(tiếp theo)
Lặp lại và ngắt dòng tạo ra thi điệu Tân hình thức
Việt
Qua
bài vở nêu ở các phần Phụ lục và Chú thích, có thể thấy lý luận của các
nhà Tân hình thức Việt trong khi cải biến nguồn gốc làm nên thi điệu vốn là 2 yếu tố: âm thanh của từ được lựa chọn và nhịp điệu ngắt câu. Mời xem lại 2 ý
tưởng gọn gàng mà bao quát của Khế Iêm.
Về vắt dòng: “Đối với thơ tiếng Anh thì không có gì
trở ngại vì tiếng Anh là một ngôn ngữ đa âm, nhiều vần nên khi vắt dòng và đưa
ngôn ngữ thông thường vào thơ dễ dàng, dù cuối dòng có vần hay không. Còn tiếng
Việt là một ngôn ngữ đơn âm, khó mang những câu nói thông thường vào thơ vì
vướng phải luật vần. Nên khi bỏ vần, phải thay bằng kỹ thuật vắt dòng
mới đưa ngôn ngữ thông thường vào thơ được.” (Chú thích 4; Đ.Q. nhấn)
Về lặp lại: “Trong luật thơ, ở bất cứ thể loại thơ
nào, kỹ thuật lặp lại đều được sử dụng để tạo nhạc tính hay nhịp điệu cho thơ.
Như thơ Đường luật, lặp lại những âm thanh bằng bằng trắc trắc, và trong thơ
tiếng Anh, là những âm không nhấn, nhấn, lặp đi lặp lại 5 lần trong một dòng
thơ. Những cách trên của thơ truyền thống
là lặp lại những âm tiết. Khi thơ
tự do tiếng Anh, muốn thoát ra khỏi
những luật tắc và âm điệu truyền thống, họ thay cách lặp lại âm tiết bằng cách
lặp lại chữ và câu chữ. Cũng vậy, khi thoát ra khỏi âm điệu của thơ vần, thơ không vần Việt tiếp nhận cách tạo nhịp
điệu của thơ tự do tiếng Anh, lặp lại chữ và câu chữ trong bài thơ.” (Nt)
Tức là, tiếp thu từ thơ tự do tiếng Anh và Tân hình
thức Mỹ, các nhà thơ Việt đã sáng chế 2 kỹ thuật lặp lại và ngắt dòng để tạo ra thi điệu Tân hình thức Việt
hoàn toàn khác các thi điệu Việt đã có kể từ Thơ Mới. Trong đó từ không còn vai trò cá thể, ngay cả các
từ khóa (nhãn tự trong thơ truyền thống). Tất cả hòa làm một khối-từ, từ nọ gọi từ kia từ sau lấn từ
trước, gây nên âm thanh chung như một vùng biển vang động, như một mảng sông
cuộn trôi không phân biệt tiếng vọng từ con sóng nào. Các câu lẻ tan rã nhập thành câu
lớn và thể thơ-một-câu đã ra đời. (Xem mục V.1). Với từ và câu như vậy, các hình ảnh, chi tiết không kịp định
hình trong tâm trí người đọc để gợi ra hình tượng chung cho tứ thơ như cách đọc
cũ. Đây là thách đố với các nhà Tân hình thức khi kém thuật kể chuyện, yếu ngôn
ngữ thường nhật.
Trong 3 thành tố tạo nhạc tính là từ, vần và tiết tấu thì 2
cái sau liên quan đến sự ngắt câu. Theo chúng tôi quan sát ở các cuộc tranh
biện thì đây là vùng “xôi đậu”. Ai cũng có lý về vấn đề vần trong thơ vần điệu
và tự do cũng như trong Tân hình thức, nhưng thi hữu phe chống đã “nghe” Tân
hình thức bằng thính giác vần truyền thống và vần tự do. Phải công nhận vần trong tiếng Việt[i] có
sức sống tràn lan như loài cỏ và gây ra những ảnh hưởng rất khó xử; đến mức
phải lấy nó làm ranh giới của 2 đại thể loại là văn xuôi và văn vần mà thơ (vần
vũ đến thế là cùng cũng) chỉ là một tiểu thể loại của văn vần. Nay, thêm một
thứ thơ nữa - tiếp gót thơ văn xuôi - muốn giải thoát buông xả vần khỏi trói
buộc nhịp điệu cũ, thế thì sao còn dùng vần
để cảnh giới? Oan Thị Kính đã thêm một lần bị đánh tráo sang oan Thị Màu!
Nếu thử quên đi vần, chỉ chú ý tiết tấu
của câu, bạn sẽ thấy Tân hình thức Việt chấp nhận được. Đừng nên coi sự ngắt đoạn là để tạo ra nhịp như ở thơ bình thường, vì trong
Tân hình thức có thể dùng ngắt câu tùy kinh nghiệm và cảm xúc người đọc. Nhưng ngắt câu không phải để
đi tìm ý câu thơ, khi mà đó chỉ là vô
hồi kì trận các câu lộn xộn, nhiều khi vô nghĩa lý. Nhịp của từng câu thơ (với
các bài Tân hình thức có dấu chấm phẩy) và nhịp của các câu thơ Tân hình thức
không là nhịp ngắn. Chính các nhịp dài dồn lại tạo nên nhịp điệu chung của bài
thơ. Khi nào chúng ta nghe ra nhịp điệu chung đó thì sẽ nắm được ý nghĩa hiện thực của toàn bài thơ song
song với nội dung có thực của câu
chuyện. Thơ Tân hình thức mới và lạ là vậy! Còn vấn đề hay-dở, không phải chỉ ở
nội hàm Tân hình thức. Quyết định vẫn là mỹ cảm của người đọc. Một khi ai đó
còn cơm trong miệng, khó mà nếm vị phở.
Trong khi còn băn khoăn, tạm khép sự nan giải bằng ý
kiến đầy thuyết phục của Octavio Paz: “Bài thơ là ngôn ngữ nhịp điệu - không
phải một thứ ngôn ngữ có nhịp điệu (giống như bài hát) hay đơn thuần chỉ là
nhịp điệu của lời.”[ii]
Ngôn ngữ có nhịp điệu đích thị là nhịp điệu của lời trong văn học nói chung;
như văn vần, biền văn (phú, cáo, tế, hịch ở văn học trung đại Việt). Bạn thấy
vẫn xa Tân hình thức? Còn câu nữa cùng tác giả và nguồn bài trên, được viết từ
năm 1983 mà như dành cho thể thơ chảy, thơ hỗn mang: “Nhịp điệu là ẩn dụ nguyên
thủy, nó bao chứa tất cả ẩn dụ khác. Nó nói: sự tiếp nối là sự lặp lại, thời gian là phi thời gian.” (Đ.Q.
nhấn).
Nhịp điệu Tân hình thức sẽ còn là phản cảm mạnh, là ấn tượng lớn khiến một đằng -
số đông - nghi vấn quay lưng, đằng khác - số ít - háo hức, mầy mò. Điều cần hơn
cả sau hơn 10 năm thể nghiệm là các nhà hàn lâm và chuyên nghiệp hãy làm việc
trên chính nó: xem cái vũ-điệu-không-vần có thuận nhĩ dân Việt hay không, chứ
đừng nên chỉ xét như một sản phẩm nghệ thuật Việt nhằm “dịch thuật tiếng Tây
phục vụ các ông Tây”. (Mục III.3.).
Về
lý thuyết và thực hành thơ đông tây kim cổ, việc đọc và ngâm thơ thường được
coi như bàn thẩm định cuối cùng chất lượng truyền cảm và khả năng đám đông tiếp
nhận. Vì đó là dịp thử thách chất lượng nhạc tính ở bài thơ trước thính giác
đại chúng, sau khi đã qua khâu “thị giác”. Nhiều thập niên gần đây, nước Mỹ đi
đầu thế giới ở sinh hoạt đọc thơ trước công chúng rộng rãi hoặc nhóm nhỏ. Cũng
như thơ văn xuôi, sự không vần đã buộc Tân hình thức Việt phải “bó miệng” với
ngâm thơ - loại hình đặc sắc Việt tính. Đọc trước đám đông cũng là một cái khó
cho thể thơ lấy kể lể làm phong cách và phương thức. Nó không hợp khi trình
diễn, mà dành cho độc diễn, độc thoại. Nếu thế, về bản tính Tân hình thức là
phản-thơ ít nhất ở sự biểu diễn nhạc điệu. Lại cậy nhờ Paz, lần chót: “Hiểu một
bài thơ nghĩa là, trước hết, nghe bài thơ đó. Ngôn từ đi vào trong tai ta, hiện
hình trước mắt ta, biến mất trong sự trầm tư.”
Réo rắt và luyến láy, chính là lục bát
Việt
Không
như Khế Iêm nghe thấy "sự réo rắt và luyến láy”, Nguyễn Hoài Phương cho
rằng “thứ nhạc trong Thơ Tân hình thức có lẽ là nhạc Rap.” (Phụ lục 9-, Nguyễn Vũ Văn). Lúc buồn tình nhớ nước thương mình hay
khi chốn tâm linh lâm sự, tôi còn nghe được từ thơ-kể những lời kinh…
Dù
ai nói tây nói đông, nhịp thơ Việt còn chứa hồn lục bát. Đó là niềm tin thi điệu. Tôi có một lòng tin,
dẫu hai tay cứ làm thơ không-lục-bát. Vâng, số lượng các loại hình văn vần Việt
hiện đại có thể tới hàng chục và theo thời gian sẽ tăng, nhưng thi điệu lục bát luôn là
ẩn-dụ-nguyên-thủy trong mọi thể loại thơ Việt nó khi hòa vào nhịp điệu riêng ở
từng thể loại. Tôi tin sẽ có ngày được đọc một nghiên cứu nào đó chứng minh
khách quan, hệ thống, thuyết phục rằng, ở các lời thơ tự do Việt đến từ Nguyễn Đình Thi và Thanh Tâm
Tuyền; Nguyên Sa và Hoàng Cầm; v.v… và v.v… và ở các thi phẩm Đường luật Việt
của Nguyễn Trãi và Hồ Xuân Hương; Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến; v.v… và
v.v… chính điệu lục bát nguyên thủy đã và sẽ góp nhịp chuyên chở các sáng tác đó tới
độc giả Việt Nam và thế giới hôm nay rồi mai sau.
Các
thể loại thơ ra đời về sau đương nhiên phải cải biến điệu lục bát hồn dân tộc,
trong khi bị cưỡng bức hay tự nguyện tiếp nhận có lọc lựa những thi điệu ngoại
quốc để cấu thành giai điệu ngôn ngữ mới, xứng với tâm tư thời đại của chúng.
Một thể loại mới muốn thành tựu cần phải biết cách ẩn giấu nhịp điệu nguyên
thủy. Vũ điệu không vần - ca dao hậu hiện đại - liệu có hàm chứa nổi ca dao
nguyên thủy nhịp sáu-tám không? Nếu có, tương lai Thơ Tân hình thức Việt coi
như đạt điều kiện cần. Nhìn danh sách các nhà Tân hình thức Việt, qua theo dõi
chưa đầy đủ, chúng tôi thấy hình như ít vị đã đủ cống hiến cho thể lục bát,
ngoài Hoàng Xuân Sơn, Lưu Hy Lạc (hay Đỗ Kh. từng là một “tay” phá lục bát sang
thơ tự do rất bảnh!).
Réo rắt và luyến láy, chính
là lục bát Việt.
V.3. Tân hình
thức Việt và kết cấu bài thơ
“Nhìn vào thì nhận ra ngay là thơ”
Không lời dân dã nào trúng với Tân
hình thức như câu cửa miệng của người
Nam Bộ: Thấy vậy mà không phải vậy, mà còn hơn vậy nữa… Phát hiện tự
nhiên mà căn bản về Tân hình
thức “nhìn vào thì nhận ra ngay là thơ”
của Đặng Tiến (Chú thích 67) là cần thiết, giữa những cơn lốc thơ hồi đầu thiên niên kỷ với rất nhiều
hình thể thoáng thấy đã không là “thơ”
(như thơ đồ họa, thơ sự vật, thơ rác, thơ cấu, v.v…) Nhưng Tân hình thức
thì khác. Nhìn rồi thử đọc coi: Ồ, cũng
không thơ! Ráng đọc coi: Có lẽ, thơ? Đọc riết đi: Ờ ờ thơ thơ…
Kết cấu tác phẩm[iii]
Tân hình thức đã khiến tầm đón nhận từ
người đọc phải thay đổi liên tục.
Dưới đây,
theo các phương pháp so sánh của Montel, của Girshman và của Ngô Tự Lập (Chú thích 42) chúng ta sẽ tiếp cận một
bài Tân hình thức không chỉ là sáng tác thơ mà còn như tác phẩm văn học có tổ
chức văn bản thơ-trong-truyện. Hy
vọng sẽ rõ hơn: Tân hình thức đâu đến mức làm một ví dụ lớn cho nỗi lo thường
trực cả trăm năm qua của nhân loại yêu thơ như có nhà nghiên cứu từng nhắc, mỗi
khi thơ mở cánh cửa cách tân thì văn xuôi lại tràn vào phá phách.
Kết
cấu tổng thể trong Tân hình thức Việt, ở mục trên đã nói, như là một-câu-thơ.
Bài thơ thành một câu thơ lớn. Câu thơ lớn chứa vô số câu thơ nhỏ mà giữa chúng
không nối kết chặt chẽ cú pháp, ngữ nghĩa. Về lý thuyết, khó có thể xây dựng mô
hình văn bản cho thể Tân hình thức. Thực tế nhiều bạn đọc lắc đầu, nhiều nhà
phê bình nói không với nó, chắc bởi thế? Bài thơ là “truyện” với lời kể phăm
phăm hướng phía trước (prorsa[iv]),
vì Tân hình thức là nhịp điệu non-stop
(không dừng được). Nhưng nhờ kỹ thuật lặp lại. Lặp lại ý. Lặp lại hình ảnh. Lặp
lại cụm từ. Lặp lại câu. Lặp lại cú pháp. Lặp lại suy tư. Bài thơ vẫn là “thơ”
với lời kể hồi quy, quay về nơi khởi phát (versus[v]).
Nghệ thuật Tân hình thức đã bắt khả năng luân vũ của thơ phải… quay cuồng! Bằng
kết cấu tổng thể như thế, thể thơ này đã làm cả 2 nhiệm vụ: “ca” của thơ và
“kể” của truyện. Như Khế Iêm giải thích kỹ thuật lặp lại không thấy trong văn
xuôi và cũng chẳng dính dáng tới vần; và nó làm tăng nồng độ thơ trong thể
truyện. Vậy, sự đối lập thuộc về bản
chất giữa thơ và văn xuôi đã chuyển thành đối
trọng trong Tân hình thức!
Có
thể thấy Tân hình thức Việt đang đi đúng hướng, ít nhất ở lý luận thể loại, nếu
đồng ý với Girshman: “Về phương diện này, những nhận xét của O. Mandelstam về
đặc trưng của văn xuôi nhìn từ góc độ thơ là hết sức thú vị: ‘Với văn xuôi,
điều quan trọng là nội dung và vị trí, chứ không phải là nội dung và hình thức.
Hình thức văn xuôi là sự tổng hợp. Các mảnh từ vựng ngữ nghĩa chạy tản ra khắp
các vị trí. Phân bố hết sức tự do.”
“Bố
cục không bịp được”
Ngoài
khả năng giao lưu thể loại thơ và văn[vi],
kết cấu Tân hình thức còn đề cao sức khái
quát trong sáng tạo. Người làm thơ thời a-còng không còn đi trăm bước ngẫm
ngợi một nhãn tự, nhưng bắt buộc phải biết du nhập số lượng lớn các tư tưởng,
luận cứ, thông tin hỗn độn và bình đẳng vào tác phẩm. Lại thêm thách thức nữa
cho các môn sinh Tân hình thức, như thể Hoàng Ngọc Hiến từng cảnh tỉnh những
môn sinh của mình:
“Trong nghệ thuật, năng lực khái quát tổng hợp thể
hiện ở bố cục kết cấu. Nhà văn ta, mặt này yếu vì lý luận yếu. Sự sơ lược cũng
do yếu chỗ này. Bố cục làm lộ hết mọi sự vô văn hóa. Sơ lược không chỉ là độc
quyền của các nhà văn nước ta. Giới nghiên cứu cũng vấp phải chuyện này (…).
Tác phẩm đứng được một phần do bố cục. Người có văn hóa mới có năng lực này, vì
tư tưởng phức tạp - tư tưởng thật càng rất phức tạp. Có thể bịp mọi chỗ, nhưng
bố cục không bịp được. Ý (…) được nhưng bố cục (…) kém.”[vii]
Với
không ít sáng tác Tân hình thức mà không hoặc chưa có chất Tân hình thức, những
câu cuối của trích dẫn trên tuy nặng lời nhưng thiết nghĩ có thể là bài học sát
sườn?
Kết
cấu cốt truyện ở Thơ Tân hình thức cũng đi vào hành động, sự kiện như ở tác phẩm truyện, và theo cách nhấn nhá
độc đáo của mình. Hành động thì không đến nơi tới chốn và trở về qua hành động
tương tự; còn sự kiện bị buông lửng
ngay khi mới ló ra và lái sang hướng khác. Khế Iêm qua các sáng tác như Bậc thang,
Những chiếc ghế[viii]
đã thật điệu đàng với thuật đó. Sự tồn tại và sinh tử của bậc thang, của chiếc
ghế là đối tượng thơ-trong-truyện và lại không được cô đúc như trong kỹ thuật
truyện thông thường. Kết cấu hình ảnh cũng làm bằng “nhân vật” của bài thơ (bậc
thang, chiếc ghế) nhưng chúng hỗn tạp, không gom vào một hình tượng chính như
trong thơ truyền thống và tự do. Rất Tân hình thức, cả 2 bài thơ không thể có
“câu thơ hay” là vì thế. Bất kỳ câu thơ nào cũng có rễ, bám lấy bài thơ, không
thể thoát ly trọn vẹn như một sản phẩm ngôn ngữ đẹp[ix].
Hai bài thơ vẫn là thơ, vì tiến theo các bước nhảy, quay và không khai thác
hiện thực. Ở bài Bậc thang, ngay từ
đầu đã chịu sự tan vỡ về kết cấu chi tiết. Đây là một yếu tính của nghệ thuật
thi ca. Cái đại tự sự nhất - “trong tôi/ có ngón giao chỉ, từ phố phường/ đi ra
biển đông” - nêu ở khổ thơ thứ hai trong 6 khổ, bị các hành động khác gắn bó
với “bậc thang”, “bước chân” biến thành chuyện nhỏ. Tính riêng tư của nhân vật
trữ tình và cũng của chính tác giả, một người Việt di dân, bị mờ trên mặt chữ
nhưng sẽ cộm nơi lòng độc giả tri âm. Cả bài thơ không tụ ở tứ thơ mà ở tư
tưởng mơ hồ về một chủ đề vừa xa vừa gần: sự thăng trầm của bước chân.
Sau
nhịp điệu thì kết cấu ngôn từ là nỗi khổ thứ hai cho các nhà Tân hình thức.
Ngôn ngữ đời thường phải thắng tuyệt đối ngôn ngữ trừu tượng. Vậy mới làm nên
thể thơ duy nhất mà ở đó “chữ” không mang giá trị tự thân! Các chữ tìm nhau,
kéo đẩy, không để khoảng trống cho các thao tác tu từ. Và Lê Đạt vẫn trở nên có
lý không chỉ trong thơ không-Tân-hình-thức: “Thơ hay bao giờ cũng có tiếng thầm
thì: đó là tiếng gọi nhau của chữ.”[x]
Văn phong Tân hình thức vì thế không đến bằng ngôn từ như là các chữ cá thể.
Thi cảm cũng không bật ra ở các nhãn tự - cái cần phải loại bỏ. Không chỉ dùng
thẳng lối nói điệu kể bình thường để thay biện pháp tu từ (hoán dụ, ẩn dụ, ví
von, điển cố) nhằm hàm súc ngôn ngữ thơ, Tân hình thức đã dùng kết cấu trữ tình
ngoại đề (ngoài cốt truyện, như trong văn xuôi) để làm loãng ngôn ngữ. Tính truyện vẫn được duy trì dù không có tuyến
truyện. Bài Những nụ hồng của máu là ngày hội của liên văn bản trên
những người-vật-sự-việc trong quá khứ gần. Hay đó chính là việc dụng điển kiểu
Tân hình thức, nếu chia sẻ cùng Ngô Tự Lập trong một nhận định chung về thơ?[xi]
Bây
giờ là kết quả so sánh về kết cấu nghệ thuật tác phẩm của Thơ Tân hình thức
Việt với 38 tác giả trong Dòng-thơ-cần-giải-thích-giá-trị[xii] mà chúng tôi đang thực hiện (cập nhật
28/4/2014).
Khế
Iêm, Hoàng Xuân Sơn, Nguyễn Đình Chính, Trần Tiến Dũng, Vương Ngọc Minh/ Lưu Hy
Lạc: Kẻ sớm người muộn, dù ít dẫu nhiều là 5 “tay chơi thứ dữ” Tân hình thức
rồi!
Trần
Huyền Trân trong dòng thơ niêm luật, vần điệu cảm xúc cổ điển ý niệm hiện đại.
Yến Lan cũng vậy mà “trẻ trung” hơn nhiều và còn có không ít thơ tự do.
Thơ-phá-thể-tiêu-vần tràn lan Tân hình thức xin kính nhi viễn chi nhị dòng thi
phẩm tiền bối.
Thơ
của các thi sĩ sau đây có kết cấu bố cục khít khao, đề tài chỉn chu, ngôn ngữ
không mỹ từ cũng cẩn tắc: Chân Phương, Hải Như, Ngô Tự Lập, Nguyễn Khoa Điềm,
Nhã Ca, Phạm Phú Hải, Trần Nhuận Minh, Thi Vũ, Trương Đăng Dung, Tuyết Nga, Văn
Cao. Chớ nên “dây với… Tân hình thức”!
Thơ
đến từ Đặng Huy Giang, Lê An Thế, Lê Đình Nhất-Lang, Ngu Yên, Nguyễn Đức Tùng,
Phan Nhiên Hạo, Trần Thiên Thị, Trần Khiêm: mạnh ở kết cấu cốt truyện, thi tứ
sắc lẻm, người lộ kẻ kín tâm thức hậu hiện đại tràn trề, nhất là ở độ hài hước,
đề tài hoặc là đứng đắn cực kỳ hoặc ngoại đề tá lả. Các thơ ấy nếu như thanh
thản, đừng ôm dù “sứ mệnh đất trời” hay “sứ mệnh cỏ cây”, thì chạy sang
thi-pháp-đời-thường dễ dàng
Còn
có những thơ sẽ Tân hình thức ngon lành ngay từ nhịp điệu non-stop, kết cấu
tổng thể thơ-kể (Đinh Thị Như Thúy, Lê Ngân Hằng, Lê Văn Ngăn, Lưu Mêlan,
Nguyễn Quang Thiều, Tam Lệ, Thường Quán, Trịnh Sơn, Uyên Nguyên), nếu như chịu
dùng kết cấu văn-nói thay cho kết cấu văn-viết.
Tam
vị Mai Văn Phấn (giọng điệu tự nhiên sâu xa), Nguyễn Bình Phương (làm thơ như
thể không làm), Nguyễn Thị Ánh Huỳnh (tự sự nhiều phát hiện), nhưng sao Tân
hình thức vẫn khó so bì?
[i] Chỉ nói về từ nguyên,
trong tiếng Anh, tiếng Pháp vần (rhyme, rime) cùng gốc với điệu/ nhịp điệu
(rhythm, rythme).
[ii] Paz, Octavio; Bàn về thơ, Hải Ngọc dịch từ bản dịch tiếng
Anh Recapitulations,
hieutn1979.wordpress.com 11/11/2012.
[iii] Tham khảo: Nyrio, Laios;
Bàn về nghĩa và kết cấu tác phẩm, phebinhvanhoc.com.vn 21/5/2012;
và Lại Nguyên Ân, 150 thuật ngữ văn học – Nbx Đại học Quốc gia
2004 (Nguồn: Lâm Tiến, phongdiep.net).
[iv] Viết tắt từ “proversa
oratio” (tiếng Latinh), như là một nhận dạng cho văn xuôi, truyện (Chú thích
42, Girshman).
[v] Tiếng Latinh, như là một
nhận dạng cho thơ (Chú thích 42, Girshman).
[vi] Phác thảo: Với niềm kính
vọng hai đại tông giáo cùng lòng si mê hai lãnh vực văn học đầu bảng, người
viết cạn nghĩ với phép sánh như sau: Thơ
như là đạo Phật ở vũ điệu luân hồi,
bí ẩn dưới hình thể gọn ghẽ, đơn lẻ; càng giải thích càng bất khả; nghệ thuật
phi chuẩn mực, phi lý, phi không-thời gian, không mục đích, tự do. Truyện như là đạo Chúa ở tính duy lý để thuyết phục; nhịp thời gian và không gian
tuyến tính có khởi thủy, dẫn dắt, phục hồi, kết cục; hệ thống nghệ thuật lớp
lang, công phu, kỷ luật.
[vii] Hoàng Ngọc Hiến, Đào tạo viết văn ở trường đại học, vietvan.vn 8/2013 (Nguồn:
Ngô Thảo, Dĩ vãng phía trước, Nxb Hội
Nhà văn 2011).
[viii] Trong tập Other poetry – Thơ khác, tr. 38-40; và
Khế Iêm, Thơ chọn lọc, talachu.org 27/8/2006.
[ix] So sánh bên thơ vần điệu
và tự do: “Những câu thơ hay thường có xu hướng tách ra khỏi bài thơ để trở
thành các giá trị độc lập. Nói một cách khác, những câu thơ hay thường xóa bỏ
xuất xứ của nó.” (Hữu Thỉnh, Tạp chí Thơ - Hà Nội - số
5/2012; Nguồn: Nguyễn Thanh Truyền, vanhocviet.org 25/9/2013).
[xi] “Về bản chất, làm thơ
chính là một cách sử dụng điển tích đời sống cá nhân của một hay một lớp độc
giả. Mỗi bài thơ là một ký hiệu ít nhiều phức tạp, cho phép dẫn chiếu đến một
trạng thái tình cảm có sẵn trong ký ức người đọc. Nói cách khác, thông qua bài
thơ, tác giả dẫn chiếu đến một điển tích đời sống tiểm ẩn ở những độc giả tiềm
ẩn của mình.” (Ngô Tự Lập, Chú thích 42; và Chu Thị Thơm,
vnexpress.net 26/3/2009).
[xii] Dòng thơ cần giải thích giá trị
là chuyên luận về những tác giả đã/ đang/ sẽ ít nhiều góp phần thay đổi thi ca
Việt hiện đại và đương đại bằng những văn phong có một không hai của mình, mà
đa số ít được hoặc chưa được giới phê bình và dư luận quan tâm tương xứng. (Chú
thích 38, 40; và Đỗ Quyên, Về một dòng thơ cần giải thích giá trị -
Trường hợp Tuyết Nga, Tạp chí Nhà Văn số
2/2009, và vannghesongcuulong.org
9/2/2009).
(còn tiếp)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét