên đảo Tanjung Pinang chắc phải phồn thịnh lắm. Chỉ tiếc là ghe chúng tôi tuy đậu vào một cầu tàu bê tông của đảo nhưng lại không có dịp để lên bờ vào xem phố xá cho biết.

Trời đã sáng rõ, sinh hoạt trên cầu tàu bê tông khác hẳn. Tiếng người gọi nhau í ới nơi này nơi kia hoặc người đi lên đi xuống bếp của hai chiếc ghe để nấu nước nóng pha trà, cà phê hay làm mì gói ăn sáng. Một dòng người xếp hàng chờ trước căn nhà vệ sinh ở cuối cầu tàu. May mắn là nhà vệ sinh này tuy nhỏ nhưng có đầy đủ nước cho nhu cầu và người của hai ghe đã biết phải sắp hàng chờ theo lượt nên đã không xẩy ra vụ cãi cọ gì. Chưa biết vào lúc nào trong ngày hôm nay thì chúng tôi sẽ đến đảo tị nạn Galang nhưng chắc chắn một điều là chúng tôi sẽ được sống một trong những dãy nhà dài sơn trắng nằm sát nhau trên cao hay dưới thấp theo thế đất hoặc ở ven đồi như trong các tấm hình chụp tôi xem được. Những tấm hình của người từ Galang gửi về cho thân nhân trong khu phố khi còn ở bên quê nhà. Tôi sẽ gặp bãi biển có làn nước xanh lơ trong vắt cùng bờ cát trắng xoá như ở Long Hải-Vũng Tàu. Tôi sẽ đi trên những con lộ hẹp với các tiệm bán hàng nho nhỏ của người tị nạn ở hai bên đường trong trại. Tôi mỉm cười khi nghĩ rốt cuộc thì mình cũng đã đến được nơi từng ao ước.

Chúng tôi chờ cho đến 9 giờ mà vẫn chưa thấy bóng dáng của đám ông Ubino tối hôm qua đâu cả. Ai cũng lộ vẻ sốt ruột, vài người đi tới đi lui mắt ngóng về hướng các căn nhà sơn trắng tuốt trong bờ nơi đầu cầu tàu bê tông để mong thấy bóng một ai đó. Rồi cho đến khi thấy có xe hiện ra xa xa thì mọi người báo cho nhau biết và thu gọn đứng nép vào bên cạnh lan can cầu. Chiếc xe đó chạy đến từ từ rồi ngừng lại ngay đoạn giữa nơi có hai chiếc ghe chúng tôi. Một toán 7 người trong đồng phục hải quân áo xanh lơ quần đen bước ra khỏi chiếc xe và lệnh cho chúng tôi đến gần, dồn lại với nhau trước mặt họ. Cái ông Ubino chúng tôi chờ thì lại không thấy trong số 7 người họ. Bằng Anh ngữ, một người Indo ra lệnh cho chúng tôi hễ ai thuộc chiếc ghe nào thì phải xuống trở lại ghe đó trong sự yên lặng và trật tự. Riêng với các tài công và leader thì phải đứng yên tại chỗ để chờ lệnh khác. Tuần tự, đám chúng tôi gọi nhau rồi chen chân theo cầu thang nhỏ để xuống dưới ghe. Vậy là họ không có ghe tàu nào hết, 7 người Indo này sẽ cùng đi chung với chúng tôi sang đảo Galang. Kiểm tra nhà vệ sinh ở cuối cầu tàu xong xuôi, 7 người Indo đó chia thành hai toán theo các tài công và leader xuống thẳng theo ghe. Tám Kiệt, Thuận và hai ông Thăng, Phát cùng 3 người Indo đứng chụm đầu bàn bạc với nhau cái trong buồng lái ghe nhỏ hẹp.

Tiếng nổ bụp bụp của máy 2 chiếc ghe vang lên ròn rã, Tám Kiệt và Thuận bắt đầu cho ghe trở lui chầm chậm. Một gã Indo còn lại ở trên sàn cầu bê tông nhanh chóng tháo các dây cột từ các chốt cố định ra. Hai chiếc ghe lần lượt nối đuôi nhau tách ra khỏi cầu thang sắt để bắt đầu chuyến hành trình mới mà cũng là chuyến đi cuối của đám chúng tôi trên đường vượt biên. Từ từ, hai ghe chạy ra khỏi khu vực cầu tàu hải quân vắng lặng. Ngư dân địa phương trên các tàu xuồng gần đó giương mắt nhìn đám chúng tôi lạ lẫm với bộ áo phao đồng màu đang đứng ngồi lố nhố trong ghe. Gió buổi sớm mai mát lạnh làm chúng tôi phấn chấn tinh thần, háo hức chờ đón hình ảnh của nơi sắp đến. Bầu trời trong xanh với các cụm mây trắng và xa xa ở phía gần bờ đảo, những cánh hải âu xam xám chao lượn lên xuống kiếm ăn sát với những bóng thuyền ghe trên mặt biển.

Tám Kiệt, Thuận và 3 người Indo đi theo thay phiên nhau vừa lái ghe vừa chỉ hướng của hải trình. Hai ghe của chúng tôi chạy cách xa chiếc trước chiếc sau ở một quãng ngắn. Từng hòn đảo lớn nhỏ lần lượt xuất hiện rồi từ từ chạy lùi và biến mất trong các bọt sóng trắng ở sau lưng ghe. Chạy được khoảng 4 giờ đồng hồ thì ghe đi vào một vùng nước êm ả có các hòn đảo nho nhỏ nối liền nhau. Một gã Indo cho chúng tôi biết sắp sửa đến đảo Galang và tin đó đã gây một phấn khích làm ai cũng tỉnh táo hết còn cảm giác say sóng. Rồi không lâu sau thì ai cũng hồi hộp khi thấy ghe giảm dần tốc độ. " Mình sắp đến nơi rồi ", tiếng xì xào giống nhau. Nhiều người nháo nhác nhìn về phía trước ghe và rồi khi vừa qua một khúc ngoặt của bờ đá cao từ một đảo nhỏ thì ai cũng thấy thấp thoáng một cầu tàu bê tông xa xa. Cầu tàu bê tông đó nhỏ và ngắn, nằm sát bờ của một hòn đảo trước mặt 2 ghe chúng tôi. Đúng nó Galang rồi! Nằm kín ở đây, bố ai mà biết đường để chạy ghe đến được. Cầu tàu hẹp và ngắn ngủn nên hai ghe chúng tôi phải cập sát đuôi nhau mới có chỗ để trèo lên bờ. Những tiếng reo vì mừng của đám chúng tôi khi thấy có khá đông đồng hương người Việt đang chờ sẵn trên bờ đảo. Sau một hồi còi báo lảnh lót, máy hai chiếc ghe tắt lịm, chúng tôi cầm hành lý trên tay để chờ lệnh. Nhìn vào bờ, một tấm bảng sơn trắng kẻ hàng chữ đen Welcome to Galang Refugee Camp được đóng cứng ở hai cây cọc nằm ngay phía trước căn nhà vách ván gỗ ép mái lợp tôn khá rộng tiếp nối với sàn gỗ. Lệnh rời ghe vừa được một gã Indo loan báo, ai nấy vội vàng thu tóm hành lý cá nhân rồi lần lượt từng người trèo xuống cầu tàu bê tông. Đồng hương người Việt đứng lố nhố thành từng đám trong căn nhà và ở cả ngoài sân đã ùa ra đón chúng tôi. Tiếng hỏi thăm về chuyến đi, nơi xuất bến... trong nụ cười tươi của những đồng hương Việt đã tăng thêm những háo hức về trại Galang, chỗ ở mới của đám người 2 chiếc ghe chúng tôi. Tuy vậy, chúng tôi vẫn phải đứng tập trung ở cầu tàu bê tông để chờ lệnh.

Vài cảnh sát Indo trong đồng phục áo tím quần đen với dây da bao súng lục cùng gậy dùi cui đeo bên hông đi tới lui hoặc đứng im ở một chỗ quan sát. Đám người Indo đi theo trên ghe ra lệnh cho tất cả mọi người chúng tôi phải cởi áo phao xếp gọn ở một chỗ trên sàn cầu bê tông trước khi vào trại. " Quý vị không cần đến áo phao nữa, chúng tôi có trách nhiệm thu hồi chúng cùng với 2 chiếc ghe nầy. Ngoài hành lý cá nhân thì không ai được lấy bất cứ thứ gì khác của ghe ", một gã trong số họ miệng nói, tay thì gom gọn các áo phao vừa được cởi ra rồi vất chúng trở về sàn của 2 chiếc ghe. Có người trong đám chúng tôi cố tình vác bao thực phẩm tiếp tế theo mình thì đã bị các gã Indo đó buộc phải vất trở lại ghe như các áo phao.


                               (còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét